Category: Tin BĐS Việt Nam

  • ‘Chốt’ đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô dài 349 km, tổng vốn hơn 288 nghìn tỷ đồng

    Sáng 24/8, với đa số đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội.

    Theo đó, dự án đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô có chiều dài khoảng 349 km, thuộc địa phận 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ.

    Dự án được đầu tư bằng hình thức đầu tư công, chia thành các dự án thành phần; áp dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại, bảo đảm yêu cầu về an toàn, đồng bộ, chất lượng và hiệu quả.

    Dự án đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô có chiều dài khoảng 349 km.

    Nghị quyết vừa được thông qua nêu rõ tổng nhu cầu sử dụng đất cho dự án khoảng 4.011ha, tổng mức đầu tư sơ bộ 288.268 tỷ đồng.

    Trong đó, khoảng 61.394 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách Trung ương giai đoạn 2026 – 2030 được dự kiến bố trí để đầu tư tuyến chính cao tốc dài 116 km, thuộc địa phận 4 tỉnh, thành phố: Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh.

    Về tiến độ, dự án sẽ được chuẩn bị đầu tư từ năm 2026, thực hiện dự án từ năm 2027 và phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.

    Đáng chú ý, đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội được áp dụng nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt. Ví dụ, dự án không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn theo quy định của Luật Đầu tư công.

    Về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, UBND cấp tỉnh có dự án đi qua được chủ động bố trí, xây dựng khu tái định cư. Chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác cũng được thực hiện trong bước nghiên cứu khả thi của dự án.

    Vốn đầu tư tương đồng với dự án Vành đai 4

    Trước đó, báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của đại biểu, Chính phủ cho biết đã chỉ đạo các cơ quan liên quan rà soát sơ bộ tổng mức đầu tư để bảo đảm được tính đúng, tính đủ, hạn chế tăng tổng mức đầu tư trong quá trình triển khai thực hiện.

    Tổng mức đầu tư của dự án được xác định trên cơ sở khối lượng của phương án thiết kế sơ bộ và hệ thống định mức, đơn giá, suất vốn đầu tư do cơ quan có thẩm quyền công bố, tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư công và xây dựng.

    Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh báo cáo tiếp thu, giải trình. (Ảnh: Như Y)

    Bên cạnh đó, Chính phủ đã chỉ đạo so sánh sơ bộ tổng mức đầu tư với một số tuyến cao tốc đang triển khai trong khu vực với quy mô, tính chất và điều kiện xây dựng tương tự (đường Vành đai 4, cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng).

    Kết quả cho thấy suất đầu tư và cơ cấu chi phí của dự án cơ bản tương đồng với các dự án trên, bảo đảm tính hợp lý của phương án xác định sơ bộ tổng mức đầu tư.

    Giải trình về cơ chế không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn, Chính phủ lý giải do chưa thể cân đối đủ vốn để đầu tư toàn tuyến, Chính phủ đề xuất Quốc hội cơ chế này để thông qua chủ trương đầu tư một lần cho toàn tuyến, làm cơ sở triển khai các bước tiếp theo.

    Cơ chế đặc thù này có ưu điểm tạo điều kiện cho Chính phủ chủ động triển khai dự án theo khả năng cân đối, bố trí vốn để đẩy nhanh tiến độ đầu tư, sớm khép kín đường Vành đai 5, quản lý quỹ đất, huy động nguồn lực.

    Yêu cầu đặt ra khi thực hiện cơ chế này là đảm bảo công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả và được Quốc hội giám sát, quản lý chặt chẽ của Quốc hội, không phát sinh lãng phí, tiêu cực trong triển khai.

    Luân Dũng – Trường Phong

    Nguồn https://baomoi.com/chot-duong-vanh-dai-5-vung-thu-do-dai-349-km-tong-von-hon-288-nghin-ty-dong-c55899996.epi

  • Quốc hội chốt chi hơn 288 nghìn tỷ đồng làm đường Vành đai 5-Vùng Thủ đô Hà Nội

    Các đại biểu Quốc hội dự phiên họp ở hội trường sáng 24/8. (Ảnh: DUY LINH)

    Sáng 24/8, với 463/470 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (bằng 92,60% tổng số đại biểu Quốc hội), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5-Vùng Thủ đô Hà Nội.

    Việc đầu tư dự án nhằm hình thành tuyến đường bộ cao tốc kết nối Thủ đô Hà Nội với các địa phương trong Vùng nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải bền vững, tạo động lực lan tỏa, mở ra không gian phát triển kinh tế mới; tạo tiền đề phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; phân luồng giao thông từ xa, góp phần giảm ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường; hoàn thiện đồng bộ hệ thống đường vành đai Thủ đô Hà Nội và thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và các Nghị quyết của Đảng.

    Dự án có chiều dài khoảng 349km thuộc địa phận 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ; đầu tư theo hình thức đầu tư công; chia thành các dự án thành phần.

    Dự án áp dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại, bảo đảm yêu cầu về an toàn, đồng bộ, chất lượng và hiệu quả. Khuyến khích ứng dụng công nghệ cao trong khảo sát, thiết kế, thi công, thích ứng với biến đổi khí hậu. Thực hiện hình thức thu phí điện tử không dừng trong khai thác, vận hành.

