Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Tái chế phế thải xây dựng cần ‘đòn bẩy’ chính sách

    Tuy nhiên, bài toán này chỉ thực sự có lời giải khi các nút thắt về cơ chế và thị trường tiêu thụ được tháo gỡ.

    Biến phế thải thành vật liệu

    Những ngày giữa tháng 8, tại khu đất rộng 6,5ha gần nút giao Pháp Vân – Cầu Giẽ (TP Hà Nội) do Công ty CP Dịch vụ sản xuất Toàn Cầu quản lý, không khí làm việc rất khẩn trương, hối hả.

    Nghiền chất thải rắn xây dựng tại bãi tập kết của Công ty CP Dịch vụ sản xuất Toàn Cầu.

    Các đoàn xe tải trọng lớn được cấp phép nghiền tái chế ra vào liên tục, chở theo hàng nghìn khối gạch vỡ, bê tông và đất thải dồn về từ các công trường giải phóng mặt bằng khu vực nội đô.

    Tại khu vực trung tâm bãi, hệ thống dây chuyền, máy nghiền phân loại đang vận hành hết công suất, đưa những khối phế thải vào quy trình nghiền sàng, rã ra thành các cỡ đá và nguyên liệu tái chế khác nhau. Để hạn chế ảnh hưởng môi trường, hệ thống phun nước dập bụi cũng hoạt động liên tục.

    Ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó giám đốc Công ty CP Dịch vụ sản xuất Toàn Cầu cho biết, ngay từ khi TP Hà Nội có chủ trương xã hội hóa xử lý chất thải rắn xây dựng công ty Toàn Cầu xác định “biến phế thải thành tài nguyên”.

    Công ty đã đầu tư dây chuyền, máy móc từ châu Âu, trong đó có máy nghiền Rubble Master của LB Đức, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường cao, độ ồn, bụi phát sinh thấp, phù hợp với điều kiện thi công trong khu vực đô thị.

    Ngoài xử lý tại bãi tập kết, các thiết bị này có thể đưa vào gần công trình để phế thải bê tông, gạch vỡ được nghiền ngay tại chỗ, qua đó giảm công tác vận chuyển và áp lực cho bãi chôn lấp.

    Thời gian qua, trên địa bàn TP Hà Nội đồng loạt triển khai giải phóng mặt bằng hơn 1.400 dự án hạ tầng giao thông và chỉnh trang đô thị khiến lượng chất thải rắn xây dựng tăng mạnh.

    Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày, trên địa bàn TP Hà Nội phát sinh khoảng 3.000 – 3.400 tấn chất thải rắn xây dựng. Khoảng 90% chất thải này là vật liệu vô cơ có tính trơ cao, mang lại khả năng tái chế và sử dụng. Song, phần lớn công nghệ nghiền trên địa bàn đang dừng ở mức cơ học đơn giản để làm vật liệu san nền.

    Tỷ lệ tái chế vẫn còn thấp

    Ông Nguyễn Quang Hiệp, Viện trưởng Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết, chất thải rắn xây dựng là nguồn tài nguyên thứ cấp rất quan trọng của ngành Xây dựng. Thành phần chủ yếu là bê tông, gạch, đá, vữa… có thể tái chế làm cốt liệu cho bê tông, vật liệu san lấp, nền đường và nhiều sản phẩm vật liệu xây dựng khác.

    Hà Nội đang triển khai 1.400 dự án hạ tầng, phát sinh đến 3.400 tấn chất thải rắn xây dựng mỗi ngày.

    Tuy nhiên, tỷ lệ tái chế tại Việt Nam nói chung và TP Hà Nội nói riêng còn thấp, phần lớn vẫn chưa được được sử dụng hiệu quả.

    Theo ông Hiệp, nguyên nhân chủ yếu là do chất thải rắn xây dựng chưa được phân loại tại nguồn, hạ tầng thu gom và tái chế còn thiếu; hệ thống định mức, hướng dẫn kỹ thuật chưa hoàn thiện; thị trường tiêu thụ vật còn hạn chế, khiến doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư.

    Ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó giám đốc Công ty CP Dịch vụ sản xuất Toàn Cầu cũng chia sẻ, rào cản lớn nhất hiện nay là nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi.

    Theo ông Tuấn, do áp lực chi phí vận chuyển, xử lý, cùng ý thức chấp hành pháp luật của một số chủ nguồn thải còn hạn chế, nạn đổ thải tràn lan vẫn diễn ra phức tạp. Cùng đó, các chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng chưa mạnh dạn đưa sản phẩm tái chế vào các hạng mục phù hợp như san lấp, lát nền, nền đường.

    “Cơ chế đặt hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật, đơn giá dịch vụ xử lý và đầu ra cho sản phẩm tái chế cũng cần tiếp tục hoàn thiện để doanh nghiệp yên tâm đầu tư lâu dài”, ông Tuấn nói.

    Cần có chính sách, cơ chế đủ mạnh

    Thời gian qua, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn về vật liệu tái chế từ chất thải rắn xây dựng, như tiêu chuẩn về cốt liệu tái chế cho bê tông, cấp phối tái chế làm lớp móng đường và vật liệu san lấp.

    Song, để chất thải rắn xây dựng trở thành nguồn tài nguyên trong mô hình kinh tế tuần hoàn, theo ông Nguyễn Quang Hiệp, cần có các cơ chế, chính sách đủ mạnh nhằm thúc đẩy đầu tư vào công nghệ và phát triển thị trường tiêu thụ.

