Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Nhà máy điện rác Sóc Sơn mở rộng: Vì Thủ đô xanh – Hành trình tái sinh nguồn lực

    Chuyển từ “xử lý rác” sang “hoàn trả tài nguyên đất”

    Tháng 4/2026, Công ty CP Năng lượng Môi trường Thiên Ý Hà Nội tổ chức Lễ động thổ Dự án Nhà máy điện rác Sóc Sơn mở rộng tại Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Sơn (xã Trung Giã, Hà Nội).

    Theo Quyết định số 775/QĐ-UBND ngày 13/2/2026 của UBND TP Hà Nội, dự án được điều chỉnh theo hướng đầu tư hai giai đoạn, trong đó giai đoạn 2 (mở rộng) tập trung xử lý khối lượng rác thải đã chôn lấp nhiều năm của Thủ đô. Đây là nội dung cốt lõi, xuyên suốt của việc mở rộng dự án, nhằm từng bước xử lý dứt điểm lượng rác tồn lưu quy mô lớn nhiều năm qua; không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn mang ý nghĩa quy hoạch, khi từng phần diện tích đất sau xử lý sẽ được cải tạo, phục hồi và có thể tái sử dụng cho các công trình công cộng, hạ tầng xã hội hoặc không gian phát triển đô thị trong tương lai.

    Đại diện chủ đầu tư bày tỏ, với tầm nhìn dài hạn, đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy “xử lý rác” sang “hoàn trả tài nguyên đất”, góp phần giải quyết đồng thời bài toán môi trường và bài toán quỹ đất – một trong những áp lực lớn nhất của các đô thị đặc biệt như Hà Nội.

    Dự án Nhà máy điện rác Sóc Sơn mở rộng giai đoạn 2 với mục tiêu xử lý lượng rác chôn lấp nhiều năm qua

    Thông điệp “Vì Thủ đô xanh – Hành trình tái sinh nguồn lực” vì vậy không chỉ mang ý nghĩa truyền thông, mà phản ánh một định hướng phát triển nhất quán: Nơi rác thải không còn là điểm kết thúc, mà trở thành điểm khởi đầu của một vòng tuần hoàn giá trị mới, đó là chuyển hóa áp lực môi trường thành nguồn lực mới cho tăng trưởng.

    Giải quyết 4 bài toán lớn của đô thị

    Theo Công ty CP Năng lượng Môi trường Thiên Ý Hà Nội, điểm nổi bật của dự án là cách tiếp cận tích hợp, giải quyết đồng thời bốn bài toán lớn của đô thị.

    Cụ thể, về môi trường, việc xử lý rác chôn lấp lâu năm giúp giảm thiểu ô nhiễm từ nước rỉ rác và khí phát thải, cải thiện chất lượng môi trường khu vực Nam Sơn.

    Về đất đai, quá trình xử lý sẽ từng bước giải phóng các khu vực chôn lấp, tạo điều kiện hoàn trả lại quỹ đất sạch cho thành phố.

    Khu liên hiệp xử lý Sóc Sơn hiện đang chôn lấp khoảng 10 triệu tấn rác

    Về tài nguyên, dự án bảo vệ nguồn nước, không khí và đất thông qua kiểm soát triệt để các yếu tố gây ô nhiễm và điểm thứ tư về kinh tế tuần hoàn, rác thải được chuyển hóa thành năng lượng và vật liệu, góp phần hình thành chuỗi giá trị mới từ chất thải.

    Đối với Hà Nội, xử lý rác thải không còn là nhiệm vụ kỹ thuật đơn lẻ mà trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển đô thị xanh, văn minh, hiện đại. Đối với nhà đầu tư, đây là hành trình dài hạn, gắn kết giữa công nghệ, tài chính và trách nhiệm xã hội, nhằm góp phần tái cấu trúc hệ thống quản lý chất thải theo hướng bền vững.

    Công ty CP Năng lượng Môi trường Thiên Ý Hà Nội cam kết huy động đầy đủ nguồn lực, áp dụng công nghệ tiên tiến, bảo đảm tiến độ, chất lượng và an toàn; đồng thời tuân thủ nghiêm các quy định về môi trường, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong suốt quá trình triển khai.

    Trước đó, giai đoạn 1 của nhà máy đã vận hành với công suất khoảng 5.000 tấn rác/ngày đêm, phát điện 90MW. Ở giai đoạn 2, dự án dự kiến xử lý khoảng 1.600 tấn rác chôn lấp/ngày đêm, nâng tổng công suất phát điện toàn nhà máy lên 135MW, đồng thời hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, đưa toàn bộ nhà máy vào vận hành trong quý IV/2027.

    Tổng mức đầu tư dự án khoảng 12.999 tỷ đồng (tương đương hơn 539 triệu USD), trong đó phần mở rộng khoảng 5.830 tỷ đồng. Nhà máy điện rác Sóc Sơn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong hệ thống xử lý chất thải của Hà Nội.

    Toàn bộ diện tích khu chôn lấp rác thải sẽ được cải tạo thành công viên cây xanh

    Phát biểu tại buổi lễ khởi công Dự án Nhà máy điện rác Sóc Sơn mở rộng vào tháng 4 vừa qua, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu bày tỏ, sự vận hành thành công của Nhà máy điện rác Sóc Sơn đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong công tác xử lý môi trường của thành phố. Từ khi đi vào vận hành đến nay, Nhà máy đã góp phần xử lý gần 5 triệu tấn rác thải sinh hoạt cho TP Hà Nội, phát điện gần 2 tỉ kwh.