    Nhu cầu sử dụng đất dự kiến của dự án khoảng 4.011ha, gồm đất trồng lúa khoảng 1.776 ha (trong đó đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên khoảng 1.590ha); đất lâm nghiệp khoảng 210ha; các loại đất khác theo quy định của pháp luật về đất đai khoảng 2.025ha.

    Sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án là 288.268 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước bố trí trong các kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn và nguồn vốn hợp pháp khác. Trong đó, dự kiến bố trí khoảng 61.394 tỷ đồng nguồn vốn ngân sách trung ương giai đoạn 2026-2030 để đầu tư tuyến chính cao tốc, dự kiến khoảng 116km thuộc địa phận 4 tỉnh, thành phố: Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh.

    Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết trước khi Quốc hội biểu quyết thông qua. (Ảnh: DUY LINH)

    Về tiến độ thực hiện, chuẩn bị đầu tư dự án từ năm 2026; thực hiện dự án từ năm 2027; phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035. Đối với các dự án thành phần sử dụng ngân sách trung ương được cân đối vốn giai đoạn 2026-2030 cơ bản hoàn thành năm 2030, đưa vào vận hành, khai thác năm 2031. Đối với các dự án thành phần sử dụng vốn ngân sách địa phương, các địa phương căn cứ khả năng cân đối vốn, chủ động triển khai thực hiện.

    Quốc hội cũng quyết nghị cho phép dự án được áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt. Theo đó, trong thời gian Quốc hội không họp, Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án, trừ các trường hợp: tăng phần vốn ngân sách trung ương bố trí cho dự án, trình Quốc hội xem xét, quyết định; tăng phần vốn ngân sách địa phương bố trí cho dự án do địa phương xem xét, quyết định.

    Dự án không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn theo quy định của Luật Đầu tư công.

    Về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư tổ chức thực hiện tiểu dự án hoặc các tiểu dự án di dời công trình điện có điện áp từ 110kV trở lên.

    Cho phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu vực bãi đổ chất thải xây dựng trong Hồ sơ khảo sát dự án và bàn giao mặt bằng cho nhà thầu để đổ chất thải xây dựng của dự án; tổ chức quản lý bãi đổ chất thải xây dựng của dự án theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về môi trường và quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác được thực hiện trong bước nghiên cứu khả thi của dự án. Cho phép áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với các gói thầu thuộc dự án; trình tự, thủ tục chỉ định thầu thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu.

    Trường hợp việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án có nội dung khác với quy hoạch có liên quan thì dự án được phê duyệt mà không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch. Sau khi dự án được phê duyệt, các quy hoạch có liên quan phải được kịp thời rà soát, điều chỉnh, cập nhật và công bố.

    Nguồn thu từ việc phát triển các khu đô thị, khu chức năng chung quanh tuyến đường sau khi trừ đi chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu vực phát triển khu đô thị, khu chức năng hai bên tuyến đường Vành đai 5 và chi phí khác có liên quan theo quy định của pháp luật, chính quyền địa phương cấp tỉnh được giữ lại một phần tỷ lệ để nộp vào ngân sách địa phương và phần còn lại nộp vào ngân sách trung ương. Giao Chính phủ quy định cụ thể về tỷ lệ phân chia và phương thức thực hiện.

    Quốc hội cũng giao Chính phủ xem xét quyết định chuyển đổi hình thức đầu tư các dự án thành phần mà không phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư; tổng hợp và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

    VĂN TOẢN

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-chot-chi-hon-288-nghin-ty-dong-lam-duong-vanh-dai-5-vung-thu-do-ha-noi-c55899896.epi

  • Phá dỡ hai tòa chung cư hơn 50 năm tuổi ở Nghệ An

    Máy móc được huy động để phá dỡ hai tòa chung cư C5, C6 thuộc khu chung cư Quang Trung, khép lại hành trình hơn 50 năm tồn tại của hai công trình đã xuống cấp nghiêm trọng.

    Khu chung cư Quang Trung được Chính phủ Đức viện trợ xây dựng năm 1974 và đưa vào sử dụng từ năm 1976. Toàn khu gồm 22 tòa nhà cao 5 tầng, từng là nơi sinh sống của nhiều thế hệ cán bộ, công nhân, viên chức và người dân trên địa bàn.

    Phá dỡ hai tòa chung cư hơn 50 năm tuổi ở Nghệ An.

    Sau gần 50 năm sử dụng, nhiều hạng mục tại khu chung cư đã xuống cấp. Phần lớn cư dân hiện nay là cán bộ hưu trí, công nhân, viên chức và các hộ có thu nhập trung bình, thấp. Do hạn chế về điều kiện tài chính, nhiều gia đình vẫn phải gắn bó với những căn hộ cũ kỹ, xuống cấp.

    Đáng chú ý, hai tòa C5 và C6 đã được kiểm định ở cấp D – mức nguy hiểm cao nhất đối với nhà chung cư theo quy định. Sau hơn nửa thế kỷ sử dụng, công trình xuống cấp nghiêm trọng, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho người dân.

    Ông Nguyễn Sỹ Diệu, Chủ tịch UBND phường Thành Vinh, cho biết thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, địa phương đã tập trung triển khai công tác giải phóng mặt bằng, tổ chức di dời 140 hộ dân tại hai tòa C5, C6 để phục vụ việc phá dỡ và xây dựng lại.