    Trước hết, cần quy định việc phân loại chất thải rắn xây dựng tại nguồn và hoàn thiện hệ thống thu gom, vận chuyển, xử lý đồng bộ để bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định cho các cơ sở tái chế; Có các chính sách ưu đãi về đất đai, tín dụng, thuế và hỗ trợ đổi mới công nghệ nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư các dây chuyền hiện đại, nâng cao chất lượng và giá trị của sản phẩm tái chế.

    Ông Hiệp cũng cho rằng, Nhà nước cần đóng vai trò dẫn dắt thị trường thông qua việc ưu tiên, từng bước quy định tỷ lệ sử dụng vật liệu tái chế trong các công trình đầu tư công phù hợp với điều kiện kỹ thuật, kinh tế.

    Khi thị trường hình thành và phát triển ổn định, chất thải rắn xây dựng sẽ trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng, góp phần tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và thúc đẩy phát triển ngành Xây dựng theo hướng xanh, tuần hoàn và bền vững.

    Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cũng cho rằng, bài toán cốt lõi nằm ở việc tạo dựng thị trường đầu ra ổn định và cơ chế quản lý minh bạch cho doanh nghiệp. Việc quy định rõ tiêu chuẩn và cấp phép ứng dụng vật liệu tái chế vào các hạng mục như san lấp, nền đường, hạ tầng kỹ thuật hay kè chắn sẽ giúp vật liệu này có đầu ra ổn định.

    Bên cạnh đó, cần ban hành đơn giá dịch vụ xử lý vật liệu tái chế hợp lý. Nếu đơn giá quá thấp hoặc đầu ra không ổn định, doanh nghiệp khó duy trì vận hành lâu dài.

    Ông Tuấn cũng kiến nghị cơ quan chức năng cần siết chặt việc kiểm soát phương án thu gom, vận chuyển phế thải ngay từ khâu cấp phép phá dỡ, đồng thời nâng cao khung xử phạt. Đây là giải pháp nhằm chấm dứt nạn đổ thải trộm.

    Theo ông Nguyễn Quang Hiệp, Viện trưởng Viện Vật liệu xây dựng, Viện đã triển khai nhiều nghiên cứu về công nghệ tái chế; chất thải rắn xây dựng tiêu chuẩn, đánh giá chất lượng và tư vấn chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp.

    Thời gian tới, Viện sẽ tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Bộ Xây dựng, phối hợp với các địa phương và doanh nghiệp để hoàn thiện cơ sở khoa học, tiêu chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật và các giải pháp công nghệ nhằm thúc đẩy sử dụng hiệu quả chất thải rắn xây dựng theo định hướng kinh tế tuần hoàn.

    Tiến Hào

    Kế Toại

    Nguồn https://baomoi.com/tai-che-phe-thai-xay-dung-can-don-bay-chinh-sach-c55877536.epi

  • Mỗi địa điểm sẽ có mã định danh 12 chữ số, hiển thị trên VNeID

    Theo đó, Nghị định quy định về việc định danh đối với các địa điểm trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (trừ các đối tượng thuộc Danh mục bí mật nhà nước); việc xây dựng, quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

    Nghị định nêu rõ mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất, tuân thủ cấu trúc thống nhất trên toàn quốc, bảo đảm tính liên tục và ổn định, không trùng lặp trong toàn hệ thống. Đối với loại đối tượng có kết cấu theo chiều dài tiếp giáp dọc đường giao thông và có thể tiếp cận đối tượng từ bất cứ vị trí nào dọc đoạn đường giao thông đó thì cách gán định danh địa điểm cho đối tượng áp dụng như đối với đường giao thông.

    Định danh địa điểm là hoạt động thu thập, tạo lập dữ liệu và cấp mã định danh cho một địa điểm nhằm phân biệt địa điểm này với địa điểm khác. Đối tượng được định danh địa điểm là các thửa đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, địa danh hoặc bất cứ cấu trúc vật lý và các đối tượng khác được quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định này.

    Việc định danh địa điểm, cấp mã định danh địa điểm được thực hiện dựa trên dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, bảo đảm kế thừa, đồng bộ, thống nhất; không thay thế chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan theo quy định của pháp luật.

    Mã định danh địa điểm sau khi được tạo lập, gắn mã duy nhất cho một đối tượng cụ thể phải có tính ổn định lâu dài. Mã định danh địa điểm là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số do Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm xác lập.

    Theo Nghị định, cơ sở dữ liệu định danh địa điểm là cơ sở dữ liệu quốc gia, tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, được chuẩn hóa, lưu trữ và quản lý thông tin về địa điểm của các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

    Thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, gồm: Mã định danh địa điểm; đối tượng định danh địa điểm; địa chỉ của địa điểm; lối tiếp cận; mã bưu chính; thông tin tọa độ theo hệ tọa độ quốc gia VN-2000 hoặc hệ tọa độ toàn cầu WGS-84 (tọa độ điểm đặc trưng hoặc tọa độ biên); các thông tin của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có); trạng thái hoạt động của địa điểm; tên địa điểm; thông tin kết cấu của địa điểm (nếu có); thông tin không gian ba chiều của địa điểm (nếu có); cơ quan chủ quản dữ liệu địa điểm; dấu hiệu nhận biết của địa điểm (nếu có); cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu, sử dụng địa điểm (nếu có); thông tin địa chỉ các thành phần thuộc địa điểm; thông tin mô tả địa chỉ; các thông tin khác của đối tượng định danh địa điểm được kết nối, chia sẻ từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

    Dữ liệu định danh địa điểm được kết nối, chia sẻ, khai thác phục vụ quản lý nhà nước và phát triển kinh tế xã hội. Việc chia sẻ, khai thác dữ liệu định danh địa điểm phải đúng mục đích, phạm vi và thẩm quyền; không yêu cầu cung cấp thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính mà các thông tin trong thành phần hồ sơ đã có dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.

    Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1-9-2026.

    Phương Nguyên

    Nguồn https://baomoi.com/moi-dia-diem-se-co-ma-dinh-danh-12-chu-so-hien-thi-tren-vneid-c55877578.epi

  • Ngày 21/8, Quốc hội thảo luận định hướng sửa đổi Luật Đất đai và Luật Nhà ở

    Trong phiên làm việc buổi sáng, Quốc hội thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

    Sau phần thảo luận, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề được các đại biểu Quốc hội nêu.

    Trong phiên làm việc buổi chiều, Quốc hội thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023.

    Kết thúc phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Xây dựng phát biểu giải trình, làm rõ một số nội dung được đại biểu Quốc hội quan tâm, nêu ý kiến.

    Quốc hội tiếp tục thảo luận các dự án luật.

    Trước đó, tại Tờ trình của Chính phủ trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết: Qua gần 2 năm thi hành, Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật có nhiều nội dung mới mang tính đột phá, quan trọng, góp phần vào mục tiêu hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất.

    Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn phát sinh khó khăn, vướng mắc; một số quy định chưa đồng bộ với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và các luật mới được sửa đổi, bổ sung; Quốc hội, Chính phủ đã ban hành một số Nghị quyết để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật và thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp nhưng chỉ mang tính tạm thời. Bên cạnh đó, sau khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành, Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận mới về phát triển kinh tế tư nhân, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và hoàn thiện thể chế, đặt yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật đất đai để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

    Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng cho rằng, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 là cần thiết, nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương mới của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan; bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật, tháo gỡ các điểm nghẽn trong quản lý, sử dụng đất, khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

    Thiên Tuấn

    Nguồn https://baomoi.com/ngay-21-8-quoc-hoi-thao-luan-dinh-huong-sua-doi-luat-dat-dai-va-luat-nha-o-c55877486.epi

  • Phạt tiền từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng nếu không đăng ký đất đai lần đầu

    Theo Điều 16, Nghị định 123/2024/NĐ-CP, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký đất đai lần đầu.

    Không đăng ký đất đai lần đầu sẽ phải nộp phạt từ từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng. Ảnh AI tạo

    Các trường hợp không đăng ký đất đai bị phạt tiền

    Các trường hợp đăng ký lần đầu đối với đất đai, tài sản gắn liền với đất sẽ bị phạt tiền gồm:

    a) Thửa đất đang sử dụng mà chưa đăng ký;

    b) Thửa đất được Nhà nước giao, cho thuê để sử dụng;

    c) Thửa đất được giao để quản lý mà chưa đăng ký;

    Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất

    1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp theo từng thửa đất cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất có nhu cầu và đủ điều kiện theo quy định của Luật này. Trường hợp người sử dụng đất đang sử dụng nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng 01 xã, phường, thị trấn mà có yêu cầu thì được cấp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất chung cho các thửa đất đó.

    2. Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung tài sản gắn liền với đất thì cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; trường hợp những người có chung quyền sử dụng đất, chung quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất có yêu cầu thì cấp chung 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và trao cho người đại diện.

    3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất chỉ được cấp sau khi người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không thuộc đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được miễn, được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp sau khi cơ quan có thẩm quyền xác định không phải thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được miễn, được ghi nợ nghĩa vụ tài chính; trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp sau khi cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định cho thuê đất, ký hợp đồng thuê đất.

    Trường hợp người sử dụng đất tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước hoặc tặng cho quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng hoặc mở rộng đường giao thông theo quy hoạch hoặc tặng cho quyền sử dụng đất để làm nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết gắn liền với đất theo quy định của pháp luật thì Nhà nước có trách nhiệm bố trí kinh phí thực hiện việc đo đạc, chỉnh lý, cập nhật hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này; người sử dụng đất không phải trả chi phí đối với trường hợp này.

    4. Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người để đứng tên làm đại diện cho vợ và chồng.

    Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu.

    5. Trường hợp thửa đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình thì cấp một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất ghi đầy đủ tên thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và trao cho người đại diện. Trường hợp các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình có nhu cầu thì cấp một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất ghi tên đại diện hộ gia đình trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và trao cho người đại diện hộ gia đình.

    Việc xác định các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình để ghi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất do các thành viên này tự thỏa thuận và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

    6. Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật này hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế.

    Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

    Trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp mà vị trí không chính xác thì rà soát, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người sử dụng đất.

    7. Chính phủ quy định chi tiết việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, việc xác định lại diện tích đất ở và việc đính chính, thu hồi, hủy giấy chứng nhận đã cấp.

