Hồ Dầu Tiếng không chỉ là một công trình thủy lợi quy mô lớn mà còn là nguồn nước quan trọng phục vụ sản xuất, dân sinh và điều tiết cho khu vực hạ du. Thế nhưng, cùng với quá trình khai thác các giá trị kinh tế, tại một số khu vực ven hồ và trên mặt nước đang xuất hiện hoạt động cắm trại, kinh doanh dịch vụ, nuôi cá lồng bè, chăn thả gia súc, gia cầm.
Điều đáng lưu ý là đơn vị trực tiếp quản lý, vận hành hồ cho biết họ có thể kiểm tra, lập biên bản và kiến nghị xử lý, nhưng không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Trong khi đó, hồ Dầu Tiếng nằm trên địa bàn nhiều địa phương, còn một số cơ chế phối hợp được thiết lập trước khi sắp xếp đơn vị hành chính đang được rà soát, điều chỉnh. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xác định rõ trách nhiệm, đầu mối và phương thức phối hợp để không tạo khoảng trống trong quản lý, bảo vệ công trình và nguồn nước.
Khi người giữ hồ chỉ có quyền kiểm tra, kiến nghị
Từ những khu vực ven bờ xuất hiện lều trại, điểm kinh doanh dịch vụ đến các lồng bè nuôi cá và đàn gia cầm trên mặt nước, hoạt động khai thác tại hồ Dầu Tiếng đang diễn ra với nhiều hình thức.
Hồ Dầu Tiếng giữ vai trò quan trọng về an ninh nguồn nước, nhưng quản lý hoạt động ven hồ vẫn vướng thẩm quyền và cơ chế phối hợp, đặt ra yêu cầu rõ trách nhiệm.
Theo ông Nguyễn Hữu Mạnh, Giám đốc Chi nhánh Dầu Tiếng – Phước Hòa, Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Miền Nam, tình trạng nuôi cá lồng bè, chăn vịt không chỉ gây khó khăn cho công tác tuần tra mà còn tiềm ẩn nguy cơ tác động đến chất lượng nguồn nước. Một số điểm du lịch tự phát cũng hoạt động khi các thủ tục cần thiết chưa đầy đủ.
Trao đổi với phóng viên ngày 9/9, ông Mạnh cho biết khó khăn lớn của đơn vị hiện nay là không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
“Anh em chúng tôi chỉ có quyền đi kiểm tra, lập biên bản sự việc, sau đó báo cáo và phối hợp với chính quyền địa phương, chuyển biên bản về cho UBND cấp xã xử lý”, ông Mạnh nói.
Quy trình này cho thấy ranh giới giữa quản lý công trình và quản lý nhà nước về xử lý vi phạm khá rõ. Đơn vị khai thác công trình có trách nhiệm trực tiếp tuần tra, phát hiện và ghi nhận vụ việc, nhưng quyền xử lý tiếp theo thuộc cơ quan có thẩm quyền.
Vấn đề phát sinh ở chỗ hồ Dầu Tiếng có diện tích mặt nước rộng, phạm vi quản lý liên quan đến nhiều địa bàn. Để kiểm tra các vị trí trên hồ, lực lượng quản lý phải sử dụng canô, mất nhiều thời gian và chi phí. Sau khi lập biên bản, hồ sơ tiếp tục phải chuyển đến chính quyền địa phương để xử lý theo thẩm quyền.
Theo ông Mạnh, thực tế có trường hợp lực lượng chức năng kiểm tra một điểm du lịch có dấu hiệu lấn chiếm nhưng người quản lý tại chỗ chỉ cung cấp số điện thoại của chủ cơ sở và cho biết người này đang ở TP.HCM. Việc xác định người chịu trách nhiệm trực tiếp vì vậy cũng trở thành một khâu khó khăn.
Đối với tình trạng chăn thả vịt trên hồ, đơn vị quản lý chủ yếu vận động người dân di dời. Có trường hợp người dân được yêu cầu ký cam kết đưa đàn vịt ra khỏi lòng hồ trong thời hạn 10 ngày trước khi xuất bán và không tái đàn.