    Việc hoàn thành di dời người dân và phá dỡ hai tòa nhà có ý nghĩa quan trọng, tạo mặt bằng sạch để chủ đầu tư triển khai dự án cải tạo, xây dựng lại khu C chung cư Quang Trung. Đây cũng là bước cụ thể hóa chủ trương chỉnh trang đô thị, từng bước thay thế các công trình chung cư cũ, xuống cấp bằng hệ thống nhà ở mới đồng bộ, hiện đại và an toàn hơn.

    Sau hơn nửa thế kỷ sử dụng, công trình xuống cấp nghiêm trọng, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho người dân.

    Để hỗ trợ người dân trong quá trình di dời, phường Thành Vinh hỗ trợ 5 triệu đồng/hộ chi phí di chuyển. Các hộ dân còn được hỗ trợ tiền thuê nhà tạm cư 5 triệu đồng/tháng trong thời gian 6 tháng, góp phần giúp người dân ổn định cuộc sống trong thời gian chờ nhận căn hộ tái định cư.

    Theo dự án cải tạo, xây dựng lại khu C chung cư Quang Trung, Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội số 30 là chủ đầu tư. Hai tòa nhà CT3A và CT3B được xây dựng để bố trí tái định cư cho các hộ dân thuộc các tòa C2, C3, C4, C5 và C6.

    Máy móc được huy động để phá dỡ hai tòa chung cư C5, C6 thuộc khu chung cư Quang Trung.

    Trong đó, tòa CT3A dành để bố trí tái định cư cho các hộ dân tại C5 và C6. Công trình cơ bản hoàn thành phần xây dựng, hiện đang triển khai các hạng mục hạ tầng kỹ thuật, hoàn thiện hệ thống điện, nước, phòng cháy, chữa cháy và các hạng mục phụ trợ. Theo kế hoạch, CT3A sẽ được bàn giao, đưa vào sử dụng trước ngày 30/8.

    Sau khi hoàn thành di dời người dân tại C5, C6, phường Thành Vinh tiếp tục triển khai di dời tại ba tòa C2, C3 và C4 với tổng số 240 hộ dân.

    Theo Quyết định số 2452/QĐ-UBND ngày 17/8/2026, các hộ gia đình, cá nhân là chủ sở hữu, người sử dụng hợp pháp căn hộ tại ba tòa nhà phải di chuyển người và toàn bộ tài sản ra khỏi nhà chung cư trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định có hiệu lực.

    Hiện phường Thành Vinh đang huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, tăng cường tuyên truyền, vận động người dân, đồng thời phối hợp với chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình tái định cư.

    Tòa CT3B – nơi bố trí tái định cư cho các hộ dân tại C2, C3 và C4 – đang được chủ đầu tư tập trung nhân lực, máy móc thi công. Công trình hiện đã hoàn thiện đến tầng 14, phấn đấu hoàn thành phần thô trước ngày 30/9, nghiệm thu trong tháng 11 và bàn giao căn hộ cho người dân trước ngày 31/12/2026.

    Việc từng bước phá dỡ các tòa chung cư cũ, di dời người dân và xây dựng các công trình tái định cư mới được kỳ vọng sẽ góp phần thay đổi diện mạo khu chung cư Quang Trung, đồng thời bảo đảm an toàn và cải thiện điều kiện sống cho hàng trăm hộ dân sau nhiều năm sinh sống trong những công trình đã xuống cấp.

    Trần Tú

    Nguồn https://baomoi.com/pha-do-hai-toa-chung-cu-hon-50-nam-tuoi-o-nghe-an-c55899851.epi

  • Tuyến cao tốc 55 km và những cơ hội mới khi Quảng Ninh nối với Vành đai 5

    Thêm một mắt nối cho mạng lưới giao thông

    Quảng Ninh đang có một trong những mạng lưới giao thông kết nối đa dạng nhất cả nước, với cao tốc, cảng biển, sân bay và cửa khẩu cùng hiện diện trong một không gian kinh tế. Tuy nhiên, khi các trung tâm sản xuất và đô thị phía Bắc ngày càng liên kết chặt chẽ, yêu cầu đặt ra không chỉ là có thêm tuyến đường, mà là hoàn thiện những mắt nối còn thiếu trong toàn mạng lưới.

    Cuối tháng 7/2026, UBND tỉnh Quảng Ninh có văn bản số 3316/UBND-XDMT đề nghị bổ sung tuyến cao tốc nối từ cao tốc Hải Phòng – Hạ Long đến Vành đai 5 – Vùng Thủ đô và tuyến cao tốc Hải Phòng – Gia Bình vào Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

    Theo phương án đề xuất, tuyến dài khoảng 55 km, điểm đầu tại nút giao Hạ Long Xanh trên cao tốc Hải Phòng – Hạ Long – Móng Cái, điểm cuối kết nối với Vành đai 5 trên địa bàn Hải Phòng; tuyến được nghiên cứu theo tiêu chuẩn cao tốc 6 làn xe, tốc độ thiết kế 100-120 km/giờ.

    Khi kết nối được tăng cường, lợi thế về cảng biển, cửa khẩu, công nghiệp, du lịch và dịch vụ của Quảng Ninh sẽ có thêm điều kiện phát triển (Ảnh minh hoạ).