    Nghị định 123/2024/NĐ-CP

    Xem tại đây

    Hải Lê

    Nguồn https://baomoi.com/phat-tien-tu-1-000-000-den-2-000-000-dong-neu-khong-dang-ky-dat-dai-lan-dau-c55877668.epi

  • Quốc hội thảo luận về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai và Luật Nhà ở

    Đại biểu Quốc hội dự phiên họp ở hội trường tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)

    Buổi sáng, Quốc hội dành toàn bộ thời gian làm việc thảo luận về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

    Cuối phiên thảo luận, Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

    Buổi chiều, Quốc hội tiếp tục họp phiên toàn thể ở hội trường, thảo luận về định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023.

    Bộ trưởng Xây dựng phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

    Trước đó, trong phiên họp ngày 19/8, đại diện Chính phủ đã trình bày trước Quốc hội các tờ trình về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 và định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023.

    Đối với sửa đổi Luật Đất đai, Chính phủ thông qua 7 nhóm chính sách, bao gồm: hoàn thiện cơ chế thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, chuyển mạnh từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang tư duy “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất”; hoàn thiện cơ chế giao đất, cho thuê đất để phát triển nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, nhà ở cho thuê, nhà ở chính sách, nhà ở thương mại và nhà ở phục vụ tái định cư; đổi mới cơ chế tài chính đất đai và giá đất theo hướng giá đất do Nhà nước quyết định dựa trên dữ liệu, phương pháp khoa học, không để bị thao túng giá, hình thành giá ảo…

    Về định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở, Chính phủ đề xuất bổ sung mới quy định về 4 loại hình nhà ở và chính sách pháp luật tương ứng đối với từng loại hình nhà ở gồm: nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở công vụ, nhà ở chính sách; đồng thời bổ sung Chương mới về phát triển nhà ở cho thuê.

    Cùng với đó, quy định “chung cư có thời hạn” theo thời hạn sử dụng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật xây dựng, gắn với bảo đảm quyền tài sản. Chủ sở hữu căn hộ chung cư được quyền thực hiện nghĩa vụ tài chính để xây mới chung cư theo quy định khi hết thời hạn…

    Liên quan nội dung này, khi phát biểu ý kiến thảo luận tổ, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã nêu rõ: thời hạn sử dụng nhà chung cư phải gắn với niên hạn của công trình. Tuy nhiên, quy định thời hạn sử dụng không có nghĩa khi hết thời hạn thì công trình bị phá bỏ và người dân không còn quyền gì đối với tài sản của mình.

    “Quyền tài sản được pháp luật bảo vệ, nhưng tiêu chuẩn kỹ thuật của căn hộ chung cư phải tuân theo quy định về an toàn. Nếu kiểm định bảo đảm an toàn thì tiếp tục gia hạn sử dụng; nếu không bảo đảm an toàn thì phải có biện pháp cải tạo, xây dựng lại”, Thủ tướng nhấn mạnh.

    VĂN TOẢN

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-thao-luan-ve-dinh-huong-chinh-sach-sua-doi-luat-dat-dai-va-luat-nha-o-c55877538.epi

  • Sau cơn sốt ‘bỏ phố về rừng’, bất động sản trang trại giảm giá vẫn ế khách mua

    Anh Nguyễn Tuấn Anh, một môi giới nhà đất tại Hà Nội, cho biết, mấy năm trước, đặc biệt thời điểm 2020 – 2021, thị trường rộ lên trào lưu “bỏ phố về rừng”, nhiều người đua nhau săn đất vườn, đất rừng, đất trang trại nghỉ dưỡng khiến phân khúc này “nóng” bỏng tay. Thời điểm cuối năm 2021, giá đất rừng, đất đồi tại các khu vực ven Hà Nội như Sóc Sơn, Ba Vì hoặc tỉnh Hòa Bình (cũ) như Lương Sơn, Tân Lạc, Cao Phong, Kỳ Sơn…đều tăng chóng mặt, có nơi lên tới 2 triệu đồng/m².

    Nhưng đến nay tình hình đã đảo chiều. Hiện mức giá đồng loạt giảm gần 50% nhưng nhiều chủ đầu tư vẫn than khó thoát hàng.

    Nhiều lô đất trang trại được rao bán cắt lỗ. (Ảnh: Facebook).

    Đơn cử, một mảnh đất rộng 5.000 m² (trong đó có 500 m² là đất ở, còn lại là đất vườn) tại xã Lương Sơn (tỉnh Phú Thọ) đang được rao bán cắt lỗ với giá 5,5 tỷ đồng, tương đương 1,1 triệu đồng/m². Theo người bán, mức giá này chỉ còn một nửa so với thời điểm “sốt nóng”.

    Hay mảnh đất khác tại xã Suối Hai (Hà Nội) có diện tích gần 1.400 m², ngõ rộng 3m gồm 100 m² là đất ở, còn lại là đất vườn đang được rao bán với giá 1,5 tỷ đồng, tương đương 1,1 triệu đồng/m². Chủ đầu tư cho biết, mảnh đất này thời điểm đầu năm 2021 được mua vào với giá 3 tỷ đồng. Nhưng đến nay thị trường chững lại, do đang cần tiền nên chủ đầu tư chấp nhận giảm giá mạnh, mặc dù vậy vẫn chưa có ai chốt mua.