“Việc cưỡng chế, xử phạt không thuộc thẩm quyền của chúng tôi”, ông Mạnh cho biết.
Đây không đơn thuần là câu chuyện về một vài điểm cắm trại hay những đàn vịt trên mặt hồ. Vấn đề lớn hơn nằm ở cơ chế quản lý đối với một công trình có vai trò quan trọng về nguồn nước: khi đơn vị trực tiếp phát hiện vi phạm không có quyền xử lý cuối cùng, cơ chế chuyển tiếp và phối hợp phải đủ nhanh, rõ và hiệu quả để hành vi vi phạm không kéo dài.
Thực tế, các hoạt động sản xuất, nuôi trồng, kinh doanh dịch vụ nếu không được kiểm soát có thể tạo thêm áp lực lên hành lang bảo vệ công trình, môi trường nước và an toàn vận hành hồ.
Các kết quả quan trắc được công bố trong năm 2026 cho thấy chất lượng nước khu vực lòng hồ Dầu Tiếng vẫn duy trì ở mức khá đến tốt, với chỉ số chất lượng nước dao động 83-94 điểm trong giai đoạn theo dõi từ năm 2018. Tuy nhiên, nguồn nước vẫn chịu tác động từ hoạt động sản xuất, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt trên lưu vực.
Vì vậy, kiểm soát từ nguồn, thay vì chỉ xử lý khi sự việc đã phát sinh, có ý nghĩa đặc biệt đối với một hồ chứa có dung tích thiết kế khoảng 1,58 tỷ m³ và đảm nhiệm nhiều mục tiêu sử dụng nước.
Địa giới thay đổi, cơ chế phối hợp cũng phải theo kịp
Quản lý hồ Dầu Tiếng vốn đã là bài toán liên địa phương từ nhiều năm qua.
Ngày 10/11/2022, UBND tỉnh Bình Phước và UBND tỉnh Tây Ninh ký Chương trình hợp tác số 3888/CTr-UBND-BP-TN, trong đó có nội dung phối hợp thanh tra, kiểm tra các trang trại chăn nuôi xả nước thải vào lưu vực hồ Dầu Tiếng; phối hợp bảo đảm an ninh trật tự, quản lý con người và hoạt động khai thác thủy sản trên hồ.
Hồ Dầu Tiếng: Rõ thẩm quyền, không để khoảng trống bảo vệ nguồn nước
Ngày 12/5/2023, UBND tỉnh Bình Dương và UBND tỉnh Tây Ninh tiếp tục ký Chương trình hợp tác số 1386/CTr-UBND-BD-TN, đề cập việc phối hợp quản lý tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường và phát triển rừng đầu nguồn hồ Dầu Tiếng.
Ở phạm vi rộng hơn, thỏa thuận hợp tác giữa TP.HCM và các tỉnh vùng Đông Nam Bộ ký tháng 3/2023 cũng đặt vấn đề phối hợp bảo vệ hệ thống hồ chứa nước, hành lang hồ chứa và nguồn nước.
Những cơ chế này cho thấy yêu cầu phối hợp liên vùng trong quản lý hồ Dầu Tiếng đã được đặt ra từ trước. Tuy nhiên, bối cảnh quản lý hiện nay đã thay đổi đáng kể.
Từ tháng 7/2025, việc sắp xếp đơn vị hành chính làm thay đổi địa giới và tổ chức chính quyền tại khu vực. Bình Dương được sắp xếp cùng TP.HCM; Bình Phước sắp xếp cùng Đồng Nai; Long An sắp xếp cùng Tây Ninh. Với một công trình trải rộng trên nhiều địa bàn như Dầu Tiếng, thay đổi này tất yếu tác động đến cách thức tổ chức và phối hợp quản lý.
