Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Golden City: Chủ dự án Resort 4.551 tỷ đồng dùng loạt tài sản trăm tỷ thế chấp ngân hàng

    LTS:Trong định hướng phát triển kinh tế xanh, để một dự án bất động sản nghỉ dưỡng không phá vỡ cảnh quan tự nhiên và tuân thủ các Đánh giá tác động môi trường (ĐTM), chủ đầu tư buộc phải có một “sức khỏe” tài chính vững vàng.

    Thực tế cho thấy, năng lực tài chính của chủ đầu tư là “bảo chứng” quan trọng nhất để hiện thực hóa dự án. Khi doanh nghiệp bộc lộ sự hụt hơi về dòng tiền, lạm dụng đòn bẩy tài chính, dự án sẽ đối mặt với nguy cơ chậm tiến độ, biến thành “dự án treo”. Điều này không chỉ gây lãng phí nghiêm trọng nguồn tài nguyên đất đai quý giá mà còn để lại những hệ lụy xấu cho cảnh quan, môi trường sinh thái của địa phương.

    Nhằm cung cấp góc nhìn đa chiều, minh bạch hóa năng lực của các đơn vị đang “ôm” quỹ đất lớn, Tạp chí Kinh tế Môi trường bóc tách bức tranh nợ vay, thế chấp tài sản của CTCP Golden City – chủ đầu tư dự án Resort 4.551 tỷ đồng tại Quảng Trị. Qua đó, đặt ra vấn đề về trách nhiệm của nhà đầu tư đối với các cam kết phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường.

    Trước đó, Tạp chí Kinh tế Môi trường đã thông tin, Dự án Khu Resort Golden City tại phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị có tổng mức đầu tư 4.551,6 tỷ đồng nhưng chậm tiến độ nhiều hạng mục, trong khi chủ đầu tư chưa bổ sung 19,1 tỷ đồng tiền ký quỹ bảo đảm thực hiện dự án.

    Theo kết luận thanh tra, nguyên nhân chủ yếu khiến dự án chậm tiến độ là CTCP Golden City gặp khó khăn về năng lực tài chính, chưa thu xếp đủ 3.641,3 tỷ đồng vốn vay để triển khai dự án.

    Dự án Khu Resort Golden City vẫn ngổn ngang. Ảnh: Minh Tâm

    Ai đứng sau Golden City?

    Dữ liệu Tạp chí Kinh tế Môi trường cho thấy, CTCP Golden City thành lập tháng 9/2007, ngành nghề chính là kinh doanh bất động sản.

    Tháng 9/2016, CTCP Golden City tăng mạnh vốn điều lệ từ 320 tỷ đồng lên 5.000 tỷ đồng. Trong đợt tăng vốn này, ông Hồ Văn Giang góp 3.000 tỷ đồng, tương đương 60% vốn điều lệ.

    Sau đó, vốn điều lệ của doanh nghiệp liên tục biến động. Tháng 1/2018, Golden City giảm vốn từ 5.000 tỷ đồng xuống 3.500 tỷ đồng. Khi đó, ông Hồ Văn Giang góp 3.149,65 tỷ đồng, tương ứng 89,99% vốn. Cơ cấu cổ đông cũng thay đổi, với Công ty CP Đầu tư Nam Á góp 350 triệu đồng (0,01%), ông Bùi Minh Tuấn góp 350 tỷ đồng (10%) và ông Hồ Văn Giang góp 3.149,65 tỷ đồng (89,99%).

    Đến tháng 3/2018, Golden City tiếp tục giảm vốn điều lệ xuống 1.000 tỷ đồng, trong khi cơ cấu góp vốn không thay đổi. Tháng 6/2019, doanh nghiệp tăng vốn trở lại lên 1.500 tỷ đồng.

    Quá trình biến động vốn điều lệ của Golden City

    Tháng 4/2021, vốn điều lệ của Golden City được ghi nhận ở mức 1.480 tỷ đồng, trong đó ông Hồ Văn Giang góp 1.282,68 tỷ đồng, tương đương 86,668%. Đến tháng 1/2024, vốn điều lệ tăng lên 1.500 tỷ đồng. Tháng 12/2025, vốn có thời điểm giảm xuống 1.437 tỷ đồng trước khi trở lại mức 1.500 tỷ đồng. Tại thời điểm gần nhất, ông Hồ Văn Giang là người đại diện theo pháp luật, đồng thời giữ chức Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Golden City.

    Golden City dùng ô tô, phần vốn góp và quyền tài sản dự án làm tài sản bảo đảm

    Dữ liệu Tạp chí Kinh tế Môi trường cho thấy, Golden City đã đăng ký nhiều giao dịch bảo đảm tại các ngân hàng.

    Đơn cử,  ngày 29/6/2023, CTCP Golden City đăng ký giao dịch bảo đảm số 1502361588 với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) – Chi nhánh Nghệ An. Hợp đồng có số CLC-1518-10875939-HDTC-01, có hiệu lực từ ngày 27/6/2023 và đã được phê duyệt.

    Tài sản bảo đảm gồm 2 ô tô con. Chiếc thứ nhất mang nhãn hiệu Mazda 3, màu xanh, biển kiểm soát 37A-444.69, số khung 4AA6JC086831. Chiếc còn lại là Hyundai Tucson, màu đen, biển kiểm soát 37A-442.24, số khung W13BJN002716.

    Một giao dịch khác được Golden City đăng ký với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) – Chi nhánh Hùng Vương.

    Theo đăng ký giao dịch bảo đảm số 1545436741, được đăng ký ngày 10/7/2024, biện pháp bảo đảm là thế chấp. Hợp đồng số 8899.2022, quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD có hiệu lực từ ngày 15/12/2022 và đã được phê duyệt.

    Tài sản thế chấp là phần vốn góp của bên bảo đảm vào Công ty CP Nha Trang – Đà Lạt theo Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần số 05/2023/GCN.

    Cụ thể, Golden City sở hữu 39,2 triệu cổ phần phổ thông, mệnh giá 10.000 đồng/cổ phần, tương ứng giá trị cổ phần sở hữu 392 tỷ đồng.

