Author: bachdn

  • UBND tỉnh Khánh Hòa quy định việc quản lý chất lượng công trình xây dựng

    UBND tỉnh Khánh Hòa vừa ban hành Quyết định số 80 quy định một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh.

    Một công trình xây dựng trên địa bàn phường Nam Nha Trang.

    Theo quyết định, thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng được phân định theo từng lĩnh vực chuyên ngành. Cụ thể, Sở Xây dựng thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu đối với các công trình dân dụng, hạ tầng kỹ thuật, công nghiệp nhẹ, sản xuất vật liệu xây dựng, sản phẩm xây dựng và công trình giao thông. Sở Nông nghiệp và Môi trường phụ trách các công trình phục vụ nông nghiệp và môi trường. Sở Công Thương phụ trách các công trình công nghiệp thuộc phạm vi quản lý. Ban Quản lý Khu kinh tế và Khu công nghiệp tỉnh thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu đối với các công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng trong phạm vi được giao quản lý.

    UBND tỉnh giao UBND cấp xã chủ trì tiếp nhận bàn giao công trình xây dựng trong các dự án đầu tư xây dựng khu đô thị thuộc địa bàn hành chính quản lý. Đối với công trình nằm trên địa bàn từ 2 xã, phường, đặc khu trở lên, Sở Xây dựng chủ trì tham mưu UBND tỉnh quyết định việc tiếp nhận bàn giao theo quy định. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định riêng về cơ quan, đơn vị tiếp nhận thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

    Trong công tác quản lý an toàn công trình, UBND cấp xã được giao tiếp nhận thông tin về các công trình xảy ra sự cố hoặc có dấu hiệu nguy hiểm, không bảo đảm an toàn trong quá trình khai thác, sử dụng. Đồng thời, UBND cấp xã có thẩm quyền xem xét, cho ý kiến về việc kéo dài thời hạn sử dụng đối với công trình cấp III, cấp IV đã hết thời hạn sử dụng theo thiết kế thuộc địa bàn quản lý, trừ các công trình thuộc phạm vi quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế và Khu công nghiệp tỉnh.

    UBND cấp xã được phân cấp chủ trì giải quyết sự cố công trình xây dựng thuộc địa bàn hành chính quản lý. Đối với công tác đánh giá an toàn công trình, trách nhiệm tổ chức thực hiện được giao cho các sở chuyên ngành và Ban Quản lý Khu kinh tế và Khu công nghiệp tỉnh theo phạm vi quản lý.

    UBND tỉnh giao Sở Xây dựng theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quyết định; đồng thời tổng hợp báo cáo về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng theo quy định. Các cơ quan, đơn vị, địa phương có trách nhiệm gửi báo cáo định kỳ về Sở Xây dựng trước ngày 1-12 hằng năm. Quyết định có hiệu lực từ ngày 10-10-2026.

    MẠNH HÙNG

    Nguồn https://baomoi.com/ubnd-tinh-khanh-hoa-quy-dinh-viec-quan-ly-chat-luong-cong-trinh-xay-dung-c56260564.epi

  • Tăng khả năng tiếp cận vốn cho người dân mua nhà để ở

    Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản, chủ trì phiên họp thứ nhất của ban chỉ đạo. Ảnh: VGP

    Giao dịch giảm, bất động sản tồn kho có xu hướng tăng

    Báo cáo tại phiên họp, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh cho biết, công tác hoàn thiện thể chế, tháo gỡ vướng mắc cho các dự án bất động sản và phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê đã đạt những kết quả tích cực. Tuy nhiên, cơ cấu nguồn cung chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế, lượng giao dịch giảm trong khi bất động sản tồn kho có xu hướng gia tăng.

    Về nhà ở xã hội, 9 tháng đầu năm, cả nước hoàn thành gần 47.000 căn, đạt khoảng 48% chỉ tiêu năm.

    Đối với nhà ở cho thuê, đến hết quý 3, đã hoàn thành 8.314 căn. Tiến độ tại một số địa phương còn chậm, trong khi việc huy động nguồn lực đầu tư, nhất là đối với nhà ở cho thuê, vẫn gặp khó khăn.

    Trong quý 3, cả nước ghi nhận khoảng 92.000 giao dịch bất động sản thành công, bằng 92% so với quý trước.`

    Theo báo cáo của 27/34 địa phương, lượng bất động sản tồn kho khoảng 51.950 căn, lô đất nền. Đây mới là số liệu do các chủ đầu tư báo cáo, chưa phản ánh đầy đủ tình trạng bất động sản chưa tiêu thụ trên thị trường thứ cấp và nguồn vốn đầu tư tại những dự án dở dang.

    Báo cáo về tín dụng bất động sản, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, đến cuối tháng 8, tổng dư nợ tín dụng bất động sản đạt khoảng 5,21 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 25% dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế.

    Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc phát biểu tại cuộc làm việc ngày 13-10. Ảnh: VGP

    Chương trình tín dụng ưu đãi phát triển nhà ở xã hội đã được mở rộng lên hơn 153.000 tỷ đồng, song doanh số giải ngân mới đạt khoảng 17.500 tỷ đồng.

    Nghiên cứu chuyển nhà tái định cư làm nhà ở xã hội, cho thuê

    Kết luận phiên họp, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu quyết tâm hoàn thành chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê năm 2026 và giai đoạn 2026-2030; tăng tỷ lệ nhà ở xã hội cho thuê, gắn phát triển nhà ở với nhu cầu thực tế, bảo đảm đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tránh tình trạng nhà ở xây dựng xong nhưng bị bỏ hoang, không có người sử dụng.

    Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản, chủ trì phiên họp thứ nhất của ban chỉ đạo. Ảnh: VGP

    Đối với những dự án bất động sản tồn đọng, kéo dài, Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu tập trung giải quyết dứt điểm vướng mắc theo thẩm quyền, sớm đưa những dự án đã được tháo gỡ vào vận hành, khai thác để khơi thông nguồn lực. Việc này cũng nhằm bổ sung nguồn cung nhà ở, nhất là những sản phẩm có giá phù hợp khả năng chi trả của người dân.

    Đối với nhà ở cho thuê, Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh đây là hướng phát triển cần được ưu tiên. Do đó, Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp đánh giá thực trạng bất động sản tồn kho, nhà ở tái định cư, nhà ở thuộc tài sản công chưa được bố trí sử dụng. Đồng thời nghiên cứu giải pháp chuyển đổi công năng, đưa vào khai thác làm nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê.

    Phó Thủ tướng Thường trực cũng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh bất động sản và người dân mua nhà để ở; hướng dòng vốn vào nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, phấn đấu giảm lãi suất cho vay, đồng thời kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng bất động sản.