    Nếu được bổ sung và đầu tư, đây sẽ là một hướng kết nối mới từ Quảng Ninh vào mạng lưới giao thông phía Tây. Ý nghĩa của tuyến đường vì thế không nằm đơn thuần ở 55 km cao tốc, mà ở khả năng kết nối những tuyến đã hình thành thành một mạng lưới có phạm vi phục vụ rộng hơn.

    Với vận tải hàng hóa, thêm một hướng kết nối đồng nghĩa thêm phương án tổ chức hành trình. Hàng hóa từ Quảng Ninh có thể tiếp cận các trung tâm sản xuất, phân phối và tiêu thụ phía trong thuận lợi hơn; theo chiều ngược lại, hàng từ các tỉnh, thành trong vùng có thêm hướng tiếp cận hệ thống cảng biển, khu kinh tế và cửa khẩu của Quảng Ninh.

    Từ lợi thế giao thông đến lợi thế vị trí

    Quảng Ninh đã có quá trình khá rõ trong việc biến hạ tầng giao thông thành lợi thế phát triển. Các tuyến cao tốc kết nối Hải Phòng, Hạ Long, Vân Đồn, Móng Cái; Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn; hệ thống cảng biển và cửa khẩu quốc tế đã từng bước mở rộng khả năng tiếp cận của tỉnh với các trung tâm kinh tế trong nước và thị trường quốc tế.

    Tuyến 55 km được đề xuất có thể tạo thêm một lớp kết nối theo hướng khác: đưa Quảng Ninh tham gia sâu hơn vào mạng lưới kinh tế phía Tây, thay vì chỉ được nhìn như điểm cuối của các tuyến giao thông hướng Đông Bắc.

    Đây là thay đổi đáng chú ý về vị trí kinh tế. Trong một mạng lưới liên kết vùng, lợi thế không chỉ thuộc về nơi có nhà máy, cảng biển hay thị trường lớn, mà còn thuộc về nơi có khả năng kết nối nhanh giữa các trung tâm đó.

    Quảng Ninh có biển, cảng, cửa khẩu và du lịch; Hải Phòng có hệ thống cảng biển và công nghiệp; các tỉnh, thành phía trong có các trung tâm sản xuất, đô thị và thị trường. Kết nối tốt hơn cho phép những lợi thế này bổ trợ cho nhau thay vì phát triển theo những không gian tương đối tách biệt.

    Đáng chú ý, tuyến cao tốc đề xuất được tính toán song hành với tuyến đường ven sông Quảng Ninh đang đầu tư, tạo thêm một hành lang giao thông ở khu vực phía Tây. Đây cũng là khu vực đang được nghiên cứu mở rộng không gian cho công nghiệp, logistics, đô thị và các hoạt động kinh tế khác. Khi hạ tầng được đặt trước một bước, giá trị của quỹ đất cũng có thể được tính lại trên cơ sở khả năng tiếp cận mới.

    Tuy nhiên, hạ tầng giao thông chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong tổng thể quy hoạch và tổ chức không gian phát triển. Việc đầu tư tuyến cao tốc cần được gắn với quy hoạch sử dụng đất, phát triển khu công nghiệp, logistics, đô thị, dịch vụ và hệ thống giao thông kết nối, qua đó nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng.

    Ở góc độ này, ý nghĩa của đề xuất tuyến dài khoảng 55 km không chỉ nằm ở việc bổ sung một tuyến giao thông mới, mà còn ở khả năng hoàn thiện kết nối giữa hệ thống giao thông của Quảng Ninh với mạng lưới giao thông và không gian kinh tế đang mở rộng của khu vực phía Bắc.

    Khi kết nối được tăng cường, lợi thế về cảng biển, cửa khẩu, công nghiệp, du lịch và dịch vụ của Quảng Ninh sẽ có thêm điều kiện tiếp cận các trung tâm sản xuất, thị trường trong nước và quốc tế; đồng thời mở thêm hướng kết nối từ các khu vực sản xuất phía trong ra hệ thống cảng biển và các tuyến giao thông đối ngoại.

    Hoàng Hà

    Nguồn https://baomoi.com/tuyen-cao-toc-55-km-va-nhung-co-hoi-moi-khi-quang-ninh-noi-voi-vanh-dai-5-c55899853.epi

  • Đầu tư hơn 288.000 tỷ đồng xây 349km đường vành đai 5 đi qua 7 tỉnh, thành

    Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, sáng 24/8, Quốc hội khóa XVI thông qua Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường vành đai 5 – vùng Thủ đô Hà Nội.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết trước khi Quốc hội biểu quyết.

    Theo Nghị quyết vừa được thông qua, đường vành đai 5 – vùng Thủ đô Hà Nội dài khoảng 349km thuộc địa phận 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ và được đầu tư bằng hình thức đầu tư công, chia thành các dự án thành phần.

    Dự án áp dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại, bảo đảm yêu cầu về an toàn, đồng bộ, chất lượng và hiệu quả. Khuyến khích ứng dụng công nghệ cao trong khảo sát, thiết kế, thi công, thích ứng với biến đổi khí hậu. Thực hiện hình thức thu phí điện tử không dừng trong khai thác, vận hành.

    Sơ bộ tổng nhu cầu sử dụng đất khoảng 4.011 ha, gồm đất trồng lúa khoảng 1.776 ha (trong đó đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên khoảng 1.590 ha); đất lâm nghiệp khoảng 210 ha; các loại đất khác theo quy định của pháp luật về đất đai khoảng 2.025 ha.

    Sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án là 288.268 tỷ đồng. Trong đó, khoảng 61.400 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách Trung ương giai đoạn 2026-2030 được dự kiến bố trí đầu tư tuyến chính cao tốc dài 116km, thuộc địa phận 4 tỉnh, thành phố: Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh.

    Quốc hội quyết nghị chuẩn bị đầu tư dự án từ năm 2026; thực hiện dự án từ năm 2027; phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.

    Trong đó, đối với các dự án thành phần sử dụng ngân sách trung ương được cân đối vốn giai đoạn 2026-2030 cơ bản hoàn thành năm 2030, đưa vào vận hành, khai thác năm 2031. Đối với các dự án thành phần sử dụng vốn ngân sách địa phương, các địa phương căn cứ khả năng cân đối vốn, chủ động triển khai thực hiện.

    Đường vành đai 5 – vùng Thủ đô Hà Nội được áp dụng nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt. Ví dụ trong thời gian Quốc hội không họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội được ủy quyền xem xét, quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án, trừ một số trường hợp (tăng phần vốn ngân sách Trung ương bố trí cho dự án, trình Quốc hội xem xét, quyết định; tăng phần vốn ngân sách địa phương bố trí cho dự án do địa phương xem xét, quyết định).

    Dự án cũng không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn theo quy định của Luật Đầu tư công.

    Về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, UBND cấp tỉnh có dự án đi qua được chủ động bố trí, xây dựng khu tái định cư. Chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác cũng được thực hiện trong bước nghiên cứu khả thi của Dự án.

    Quốc hội đồng thời cho phép áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với các gói thầu thuộc dự án. Trường hợp việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án có nội dung khác với quy hoạch có liên quan thì dự án được phê duyệt mà không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch.

    Theo Nghị quyết, nguồn thu từ việc phát triển các khu đô thị, khu chức năng xung quanh tuyến đường (sau khi trừ đi chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư), chính quyền địa phương cấp tỉnh được giữ lại một phần tỷ lệ để nộp vào ngân sách địa phương và phần còn lại nộp vào ngân sách Trung ương. Chính phủ sẽ quy định cụ thể về tỷ lệ phân chia và phương thức thực hiện.

    Quốc hội giao Chính phủ xem xét quyết định chuyển đổi hình thức đầu tư các dự án thành phần mà không phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư; tổng hợp và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

    Anh Văn

    Nguồn https://baomoi.com/dau-tu-hon-288-000-ty-dong-xay-349km-duong-vanh-dai-5-di-qua-7-tinh-thanh-c55899907.epi

  • Quốc hội đồng ý di chuyển 2 di tích ở Bắc Ninh làm đường nối sân bay Gia Bình

    Với đại đa số đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, sáng 24/8, Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc di chuyển 2 di tích lịch sử – văn hóa trong phạm vi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 256/2025 của Quốc hội.

    Quang cảnh phiên họp sáng 24/8.

    Theo đó, Quốc hội quyết nghị cho phép áp dụng cơ chế, chính sách quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 256/2025 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình đối với việc di chuyển 2 di tích lịch sử – văn hóa.

    Hai di tích gồm đình Đông Côi (phường Thuận Thành, Bắc Ninh) và đình Tam Sơn (xã Lương Tài, Bắc Ninh), nằm trong phạm vi Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, đoạn qua Bắc Ninh.

    Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 20/9/2026.

    Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Nghị quyết, Chính phủ cho biết có ý kiến đề nghị xác định rõ phạm vi chỉ 2 di tích này trong phạm vi dự án tuyến đường kết nối Cảng Hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội; không được dùng cơ chế hướng dẫn để mở rộng thêm đối tượng.

    Về vấn đề này, Chính phủ đã rà soát, quy định dự thảo nghị quyết theo hướng chỉ áp dụng Điều 2 Nghị quyết số 256/2025 của Quốc hội đối với 2 di tích cụ thể: đình Đông Côi và đình Tam Sơn.

    Với đền Tân Trăn (xã Lâm Thao), Chính phủ sẽ rà soát kỹ lưỡng thực trạng và những vấn đề liên quan đến quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa đưa vào dự thảo nghị quyết này.

    Có ý kiến đề nghị UBND tỉnh Bắc Ninh chịu trách nhiệm về hồ sơ khoa học, phạm vi, ranh giới, phương án di chuyển và kết quả bảo tồn các di tích.

    Chính phủ nhìn nhận ý kiến đại biểu là xác đáng. Quy định này đã được xác định rõ tại Điều 2 Nghị quyết số 256/2025 của Quốc hội. Trong quá trình di chuyển các di tích, UBND tỉnh Bắc Ninh phải bảo đảm bảo tồn tối đa và phát huy giá trị của các di tích, bảo đảm công khai, minh bạch, có tham vấn ý kiến của người dân.

    Anh Văn

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-dong-y-di-chuyen-2-di-tich-o-bac-ninh-lam-duong-noi-san-bay-gia-binh-c55899758.epi

  • Quốc hội chốt di dời 2 di tích ở Bắc Ninh để làm đường nối sân bay Gia Bình với Hà Nội

    Sáng 24/8, với 427/453 (chiếm 85,4%) đại biểu có mặt tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc di chuyển 2 di tích lịch sử – văn hóa trong phạm vi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 256/2025/QH15 của Quốc hội.