    Anh Tuấn Anh cho biết, thực tế, rất nhiều mảnh đất vườn, đất trang trại đang được bán cắt lỗ tới 50% so với đỉnh, song thanh khoản vẫn gần như “đóng băng”. Anh lý giải, nguyên nhân là do trào lưu “bỏ phố về rừng” đã tắt. Xu hướng hiện nay của nhà đầu tư hiện nay cũng như người dân là chọn mua những sản phẩm có nhu cầu ở thực.

    Đất vườn, đất trang trại trước đây vốn là dòng sản phẩm “lướt sóng” kiếm bạc tỷ của nhà đầu tư. Đến nay, khi các phân khúc chậm giao dịch, loại hình này gần như “bất động”. Khá nhiều nhà đầu tư ôm đất cách đây 3-4 năm chấp nhận bán lỗ, may mắn thì bán được ngang giá. “Đây là loại hình chủ yếu phục vụ nhu cầu đầu tư, đầu cơ, ở thực rất ít”, anh Tuấn Anh nói.

    Giảm giá, thoát hàng để cứu vốn

    Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu nhận định, trước đại dịch COVID-19 vẫn là thời điểm tốt để đầu tư vào loại hình farmstay, homestay nhưng đến hậu COVID-19, khi chi phí vận hành tăng và nhu cầu đi nghỉ dưỡng của khách giảm dần, nhiều nhà đầu tư buộc phải rút lui, dẫn đến áp lực giảm giá.

    Theo các chuyên gia, những khu đất để làm farmstay, homestay thường có chi phí xây dựng, vận hành cao nên nhiều nhà đầu tư dễ thua lỗ nếu vận hành không hiệu quả. (Ảnh minh họa).

    Từ đầu năm 2023 đến nay, thị trường trang trại nghỉ dưỡng giảm sút thanh khoản, nhiều nhà đầu tư rao bán, chấp nhận giảm giá sâu để thu hồi dòng tiền nhưng vẫn khó tìm được người mua.

    Ông Hiếu cho rằng, thời gian tới, nhà đầu tư nếu muốn xuống tiền vào phân khúc này thì cần cân nhắc kỹ về vị trí, hạ tầng và khả năng khai thác thực tế. Đồng thời cũng cần quan sát thị trường và xây dựng kế hoạch tài chính bền vững để có thể trụ được trong thời gian dài.

    Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Đính, Chủ tịch Hội môi giới bất động sản Việt Nam, cho rằng, bất động sản gắn với du lịch, nghỉ dưỡng là phân khúc còn tiềm năng do vẫn có nguồn cầu. Nhưng việc đầu tư tràn lan, thiếu tính toán đã gây ra “vỡ trận”, tình trạng này đã được dự báo từ 3, 4 năm trước.

    Đầu tư nghỉ dưỡng cần tính chuyên nghiệp cao, đòi hỏi kiến thức về quản lý dòng tiền, hiệu suất đầu tư, vận hành, dịch vụ chăm sóc khách hàng. Thực tế, không ít người có tâm lý “chỉ mua mảnh đất rồi xây căn nhà cho thuê là xong” và bỏ qua việc nghiên cứu kỹ thị trường.

    “Điều này dẫn đến tình trạng ở nhiều khu vực vùng ven, hơn một nửa thôn, xã làm farmstay, homestay, khu nghỉ dưỡng, trong khi lượng khách du lịch nhỏ giọt. Kinh doanh thua lỗ, nhiều chủ đầu tư buộc phải giảm giá bán để thoát hàng”, ông Đính nêu thực trạng.

    Ông Phạm Đức Toản, CEO bất động sản EZ cũng cho biết, cơn sốt đất trang trại, đồi rừng thời COVID-19 gắn với tâm lý muốn rời đô thị, tìm không gian rộng và gần thiên nhiên. Nhiều người mua đất để làm nhà nghỉ dưỡng hoặc phát triển homestay, farmstay, nhưng sau đó nhận ra việc vận hành không đơn giản.

    “Những khu vực này thường thiếu hạ tầng thiết yếu, trong khi việc duy trì một khu đất rộng tốn nhiều chi phí và thời gian. Có người mua xong sử dụng không thường xuyên nhưng vẫn phải thuê người trông coi. Đáng lẽ ngôi nhà phục vụ mình, nhưng cuối cùng mình lại phải lo cho cái nhà”, ông Toản nói.

    Ồng Toản cũng nhấn mạnh, dù thực tế nhiều tài sản được rao bán cao hơn thời điểm mua ban đầu nhưng thực ra chủ sở hữu vẫn đang phải cắt lỗ. “Nếu chỉ nhìn giá đất lúc mua và bán hiện tại thì có thể thấy giá tài sản tăng. Nhưng tính toàn bộ vốn đã bỏ ra, nhiều trường hợp chỉ hòa vốn, thậm chí lỗ. Chưa kể tài sản nắm giữ nhiều năm còn chịu tác động của lạm phát”, ông Toản phân tích.

    GS. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cũng chia sẻ, chi phí vận hành cao buộc nhiều chủ homestay, farmstay phải tính chuyện rút lui, tạo áp lực bán trên thị trường thứ cấp.

    Sau cơn sốt năm 2021, đất trang trại, đồi rừng đang trở về đúng bản chất của một sản phẩm bất động sản đặc thù: Phù hợp hơn với người có nhu cầu sử dụng thực hoặc có năng lực vận hành mô hình nông nghiệp, nghỉ dưỡng, thay vì chỉ mua để chờ tăng giá.