    Cùng với đó là tiếp tục đôn đốc giải ngân chương trình tín dụng ưu đãi cho nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội; kịp thời tháo gỡ những vướng mắc về điều kiện, thủ tục vay vốn.

    Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Xây dựng nghiên cứu chính sách tín dụng phù hợp đối với nhà ở cho thuê và các loại hình nhà ở khác.

    THANH HOA – LÂM NGUYÊN

    Nguồn https://baomoi.com/tang-kha-nang-tiep-can-von-cho-nguoi-dan-mua-nha-de-o-c56260514.epi

  • Quyết liệt giải tỏa điểm kinh doanh tự phát tại thôn Do Thượng

    Điểm kinh doanh tự phát đã được giải tỏa, trả lại hiện trạng ban đầu sau nhiều năm bị người dân chiếm dụng làm “chợ cóc”

    Chủ động triển khai, kiên quyết lập lại trật tự đô thị

    Theo Trung tá Hồ Mạnh Tiến, Phó trưởng Công an xã Mê Linh: “Thực hiện chỉ đạo của thành phố Hà Nội và kế hoạch của UBND xã Mê Linh về giải quyết các điểm nghẽn trong công tác quản lý trật tự đô thị, Công an xã Mê Linh đã chủ động phối hợp triển khai các biện pháp xử lý, giải tỏa điểm kinh doanh tự phát tại thôn Do Thượng. Trong đó, công tác tuyên truyền, vận động được xác định là nhiệm vụ quan trọng, nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận để các hộ kinh doanh tự giác tháo dỡ công trình, di dời vật dụng vi phạm, không tiếp tục họp chợ tại khu vực công cộng”.

    Việc xử lý các điểm kinh doanh tự phát là một trong những nhiệm vụ nhằm khắc phục những tồn tại về trật tự đô thị, xây dựng môi trường sống văn minh, bảo đảm trật tự, kỷ cương trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tại xã Mê Linh, để giải quyết tình trạng kinh doanh tự phát ở thôn Do Thượng, chính quyền địa phương đã triển khai các kế hoạch cụ thể, gắn trách nhiệm của các lực lượng chức năng với yêu cầu nâng cao ý thức chấp hành của người dân.

    Khi chưa được giải tỏa việc kinh doanh gây ảnh hưởng đến TTĐT

    Cụ thể, việc tổ chức giải tỏa được thực hiện trên cơ sở Kế hoạch số 373 ngày 26/12/2025 về triển khai các giải pháp xử lý “chợ cóc”, điểm kinh doanh tự phát trên địa bàn thành phố Hà Nội; Kế hoạch số 239/KH-UBND ngày 27/12/2025 của UBND xã Mê Linh về giải quyết điểm nghẽn trật tự đô thị, bảo đảm trật tự, kỷ cương, văn minh đô thị; và Kế hoạch số 04/KH-UBND ngày 5/1/2026 về thực hiện văn minh đô thị, duy trì giải tỏa các hoạt động kinh doanh tự phát trên địa bàn xã năm 2026.

    Bám sát các kế hoạch trên, Công an xã Mê Linh chủ động phối hợp với chính quyền địa phương và các lực lượng liên quan triển khai công tác tuyên truyền, vận động, yêu cầu các hộ kinh doanh tại thôn Do Thượng chấp hành nghiêm quy định, không lấn chiếm không gian công cộng để tổ chức mua bán tự phát. Đây là giải pháp cần thiết nhằm từng bước khắc phục tình trạng kinh doanh không đúng địa điểm, góp phần bảo đảm trật tự đô thị và giữ gìn cảnh quan khu dân cư.

    Phạm vi giải tỏa tập trung vào các quầy bán hàng, lều bạt, biển hiệu, bàn ghế và đồ dùng phục vụ hoạt động kinh doanh tự phát tại thôn Do Thượng. Các hộ dân liên quan được yêu cầu chủ động tháo dỡ, di dời tài sản, biển hiệu, bàn ghế, phương tiện vi phạm trước thời hạn quy định; đồng thời phối hợp với các cơ quan chức năng trong quá trình tổ chức thực hiện.

    Hiện đã không còn cảnh kinh doanh chiếm dụng không gian chung, trả lại mỹ quan thông thoáng cho người dân

    Với tinh thần chủ động, quyết liệt, Công an xã Mê Linh chú trọng tuyên truyền để người dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của việc giải tỏa, từ đó tự giác chấp hành, không tiếp tục họp chợ tại điểm công cộng này. Việc giải quyết vi phạm không chỉ nhằm thu dọn những quầy hàng, vật dụng gây cản trở mà còn hướng tới thay đổi thói quen kinh doanh tự phát, hình thành ý thức tôn trọng không gian chung và chấp hành quy định về trật tự đô thị.

    Kết hợp tuyên truyền, vận động với duy trì kết quả sau giải tỏa

    Thực tế cho thấy, để xử lý hiệu quả các điểm kinh doanh tự phát, bên cạnh việc tổ chức giải tỏa, công tác tuyên truyền, vận động phải được thực hiện kiên trì, thường xuyên. Nếu chỉ giải tỏa trước mắt mà thiếu biện pháp duy trì, tình trạng họp chợ, bày bán hàng hóa tại khu vực công cộng có thể tái diễn, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý trật tự đô thị.

    Nhận thức rõ yêu cầu này, Công an xã Mê Linh phối hợp với các lực lượng chức năng tập trung vận động các hộ kinh doanh chấp hành nghiêm thông báo của UBND xã, tự tháo dỡ các hạng mục vi phạm, di chuyển hàng hóa và vật dụng, trả lại không gian công cộng. Quá trình triển khai hướng tới sự đồng thuận của người dân, đồng thời đề cao trách nhiệm của từng hộ trong việc giữ gìn trật tự, kỷ cương và cảnh quan chung.

    Lực lượng Công an xã Mê Linh kiên quyết xử lý vi phạm

    UBND xã Mê Linh yêu cầu các hộ kinh doanh tự phát tại thôn Do Thượng không để tái diễn vi phạm, không hình thành thêm điểm kinh doanh tự phát trên địa bàn. Đối với những trường hợp không chấp hành, chính quyền địa phương sẽ tổ chức xử lý theo đúng quy định của pháp luật; các hộ vi phạm phải tự chịu trách nhiệm đối với thiệt hại phát sinh do không tự giác tháo dỡ theo yêu cầu.