    Theo Nghị quyết vừa được Quốc hội thông qua, cho phép áp dụng cơ chế, chính sách quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 256 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình đối với việc di chuyển 2 di tích lịch sử – văn hoá. 

    Hai di tích gồm Đình Đông Côi, phường Thuận Thành và Đình Tam Sơn, xã Lương Tài, thành phố Bắc Ninh trong phạm vi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, đoạn qua địa bàn thành phố Bắc Ninh. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 20/9/2026.

    Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh (Ảnh: Hữu Thắng).

    Trước khi biểu quyết, báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Nghị quyết, Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, ngày 22/8, Quốc hội đã cho ý kiến tại Hội trường đối với hồ sơ dự án Nghị quyết của Quốc hội về di chuyển các di tích trong phạm vi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội và Dự án xây dựng Doanh trại Trung đoàn không quân Công an nhân dân theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 256/2025/QH15 của Quốc hội.

    Sau phiên thảo luận tại Hội trường, Chính phủ đã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội và các cơ quan có liên quan để nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến và đã có báo cáo tiếp thu giải trình gửi tới các đại biểu Quốc hội.

    Dự thảo Nghị quyết sau khi tiếp thu, chỉnh lý đã đạt được sự thống nhất cao giữa Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Các mục tiêu đặt ra trong quá trình xây dựng dự thảo Nghị quyết đã đạt được, đó là: áp dụng cơ chế, chính sách di chuyển đối với 2 di tích (Đình Đông Côi và Đình Tam Sơn) trong phạm vi thực hiện dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, đoạn qua địa bàn thành phố Bắc Ninh theo Điều 2 Nghị quyết số 256/2025/QH15 của Quốc hội.

    Đối với di tích Đền Tân Trăn, Chính phủ sẽ rà soát kỹ lưỡng thực trạng và các vấn đề liên quan đến Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo và chưa đưa vào Nghị quyết này.

    “Chính phủ sẽ chịu trách nhiệm trước Quốc hội trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết này, bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội”, Bộ trưởng cho biết.

    Hoàng Bích – Hữu Thắng

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-chot-di-doi-2-di-tich-o-bac-ninh-de-lam-duong-noi-san-bay-gia-binh-voi-ha-noi-c55899865.epi

  • Khi di tích buộc phải di chuyển

    Có lẽ đây là lần đầu tiên việc di chuyển di tích đến một địa điểm mới được đưa ra thảo luận tại diễn đàn Quốc hội, nó cho thấy tính chất và ý nghĩa đặc biệt của sự việc.

    Đình cả Đông Côi ở phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Gia Khiêm/Danviet

    Trong quá trình đô thị hóa và phát triển hạ tầng, không ít công trình giao thông, chỉnh trang đô thị hay các dự án công cộng phải đi qua những không gian có giá trị lịch sử, văn hóa. Khi ấy, một câu hỏi khó đặt ra: Có nên di chuyển di tích để phục vụ phát triển, hay phải điều chỉnh dự án để bảo vệ di tích bằng mọi giá? Đây không đơn thuần là bài toán giữa “phát triển” và “bảo tồn”.

    Đằng sau một ngôi đình, mái chùa, nhà cổ hay một công trình kiến trúc có tuổi đời hàng trăm năm là ký ức của cộng đồng, dấu tích của lịch sử và những giá trị không thể dễ dàng quy đổi.

    Tuy nhiên, bảo tồn không đồng nghĩa với việc phủ nhận nhu cầu phát triển. Một xã hội hiện đại cần những tuyến đường mới, hệ thống giao thông đồng bộ, không gian đô thị phù hợp và các công trình hạ tầng thiết yếu.

    Vì vậy, trong những trường hợp thật sự không thể tránh khỏi xung đột, di chuyển di tích có thể là một giải pháp nhưng phải được xem là phương án cuối cùng, sau khi đã nghiên cứu nghiêm túc các khả năng bảo tồn tại chỗ.

    Đúng như Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh đã nhấn mạnh, “chỉ thực hiện khi thật sự cần thiết, và không còn biện pháp thay thế để bảo tồn tại chỗ”.

    Thế nhưng điều đáng lo ngại nhất không phải là di tích được di chuyển, mà là việc di chuyển được thực hiện một cách cơ học, coi di tích như một “vật thể” có thể tháo dỡ, đánh số rồi lắp đặt ở nơi khác.

    Giá trị của di tích không chỉ nằm trong từng viên gạch, cấu kiện hay mái ngói. Nó còn nằm ở vị trí, cảnh quan, mối liên hệ với cộng đồng và lớp trầm tích lịch sử đã hình thành qua thời gian. Nếu chỉ giữ lại phần “vỏ” mà đánh mất không gian văn hóa vốn có, việc bảo tồn sẽ trở nên hình thức.

    Tuy nhiện sự lo lắng này đã được Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh giải đáp, theo đó, “khi cộng đồng dân cư di chuyển, các đình cũng sẽ di chuyển theo cộng đồng dân cư của làng đó. Đây là điều phù hợp”. Nói cách khác, chủ thể của di sản văn hóa là cộng đồng dân cư vẫn có thể nuôi dưỡng nơi chốn tâm linh của làng xã mình.