    Năm 2026, trên thị trường vẫn xuất hiện nhiều sản phẩm trang trại, nghỉ dưỡng tại Ba Vì, Sóc Sơn và các khu vực vùng núi phía Bắc như Mộc Châu, Sơn La. Nhưng người mua có xu hướng quan tâm nhiều hơn tới vị trí, pháp lý, khả năng khai thác và tổng mức đầu tư thay vì chỉ nhìn vào diện tích hay kỳ vọng tăng giá.

    Châu Anh

    Nguồn https://baomoi.com/sau-con-sot-bo-pho-ve-rung-bat-dong-san-trang-trai-giam-gia-van-e-khach-mua-c55877707.epi

  • Không gian công cộng – hạ tầng thiết yếu cho đô thị bền vững

    Trao đổi với Báo Xây dựng, TS.KTS Nguyễn Thị Diệu Hương (Khoa Quy hoạch đô thị và nông thôn, Đại học Kiến trúc Hà Nội) chia sẻ tầm quan trọng của nghiên cứu về không gian công cộng trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và yêu cầu đổi mới đào tạo hiện nay.

    Không gian công cộng cần được nhận diện rõ nét trong thiết kế đô thị Việt Nam.

    Vì sao nhóm lại chọn chủ đề không gian công cộng trong thiết kế đô thị tại Việt Nam để nghiên cứu, thưa bà?

    Không gian công cộnglà yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc và chất lượng sống đô thị. Tuy nhiên, thực trạng tại Việt Nam cho thấy hệ thống không gian công cộng đang thiếu hụt về diện tích, phân bố không đều và chưa có quy chuẩn chính thức hay hướng dẫn thiết kế đô thị đồng bộ.

    Bên cạnh đó, việc đào tạo ngành Thiết kế đô thị tại các cơ sở giáo dục đại học, như Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội (HAU), còn thiếu hệ thống tài liệu chuẩn hóa về không gian công cộng, gây khó khăn cho sinh viên khi ứng dụng vào đồ án thực hành. 

    Đề tài được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này, phục vụ giảng dạy và từng bước nâng cao chất lượng môi trường sống đô thị.

    Nhóm nghiên cứu đánh giá về thực trạng không gian công cộng tại các đô thị lớn ở Việt Nam hiện nay ra sao?

    Qua phân tích tại Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Huế, Hội An, nhóm nhận thấy nhiều chuyển biến tích cực như gia tăng phố đi bộ, công viên xanh ven sông. Tuy nhiên, tồn tại lớn nhất là thiếu kết nối giao thông, thiếu bản sắc văn hóa địa phương, tiện ích chưa đồng bộ và khả năng tiếp cận của cộng đồng còn hạn chế.

    Nhiều quảng trường hiện bị biến thành đảo giao thông, còn các không gian công cộng quy mô nhỏ như vỉa hè, hẻm phố hay sân chơi chung cư lại dễ bị lấn chiếm, chưa phát huy được tính linh hoạt.

    Những đóng góp mới nổi bật của đề tài trong việc định hướng thiết kế và quản lý không gian công cộng?

    Đề tài đã xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và pháp lý đồng bộ, trong đó đưa ra 7 quan điểm, 5 mục tiêu và 8 nguyên tắc thiết kế đô thị không gian công cộng.

    Chúng tôi đề xuất 6 tiêu chí và 5 cách phân loại không gian công cộng (theo quy mô, khả năng tiếp cận, chức năng, hình thái, sở hữu…); đồng thời thiết lập quy trình hướng dẫn thiết kế 6 bước cho các loại hình cụ thể như: Công viên – vườn hoa, tuyến phố – phố đi bộ, quảng trường và các không gian mở khác.

    Điểm mới quan trọng là việc kết hợp bộ tiêu chí đánh giá định lượng và định tính để áp dụng vào cả thiết kế mới lẫn cải tạo chỉnh trang.

    Đề tài sẽ được ứng dụng như thế nào trong công tác đào tạo tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội và thực tiễn quản lý đô thị?

    Đối với giảng dạy tại HAU, kết quả nghiên cứu là nền tảng để đề xuất bổ sung học phần chuyên đề về không gian công cộng, cập nhật phương pháp phân tích tách lớp thông tin, tăng cường bài tập thiết kế có sự tham gia của cộng đồng và chú trọng vật liệu cảnh quan bền vững. 

    Nhóm cũng hướng tới việc biên soạn cuốn “Hướng dẫn thiết kế đô thị các không gian công cộng” phục vụ trực tiếp cho đồ án của sinh viên.

    Đối với quản lý đô thị, chúng tôi kiến nghị các cơ quan quản lý nhà nước sớm hoàn thiện khung pháp lý, ban hành các quy chuẩn, quy định quản lý kiểm soát phát triển không gian công cộng thống nhất, lấy con người làm trung tâm nhằm xây dựng đô thị xanh, thông minh và bền vững.

    Cảm ơn bà!