    Cùng với công tác giải tỏa, việc duy trì kiểm tra, giám sát và kịp thời phát hiện những dấu hiệu tái vi phạm có ý nghĩa quan trọng. Đây là cơ sở để bảo đảm kết quả xử lý được duy trì lâu dài, tránh tình trạng tái lấn chiếm, tái lập các quầy hàng tự phát tại khu vực đã được giải tỏa. Trong đó, vai trò chủ động của lực lượng Công an xã thể hiện ở việc phối hợp chặt chẽ với chính quyền, bám sát địa bàn, tuyên truyền, nhắc nhở và tham gia xử lý các hành vi vi phạm theo chức năng, nhiệm vụ.

    Khu vực đã giải tỏa sau nhiều năm “chợ cóc” chiếm dụng gây ảnh hưởng đến TTĐT

    Mục tiêu đặt ra không chỉ là giải quyết một điểm kinh doanh tự phát tại thôn Do Thượng, mà còn tạo chuyển biến rõ nét về diện mạo đô thị, từng bước thay đổi nhận thức và thói quen cũ, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Khi mỗi hộ kinh doanh tự giác chấp hành, mỗi người dân có ý thức giữ gìn không gian chung, công tác bảo đảm trật tự đô thị sẽ có nền tảng vững chắc để duy trì hiệu quả.

    Với sự chủ động phối hợp của Công an xã Mê Linh và chính quyền địa phương, việc giải tỏa điểm kinh doanh tự phát tại thôn Do Thượng được xác định là nhiệm vụ cần thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, gắn tuyên truyền, vận động với xử lý theo quy định. Qua đó, góp phần xây dựng xã Mê Linh ngày càng khang trang, sạch đẹp, bảo đảm trật tự, kỷ cương, văn minh đô thị, vì môi trường sống an toàn và chất lượng hơn cho nhân dân.

    A.N

    Nguồn https://baomoi.com/quyet-liet-giai-toa-diem-kinh-doanh-tu-phat-tai-thon-do-thuong-c56260538.epi

  • Bắc Ninh đẩy nhanh tiến độ làm sạch, làm giàu cơ sở dữ liệu đất đai

    Tại phường Đa Mai, địa phương huy động cả hệ thống chính trị tham gia đợt cao điểm đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai. Phường đặt mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ trong tháng 10/2026.

    Phường Đa Mai huy động các lực lượng ra quân làm giàu dữ liệu đất đai. 

    Phường thành lập 19 tổ công tác tại 19 tổ dân phố, trực tiếp phối hợp rà soát, thu thập, đối chiếu và cập nhật thông tin đất đai. Các lực lượng tranh thủ làm việc ngoài giờ hành chính, buổi tối và ngày nghỉ để đẩy nhanh tiến độ.

    Các đồng chí trong Thường trực Đảng ủy, Đảng ủy thường xuyên kiểm tra, nắm kết quả tại cơ sở và có giải pháp kịp thời tháo gỡ khó khăn. Phường cũng đẩy mạnh tuyên truyền để các hộ gia đình, cá nhân chuẩn bị căn cước công dân, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy tờ liên quan, phối hợp xác minh, bổ sung thông tin còn thiếu hoặc chưa thống nhất. 

    Tương tự tại phường Tiền Phong, địa phương vừa phát động chiến dịch cao điểm 28 ngày đêm làm sạch, làm giàu dữ liệu đất đai. Các lực lượng được phân công nhiệm vụ cụ thể, tập trung rà soát, thu thập, đối chiếu, xác thực và cập nhật thông tin về thửa đất, người sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Những dữ liệu còn thiếu, sai lệch hoặc chưa đồng bộ được ưu tiên xác minh, bổ sung, điều chỉnh theo quy định. Theo kế hoạch, năm nay phường phải hoàn thành làm giàu dữ liệu đất đai của hơn 8,7 nghìn thửa đất. 

    Phường Tiền Phong phát động cao điểm 28 ngày, đêm làm sạch, làm giàu dữ liệu đất đai.

    Tại xã Đồng Kỳ, lũy kế đến ngày 7/10, địa phương thực hiện được 11.387/14.561 thửa đất. Khối lượng còn nhiều nên xã triển khai đợt cao điểm thu thập dữ liệu đất đai tại các thôn. Theo lãnh đạo UBND xã, do đặc thù nhiều người dân đi làm ăn xa, nên xã huy động lực lượng tranh thủ làm việc cả ban ngày, buổi tối và những ngày cuối tuần để đẩy nhanh tiến độ, kịp thời rà soát, đối chiếu hồ sơ, bổ sung file quét.

    Được biết, tiến độ làm sạch, làm giàu dữ liệu đất đai tại nhiều xã, phường trên địa bàn thành phố còn chậm, khối lượng công việc còn nhiều. Do đó cần tập trung thời gian, nhân lực thực hiện. Quá trình triển khai, các địa phương phải bảo đảm tiến độ, chất lượng dữ liệu để đồng bộ lên cơ sở dữ liệu quốc gia; tạo thuận lợi trong quản lý, tra cứu thông tin và giải quyết thủ tục hành chính. Cùng với sự chủ động của chính quyền và các tổ công tác, việc người dân tích cực phối hợp cung cấp, xác nhận hồ sơ sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng dữ liệu đất đai.

    Tin, ảnh: Khôi Nguyên

    Nguồn https://baomoi.com/bac-ninh-day-nhanh-tien-do-lam-sach-lam-giau-co-so-du-lieu-dat-dai-c56260445.epi

  • Nghiên cứu chuyển BĐS tồn kho, nhà tái định cư bỏ trống thành nhà ở xã hội

    Định hướng trên được Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đưa ra khi kết luận tại phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản sau khi được kiện toàn, sáng 13/10.

    Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc phát biểu kết luận phiên họp. (Ảnh: Chinhphu.vn)

    Giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ ngành và địa phương, Phó Thủ tướng Thường trực giao Bộ Xây dựng tiếp tục tổ chức các đoàn công tác làm việc với những địa phương có tiến độ chậm, nguy cơ không hoàn thành chỉ tiêu; trực tiếp hướng dẫn, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn và yêu cầu các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ.

    “Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương đánh giá thực trạng bất động sản tồn kho, nhà ở tái định cư, nhà ở thuộc tài sản công chưa được bố trí sử dụng; nghiên cứu giải pháp chuyển đổi công năng, đưa vào khai thác làm nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê”, Phó Thủ tướng Thường trực nêu rõ.

    Đối với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định về sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong các dự án luật liên quan.

    Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính tiếp tục đôn đốc, hướng dẫn các địa phương xử lý những dự án bất động sản tồn đọng, kéo dài theo cơ chế, chính sách đã được cấp có thẩm quyền ban hành; tập trung giải quyết các dự án còn vướng mắc thuộc phạm vi trách nhiệm của Bộ.