    Bởi vậy, mọi quyết định di chuyển di tích cần dựa trên đánh giá khoa học, minh bạch và có sự tham gia của các chuyên gia, cơ quan quản lý văn hóa, đặc biệt là ý kiến đồng thuận của cộng đồng địa phương. Cần xác định rõ giá trị của di tích, mức độ tác động của dự án, phương án kỹ thuật, trách nhiệm của chủ đầu tư và cơ chế giám sát độc lập.

    Đặc biệt, phải công khai thông tin để người dân không có cảm giác rằng di sản của chính mình đang bị quyết định sau những cánh cửa đóng kín. Di tích có thể phải di chuyển trong những hoàn cảnh đặc biệt. Nhưng nếu buộc phải dịch chuyển một công trình, điều cần được giữ nguyên không chỉ là hình hài vật chất, mà còn phải là tinh thần, ký ức và giá trị lịch sử của nó.

    Mà để làm nên những điều đó thì chính cộng đồng dân cư giữ vai trò hết sức quan trọng khi họ được tham gia từ việc nhỏ nhất của việc di chuyển di tích cho đến xác quyết, quyết định địa điểm, hướng đình… Sự đồng thuận của người dân trong việc di chuyển này cần được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu. 

    LÂM SƠN

    Nguồn https://baomoi.com/khi-di-tich-buoc-phai-di-chuyen-c55899816.epi

  • Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc

    Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc – Nguồn: Quốc hội

    Phân cấp gắn với trách nhiệm và kiểm soát chuyên môn

    Trước khi đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Luật , Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, đã trình bày trình bày báo cáo giải trình, làm rõ ý kiến các đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự thảo Luật.

    Theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, quá trình thảo luận dự án luật đã nhận được 146 ý kiến đóng góp của đại biểu Quốc hội, trong đó có 85 ý kiến tại phiên thảo luận tổ, 12 ý kiến tại hội trường và 49 ý kiến bằng văn bản. Bộ trưởng cho biết: Trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, ý kiến của Cơ quan thẩm tra, Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, với tinh thần trách nhiệm, cầu thị của Cơ quan chủ trì soạn thảo, Chính phủ đã tiếp thu tối đa các ý kiến của các đại biểu Quốc hội, ý kiến của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội – Cơ quan chủ trì thẩm tra, ý kiến Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và hoàn thiện dự án Luật bảo đảm chất lượng để trình Quốc hội xem xét thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất.

    Giải trình về vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm là việc phân cấp mạnh mẽ cho cấp xã ban hành quy chế quản lý kiến trúc, Báo cáo của Chính phủ nêu rõ việc không quy định bắt buộc cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thẩm định hoặc có ý kiến thống nhất trước khi Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành không đồng nghĩa với việc cấp tỉnh buông lỏng quản lý. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức kiểm tra khi cần thiết; trường hợp quy chế có nội dung ảnh hưởng không gian liên xã, liên vùng hoặc thuộc khu vực có yêu cầu quản lý đặc thù thì không thuộc phạm vi phân cấp cho cấp xã.

    Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung quy định việc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được phân quyền, phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lập, ban hành quy chế quản lý kiến trúc (có phạm vi thuộc hoàn toàn trong địa giới đơn vị hành chính cấp xã), nhằm cụ thể hóa định hướng lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội về việc tiếp tục đẩy mạnh phân quyền, phân cấp khi thực hiện tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp. Đi đôi với quy định phân quyền, phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp xã, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung quy định bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã. (điểm d khoản 5 Điều 1 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 14 Luật Kiến trúc).

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày Báo cáo một số nội dung chính đã được tiếp thu, giải trình, chỉnh lý và hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc – Nguồn: Quốc hội

    Điểm đáng chú ý là trách nhiệm quản lý được đưa xuống gần hơn với địa bàn, trong khi yêu cầu về chất lượng chuyên môn vẫn được đặt trong một cơ chế kiểm soát chung. Điều này giúp hạn chế tình trạng phân cấp nhưng thiếu điều kiện bảo đảm năng lực thực hiện. Về lâu dài, việc phân cấp mạnh hơn có thể góp phần rút ngắn quá trình xử lý công việc, tăng tính chủ động của chính quyền cơ sở và nâng cao hiệu quả quản lý kiến trúc. Đồng thời, cơ chế kiểm soát chuyên môn cũng là yếu tố cần thiết để bảo đảm việc quản lý ở các địa phương không bị phân mảnh, thiếu thống nhất.

    Một nội dung đột phá khác được Bộ trưởng giải trình là quyết định rút ngắn thời gian thẩm định quy hoạch đô thị và nông thôn từ 30 ngày xuống 20 ngày. Theo đó,  20 ngày là thời hạn tối đa tính từ khi cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ, không bao gồm thời gian cơ quan lập quy hoạch hoàn thiện hồ sơ, lấy ý kiến, thực hiện yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước hoặc thời gian chỉnh sửa theo kết luận thẩm định. Việc rút ngắn thời hạn không cắt giảm nội dung thẩm định, thành phần hội đồng, việc mời chuyên gia hoặc trách nhiệm phối hợp của cơ quan quốc phòng, an ninh theo Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn.