    Diệu Anh

    Nguồn https://baomoi.com/khong-gian-cong-cong-ha-tang-thiet-yeu-cho-do-thi-ben-vung-c55877531.epi

  • Phát huy vai trò ‘thiết kế chính sách’

    Giải quyết thủ tục cho người dân tại Điểm phục vụ hành chính công Thanh Xuân. Ảnh: Quang Thái

    Mở rộng thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hà Nội

    Luật Thủ đô năm 2026 đã thiết lập nhiều cơ chế mới, tạo dư địa để thành phố chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách phù hợp với thực tiễn. Một điểm đổi mới quan trọng là việc bổ sung quy định về thẩm quyền xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền thành phố Hà Nội.

    Theo Điều 8, HĐND và UBND thành phố Hà Nội được trao thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính đã được quy định tại văn bản của cơ quan cấp trên nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương. Quy định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản trị và tăng tính linh hoạt trong điều hành của chính quyền thành phố.

    Luật còn cho phép chính quyền thành phố ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định biện pháp đặc thù nhằm tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội trong trường hợp chưa có quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc các bộ, cơ quan ngang bộ. Như vậy, sẽ nâng cao khả năng phản ứng chính sách nhanh của chính quyền thành phố, khắc phục tình trạng chậm ban hành văn bản hướng dẫn, tạo điều kiện để Hà Nội chủ động giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh từ thực tiễn.

    Bên cạnh đó, để bảo đảm kiểm soát quyền lực, luật quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục ban hành các văn bản này; đồng thời tăng cường trách nhiệm kiểm tra, giám sát và giải trình của chính quyền thành phố. Luật Thủ đô năm 2026 quy định chặt chẽ kỹ thuật, quy trình lập quy nhằm tạo cơ chế kiểm soát, giám sát chặt chẽ việc chính quyền thành phố thực hiện quyền hạn đặc thù trên về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm đúng mục tiêu và đạt được tác động tích cực.

    Bước chuyển mang tính nền tảng

    Luật giao cho HĐND thành phố quy định chi tiết các nội dung, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật và xác định thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND thành phố, UBND thành phố, Chủ tịch UBND thành phố có hiệu lực thi hành ngay khi luật thông qua để tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể được giao thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật tuân thủ nghiêm các trình tự, thủ tục, chịu sự kiểm soát, giám sát từ sớm, từ xa ngay cả khi các điều khoản khác của luật chưa có hiệu lực thi hành.

    Theo luật sư Nguyễn Trung Tiệp, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, Luật Thủ đô năm 2026 trao quyền cho thành phố được phép điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính, được nêu tại điểm a Khoản 2 Điều 8. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật, UBND thành phố, HĐND thành phố, Chủ tịch UBND thành phố được ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính đang được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương. Quy định nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức thuộc thành phố, bảo đảm yêu cầu về cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giải quyết thủ tục hành chính, không quy định thêm thành phần hồ sơ, không tăng thêm yêu cầu, điều kiện, thời gian giải quyết thủ tục đang áp dụng.

    “Việc mở rộng thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định này rất cần thiết, bảo đảm để Thủ đô có đủ thẩm quyền, công cụ pháp lý và dư địa thể chế không chỉ để giải quyết các điểm nghẽn phù hợp với điều kiện, năng lực trước mắt mà chính là để chủ động đáp ứng mục tiêu, yêu cầu phát triển theo tầm nhìn dài hạn của Thủ đô và thực hiện trách nhiệm dẫn dắt, lan tỏa thể chế phát triển do Đảng và Nhà nước giao phó.

    Việc trao thẩm quyền đặc thù trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật giúp Hà Nội phản ứng nhanh hơn trước những yêu cầu của thực tiễn, rút ngắn khoảng cách từ chính sách đến thực tiễn, đồng thời vẫn bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và sự thống nhất của hệ thống pháp luật”, luật sư Nguyễn Trung Tiệp nhấn mạnh.

    Có thể nói, điểm đặc biệt của Luật Thủ đô năm 2026 không chỉ nằm ở việc trao thêm quyền cho chính quyền thành phố mà quan trọng hơn là tạo lập một nền tảng thể chế mới cho phát triển. Luật có hiệu lực từ ngày 1-7-2026 và Hà Nội đang triển khai quyết liệt, đưa luật vào cuộc sống.

    Với 62 nghị quyết đặc thù được HĐND thành phố thông qua và hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đồng bộ đã tạo bệ phóng phát triển đô thị hiện đại. Các nghị quyết không chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật đơn thuần mà là những quyết sách tạo dựng mô hình phát triển mới cho Thủ đô trong nhiều năm tới.

    Đáng chú ý, việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Luật Thủ đô năm 2026 trao quyền chủ động đặc thù cho HĐND, UBND thành phố Hà Nội nhằm thể chế hóa các cơ chế vượt trội, tháo gỡ điểm nghẽn và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội Thủ đô; chuyển đổi mạnh từ cơ chế “quản lý” sang cơ chế “kiến tạo phát triển”.

    San Lam

    Nguồn https://baomoi.com/phat-huy-vai-tro-thiet-ke-chinh-sach-c55877671.epi

  • Chi phí xây nhà 1 tầng mái Nhật 7x12m bao nhiêu tiền?

    Nhà mái Nhật 1 tầng 7x12m có diện tích xây dựng khoảng 84m², phù hợp với gia đình từ 3-5 thành viên. Mái Nhật có độ dốc vừa phải, các lớp mái mở rộng theo kiểu giật cấp, tạo vẻ cân đối và thanh thoát.

