Các Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách thành phố Nguyễn Thị Việt Nga, Lã Thanh Tân đồng chủ trì toạ đàm.
Tham dự có các ĐBQH thành phố; đại diện lãnh đạo HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố; lãnh đạo các sở, ngành, cơ quan tư pháp, Cảng vụ Hàng hải, các viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng; các Hiệp hội chuyên ngành cùng đông đảo doanh nghiệp cảng biển, vận tải và logistics trên địa bàn.
Quang cảnh tọa đàm. Ảnh: Việt Cường
Cần hệ thống cơ chế, chính sách đồng bộ phát huy lợi thế cảng biển
Phát biểu đề dẫn, lãnh đạo Đoàn ĐBQH thành phố nêu rõ, Hải Phòng có lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý, hệ thống cảng biển, mạng lưới giao thông và các khu công nghiệp, khu kinh tế gắn với hoạt động xuất nhập khẩu, logistics. Tuy nhiên, để tiếp tục phát huy thế mạnh và nâng cao năng lực cạnh tranh, Hải Phòng và các địa phương có điều kiện phát triển tương đồng cần một hệ thống cơ chế, chính sách đồng bộ. Hệ thống đó phải tạo điều kiện huy động nguồn lực xã hội, nâng cao hiệu quả khai thác cảng biển, phát triển vận tải đa phương thức, giảm thời gian và chi phí lưu thông hàng hóa.
Tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội dự kiến cho ý kiến về dự án Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam; dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Hai dự án luật có phạm vi điều chỉnh khác nhau, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ trong việc hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế biển, quản lý hoạt động hàng hải, khai thác kết cấu hạ tầng cảng biển, sử dụng không gian biển và bảo vệ môi trường biển.
Theo lãnh đạo Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng, Dự thảo Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đã bổ sung một chương riêng về chính sách phát triển hàng hải và đường thủy. Chương này đề xuất các cơ chế ưu đãi về đất đai, mặt nước, khu vực biển, thuế, phí, lệ phí, tín dụng và hỗ trợ công nghệ đối với nhà đầu tư chiến lược, doanh nghiệp phát triển đội tàu, doanh nghiệp công nghiệp hàng hải, hoạt động chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực.
Bên cạnh đó, Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) cũng bổ sung một chương riêng về quản lý, sử dụng không gian biển. Trong đó, có các nội dung về giải quyết chồng lấn, xung đột trong sử dụng không gian biển; giao, cho thuê và đấu giá quyền sử dụng khu vực biển.
Do đó, tọa đàm là diễn đàn quan trọng để Đoàn ĐBQH thành phố trực tiếp lắng nghe những vướng mắc, bất cập từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh. Từ đó tổng hợp, kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách sát thực tế, tạo hành lang thông thoáng thúc đẩy cảng biển và dịch vụ logistics phát triển bứt phá.
Các đại biểu, chuyên gia và đại diện doanh nghiệp tham gia đóng góp ý kiến tại tọa đàm. Ảnh: Việt Cường
Các đại biểu, chuyên gia và đại diện doanh nghiệp tham gia đóng góp ý kiến tại tọa đàm. Ảnh: Việt Cường
Tháo gỡ điểm nghẽn về hạ tầng, đội tàu và vận tải thủy
Tại tọa đàm, các ĐBQH, chuyên gia và đại diện cộng đồng doanh nghiệp đã tập trung thảo luận sâu vào các nhóm vấn đề trọng tâm, nhằm tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn thể chế.
Cụ thể, về kết nối hạ tầng, nhiều ý kiến cho rằng cần bổ sung quy định bắt buộc kết nối đường sắt vào vùng đất cảng biển loại I trở lên. Các ý kiến cũng đề nghị công bố ga Lạch Huyện là ga liên vận quốc tế và là điểm thay đổi phương thức vận tải đối với hàng hóa quá cảnh, phục vụ tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng.
Để phát triển đội tàu container quốc gia, các Hiệp hội kiến nghị nâng ngưỡng miễn hoa tiêu bắt buộc cho tàu có chân vịt mũi từ 2.000 GT lên 5.000 GT, đồng thời luật hóa việc không bắt buộc lai dắt đối với tàu container có chân vịt mũi dưới 100 mét. Theo các hiệp hội, thay đổi này sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp đóng mới các tàu cỡ lớn từ 600 TEU trở lên, qua đó cắt giảm chi phí và khí phát thải.
Từ thực tiễn vận tải thủy nội địa, đại diện Hiệp hội Vận tải Hải Phòng cho rằng việc đình chỉ hoạt động các bến cảng ngoài đê nên căn cứ vào cấp báo động lũ và điều kiện an toàn thực tế, thay vì áp dụng khung thời gian mùa mưa lũ cố định. Trong thời gian cảng buộc dừng hoạt động, doanh nghiệp cần được miễn, giảm tiền thuê đất tương ứng. Hiệp hội cũng mong muốn được phép xây dựng kho kết cấu nhẹ trên nền cọc ngoài đê, địa phương tiếp tục giữ thẩm quyền quyết định phí sử dụng hạ tầng cảng biển.
Các đại biểu, chuyên gia và đại diện doanh nghiệp tham gia đóng góp ý kiến tại tọa đàm. Ảnh: Việt Cường
Rà soát ưu đãi, phân cấp gắn với rõ trách nhiệm
Phát biểu tại tọa đàm, đại diện Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng cho biết, theo thống kê của Cục Hàng hải Việt Nam, cả nước có 7.650 container tồn đọng trên 90 ngày tại các bãi cảng lớn, chiếm khoảng 5% năng lực khai thác bãi. Trong thời gian chờ xử lý, cảng phải chịu chi phí trung bình khoảng 0,5 – 1 USD/TEU/ngày. Tuy vậy, tiền đấu giá lô hàng lại nộp toàn bộ vào ngân sách mà không ưu tiên hoàn trả chi phí cho cảng.