    Bộ Tài chính cần nghiên cứu, đề xuất cơ chế bố trí vốn nhà nước để phát triển nhà ở cho thuê. Cùng với nguồn vốn ngân sách, cần nghiên cứu các giải pháp phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường vốn và những quỹ đầu tư phù hợp, tạo thêm kênh huy động vốn trung và dài hạn an toàn cho doanh nghiệp bất động sản.

    Đối với Ngân hàng Nhà nước, Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh bất động sản và người dân mua nhà để ở; hướng dòng vốn vào nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, phấn đấu giảm lãi suất cho vay, đồng thời kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng bất động sản.

    Ngân hàng Nhà nước tiếp tục đôn đốc giải ngân chương trình tín dụng ưu đãi cho nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội; kịp thời tháo gỡ những vướng mắc về điều kiện, thủ tục vay vốn. Đồng thời, phối hợp với Bộ Xây dựng nghiên cứu chính sách tín dụng phù hợp đối với nhà ở cho thuê và các loại hình nhà ở khác.

    Phó Thủ tướng Thường trực giao Bộ Công an bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu đất đai, nhà ở và thị trường bất động sản; tăng cường điều tra, xử lý nghiêm các hành vi lừa đảo, môi giới trái phép và trục lợi chính sách.

    Đối với UBND các tỉnh, thành phố, Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hằng năm; rà soát nhu cầu nhà ở theo từng nhóm đối tượng, từng khu vực, làm cơ sở điều chỉnh chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2026-2030.

    Các địa phương phải đánh giá đúng quan hệ cung – cầu, không chỉ xác định số lượng nhà cần xây dựng mà còn tính toán loại hình, vị trí, giá nhà và những điều kiện cần thiết để người dân có thể tiếp cận, sử dụng. Quy hoạch, bố trí quỹ đất phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê phải gắn với hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhu cầu sinh hoạt thực tế.

    Phó Thủ tướng Thường trực lưu ý tập trung tháo gỡ khó khăn cho các dự án bất động sản tồn đọng, kéo dài theo thẩm quyền; rà soát, bố trí đủ quỹ đất sạch tại vị trí thuận lợi, chủ động dành ngân sách địa phương cho công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện phát triển nhà ở xã hội, nhất là nhà ở cho thuê và thuê mua.

    Cùng với việc khai thác hiệu quả quỹ nhà hiện có, các địa phương phải theo dõi sát diễn biến thị trường, chủ động áp dụng những biện pháp kiểm soát, điều tiết phù hợp; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm hành vi vi phạm trong hoạt động mua, thuê mua nhà ở xã hội, kinh doanh và môi giới bất động sản.

    Theo yêu cầu của Phó Thủ tướng Thường trực, cần tăng tỷ lệ nhà ở xã hội cho thuê, gắn phát triển nhà ở với nhu cầu thực tế, bảo đảm đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tránh tình trạng nhà ở xây dựng xong nhưng bị bỏ hoang, không có người sử dụng.

    Tránh đầu tư sản phẩm không đáp ứng nhu cầu

    Làm rõ yêu cầu phát triển nhà ở theo nhu cầu thực tế, Phó Thủ tướng Thường trực lưu ý phải đánh giá đúng quan hệ cung – cầu trên thị trường bất động sản. Không chỉ xem xét số lượng sản phẩm được đưa ra thị trường mà cần phân tích nhu cầu từng phân khúc, từng khu vực, từng nhóm đối tượng, gắn với thu nhập và khả năng chi trả của người dân.

    Phó Thủ tướng Thường trực đặt vấn đề có nơi nhu cầu nhà ở rất lớn nhưng nguồn cung không đáp ứng được; ngược lại, có những khu vực nhiều nhà đã xây dựng nhưng không có người sử dụng.

    “Vì vậy, không thể chỉ dựa vào số lượng giao dịch giảm để đánh giá sức cầu, mà phải xem xét cơ cấu sản phẩm, vị trí dự án, điều kiện hạ tầng và khả năng tiếp cận của người mua”, Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh.

    Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh cần ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê. (Ảnh minh họa)

    Phó Thủ tướng Thường trực dẫn thực tế có những khu nhà ở được xây dựng ở vị trí chưa thuận lợi, thiếu đường giao thông kết nối, hạ tầng và điều kiện sinh hoạt thiết yếu. Những bất cập đó cho thấy phát triển nhà ở phải đi cùng quy hoạch và tổ chức không gian sống, tránh đầu tư những sản phẩm không đáp ứng nhu cầu, gây lãng phí đất đai, vốn và các nguồn lực xã hội.

    Liên quan đến diễn biến giá bất động sản, Phó Thủ tướng Thường trực cho rằng không nên lo ngại việc giá nhà giảm theo hướng phù hợp hơn với khả năng chi trả của người dân. Điều cần quan tâm là sự lành mạnh, ổn định của thị trường, không để tình trạng mất cân đối cung – cầu, đầu cơ và phát triển quá nóng gây rủi ro cho nền kinh tế.

    Đối với nhà ở cho thuê, Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh đây là hướng phát triển cần được ưu tiên, phù hợp với đặc điểm dịch chuyển việc làm của công nhân, người lao động. Người lao động có thể thay đổi nơi làm việc theo nhu cầu của doanh nghiệp, thị trường, vì vậy cần có nguồn nhà ở cho thuê đủ lớn, được bố trí phù hợp với các trung tâm sản xuất, khu công nghiệp và điều kiện sinh hoạt.

    Để phát triển phân khúc này, phải đa dạng hóa hình thức đầu tư, huy động doanh nghiệp tham gia, kết hợp nguồn lực nhà nước với nguồn lực xã hội. Phó Thủ tướng Thường trực lưu ý không thể chỉ trông chờ vào nguồn vốn của các cơ quan, tổ chức công, bởi nguồn lực này có giới hạn, khó đáp ứng nhu cầu nhà ở cho thuê ngày càng lớn.

    Phó Thủ tướng Thường trực cũng gợi mở khả năng mua lại những căn nhà ở thương mại đã xây dựng nhưng chưa tiêu thụ được để bố trí cho thuê, trên cơ sở bảo đảm hiệu quả, phù hợp quy hoạch và pháp luật.