    Đối với các ý kiến cần có thời gian phù hợp cho quy hoạch có yêu cầu quốc phòng, an ninh đặc thù, Bộ trưởng nhấn mạnh: Cơ quan lập quy hoạch phải chuẩn bị đầy đủ tài liệu, ý kiến chuyên ngành và tuân thủ chế độ bảo vệ bí mật nhà nước trước khi gửi hồ sơ đầy đủ. Sau khi hồ sơ đầy đủ, việc duy trì một thời hạn xử lý thống nhất là cần thiết để bảo đảm kỷ luật hành chính và không làm kéo dài quá trình đầu tư. Vì vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất không quy định thời hạn dài hơn đối với trường hợp này.

    Chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm trong quản lý hành nghề

    Một nội dung khác được Chính phủ tiếp thu là đề nghị gắn việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm trong quản lý hành nghề với cơ chế kiểm soát phù hợp, đồng thời đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu. Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết dự thảo luật đã được rà soát, chỉnh lý theo hướng tăng cường hậu kiểm, thúc đẩy phát triển nghề nghiệp liên tục, đồng thời xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu hành nghề. Theo Chính phủ, việc chuyển mạnh sang hậu kiểm sẽ góp phần cải cách thủ tục hành chính, nhưng phải đi đôi với việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực kiến trúc.

    “Dự thảo luật đã được rà soát, chỉnh lý, hoàn thiện theo hướng tăng cường hậu kiểm, phát triển nghề nghiệp liên tục, xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu hành nghề”, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết.

    Các đại biểu tham dự tại Hội trường – Nguồn: Quốc hội

    Việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm là một trong những thay đổi quan trọng nhất về phương thức quản lý hành nghề kiến trúc. Thay vì đặt trọng tâm vào việc kiểm soát trước khi hoạt động hành nghề diễn ra, phương thức hậu kiểm tập trung vào việc theo dõi, kiểm tra và đánh giá quá trình thực hiện. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện để hoạt động hành nghề được thực hiện thuận lợi và linh hoạt hơn.

    Tuy nhiên, giảm tiền kiểm không có nghĩa là giảm trách nhiệm. Khi cơ chế quản lý chuyển sang hậu kiểm, trách nhiệm tuân thủ của người hành nghề và tổ chức hành nghề được nâng lên, đồng thời cơ quan quản lý phải có khả năng kiểm tra, phát hiện và xử lý những trường hợp không bảo đảm yêu cầu.

    Bên cạnh đó, Bộ trưởng cũng nhấn mạnh hậu kiểm muốn thực hiện hiệu quả cần dựa trên thông tin đầy đủ, chính xác và có khả năng cập nhật thường xuyên. Vì vậy, xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu hành nghề là một nội dung quan trọng trong định hướng đổi mới quản lý kiến trúc được cụ thể hóa trong luật lần này. 

    Cơ sở dữ liệu giúp hình thành nguồn thông tin tập trung phục vụ công tác quản lý, theo dõi và kiểm tra hoạt động hành nghề. Thay vì phụ thuộc nhiều vào hồ sơ và các thủ tục hành chính riêng lẻ, cơ quan quản lý có thể sử dụng dữ liệu để nắm bắt tình hình, xác định đối tượng cần kiểm tra và thực hiện hậu kiểm hiệu quả hơn. Đây cũng là điểm kết nối trực tiếp giữa hậu kiểm và chuyển đổi số. Khi dữ liệu hành nghề được xây dựng và vận hành, việc chuyển sang hậu kiểm sẽ có cơ sở thông tin để thực hiện, đồng thời giảm bớt sự phụ thuộc vào các thủ tục tiền kiểm.

    Đối với người hành nghề, cơ sở dữ liệu được vận hành hiệu quả có thể góp phần giảm việc cung cấp lại thông tin, hạn chế giấy tờ và tạo thuận lợi hơn khi thực hiện các thủ tục liên quan. Đối với cơ quan quản lý, dữ liệu giúp tăng khả năng theo dõi và kiểm soát, qua đó nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Nhìn tổng thể, 3 định hướng phân cấp, hậu kiểm và chuyển đổi số không tồn tại độc lập mà bổ trợ cho nhau. Phân cấp giúp tăng quyền chủ động ở cơ sở; hậu kiểm giảm sự can thiệp hành chính trước khi hành nghề nhưng tăng trách nhiệm trong quá trình hoạt động; còn cơ sở dữ liệu tạo công cụ để cơ quan quản lý thực hiện hậu kiểm.

    Luật Kiến trúc cũng đồng thời đặt ra định hướng phát triển nghề nghiệp liên tục, qua đó không chỉ kiểm soát điều kiện hành nghề tại một thời điểm mà chú trọng duy trì năng lực chuyên môn trong suốt quá trình hoạt động. Đây là yếu tố quan trọng đối với một lĩnh vực có yêu cầu chuyên môn cao và luôn chịu tác động của sự phát triển về công nghệ, vật liệu, kỹ thuật và yêu cầu thực tiễn.

    Ngay sau phần báo cáo giải trình, Quốc hội đã tiến hành biểu quyết thông qua dự án Luật. Tổng số đại biểu tham gia biểu quyết là 470 đại biểu, trong đó, số đại biểu tán thành đạt 467 đại biểu, chiếm 93,40% . Quốc hội thông qua toàn văn Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027. 

    Nam Sơn

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-thong-qua-luat-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-luat-kien-truc-c55899748.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!