Do đó, doanh nghiệp đề nghị giao cảng chủ trì xử lý, thanh lý hàng tồn đọng. Cụ thể, sau khoảng 60 ngày kể từ khi cảng thông báo mà không nhận được phản hồi, cảng được quyền khởi động thanh lý. Tiền thu được khi đó sẽ ưu tiên hoàn trả toàn bộ chi phí hợp lý, hợp lệ. Không chỉ vậy, doanh nghiệp còn đề nghị thiết lập cơ chế giám sát định kỳ đối với phụ phí của hãng tàu nước ngoài. Lý do là mỗi khi giá bốc xếp tại cảng được điều chỉnh, nhiều hãng tàu lập tức tăng phụ phí với mức cao hơn nhiều lần mức điều chỉnh của cảng.
Ở góc độ quản lý thu, đại diện cơ quan thuế cho rằng một số ưu đãi trong hai dự thảo chưa thống nhất với pháp luật hiện hành. Chẳng hạn, dự thảo Bộ luật quy định miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước 10 năm cho doanh nghiệp đầu tư cảng biển. Theo đại diện cơ quan thuế, mức này không tương ứng với các mức miễn hiện hành. Trên thực tế, Nghị định 103/2024/NĐ-CP chỉ quy định thời gian miễn tiền thuê đất theo các mức 3, 7, 11, 15 năm hoặc toàn bộ thời gian thuê, tùy ngành, nghề và địa bàn đầu tư.
Tương tự, dự thảo cũng đề xuất giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp cho vận tải đa phương thức và miễn thuế 5 năm cho dự án chuyển đổi xanh. Theo đại diện cơ quan thuế, cả hai mức này đều vượt khung của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, vốn chỉ cho phép miễn thuế tối đa 4 năm và giảm 50% tối đa 9 năm tiếp theo.
Quan tâm đến tính thống nhất của pháp luật, đại diện Sở Tư pháp đề nghị rà soát quy định về thẩm quyền theo hướng “rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm”. Bởi, việc dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) giao cả UBND cấp tỉnh và cấp xã quản lý hành chính trên biển có thể dẫn đến chồng lấn. Đồng thời, Sở Tư pháp lưu ý việc lấy ý kiến Bộ quản lý chuyên ngành không nên trở thành “thêm một bước chấp thuận thực chất” đối với những nội dung đã phân cấp cho địa phương.
Hoàn thiện pháp luật theo hướng thông suốt, khả thi
Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách thành phố Hải Phòng Nguyễn Thị Việt Nga phát biểu kết luận toạ đàm. Ảnh: Việt Cường
Phát biểu kết luận tọa đàm, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách thành phố Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh, yêu cầu xuyên suốt khi hoàn thiện hai dự án luật là bảo đảm các quy định thông suốt, đồng bộ và hiệu quả. Theo đó, các quy định phải tháo gỡ được những vướng mắc, điểm nghẽn đang cản trở đầu tư, khai thác cảng biển và hoạt động logistics, đồng thời tạo khung pháp lý cho phát triển lâu dài.
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga phân tích, một dự án cảng biển thường liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều cơ quan và nhiều thủ tục. Vì vậy, quy định ở từng lĩnh vực dù hợp lý, nhưng nếu thiếu liên thông, chưa rõ trách nhiệm, vẫn có thể phát sinh thời gian chờ đợi và chi phí cho doanh nghiệp.
Từ những ý kiến tại tọa đàm, Phó Trưởng Đoàn Nguyễn Thị Việt Nga khái quát 6 nhóm vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu:
Thứ nhất, bảo đảm đồng bộ các quy định về đầu tư, cảng biển và sử dụng khu vực biển, trong đó cần làm rõ mối quan hệ giữa việc lựa chọn nhà đầu tư dự án cảng và đấu giá quyền sử dụng khu vực biển.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế nạo vét, duy tu luồng. Theo đó, cần làm rõ trách nhiệm quản lý và nguồn kinh phí, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa thủ tục nạo vét, xử lý vật chất nạo vét và cấp phép nhận chìm ở biển.
Thứ ba, hướng chính sách logistics vào giảm chi phí thực tế mà doanh nghiệp đang phải gánh, đi đôi với cơ chế công khai, minh bạch giá và điều kiện thu.
Thứ tư, tạo cơ sở pháp lý cho kết nối hạ tầng và vận tải đa phương thức. Bởi lẽ, phát triển cảng biển phải gắn với cảng cạn, trung tâm logistics, kho bãi và hệ thống giao thông kết nối. Đặc biệt, việc kết hợp hàng hải và đường thủy trong một bộ luật cần giải quyết được những vướng mắc tại khu vực giao thoa giữa sông và biển.
Thứ năm, quản lý tổng hợp không gian biển và bảo vệ môi trường, bao gồm cơ chế phòng ngừa, giải quyết xung đột giữa các mục đích sử dụng biển và xác định rõ cơ quan chủ trì khi có chồng lấn.
Thứ sáu, bảo đảm khả năng thực hiện các chính sách chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và phát triển nhân lực.
Các ý kiến tại toạ đàm sẽ được Đoàn ĐBQH Thành phố Hải Phòng tổng hợp đầy đủ, trung thực và được phân loại thành 3 nhóm: nội dung cần sửa đổi ngay trong luật, nội dung cần quy định chi tiết và vấn đề thuộc tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đó, Đoàn ĐBQH sẽ lựa chọn những kiến nghị có cơ sở thực tiễn và tính khả thi để tham gia thảo luận tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI tới.
Leave a Reply