    Diện tích 7x12m thuận lợi để bố trí phòng khách, bếp – phòng ăn, 2-3 phòng ngủ và khu vệ sinh.

    Cách tính chi phí xây nhà mái Nhật 7x12m

    Chi phí xây nhà thường được áp dụng theo công thức:

    Tổng chi phí = Tổng diện tích xây dựng quy đổi × Đơn giá xây dựng/m².

    Trong đó, tổng diện tích xây dựng gồm diện tích sàn, phần mái, móng nhà theo hệ số quy đổi. Thông thường, móng băng tính khoảng 50% diện tích sàn, móng cọc tính từ 20-40% diện tích sàn. Mái Nhật thường tính 50-70% diện tích sàn.

    Mẫu nhà mái Nhật 1 tầng. (Ảnh minh họa: AI)

    Với nhà mái Nhật 1 tầng 7x12m, sử dụng móng cọc, diện tích xây dựng tham khảo như sau:

    Diện tích sàn tầng 1: 84 x 100% = 84m²

    Diện tích móng: 84 x 40% = 33,6m²

    Diện tích mái Nhật: 84 x 70% = 58,8m²

    Tổng diện tích xây dựng quy đổi tính chi phí: 176,4m²

    Các hệ số chỉ mang tính tham khảo; thực tế phụ thuộc bản vẽ kết cấu, loại móng và phương án mái.

    Chi phí xây nhà 1 tầng mái Nhật 7x12m bao nhiêu tiền?

    Trên thị trường, một số đơn vị thi công đưa ra mức giá tham khảo từ 3,3 – 4,3 triệu đồng/m² đối với phần thô và khoảng 5 – 8 triệu đồng/m² đối với xây trọn gói, tùy thiết kế, vật liệu và khu vực.

    Nếu áp dụng đơn giá xây phần thô 3,7 triệu đồng/m², chi phí xây nhà mái Nhật 1 tầng 7x12m ước tính:

    176,4m² x 3,7 triệu đồng/m² = 652.680.000 đồng

    Với đơn giá xây trọn gói 7,8 triệu đồng/m², chi phí xây nhà mái Nhật 1 tầng 7x12m ước tính:

    176,4m² x 7,8 triệu đồng/m² = 1.375.920.000 đồng

    Lưu ý, các mức trên là dự toán tham khảo, không phải đơn giá cố định áp dụng cho mọi công trình. Nếu lựa chọn vật liệu cao cấp, cửa lớn, hệ thống điện nước hiện đại, sân vườn và nội thất tốt, chi phí có thể vượt 1,37 tỷ đồng.

    Bằng Lăng

    Nguồn https://baomoi.com/chi-phi-xay-nha-1-tang-mai-nhat-7x12m-bao-nhieu-tien-c55877584.epi

  • Quốc hội bàn chính sách sửa đổi Luật Đất đai và Luật Nhà ở

    Cụ thể, trong buổi sáng ngày 21/8, Quốc hội sẽ dành thời gian thảo luận về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

    Chiều cùng ngày, các đại biểu sẽ thảo luận về định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023.

    Sau mỗi phiên thảo luận, các thành viên Chính phủ sẽ phát biểu giải trình và làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

    Cả hai nội dung quan trọng này đều đã được Chính phủ trình và các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ vào ngày 19/8.

    Hôm nay, Quốc hội sẽ thảo luận về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai và Luật Nhà ở. Ảnh: Như Ý

    Về định hướng sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, Chính phủ đề xuất 7 nhóm chính sách lớn. Trong đó, Chính phủ nhấn mạnh việc ưu tiên cho người có đất ở bị thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tại chỗ.

    Lần sửa đổi này cũng chuyển mạnh từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang tư duy “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất”.

    Chính phủ cũng đề xuất đổi mới cơ chế tài chính đất đai theo hướng giá đất do Nhà nước quyết định; không để bị thao túng giá, hình thành giá ảo; đồng thời điều tiết hợp lý giá trị tăng thêm từ đất.

    Cơ quan thẩm tra – Ủy ban Kinh tế và Tài chính Quốc hội đề nghị quy định rõ về bảng giá đất, đồng thời cần tách bạch xác định giá đất với cơ chế bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

    Liên quan đến chính sách sửa đổi Luật Nhà ở, dự án luật bổ sung mới quy định về 4 loại hình: nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở công vụ và nhà ở chính sách. Đáng chú ý, lần sửa đổi này cũng đề xuất quy định liên quan đến “chung cư có thời hạn”.

    Thẩm tra, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội đề nghị cân nhắc việc bổ sung khái niệm “chung cư có thời hạn” để tránh những cách hiểu khác nhau.

    Thảo luận tại tổ, nhiều đại biểu cũng đề nghị cân nhắc với quy định này. Bởi nếu sử dụng khái niệm “chung cư có thời hạn”, có thể gây tâm lý hoang mang, khiến người mua lầm tưởng căn hộ là “tiêu sản” thay vì tài sản lâu dài.

    Bên cạnh đó, cũng có đại biểu đề nghị cần có cơ chế đánh thuế đối với các bất động sản, nhà ở “ngủ im” trong hàng chục năm qua.

    Luân Dũng – Trường Phong

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-ban-chinh-sach-sua-doi-luat-dat-dai-va-luat-nha-o-c55877433.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!