Đáng chú ý, tại văn bản số 21246/SNNMT-CCTL ngày 24/9/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh cho biết Quy chế phối hợp số 04/QCPH-BNN-UBND ngày 2/6/2022 về trách nhiệm giữa Bộ Nông nghiệp và các tỉnh trong quản lý, khai thác hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa đang được rà soát.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh, nguyên nhân xuất phát từ sự thay đổi về địa giới hành chính và tổ chức bộ máy. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước đây đã giao Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Miền Nam rà soát, đề xuất điều chỉnh quy chế cho phù hợp với tình hình mới.
Việc rà soát là cần thiết để cơ chế phối hợp không bị lệch khỏi thực tế quản lý. Nhưng trong thời gian chờ hoàn thiện các quy định, trách nhiệm xử lý vi phạm trên hồ vẫn phải được thực hiện theo thẩm quyền của từng cơ quan, từng địa phương.
Đây chính là điểm cần được làm rõ hơn trong thực tiễn quản lý.
Bởi với hồ Dầu Tiếng, một hành vi vi phạm trên mặt nước không chỉ liên quan đến hoạt động kinh doanh hay sử dụng đất, mà trong một số trường hợp còn có thể tác động đến hành lang bảo vệ công trình, an toàn vận hành và chất lượng nguồn nước.
Những cảnh báo về nguồn gây ô nhiễm trên hệ thống Dầu Tiếng – Phước Hòa thời gian qua cho thấy yêu cầu này không mang tính lý thuyết. Đơn vị quản lý từng phải xử lý tình trạng xác động vật trôi về các điểm chắn rác trên tuyến kênh dẫn nước; cơ quan báo chí và đơn vị quản lý đều cảnh báo nguy cơ ảnh hưởng đến nguồn nước nếu không được xử lý kịp thời.
Do đó, câu hỏi đặt ra không phải là có nên khai thác các giá trị kinh tế, du lịch của hồ Dầu Tiếng hay không. Vấn đề là khai thác đến đâu, trong điều kiện nào và cơ quan nào chịu trách nhiệm kiểm soát khi phát sinh vi phạm.
Một hồ chứa có thể được khai thác đa mục tiêu, nhưng mọi hoạt động khai thác phải nằm trong giới hạn bảo đảm an toàn công trình, hành lang bảo vệ và chất lượng nguồn nước.
Để làm được điều đó, cần một cơ chế phối hợp mới, rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền và rõ trách nhiệm. Đơn vị quản lý hồ phải có kênh chuyển thông tin, hồ sơ vi phạm đến đúng cơ quan có thẩm quyền; chính quyền địa phương cần có đầu mối tiếp nhận và xử lý; các cơ quan chuyên môn phải phối hợp khi vụ việc liên quan đến môi trường, đất đai, thủy lợi, xây dựng hoặc hoạt động kinh doanh.
Quan trọng hơn, việc rà soát các quy chế sau khi thay đổi địa giới hành chính cần được gắn với những tình huống cụ thể trên thực địa, thay vì chỉ dừng ở việc điều chỉnh tên cơ quan, địa bàn hay đầu mối.
Bảo vệ hồ Dầu Tiếng, vì thế, không thể chỉ là nhiệm vụ của những người trực tiếp vận hành công trình. Đó phải là trách nhiệm được phân định và thực thi xuyên suốt từ lòng hồ, vùng ven hồ đến toàn bộ lưu vực.
Khai thác đa giá trị là hướng đi có thể đặt ra đối với hồ Dầu Tiếng, nhưng điều kiện tiên quyết vẫn là bảo đảm an toàn công trình và an ninh nguồn nước. Khi quyền hạn của người trực tiếp giữ hồ có giới hạn, một cơ chế phối hợp đủ rõ và đủ hiệu lực càng trở nên cần thiết.
Nguồn https://baomoi.com/ho-dau-tieng-ro-tham-quyen-khong-de-khoang-trong-bao-ve-nguon-nuoc-c56186079.epi
Leave a Reply