    Hồ sơ đồng thời ghi rõ số cổ phần này không phải là chứng khoán đã được đăng ký tập trung tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam.

    Ngày 26/6/2025, Golden City tiếp tục đăng ký một giao dịch thế chấp với Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển – Chi nhánh Nghệ An theo đăng ký số 1596036806.

    Hợp đồng số 666.098/25/DN/BĐ/CP01 có hiệu lực từ ngày 26/6/2025 và đã được phê duyệt.

    Tài sản thế chấp lần này là phần vốn góp thuộc sở hữu của Golden City tại CTCP Teelhomes, với giá trị góp vốn được ghi nhận 475 tỷ đồng.

    Như vậy, chỉ riêng hai giao dịch với Agribank và Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển, Golden City đã đưa vào hồ sơ tài sản bảo đảm các phần vốn góp có giá trị được ghi nhận tổng cộng 867 tỷ đồng.

    Đáng chú ý, cuối tháng 11/2025, Golden City tiếp tục đăng ký giao dịch thế chấp với Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển – Chi nhánh Nghệ An.

    Theo đăng ký giao dịch bảo đảm số 1622180806, thời điểm đăng ký là 28/11/2025, hợp đồng số 666.076/25/DN/BĐ có hiệu lực từ ngày 28/11/2025.

    Tài sản bảo đảm là quyền tài sản liên quan Dự án đầu tư xây dựng Khu nhà ở và chung cư liền kề cho cán bộ chiến sĩ Công an tỉnh Nghệ An tại xã Nghi Phú, TP Vinh, tỉnh Nghệ An.

    Hồ sơ liệt kê nhiều giấy tờ pháp lý gắn với dự án, trong đó có Giấy chứng nhận đầu tư mã số dự án 4517722160 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An cấp ngày 27/2/2017 và nội dung điều chỉnh ngày 24/5/2021.

    Tài sản bảo đảm còn bao gồm các hồ sơ, quyết định liên quan đến quy hoạch, xây dựng và đất đai của dự án. Cụ thể, có Quyết định phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng điều chỉnh tỷ lệ 1/500 ngày 28/6/2016; Giấy phép xây dựng số 22 GP/SXD ngày 5/4/2017; Quyết định giao đất số 189/QĐ-UBND ngày 31/3/2017 và Quyết định giao đất số 191/QĐ-UBND ngày 13/6/2024.

    Ngoài ra, hồ sơ còn ghi nhận Giấy xác nhận nội dung Giấy chứng nhận đầu tư số 8687/STC-TC&PTDN do Sở Tài chính ban hành ngày 27/11/2025 và văn bản số 1124/SNNMT-KHTC ngày 8/4/2025 của Sở Nông nghiệp và Môi trường về việc phê duyệt mức giá khu đất thực hiện dự án.

    Bên cạnh các tài sản hữu hình như ô tô và các khoản đầu tư, Golden City còn sử dụng quyền tài sản gắn với dự án bất động sản tại Nghệ An để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm với ngân hàng.

    Như vậy, với hàng loạt tài sản và quyền tài sản đang nằm tại ngân hàng để thế chấp, dư luận có quyền đặt dấu hỏi về năng lực tài chính thực sự của Golden City. Liệu doanh nghiệp có đủ nguồn lực để đưa dự án Resort 4.551 tỷ đồng về đích, hay sẽ tiếp tục chậm tiến độ, gây lãng phí tài nguyên đất đai và ảnh hưởng đến quy hoạch phát triển kinh tế – môi trường bền vững của tỉnh Quảng Trị?

    Nhị Hà

    Nguồn https://baomoi.com/golden-city-chu-du-an-resort-4-551-ty-dong-dung-loat-tai-san-tram-ty-the-chap-ngan-hang-c55898331.epi

  • Dự án 1.050 tỷ của Donacoop tại Đồng Nai vướng hàng loạt thủ tục, tiến độ mới đạt 15%

    Vừa qua, Thanh tra TP Đồng Nai đã ban hành Kết luận thanh tra đối với Dự án Khu dân cư Phú An Lành tại xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom (nay là phường Trảng Bom), được chấp thuận chủ trương đầu tư từ năm 2018, với quy mô gần 98ha, tổng vốn đầu tư 1.050 tỷ đồng.

    Tuy nhiên, quá trình triển khai dự án phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến thủ tục lựa chọn nhà đầu tư, giao đất, xác định nghĩa vụ tài chính và tiến độ thực hiện.

    Theo kết luận, ngày 31/8/2018, UBND tỉnh Đồng Nai khi đó ban hành Quyết định số 3127/QĐ-UBND, chấp thuận nhà đầu tư thực hiện dự án là CTCP Phú An Lành, sau này đổi tên thành CTCP Đầu tư hạ tầng Donacoop.

    Theo thanh tra, việc giao đất và cho thuê đất tại dự án Khu dân cư Phú An Lành cho doanh nghiệp mà không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất là không đúng quy định. (Ảnh: Một góc dự án Phú An Lành trước khi bị giải toả/Dân tộc & Phát triển)

    Thanh tra xác định việc tham mưu chấp thuận nhà đầu tư theo hình thức chỉ định, không thông qua đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, là không đúng quy định. Việc chỉ định chủ đầu tư cũng được xác định vi phạm điểm e khoản 2 Điều 22 Luật Nhà ở năm 2014.

    Đáng chú ý, Sở Xây dựng Đồng Nai, đơn vị chủ trì giúp UBND TP tổ chức đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư dự án nhà ở, cũng không có ý kiến về việc dự án thuộc trường hợp phải đấu thầu. Theo Thanh tra, việc này không đúng quy định.

    Trách nhiệm đối với những tồn tại trên được xác định thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, lãnh đạo hai sở cùng các phòng, ban và cá nhân có liên quan trong thời kỳ năm 2018. 

    Không chỉ vướng ở khâu lựa chọn nhà đầu tư, quá trình giao đất thực hiện dự án cũng được Thanh tra chỉ ra nhiều tồn tại.