    Anh Văn

    Nguồn https://baomoi.com/nghien-cuu-chuyen-bds-ton-kho-nha-tai-dinh-cu-bo-trong-thanh-nha-o-xa-hoi-c56260437.epi

  • Hạ ngầm lưới điện trung, hạ áp tại trung tâm đô thị tỉnh phải đồng bộ, an toàn, hạn chế ảnh hưởng đến người dân

    Đoàn công tác đã kiểm tra thực tế khu vực dự kiến cải tạo hạ ngầm tuyến đường dây hạ áp tại phường Thanh Miếu và khu vực dự kiến cải tạo hạ ngầm tuyến đường dây trung, hạ áp tại phường Nông Trang.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phùng Thị Kim Nga kiểm tra khu vực dự kiến cải tạo hạ ngầm tuyến đường dây hạ áp tại phường Thanh Miếu.

    Dự án hạ ngầm lưới điện trung, hạ áp tại khu vực trung tâm đô thị tỉnh Phú Thọ do Sở Công Thương đề xuất triển khai tại các phường Việt Trì, Thanh Miếu, Nông Trang.

    Dự án có tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 797,9 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn đầu tư công ngân sách tỉnh giai đoạn 2026-2030. Dự kiến sẽ hạ ngầm khoảng 21,55km trên tổng số khoảng 55km tuyến phố chính thuộc đô thị Việt Trì. Trong đó, hạ ngầm khoảng 75,7km đường dây hạ áp 0,4kV và khoảng 29,9km đường dây trung áp 22kV, kết hợp đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ bố trí cáp ngầm.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phùng Thị Kim Nga kiểm tra khu vực dự kiến cải tạo hạ ngầm tuyến đường dây trung, hạ áp ở phường Nông Trang.

    Sau khi kiểm tra thực tế, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phùng Thị Kim Nga yêu cầu Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, Công ty Điện lực Phú Thọ, doanh nghiệp viễn thông và UBND các phường rà soát, thống nhất phương án kỹ thuật, phạm vi và thứ tự triển khai theo từng tuyến; làm rõ các điểm vướng mắc, giải pháp xử lý, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị và tiến độ thực hiện. UBND các địa phương liên quan chủ động tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận trong Nhân dân.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh lưu ý việc hạ ngầm phải bảo đảm đồng bộ hạ tầng, an toàn cấp điện, hạn chế tối đa ảnh hưởng đến giao thông, sinh hoạt và hoạt động kinh doanh của người dân. Các cơ quan, đơn vị chủ động phối hợp thực hiện nhiệm vụ, kịp thời báo cáo UBND tỉnh những nội dung vượt thẩm quyền để xem xét, chỉ đạo, bảo đảm đủ điều kiện triển khai dự án theo trình tự quy định.

    Lê Hoàng

    Nguồn https://baomoi.com/ha-ngam-luoi-dien-trung-ha-ap-tai-trung-tam-do-thi-tinh-phai-dong-bo-an-toan-han-che-anh-huong-den-nguoi-dan-c56260826.epi

  • Bộ Công Thương yêu cầu tăng cường quản lý, phát triển cụm công nghiệp

    Bộ Công Thương vừa ban hành Chỉ thị số 11/CT-BCT ngày 12/10/2026 về việc tăng cường công tác quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư, phát triển cụm công nghiệp trong tình hình mới. Chỉ thị đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với chính quyền địa phương, các đơn vị thuộc Bộ Công Thương và cơ quan liên quan nhằm khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong đầu tư và phát triển CCN.

    Siết chặt quản lý, tháo gỡ những điểm nghẽn trong phát triển cụm công nghiệp

    Theo Bộ Công Thương, thời gian qua, công tác quản lý, đầu tư xây dựng hạ tầng và thu hút đầu tư vào CCN được các địa phương quan tâm triển khai, góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động. Hệ thống pháp luật về CCN từng bước được hoàn thiện; công tác xúc tiến, thu hút đầu tư và lựa chọn doanh nghiệp làm chủ đầu tư hạ tầng cũng có những chuyển biến tích cực.

    Tuy nhiên, tại một số địa phương, công tác rà soát, xử lý CCN còn hạn chế; dự án trong CCN chậm triển khai, chưa được xử lý kịp thời; hạ tầng một số CCN chưa đồng bộ, tiến độ đầu tư kéo dài. Công tác xử lý môi trường tuy có cải thiện nhưng chưa đạt yêu cầu, mục tiêu; tỷ lệ lấp đầy và hiệu quả sử dụng đất tại một số CCN còn thấp.

    Rà soát, xử lý những tồn tại trong quản lý, đầu tư hạ tầng và thu hút đầu tư là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các cụm công nghiệp.

    Đáng chú ý, việc thu hút dự án đầu tư chưa gắn chặt với định hướng phát triển ngành và lợi thế của địa phương. Nhiều CCN chưa phát triển theo hướng chuyên ngành, sinh thái, công nghệ cao hoặc hỗ trợ; chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật chưa được quan tâm đúng mức; công tác theo dõi, cập nhật dữ liệu và báo cáo còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý trong điều kiện đẩy mạnh phân cấp, chuyển đổi số.

    Để khắc phục những tồn tại trên, Bộ Công Thương yêu cầu các địa phương, cơ quan, đơn vị liên quan tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng, thẩm quyền; bảo đảm thống nhất trong nhận thức và hành động, nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước, đồng thời tăng cường phối hợp trong quá trình tổ chức thực hiện.

    Chỉ thị được ban hành trong bối cảnh Nghị định số 303/2026/NĐ-CP ngày 1/8/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 32/2024/NĐ-CP về quản lý, phát triển CCN đã có hiệu lực từ ngày 15/9/2026. Đây là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, tháo gỡ khó khăn và nâng cao hiệu quả phát triển CCN trong thời gian tới.

    Địa phương tập trung hoàn thiện quy hoạch, hạ tầng và thu hút đầu tư có chọn lọc

    Đối với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Công Thương yêu cầu thực hiện nghiêm công tác quản lý, phát triển CCN theo quy định tại Nghị định số 32/2024/NĐ-CP, Nghị định số 303/2026/NĐ-CP và pháp luật liên quan; tổ chức phổ biến, quán triệt, triển khai thực hiện các quy định đến các sở, ngành, UBND cấp xã và các tổ chức, cá nhân liên quan.

    Cùng với đó, địa phương cần rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các chính sách hỗ trợ đầu tư từ ngân sách địa phương để xây dựng hạ tầng kỹ thuật CCN, bảo đảm phù hợp quy định pháp luật. Việc bố trí, sử dụng quỹ đất và xác định diện tích đất đối với doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong CCN cũng cần được thực hiện theo đúng quy định.