    Ngày 1/7/2020, UBND tỉnh Đồng Nai quyết định giao, cho thuê hơn 934.706 m² đất cho Công ty Phú An Lành thực hiện dự án. Trong đó, diện tích đất ở có thu tiền sử dụng đất hơn 424.534 m²; đất xây dựng hạ tầng hơn 409.583 m² và đất cho thuê hơn 100.588 m².

    Tuy nhiên, Thanh tra kết luận Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh giao đất có thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất cho doanh nghiệp mà không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất là không đúng khoản 1 Điều 118 Luật Đất đai năm 2013. 

    Dù đất đã được giao từ năm 2020, đến thời điểm thanh tra, việc xác định giá đất cụ thể để tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất vẫn chưa hoàn thành. Theo kết luận, nhà đầu tư cũng chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất.

    Dự án hiện còn khoảng 2.001,4 m² đất chưa hoàn tất công tác thu hồi, bồi thường, hỗ trợ. Trước đó, địa phương đã hoàn thành bồi thường khoảng 935.284 m², với tổng kinh phí hơn 186,67 tỷ đồng.

    Về tiến độ, dự án từng được đặt mục tiêu hoàn thành vào năm 2022 nhưng sau đó được điều chỉnh. Theo quyết định điều chỉnh năm 2025, giai đoạn 1 của dự án kéo dài đến tháng 2/2027, tập trung hoàn thành hồ sơ kỹ thuật, đường giao thông và hạ tầng kỹ thuật. Giai đoạn 2 từ tháng 3/2027 đến tháng 11/2028, thực hiện xây dựng công trình và kinh doanh. 

    Tuy nhiên, tại thời điểm thanh tra, dự án mới đang san lấp mặt bằng các tuyến đường giao thông, chưa làm nền hạ và chưa thảm nhựa. Mức độ hoàn thiện được xác định khoảng 15%.

    Bản đồ quy hoạch tổng thể mặt bằng sử dụng đất dự án KDC Phú An Lành.

    Để xử lý các tồn tại, Thanh tra kiến nghị rà soát điều kiện để dự án có thể tiếp tục được giao, cho thuê đất theo cơ chế, chính sách mới tại Nghị quyết 29 và Nghị quyết 170.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì xác định giá đất cụ thể, phối hợp với cơ quan thuế rà soát nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp. Các Sở Xây dựng, Tài chính và đơn vị liên quan phải tổ chức kiểm điểm, xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân đối với những vi phạm được nêu trong kết luận.

    Đối với Donacoop, Thanh tra yêu cầu doanh nghiệp điều chỉnh phạm vi, quy mô và diện tích dự án theo quy hoạch được phê duyệt; hoàn thiện các thủ tục để tiếp tục triển khai; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính và chấp hành các quyết định xử lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. 

    Ngoài Khu dân cư Phú An Lành, Donacoop đang tham gia đề xuất, đầu tư một số dự án quy mô lớn tại Đồng Nai và các địa phương khác.

    Tháng 6/2026, UBND TP Đồng Nai ban hành quyết định phê duyệt Dự án thành phần 2: Đầu tư xây dựng Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh (Hương lộ 2), đoạn từ Quốc lộ 51 đến cao tốc TP HCM – Long Thành – Dầu Giây theo phương thức PPP, loại hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (BT) Dự án có tổng mức đầu tư hơn 4.633 tỷ đồng. Nhà đầu tư dự án là CTCP Đầu tư hạ tầng Donacoop.

    Năm ngoái, liên danh Donacoop – Tập đoàn VinaCapital được Đồng Nai chấp thuận làm nhà đầu tư đề xuất dự án kéo dài tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên về TP Biên Hòa cũ và Cảng hàng không quốc tế Long Thành theo phương thức PPP. Phương án nghiên cứu có tổng chiều dài khoảng 38,5 km, tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 65.000 tỷ đồng.

    Năm 2023, Donacoop cũng đề xuất xây dựng Khu đô thị thương mại dịch vụ Thành phố mới Nhơn Trạch với quy mô hơn 1.760 ha, nằm dọc sông Đồng Nai. Trong đó, diện tích tại huyện Nhơn Trạch hơn 1.600 ha và tại huyện Long Thành hơn 160 ha.

    Tại khu vực Long Hưng, Đồng Nai, các doanh nghiệp liên quan đến Donacoop cũng tham gia đầu tư một số dự án bất động sản quy mô lớn.

    Không chỉ tại Đồng Nai, Donacoop còn tham gia đầu tư KCN Sơn Mỹ 1 tại xã Sơn Mỹ, tỉnh Lâm Đồng. Dự án có tổng vốn đầu tư đăng ký 2.300 tỷ đồng, quy mô khoảng 1.070 ha. Theo thông tin công bố tại buổi làm việc với tỉnh Lâm Đồng hồi tháng 6, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng giai đoạn 1 của dự án còn chậm, mới đạt khoảng 105/615 ha. Doanh nghiệp đề nghị địa phương sớm tháo gỡ các khó khăn liên quan đến mặt bằng để dự án có thể triển khai thi công trong quý III/2026.

    CTCP Đầu tư hạ tầng Donacoop hoạt động từ tháng 4/2014, có địa chỉ tại phường Long Thành, TP Đồng Nai. Đồng thời, ông Bùi Thanh Trúc là người đại diện theo pháp luật kiêm Chủ tịch HĐQT doanh nghiệp.

    Ông Bùi Thanh Trúc hiện cũng là người đại diện theo pháp luật tại nhiều doanh nghiệp mang thương hiệu Donacoop, trong đó có CTCP Đầu tư Donacoop Bình Phước, Công ty TNHH Thành phố Aqua Dona, Công ty TNHH Thành phố Waterfront Dona, CTCP Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Sơn Mỹ và một số doanh nghiệp khác.

    Tấn Hiệp

    Nguồn https://baomoi.com/du-an-1-050-ty-cua-donacoop-tai-dong-nai-vuong-hang-loat-thu-tuc-tien-do-moi-dat-15-c55898250.epi

  • Hà Nội muốn làm Khu dân cư nông thôn Cao Viên gần 1.387 tỷ đồng

    UBND xã Bình Minh (Hà Nội) đang phát hành hồ sơ mời thầu Dự án Xây dựng khu dân cư nông thôn Cao Viên, dự kiến đóng thầu ngày 21/10/2026.

    Ảnh minh hoạ.

    Dự án có tổng vốn đầu tư gần 1.387 tỷ đồng, tổng diện tích đất khoảng 12,62 ha. Dự án được đầu tư nhằm hình thành quỹ nhà ở và các công trình xây dựng khác để bán, cho thuê, cho thuê mua, góp phần làm tăng thêm quỹ nhà ở trên địa bàn và giải quyết nhu cầu về nhà ở của người dân.

    Bên cạnh đó, việc đầu tư Dự án góp phần hiện thực hóa các quy hoạch kế hoạch phát triển, khai thác sử dụng quỹ đất hợp lý; mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ việc thu tiền sử dụng đất và thuế, phí từ quá trình hoạt động của Dự án; tạo động lực phát triển cho xã Bình Minh nói riêng và Hà Nội nói chung.

    Thời hạn hoạt động của Dự án là 50 năm. Tiến độ thực hiện trong vòng 3 năm kể từ ngày được UBND Thành phố ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. 

    PV

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-muon-lam-khu-dan-cu-nong-thon-cao-vien-gan-1-387-ty-dong-c55898309.epi

  • TP. Đồng Nai: Tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu hoàn thành trong tháng 11

    6 chủ đầu tư đã hoàn thành kế hoạch giải ngân

    Tính đến ngày 12/8, TP. Đồng Nai đã giải ngân được gần 14.700 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 54% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Ảnh: Văn Dũng

    Theo Sở Tài chính Đồng Nai, tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được Thủ tướng Chính phủ giao cho địa phương là hơn 27.000 tỷ đồng. Tính đến ngày 12/8, toàn tỉnh đã giải ngân gần 14.700 tỷ đồng, đạt 54% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.

    Nếu tính theo kế hoạch vốn sau khi thực hiện tiết kiệm 5% để bổ sung nguồn vốn đầu tư dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng theo quy định của Trung ương, tỷ lệ giải ngân của TP. Đồng Nai đạt hơn 56%.

    Đáng chú ý, trong số 45 đơn vị chủ đầu tư được UBND thành phố trực tiếp giao chỉ tiêu, kế hoạch vốn, đã có 6 đơn vị hoàn thành giải ngân toàn bộ nguồn vốn năm 2026. Có 27 đơn vị đạt tỷ lệ giải ngân từ 50% đến hơn 95% kế hoạch.

    Đối với nguồn vốn giao UBND cấp xã, hiện có 43 xã, phường đạt tỷ lệ giải ngân cao hơn mức bình quân chung của tỉnh.

    Đánh giá kết quả thực hiện đến giữa tháng 8, Phó Chủ tịch UBND TP. Đồng Nai Hồ Văn Hà cho rằng, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của Đồng Nai hiện cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đây là kết quả khả quan. Tuy nhiên, so với yêu cầu và mục tiêu tỉnh đặt ra, tiến độ này vẫn chưa đạt kỳ vọng.

    Do đó, các chủ đầu tư, sở, ngành và địa phương phải tiếp tục tập trung cao độ cho nhiệm vụ giải ngân vốn đầu tư công; chủ động nhận diện, xử lý nhanh những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai dự án, qua đó đẩy nhanh tiến độ thi công cũng như thanh toán khối lượng hoàn thành.

    Theo lãnh đạo thành phố, đối với nhiệm vụ giải ngân vốn đầu tư công, kết quả thực hiện phải được coi là thước đo quan trọng để đánh giá trách nhiệm của từng đơn vị, chủ đầu tư và địa phương.

    Tập trung vào các địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp

    Tiến độ giải ngân nguồn vốn giao UBND cấp xã tại TP. Đồng Nai vẫn còn thấp. Ảnh: Văn Dũng

    Bên cạnh những kết quả tích cực, tiến độ giải ngân nguồn vốn giao UBND cấp xã vẫn là một trong những vấn đề cần tập trung khắc phục.

    Theo Sở Tài chính Đồng Nai, hiện có 52 xã, phường có tỷ lệ giải ngân thấp hơn mức bình quân chung của tỉnh; trong đó, 18 xã, phường giải ngân dưới 30% kế hoạch vốn. Đây được xác định là nhóm địa phương cần có giải pháp quyết liệt hơn nếu muốn hoàn thành mục tiêu chung trong những tháng còn lại của năm.

    Tại xã Phước An, UBND xã cho biết, trong giai đoạn đầu năm 2026, quá trình hoàn thiện hồ sơ các dự án đầu tư công gặp một số khó khăn, vướng mắc, đặc biệt đối với các dự án chuyển tiếp. Đây là nguyên nhân khiến tỷ lệ giải ngân của địa phương còn thấp.

    Đến nay, các thủ tục, hồ sơ pháp lý của những dự án cơ bản đã được hoàn tất, tạo điều kiện để đẩy nhanh tiến độ triển khai. Xã Phước An đặt mục tiêu đến cuối tháng 8/2026 giải ngân khoảng 70% kế hoạch vốn và đến cuối tháng 11/2026 hoàn thành giải ngân hơn 90%.

    Trong khi đó, tại xã An Phước, một trong những khó khăn lớn nhất là thiếu nhân sự có chuyên môn trong lĩnh vực xây dựng, giao thông, ảnh hưởng đến tiến độ chuẩn bị và triển khai các dự án.

    Đến nay, địa phương đã hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư đối với 23 dự án, trong đó 10 dự án đã được triển khai thi công. Xã An Phước đặt mục tiêu hoàn thành cả 10 dự án đang thi công trong năm 2026, qua đó góp phần nâng tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của địa phương.