    Trong quá trình điều chỉnh, thực hiện quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, các địa phương phải rà soát, tích hợp, điều chỉnh phương hướng phát triển CCN, bảo đảm đầy đủ thông tin về tên gọi, địa điểm, quy mô diện tích của từng CCN theo quy định; đồng thời bảo đảm tính khả thi, đồng bộ, thống nhất, không chồng lấn với các quy hoạch khác. Các CCN trong danh mục cần được bố trí đủ quỹ đất và triển khai theo tiến độ quy hoạch sau khi được phê duyệt.

    Một yêu cầu quan trọng khác là tăng cường xúc tiến đầu tư, thu hút và lựa chọn doanh nghiệp có năng lực làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật CCN. Bộ Công Thương định hướng các địa phương ưu tiên phát triển CCN sinh thái, CCN công nghệ cao, CCN chuyên ngành, CCN hỗ trợ và CCN làng nghề, gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế các-bon thấp.

    Việc thu hút đầu tư phải gắn với định hướng phát triển công nghiệp, lợi thế về nguyên liệu, lao động, hạ tầng và thị trường của từng địa phương; ưu tiên dự án có công nghệ cao, công nghệ sạch, giá trị gia tăng cao, tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên, thân thiện với môi trường và có khả năng liên kết chuỗi.

    Hệ thống xử lý nước thải là hạ tầng thiết yếu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý môi trường tại các khu, cụm công nghiệp.

    Về đầu tư hạ tầng, Chỉ thị yêu cầu chủ đầu tư tập trung nguồn lực xây dựng đồng bộ hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật CCN, trong đó chú trọng đầu tư công trình thu gom, xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường. Mục tiêu đặt ra là bảo đảm 100% CCN có nước thải được xử lý đạt quy chuẩn môi trường trong giai đoạn 2026-2030, theo Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

    Để nâng cao hiệu quả quản lý, các địa phương phải thường xuyên rà soát, có biện pháp xử lý dứt điểm các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng CCN chậm tiến độ, không đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường hoặc vi phạm pháp luật. Đồng thời, cần xem xét, xử lý các đơn vị nhà nước được giao làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng CCN không phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và quy định liên quan.

    Đặc biệt, việc xử lý dứt điểm các CCN hình thành trước Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg, nếu có, phải thực hiện theo quy định tại Nghị định số 32/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 303/2026/NĐ-CP, với thời hạn hoàn thành trước ngày 31/12/2026.

    Bên cạnh đó, UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm chỉ đạo hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai, đầu tư, xây dựng, bảo vệ môi trường, phòng cháy, chữa cháy và các quy định liên quan; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về CCN theo quy định.

    Bộ Công Thương tăng cường hướng dẫn, giám sát và hoàn thiện cơ chế quản lý

    Đối với các đơn vị thuộc Bộ Công Thương, Chỉ thị giao Cục Công nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ cơ quan tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về CCN trên phạm vi cả nước theo quy định tại Nghị định số 32/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 303/2026/NĐ-CP.

    Cục Công nghiệp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức tập huấn, phổ biến, hướng dẫn cho các Sở Công Thương, cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan về Nghị định số 303/2026/NĐ-CP cùng các văn bản hướng dẫn thi hành.

    Đáng chú ý, Bộ Công Thương yêu cầu hoàn thành xây dựng Thông tư sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 14/2024/TT-BCT quy định chế độ báo cáo định kỳ về CCN, cơ sở dữ liệu CCN cả nước và một số mẫu văn bản về quản lý, phát triển CCN, báo cáo lãnh đạo Bộ xem xét, ban hành trong tháng 10/2026. Đồng thời, khẩn trương nghiên cứu, xây dựng Thông tư hướng dẫn tiêu chí đánh giá, công nhận CCN sinh thái để các địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan áp dụng thống nhất.

    Phát triển hạ tầng đồng bộ, thu hút đầu tư có chọn lọc là yêu cầu trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các cụm công nghiệp.

    Cục Công nghiệp cũng được giao chủ trì xác định yêu cầu nghiệp vụ, quy trình quản lý, phạm vi và các chỉ tiêu thông tin, dữ liệu của cơ sở dữ liệu CCN cả nước; phối hợp với Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số cùng các cơ quan liên quan xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu. Công tác theo dõi, kiểm tra, khảo sát, đánh giá việc triển khai thực hiện Nghị định số 32/2024/NĐ-CP và Nghị định số 303/2026/NĐ-CP tại địa phương cần được tăng cường để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và đề xuất xử lý các tồn tại, khuyết điểm, vi phạm trong quản lý, phát triển CCN.

    Đối với Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, Bộ yêu cầu chủ trì về giải pháp kỹ thuật, phối hợp chặt chẽ với Cục Công nghiệp và các đơn vị liên quan xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu CCN cả nước, hoàn thành trong giai đoạn 2026-2027; đồng thời phối hợp xử lý các vướng mắc liên quan đến thủ tục hành chính thành lập, mở rộng CCN trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Công Thương.

    Văn phòng Bộ, Vụ Pháp chế, Vụ Kế hoạch – Tài chính, Vụ Tổ chức cán bộ và các đơn vị liên quan có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Cục Công nghiệp, hướng dẫn, cho ý kiến đối với các đề xuất, kiến nghị, khó khăn, vướng mắc của địa phương, cơ quan, đơn vị trong quá trình triển khai thực hiện.

    Chỉ thị số 11/CT-BCT yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan, đơn vị có liên quan nghiêm túc triển khai thực hiện; kịp thời phản ánh khó khăn, vướng mắc về Bộ Công Thương (qua Cục Công nghiệp) để tổng hợp, phối hợp giải quyết.

    Với việc phân định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ và tiến độ thực hiện, Chỉ thị hướng tới tạo chuyển biến thực chất trong công tác quản lý, đầu tư và phát triển cụm công nghiệp; góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, tăng cường bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển công nghiệp địa phương theo hướng hiệu quả, bền vững.

    Chỉ thị số 11/CT-BCT xem tại đây.

    Hoàng Dương

    Nguồn https://baomoi.com/bo-cong-thuong-yeu-cau-tang-cuong-quan-ly-phat-trien-cum-cong-nghiep-c56260181.epi

  • Mạnh tay xử lý các công trình vi phạm trên đất nông nghiệp tại xã Dương Hòa

    Khối lượng cưỡng chế giảm do người dân tự giác chấp hành

    Ghi nhận của phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội tại khu Sông Nổi, xã Dương Hòa cho thấy, đoàn cưỡng chế bắt đầu xử lý theo quy định đối với một công trình có diện tích gần 400m2, kết cấu khung khép, mái tôn. Chủ đầu tư là ông Trần Văn Tuyến, người trú tại địa phương. Đây là một trong 2 trường hợp không chấp hành yêu cầu tự giác tháo dỡ.