    Để đạt mục tiêu cơ bản hoàn thành giải ngân nguồn vốn đầu tư công năm 2026 vào cuối tháng 11, TP. Đồng Nai đặt mốc đến cuối tháng 8 phải giải ngân đạt 70% kế hoạch vốn.

    Đối với các xã, phường và chủ đầu tư đang nằm trong nhóm có tỷ lệ giải ngân thấp, lãnh đạo tỉnh yêu cầu phải rà soát, thống kê cụ thể trạng thái thực hiện của từng dự án, xác định rõ dự án đang vướng ở khâu nào, nguyên nhân và trách nhiệm xử lý.

    Trên cơ sở đó, từng đơn vị phải xây dựng kế hoạch tiến độ cụ thể, đề ra giải pháp tháo gỡ tương ứng với từng dự án, nhất là đối với những vướng mắc liên quan thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng, năng lực tổ chức thực hiện và tiến độ thi công.

    Thời gian còn lại của năm không nhiều, trong khi khối lượng vốn cần giải ngân vẫn lớn. Việc bám sát tiến độ từng công trình, xử lý kịp thời các điểm nghẽn và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu được xem là những yếu tố quyết định để Đồng Nai tăng tốc giải ngân, đưa nguồn lực đầu tư công sớm đi vào nền kinh tế, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng và hoàn thiện hệ thống hạ tầng.

    Văn Dũng

    Nguồn https://baomoi.com/tp-dong-nai-tang-toc-giai-ngan-von-dau-tu-cong-phan-dau-hoan-thanh-trong-thang-11-c55898347.epi

  • Trách nhiệm cộng đồng để bảo vệ rừng bền vững

    Cán bộ Hạt kiểm lâm khu vực I và nhân dân tiểu khu Phiêng Nèn, xã Quỳnh Nhai tuần tra bảo vệ rừng.

    Hạt Kiểm lâm khu vực I hiện quản lý trên 52.393 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên hơn 49.271 ha, tỷ lệ che phủ đạt 50,38%. Xác định bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) phải bắt đầu từ ý thức cộng đồng, đơn vị chú trọng tuyên truyền, vận động người dân nâng cao trách nhiệm, chủ động tham gia giữ rừng từ cơ sở. Lực lượng kiểm lâm địa bàn thường xuyên bám nắm cơ sở, phối hợp với các bản, tiểu khu đưa nội dung bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, bảo vệ động vật hoang dã vào hương ước, quy ước khu dân cư.

    Ông Nguyễn Văn Vinh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm khu vực I, cho biết: Từ năm 2025 đến nay, Hạt đã phối hợp tổ chức 77 hội nghị tuyên truyền cấp xã; thực hiện tuyên truyền lưu động 120 ngày tại các bản và tuyên truyền trực tiếp tại 65 bản, tiểu khu, thu hút hơn 7.500 lượt người tham gia. Đơn vị còn tiến hành biên tập, cấp phát các file âm thanh tuyên truyền bằng 3 ngôn ngữ: Kinh, Thái, Mông để phát định kỳ trên hệ thống loa truyền thanh cơ sở; bàn giao cho các xã thuộc diện quản lý 220 biển nội quy, biển tam giác, pa no tuyên truyền về bảo vệ và PCCCR.

    Cán bộ Hạt Kiểm lâm khu vực I sử dụng flycam tuần tra, giám sát rừng.

    Nhờ đẩy mạnh tuyên truyền, ý thức bảo vệ rừng của người dân ngày càng được nâng cao. Tại xã Quỳnh Nhai, địa phương đang quản lý trên 22.452 ha rừng, tỷ lệ che phủ duy trì gần 60%. Ông Nguyễn Ngọc Tú, Chủ tịch UBND xã Quỳnh Nhai, thông tin: Xã đã kiện toàn 1 tổ bảo vệ rừng cấp xã và 24 tổ bảo vệ rừng tại các bản, tiểu khu; thành lập Tổ quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR với 360 thành viên. Các lực lượng phối hợp với kiểm lâm địa bàn luân phiên tuần tra diện tích rừng được giao, nhất là trong mùa hanh khô, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng.

    Hạt Kiểm lâm khu vực I đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong theo dõi, giám sát diễn biến rừng, nâng cao hiệu quả phát hiện và xử lý các vụ việc vi phạm. Hạt đã đưa vào sử dụng các ứng dụng, như: Mapinfo, Qgis, Smart, hệ thống phần mềm theo dõi biến động rừng, hình ảnh từ vệ tinh và thiết bị bay không người lái (flycam). Nhờ công nghệ hiện đại, diễn biến bất thường hay hành vi chặt phá, lấn chiếm rừng đều được phát hiện sớm và xử lý kịp thời. Từ năm 2025 đến nay, lực lượng chức năng đã phát hiện, lập hồ sơ xử lý 26 vụ với 30 đối tượng vi phạm Luật Lâm nghiệp.

    Cán bộ Hạt kiểm lâm khu vực I kiểm tra điểm có nguy cơ cháy qua ảnh vệ tinh.

    Xác định bảo vệ rừng phải gắn với bảo đảm sinh kế cho người dân, Hạt Kiểm lâm khu vực I chú trọng triển khai chính sách giao đất, giao rừng, tạo thêm nguồn thu nhập và động lực để cộng đồng cùng tham gia quản lý, bảo vệ, phát triển rừng. Đơn vị đã phối hợp với Chi nhánh khu vực VI và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh rà soát, xác định hơn 8.300 ha rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Tổng số tiền chi trả đạt trên 4,7 tỷ đồng, được chuyển trực tiếp, công khai, minh bạch đến 128 chủ rừng, góp phần nâng cao trách nhiệm của người dân trong giữ rừng.