    Lực lượng cưỡng chế thực hiện nhiệm vụ tại khu Sông Nổi, xã Dương Hòa. Ảnh: Thái Trọng.

    Lãnh đạo UBND và Công an xã Dương Hòa chỉ đạo cưỡng chế tại hiện trường. Ảnh: Thái Trọng.

    Ông Nguyễn Trọng Tấn, Phó Chủ tịch UBND xã Dương Hòa cho biết, thời gian qua, UBND xã Dương Hòa đã tập trung triển khai nhiều giải pháp, trong đó chú trọng công tác kiểm tra, rà soát, tuyên truyền, vận động các hộ gia đình, cá nhân tự giác tháo dỡ công trình vi phạm, trả lại hiện trạng đất theo quy định của pháp luật. Với sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương cùng sự phối hợp của các lực lượng chức năng, đến nay, công tác vận động đã đạt được những kết quả tích cực.

    Ông Nguyễn Trọng Tấn, Phó Chủ tịch UBND xã Dương Hòa khẳng định, toàn bộ các công trình vi phạm trên đất nông nghiệp hiện nay trên địa bàn xã đều tồn tại từ trước 1/7/2025. Video: Xuân Song – Thái Trọng.

    Công trình còn lại bị cưỡng chế nằm ở khu Cửa Chế Thượng, thôn 7, xã Dương Hòa có diện tích 211m2. Chủ đầu tư là ông Nguyễn Duy Tiến đã tiến hành xây dựng từ trước 1/7/2025. Lực lượng cưỡng chế hỗ trợ gia đình di chuyển các tài sản là vật dụng sinh hoạt ra khỏi công trình trước khi tiến hành tháo dỡ.

    Hiệu quả từ công tác tuyên truyền, vận động

    Liên tục nhiều ngày trước đó, lãnh đạo UBND xã Dương Hòa đã trực tiếp kiểm tra thực tế tại các hộ gia đình, cá nhân có công trình xây dựng vi phạm trên đất nông nghiệp, đồng thời đôn đốc việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai, đẩy nhanh tiến độ tháo dỡ các công trình vi phạm theo quy định.

    Qua kiểm tra thực tế, cơ bản các hộ đã nghiêm túc chấp hành việc tháo dỡ công trình vi phạm. Cụ thể: có 7 hộ đã tự giác tháo dỡ hoàn toàn 100% công trình; 13 hộ đã tháo dỡ đạt từ 80% đến 90% khối lượng và đang tiếp tục triển khai tháo dỡ phần còn lại. Kết quả này thể hiện sự chuyển biến trong nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của người dân, đồng thời cho thấy hiệu quả của công tác tuyên truyền, vận động gắn với kiểm tra, đôn đốc của chính quyền địa phương.

    Tại buổi kiểm tra gần nhất vào ngày 12/10, ông Lê Đức Phóng, Chủ tịch UBND xã Dương Hòa đã yêu cầu các hộ gia đình, cá nhân chưa hoàn thành việc tháo dỡ khẩn trương thực hiện dứt điểm, không để kéo dài tình trạng vi phạm; đồng thời giao các bộ phận chuyên môn và lực lượng chức năng tiếp tục theo dõi, kiểm tra tiến độ, hướng dẫn và đôn đốc các hộ thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về đất đai.

    Chiều ngày 12/10, đoàn công tác của xã Dương Hòa do ông Lê Đức Phóng, Chủ tịch UBND xã vẫn kiên trì vận động từng trường hợp vi phạm tự giác khắc phục. Ảnh: Trung tâm dịch vụ tổng hợp xã Dương Hòa.

    Tiếp tục ghi nhận công tác cưỡng chế, xử lý tại địa bàn thôn Dương Liễu 5, chúng tôi có mặt tại công trình đã tự giác tháo dỡ xong của hộ gia đình ông Nguyễn Tiến Hoàn. Ông Hoàn cho biết: “Gia đình tôi xây dựng nhà xưởng rộng gần 300m2 này từ 3 năm trước đây. Mới đưa vào sử dụng để sản xuất đồ gỗ được 2 năm thì đến nay, chấp hành yêu cầu của chính quyền, gia đình đã tự tổ chức tháo dỡ, hoàn trả lại hiện trạng ban đầu. Việc này cũng xuất phát hoàn toàn từ nhu cầu mặt bằng sản xuất của gia đình. Tôi cũng mong muốn là địa phương sắp tới đây sớm bố trí làm sao đầu tư xây dựng các khu, cụm công nghiệp để chúng tôi có điều kiện sản xuất hợp pháp.”

    Hộ gia đình ông Nguyễn Tiến Hoàn tại thôn Dương Liễu 4, xã Dương Hòa tự giác tháo dỡ công trình vi phạm. Ảnh: Thái Trọng.

    Việc tăng cường kiểm tra, đôn đốc và kiên quyết xử lý các công trình vi phạm trên đất nông nghiệp thể hiện quyết tâm của xã Dương Hòa trong thực hiện Kết luận số 114 của Thành ủy Hà Nội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng; từng bước xử lý dứt điểm các vi phạm, lập lại kỷ cương, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật về công tác quản lý đất đai trên địa bàn./.

    Xuân Song – Thái Trọng

    Nguồn https://baomoi.com/manh-tay-xu-ly-cac-cong-trinh-vi-pham-tren-dat-nong-nghiep-tai-xa-duong-hoa-c56260416.epi

  • Quy định mới về quản lý, tính hao mòn, trích khấu hao tài sản kết cấu hạ tầng

    Quy định mới về quản lý, tính hao mòn, trích khấu hao tài sản kết cấu hạ tầng

    Thông tư quy định về quản lý tài sản kết cấu hạ tầng là tài sản cố định, trong đó nêu rõ các nội dung về: Tiêu chuẩn và nguyên tắc quản lý tài sản kết cấu hạ tầng là tài sản cố định; nguyên giá, hao mòn, khấu hao, giá trị còn lại của tài sản kết cấu hạ tầng là tài sản cố định.

    Theo Thông tư, tài sản kết cấu hạ tầng được xác định nguyên giá, giá trị còn lại, tính hao mòn, trích khấu hao, thực hiện kê khai, báo cáo theo quy định tại Thông tư này gồm: Tài sản kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hạ tầng thương mại, hạ tầng thông tin và truyền thông, hạ tầng công nghiệp công nghệ số (bao gồm cả khu công nghệ số tập trung); tài sản kết cấu hạ tầng văn hóa, hạ tầng thể thao, hạ tầng du lịch; tài sản kết cấu hạ tầng đô thị; tài sản kết cấu hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường; tài sản kết cấu hạ tầng đê điều; tài sản kết cấu hạ tầng cảng cá, khu neo đậu, khu tránh trú bão; tài sản kết cấu hạ tầng khác theo quy định của pháp luật.