    Bản Chiềng Ơn, xã Quỳnh Nhai được giao quản lý hơn 1.600 ha rừng, mỗi năm, bản được chi trả gần 900 triệu đồng tiền dịch vụ môi trường rừng. Ông Lò Văn Quỳnh, Trưởng bản chia sẻ: Số tiền được đưa ra họp bàn dân chủ, công khai, bà con thống nhất dùng một phần trả công cho lực lượng trực tiếp bảo vệ rừng, phần còn lại để đầu tư làm đường bê tông, làm sân thể thao, nhà văn hóa bản… tạo thuận lợi cho nhân dân đi lại, hoạt động văn hóa, văn nghệ, gắn kết cộng đồng.

    Phát huy vai trò cộng đồng, kết hợp ứng dụng chuyển đổi số trong theo dõi diễn biến rừng, Hạt Kiểm lâm khu vực I nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng, tạo nguồn thu nhập cho người dân, góp phần phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

    Yến Vi

    Nguồn https://baomoi.com/trach-nhiem-cong-dong-de-bao-ve-rung-ben-vung-c55898454.epi

  • Để đất đai thực sự trở thành nguồn lực phát triển

    Định giá đất trên nền tảng dữ liệu

    Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) là xác lập nguyên tắc “giá đất do Nhà nước quyết định”. Điều này không có nghĩa là Nhà nước định giá bằng mệnh lệnh hành chính. Dự thảo Luật nêu rõ việc định giá đất phải trung thực, khách quan, công khai, minh bạch; tuân thủ phương pháp, trình tự, thủ tục và dựa trên cơ sở dữ liệu giá đất.

    Đưa đất đai vào sử dụng hiệu quả, tạo thêm giá trị cho nền kinh tế. Ảnh: Đan Thanh

    Đây là hướng tiếp cận hợp lý. Nếu giá đất Nhà nước xác định quá thấp, ngân sách có thể thất thu, người có đất bị thu hồi khó được bảo đảm đầy đủ quyền lợi, trong khi một phần địa tô có thể chuyển sang những chủ thể được tiếp cận đất với chi phí thấp.

    Ngược lại, Nhà nước cũng không thể chạy theo mọi mức giá xuất hiện trên thị trường. Những cơn “sốt đất”, các phiên đấu giá bất thường hay giao dịch có dấu hiệu đầu cơ không thể mặc nhiên trở thành chuẩn giá cho cả khu vực. Bởi khi “giá ảo” được chuyển hóa thành căn cứ tính nghĩa vụ tài chính, nó sẽ nhanh chóng trở thành chi phí thật của nền kinh tế. Giá đất tăng kéo theo tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng và chi phí đầu tư dự án tăng. Những chi phí đó cuối cùng có thể được chuyển vào giá nhà ở, hàng hóa, dịch vụ và làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

    Vì vậy, mục tiêu của chính sách không phải làm cho giá đất càng cao càng tốt, cũng không phải cố giữ giá đất càng thấp càng tốt, mà phải là một mức giá có căn cứ, phản ánh hợp lý giá trị và khả năng sử dụng của đất, đồng thời loại bỏ hoặc hạn chế ảnh hưởng của đầu cơ và thao túng giá. Đó mới là nội hàm của “giá đất đúng”.

    Muốn định giá đất có căn cứ, trước hết phải có dữ liệu. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đặt cơ sở dữ liệu giá đất trong Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai, đồng thời yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia, bộ, ngành và địa phương. Đây phải là nền móng của cải cách định giá đất.

    Trong thực tế, cơ sở dữ liệu giá đất không thể chỉ dựa vào thông tin của riêng ngành đất đai. Cần từng bước kết nối dữ liệu đăng ký đất đai với thuế, công chứng, giao dịch bất động sản, quy hoạch, xây dựng và các nguồn dữ liệu hợp pháp khác. Giá ghi trong hợp đồng cũng phải ngày càng phản ánh sát giá thanh toán thực tế.

    Tuy nhiên, có dữ liệu chưa đủ, mà dữ liệu còn phải được làm sạch và sàng lọc. Những giao dịch có mức giá đột biến, đấu giá trả giá rất cao rồi bỏ cọc, giao dịch giữa các bên có quan hệ lợi ích hoặc mua bán nhằm tạo mặt bằng giá mới cần được nhận diện và đánh giá thận trọng. Không nên để một vài giao dịch bất thường trở thành căn cứ đẩy mặt bằng giá của cả khu vực lên cao.

    Khi quy định chi tiết phương pháp định giá cũng cần tính đến đặc điểm của từng loại đất. Không nên sử dụng một cách tiếp cận máy móc cho mọi loại đất. Đặc biệt, với đất dành cho sản xuất, kinh doanh, công nghiệp, công nghệ cao và logistics, giá đất còn liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh quốc gia. Nếu doanh nghiệp phải dành quá nhiều vốn cho đất, nguồn lực đầu tư cho máy móc, công nghệ, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và lao động sẽ bị thu hẹp.

    Chính sách giá đất cũng cần gắn với việc xử lý đất được giao nhưng bỏ hoang, chậm đưa vào sử dụng. Đối với đất thực hiện dự án đầu tư nhưng không sử dụng hoặc chậm sử dụng, cơ chế thu tiền luỹ tiến và trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì thu hồi là hướng đi phù hợp với nguyên tắc sử dụng nguồn lực hiệu quả.

    Hài hòa lợi ích từ giá trị tăng thêm của đất

    Nếu định giá đất là vấn đề thứ nhất thì vấn đề lớn thứ hai là: ai được hưởng phần giá trị tăng thêm từ đất? Một khu đất có thể tăng giá nhiều lần không phải vì chủ đất đầu tư thêm, mà vì Nhà nước mở đường, xây cầu, đầu tư đường sắt đô thị, thay đổi quy hoạch hoặc mở rộng không gian đô thị. Trong trường hợp đó, giá trị tăng thêm phần lớn được tạo ra từ quyết định của Nhà nước và nguồn lực chung của xã hội.

    Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) xác định Nhà nước có quyền điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại. Đây là một nguyên tắc quan trọng để điều tiết hợp lý phần giá trị tăng thêm từ đất. Nếu đầu tư công làm giá đất tăng mạnh nhưng toàn bộ lợi ích tăng thêm lại chỉ thuộc về một số chủ đất, trong khi ngân sách và cộng đồng phải bỏ vốn xây dựng hạ tầng, sẽ xuất hiện tình trạng lợi ích được tư nhân hóa nhưng chi phí lại xã hội hóa.

    Tuy nhiên, điều tiết địa tô không có nghĩa Nhà nước thu toàn bộ phần giá trị tăng thêm. Doanh nghiệp bỏ vốn, tổ chức dự án, chịu chi phí và rủi ro phải được hưởng lợi ích tương xứng. Người dân đầu tư hợp pháp làm tăng giá trị tài sản cũng phải được tôn trọng quyền lợi. Vì vậy, nguyên tắc cần hướng tới là: phần giá trị đất tăng lên do quyết định của Nhà nước và đầu tư của cộng đồng phải được điều tiết hợp lý trở lại cho cộng đồng; phần giá trị do vốn, công sức, sáng tạo và rủi ro hợp pháp của người dân, doanh nghiệp tạo ra phải được bảo đảm.

    Dự thảo Luật cũng mở ra hướng khai thác quỹ đất tại vùng phụ cận các công trình kết cấu hạ tầng có tiềm năng phát triển, trong đó có tạo quỹ đất để đấu giá quyền sử dụng đất. Đây có thể là nền tảng để tiếp tục nghiên cứu cơ chế thu hồi một phần giá trị đất tăng thêm từ đầu tư hạ tầng.

    Chẳng hạn, với các tuyến đường sắt đô thị, khi đầu tư công làm giá trị đất quanh nhà ga tăng mạnh, có thể nghiên cứu cơ chế phù hợp để thu hồi một phần giá trị tăng thêm, sau đó tái đầu tư vào giao thông, hạ tầng đô thị, nhà ở xã hội và dịch vụ công.

    Tựu trung, cải cách chính sách đất đai không chỉ nhằm xác định giá đất phù hợp, mà còn phải giải quyết bài toán phân phối phần giá trị tăng thêm từ đất do quy hoạch, hạ tầng và quyết định của Nhà nước tạo ra. Khi nguồn lực này được điều tiết và đưa trở lại đầu tư cho hạ tầng, nhà ở xã hội và dịch vụ công, đất đai không chỉ là nguồn thu mà có thể trở thành nguồn lực phục vụ phát triển.

    PGS. TS Ngô Trí Long – Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam

    Nguồn https://baomoi.com/de-dat-dai-thuc-su-tro-thanh-nguon-luc-phat-trien-c55897931.epi

  • Gắn trách nhiệm với từng đồng vốn đầu tư công

    Theo đó, đến ngày 18/8 các đơn vị thuộc phạm vi Tổ công tác số 1 mới giải ngân hơn 1.520 tỷ đồng, đạt 25,17% kế hoạch, trong khi còn hơn 4.520 tỷ đồng phải thực hiện trong những tháng còn lại của năm. Tổ công tác số 4 giải ngân 599,47 tỷ đồng, đạt 35,8%, vẫn còn hơn 1.074 tỷ đồng chưa được giải ngân. Đáng chú ý, trong hơn 2.562 tỷ đồng vốn kế hoạch năm 2025 kéo dài sang năm 2026 nếu không giải ngân hết trước ngày 31/12/2026 sẽ bị hủy dự toán.

    Chúng ta đều biết, trong điều hành phát triển kinh tế – xã hội, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chính là thước đo khả năng tổ chức thực hiện, hiệu quả điều hành của chủ đầu tư, nhà thầu và các bên liên quan.

    Qua những cuộc làm việc liên tiếp của Chủ tịch UBND tỉnh Tô Anh Dũng với các sở: Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài chính, Ban Quản lý Khu Kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp tỉnh và các ban quản lý dự án trong tháng 8/2026, có thể thấy một tinh thần chỉ đạo rất rõ ràng: Phải quyết liệt hơn, cụ thể hơn, gắn trách nhiệm đến cùng với từng dự án, từng chủ đầu tư, từng cơ quan quản lý và người đứng đầu. Các sở, ngành, ban quản lý dự án phải thực sự nhìn nhận xem còn vướng ở đâu, nghẽn ở chỗ nào, để nhanh chóng tháo gỡ.

    Riêng với Ban Quản lý dự án đầu tư công trình giao thông – chủ đầu tư công lớn nhất tỉnh, người đứng đầu UBND tỉnh đã yêu cầu không chờ đến quý IV mới tập trung giải ngân, mà phải tạo chuyển biến ngay trong tháng 8 và tháng 9. Những dự án giải ngân dưới 25% phải được rà soát, làm rõ nguyên nhân và đề xuất các giải pháp phù hợp cho từng dự án… Nhà thầu, tư vấn chậm tiến độ không thể chỉ được nhắc nhở mà phải có biện pháp xử lý quyết liệt. Với Ban Quản lý dự án dân dụng và công nghiệp đang quản lý, theo dõi hơn 700 dự án, yêu cầu đặt ra là phải biết dự án nào cần tập trung hoàn thành, dự án nào cần tháo gỡ và dự án nào phải xử lý dứt điểm. Với Ban Quản lý dự án nông nghiệp và phát triển nông thôn, trách nhiệm phải được xác định đến từng phòng điều hành dự án, từng cá nhân phụ trách.

    Đáng chú ý, tinh thần ấy không chỉ đặt lên vai các ban quản lý dự án, mà được lan tỏa đến từng địa phương. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công bình quân của 45 xã, phường thuộc phạm vi Tổ công tác số 1 của UBND tỉnh mới đạt hơn 17%, trong đó 17 địa phương chưa giải ngân. Với những địa phương này, yêu cầu không phải là giải thích vì sao chưa làm được, mà phải nhanh chóng đưa ra được cách làm phù hợp để kịp giải ngân nguồn vốn trong thời gian còn lại của năm.