    Đối với đất (bao gồm đất có mặt nước) gắn với hạng mục, công trình kết cấu hạ tầng theo quy định trên, Thông tư nêu rõ: Trường hợp đất (bao gồm đất có mặt nước) gắn với hạng mục, công trình kết cấu hạ tầng mà đối tượng quản lý tài sản thuộc trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai để quản lý, sử dụng thì việc xác định nguyên giá, thay đổi nguyên giá quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 141/2025/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị và tài sản cố định do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; không thực hiện tính hao mòn, trích khấu hao tài sản.

    Trường hợp đất (bao gồm đất có mặt nước) gắn với hạng mục, công trình kết cấu hạ tầng không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì đối tượng quản lý tài sản không phải thực hiện việc xác định nguyên giá, thay đổi nguyên giá quyền sử dụng đất, tính hao mòn, trích khấu hao tài sản.

    Tài sản kết cấu hạ tầng đáp ứng điều kiện quy định tại điểm e khoản 3 Điều 12 Nghị định số 178/2026/NĐ-CP là tài sản kết cấu hạ tầng đặc thù thì quy ước nguyên giá của tài sản đó là 01 đồng, không áp dụng việc thay đổi nguyên giá. Đối tượng quản lý tài sản có trách nhiệm thực hiện theo dõi tài sản trên Thuyết minh báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán, thực hiện hạch toán riêng phần giá trị đầu tư nâng cấp, mở rộng tài sản theo dự án sử dụng vốn nhà nước được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt (nếu có) trên sổ kế toán của đơn vị theo quy định; không thực hiện tính hao mòn, trích khấu hao tài sản.

    Bộ quản lý chuyên ngành quyết định cụ thể tài sản kết cấu hạ tầng quy định tại khoản này tương ứng với loại tài sản kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi quản lý nhà nước về hạ tầng của mình trong danh mục tài sản kết cấu hạ tầng theo quy định tại khoản 1 Điều 1 và điểm a khoản 3 Điều 47 Nghị định số 178/2026/NĐ-CP.

    Trách nhiệm của đối tượng quản lý tài sản kết cấu hạ tầng

    Thông tư nêu rõ nguyên tắc quản lý và trách nhiệm của đối tượng quản lý tài sản kết cấu hạ tầng. Trong đó, nêu rõ tài sản kết cấu hạ tầng phải được lập hồ sơ tài sản để quản lý chặt chẽ về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan. Các chỉ tiêu về nguyên giá, hao mòn, khấu hao, giá trị còn lại của tài sản kết cấu hạ tầng là số nguyên; trường hợp kết quả xác định các chỉ tiêu này là số thập phân thì được làm tròn số theo quy định về sử dụng đơn vị tiền tệ rút gọn tại pháp luật về kế toán.

    Mỗi một tài sản kết cấu hạ tầng là một đối tượng ghi sổ kế toán. Kế toán tài sản kết cấu hạ tầng phải phản ánh, ghi chép đầy đủ thông tin về nguyên giá, hao mòn, khấu hao, giá trị còn lại của tài sản theo quy định.

    Đối với tài sản kết cấu hạ tầng không còn nhu cầu sử dụng nhưng chưa tính đủ hao mòn hoặc chưa khấu hao hết giá trị theo quy định thì đối tượng quản lý tài sản tiếp tục thực hiện quản lý, theo dõi, bảo quản tài sản theo quy định hiện hành và tính hao mòn theo quy định tại Thông tư này cho đến khi được xử lý theo quy định; không phải trích khấu hao.

    Đối với tài sản kết cấu hạ tầng đã tính đủ hao mòn hoặc đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn tiếp tục sử dụng được thì đối tượng quản lý tài sản tiếp tục thực hiện quản lý, sử dụng, theo dõi, bảo quản tài sản theo quy định hiện hành và không phải tính hao mòn, trích khấu hao.

    Trường hợp tài sản kết cấu hạ tầng đã tính đủ hao mòn hoặc đã khấu hao hết giá trị nhưng sau đó thuộc trường hợp thay đổi nguyên giá thì phải tính hao mòn, trích khấu hao theo quy định cho thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao còn lại (nếu có) sau khi thay đổi nguyên giá.

    Trường hợp chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng tài sản, cho thuê quyền khai thác tài sản thì đối tượng quản lý tài sản tiếp tục thực hiện quản lý, theo dõi và tính hao mòn tài sản theo quy định tại Thông tư này trong thời gian chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng tài sản, cho thuê quyền khai thác tài sản; không phải trích khấu hao trong thời gian chuyển nhượng quyền thu phí, cho thuê quyền khai thác tài sản…

    Các trường hợp thay đổi (điều chỉnh) nguyên giá tài sản kết cấu hạ tầng

    1. Đánh giá lại giá trị tài sản kết cấu hạ tầng khi thực hiện kiểm kê theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    2. Thực hiện đầu tư nâng cấp, mở rộng tài sản kết cấu hạ tầng theo dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt (bao gồm cả trường hợp dự án đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo, mở rộng tài sản khác nhưng trong dự án có nội dung đầu tư vào tài sản kết cấu hạ tầng hiện có và trường hợp chủ đầu tư dự án đầu tư nâng cấp, cải tạo, mở rộng tài sản không phải là đối tượng quản lý tài sản).

    3. Tháo dỡ một hay một số bộ phận tài sản kết cấu hạ tầng (trong trường hợp giá trị bộ phận tài sản tháo dỡ đang được hạch toán chung trong nguyên giá tài sản), trừ trường hợp việc tháo dỡ để thay thế khi bảo trì công trình.

    4. Lắp đặt thêm một hay một số bộ phận tài sản kết cấu hạ tầng, trừ trường hợp lắp đặt để thay thế khi bảo trì công trình.

    5. Tài sản kết cấu hạ tầng bị mất một phần hoặc hư hỏng nghiêm trọng do thiên tai, sự cố bất khả kháng hoặc những tác động đột xuất khác (trừ trường hợp tài sản được khắc phục sự cố theo quy định của pháp luật chuyên ngành về hạ tầng hoặc được khôi phục lại thông qua bảo hiểm, bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân có liên quan).

    Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24/11/2026./.

    Nguồn https://baomoi.com/quy-dinh-moi-ve-quan-ly-tinh-hao-mon-trich-khau-hao-tai-san-ket-cau-ha-tang-c56260331.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!