    Những chuyến làm việc và chỉ đạo liên tiếp trong thời gian qua của lãnh đạo tỉnh cho thấy quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong việc giải phóng nguồn lực đầu tư công, tháo gỡ các dự án tồn đọng nhằm tạo chuyển biến thực chất trong lĩnh vực hạ tầng, giao thông, xây dựng. Thông điệp “Trách nhiệm giải ngân vốn đầu tư công phải gắn với từng chủ đầu tư, địa phương và người đứng đầu” vì thế không chỉ là kết luận tại hội nghị, mà phải thành mệnh lệnh, phương châm hành động. Mỗi dự án phải có người chịu trách nhiệm. Mỗi điểm nghẽn phải có thời hạn xử lý. Mỗi nguồn vốn phải có lộ trình giải ngân. Có như vậy, đồng vốn đầu tư công mới thực sự trở thành nguồn lực tạo dựng hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng cho tỉnh.

    Thái Minh

    Nguồn https://baomoi.com/gan-trach-nhiem-voi-tung-dong-von-dau-tu-cong-c55898082.epi

  • Quốc hội họp phiên bế mạc kỳ họp không thường lệ thứ nhất

    Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khoá XVI. Ảnh: Media Quốc hội.

    Ngày 24/8, tiếp tục chương trình kỳ họp không thường lệ thứ nhất, buổi sáng, Quốc hội họp phiên toàn thể tại Hội trường, thảo luận về định hướng, chính sách dự án Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi).

    Sau đó, Quốc hội biểu quyết thông qua 3 luật, 8 nghị quyết: Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án; Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản; Nghị quyết của Quốc hội về việc di chuyển 3 di tích trong phạm vi thực hiện 2 Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội và Dự án xây dựng Doanh trại Trung đoàn không quân Công an nhân dân theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 256/2025/QH15 của Quốc hội;

    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội; Nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang; Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số;

    Quốc hội sau đó họp riêng biểu quyết thông qua: Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế đặc thù để xử lý một số khó khăn, vướng mắc đối với các dự án điện gió, điện mặt trời; Nghị quyết của Quốc hội về phê chuẩn hiệp định liên quan đến Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận.

    Buổi chiều, Quốc hội tiếp tục họp phiên toàn thể tại Hội trường, biểu quyết thông qua 5 luật, 3 nghị quyết: Luật Phát triển đô thị (trong đó có nội dung về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng;

    Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; Nghị quyết của Quốc hội về việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập; Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035.

    Từ 16h, Quốc hội họp phiên bế mạc (Truyền hình, phát thanh trực tiếp) biểu quyết thông qua các nội dung: Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư; Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Quảng Ninh; Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Bắc Ninh.

    Kiều Chinh

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-hop-phien-be-mac-ky-hop-khong-thuong-le-thu-nhat-c55898040.epi

  • Đến năm 2030, Đà Nẵng phấn đấu hoàn thành hơn 28.000 căn nhà ở xã hội

    Theo kế hoạch, thành phố đặt mục tiêu hoàn thành 4.979 căn nhà ở xã hội trong năm 2026. Phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành tổng cộng hơn 28.000 căn nhà ở xã hội, đáp ứng nhu cầu cho người thu nhập thấp và công nhân các khu công nghiệp.

    Kế hoạch hướng tới xóa bỏ hoàn toàn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình người có công với cách mạng và các đối tượng bị ảnh hưởng bởi thiên tai.

    Để đạt các mục tiêu trên, UBND thành phố đề ra nhiều nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm. Cụ thể, thành phố đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính để rút ngắn thời gian giải quyết các dự án nhà ở xã hội; tập trung tháo gỡ vướng mắc cho các dự án chậm tiến độ. Quỹ đất phát triển nhà ở sẽ được rà soát, quy hoạch đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội thiết yếu như trường học, y tế, dịch vụ.

    Ngân sách nhà nước sẽ ưu tiên cho công tác giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng kết nối ngoài hàng rào và xây dựng nhà ở xã hội thuộc tài sản công. Thành phố khuyến khích các nguồn vốn hợp pháp từ doanh nghiệp, Quỹ đầu tư phát triển thành phố, tài chính công đoàn và phát triển các dự án nhà ở cho lực lượng vũ trang.

    MINH LÊ

    Nguồn https://baomoi.com/den-nam-2030-da-nang-phan-dau-hoan-thanh-hon-28-000-can-nha-o-xa-hoi-c55898014.epi

  • Ký kết quy chế phối hợp đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường tuyến biển

    Các đơn vị tham dự lễ ký kết Quy chế phối hợp.

    Quy chế phối hợp được ký kết là bước cần thiết để phân định rõ phạm vi quản lý, tăng cường trao đổi thông tin, xác định rõ vai trò trách nhiệm và kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh. Trọng tâm là quản lý, kiểm tra, giám sát, tuyên truyền, vận động người dân, du khách chấp hành quy định về bảo vệ môi trường, trật tự đô thị và an ninh trật tự; xử lý các điểm tồn đọng rác thải, xử lý các vụ việc phát sinh,… tránh chồng chéo, không bỏ sót nhiệm vụ. Đối với tuyến Nguyễn Tất Thành và khu vực bãi biển, địa phương và các đơn vị liên quan tập trung phối hợp thu gom, vận chuyển rác thải, duy trì vệ sinh môi trường, quản lý thoát nước, chăm sóc cây xanh, bảo đảm ANTT, trật tự đô thị và xử lý các vấn đề liên quan đến hạ tầng, cảnh quan.

    Việc ban hành Quy chế tạo cơ chế phối hợp thường xuyên, chủ động, đồng bộ giữa UBND phường với các cơ quan, đơn vị, hướng đến xây dựng tuyến đường Nguyễn Tất Thành và khu vực bãi biển phường Thanh Khê xanh – sạch – đẹp, an toàn, văn minh, góp phần nâng cao chất lượng môi trường đô thị và xây dựng phường ngày càng văn minh, hiện đại, đáng sống.

    PHƯƠNG KIẾM

    Nguồn https://baomoi.com/ky-ket-quy-che-phoi-hop-dam-bao-an-ninh-trat-tu-ve-sinh-moi-truong-tuyen-bien-c55898112.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!