    Hiện tại, trung bình mỗi ngày Nhà máy tiếp nhận và xử lý đến 5000 tấn rác/ ngày đêm, chiếm gần 70% lượng rác thải sinh hoạt phát sinh hằng ngày của thành phố. Nhà máy hoạt động hiệu quả, ổn định và liên tục đã góp phần giảm thiểu phần lớn lượng rác thải phải chôn lấp, giúp tiết kiệm diện tích đất và giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường do hoạt động chôn lấp gây ra. Không chỉ vậy, Nhà máy còn đóng góp nguồn điện cho hệ thống điện quốc gia. Đây là bước tiến quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh của thành phố.

    Theo Phó Chủ tịch Hà Nội, việc triển khai Dự án Nhà máy điện rác Sóc Sơn mở rộng, với công suất xử lý khoảng 1.600 tấn/ngày đêm, tập trung vào rác thải đã chôn lấp, thể hiện quyết tâm cao của thành phố trong xử lý triệt để vấn đề môi trường, phù hợp với định hướng phát triển bền vững. Đây không chỉ là dự án xử lý chất thải mà còn là dự án cải tạo môi trường, phục vụ trực tiếp đời sống nhân dân.

    Nơi chôn lấp rác thành công viên, cây xanh chuyên đề

    Thông tin liên quan đến dự án này, ông Lê Hữu Mạnh, Bí thư Đảng ủy xã Trung Giã chia sẻ: Bãi rác Nam Sơn đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và mở rộng để đáp ứng nhu cầu xử lý rác của thành phố. Sau giai đoạn mở rộng năm 2015 với tổng diện tích khoảng 160 ha, áp lực lên bãi rác vẫn cực kỳ lớn khi khối lượng chôn lấp trung bình đạt khoảng 5.500 tấn mỗi ngày đêm.

    Sau khi nhà máy điện rác được xây dựng, đi vào vận hành, giúp lượng rác chôn lấp giảm mạnh từ 5.500 tấn xuống chỉ còn khoảng 100 đến 500 tấn mỗi ngày đêm.

    Để tạo sự đồng thuận và bù đắp những ảnh hưởng môi trường, thành phố đã áp dụng nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực cho cư dân xung quanh bãi rác như di dời dân cư khỏi bán kính 500m quanh bãi rác từ năm 2019. Người dân được miễn toàn bộ tiền thu gom rác và nước sinh hoạt, cùng với đó là hỗ trợ 100% tiền khám chữa bệnh cho người dân tại các bệnh viện khi có xác nhận vùng ảnh hưởng…

    Ngoài ra, thành phố đã có chủ trương đào xúc lượng rác đã chôn lấp để tiêu hủy. Ước tính có khoảng 10 triệu tấn rác đang tồn đọng trong các ô chôn lấp cũ. Đặc biệt, thay vì thực hiện dự án mới theo phương thức PPP vốn đòi hỏi thủ tục phức tạp và tốn kém, TP Hà Nội đã giao cho Nhà máy điện rác Thiên Ý triển khai dự án mở rộng với thêm 2 lò đốt, nâng công suất thêm khoảng 1.600 đến 2.000 tấn/ngày đêm.

    Theo phương án này, rác cũ sẽ được đào lên, sàng lọc để kết hợp đốt cùng rác mới; phần không đốt được sẽ được chuyển hóa thành phân bón hoặc vật liệu xây dựng. “Dự án vừa khởi công vào tháng 4 năm 2026, với mục tiêu trong vòng 10 năm sẽ xử lý dứt điểm toàn bộ 10 triệu tấn rác tồn đọng đang chôn lấp, giúp giải phóng quỹ đất và triệt tiêu nguồn gây ô nhiễm nước rỉ rác bền vững”, ông Mạnh khẳng định.

    Ngân Tuyền

    Nguồn https://baomoi.com/nha-may-dien-rac-soc-son-mo-rong-vi-thu-do-xanh-hanh-trinh-tai-sinh-nguon-luc-c55900041.epi

  • Thông qua chủ trương đầu tư Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội với nhiều cơ chế, chính sách đặc thù

    Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Quy mô đầu tư Dự án khoảng 349 km đi qua địa phận 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ. Tiến độ chuẩn bị đầu tư dự án từ năm 2026, thực hiện từ năm 2027 và phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.

    Để tạo tính linh hoạt, chủ động trong việc triển khai, Nghị quyết cho phép Dự án được áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt trong thời gian Quốc hội không họp, Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án. Trừ các trường hợp sau: tăng phần vốn ngân sách trung ương bố trí cho Dự án, trình Quốc hội xem xét, quyết định; tăng phần vốn ngân sách địa phương bố trí cho Dự án do địa phương xem xét, quyết định.

    Các cơ chế, chính sách đặc thù khác như: không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn theo quy định của Luật Đầu tư công; cho phép áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với các gói thầu thuộc Dự án; giao Chính phủ xem xét quyết định chuyển đổi hình thức đầu tư các dự án thành phần mà không phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư…

    Liên quan đến các cơ chế đặc thù này, báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội, liên quan các cơ chế, chính sách đặc thù cho Dự án, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, Chính phủ đã rà soát bảo đảm chỉ áp dụng đối với các nội dung thật sự cần thiết, nhằm bảo đảm tính cạnh tranh, minh bạch và phòng, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong quá trình thực hiện.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Cơ chế không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn là một trong những cơ chế quan trọng. Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt này có ưu điểm tạo điều kiện cho Chính phủ chủ động triển khai Dự án theo khả năng cân đối, bố trí vốn để đẩy nhanh tiến độ đầu tư, sớm khép kín đường Vành đai 5, quản lý quỹ đất, huy động nguồn lực.

    “Chính sách này tương tự với chính sách đã được Quốc hội chấp thuận đối với các dự án: Vành đai 4 – Thành phố Hồ Chí Minh; đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam; đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; Quy Nhơn – Pleiku; Vinh – Thanh Thủy và đến nay đã cơ bản phát huy hiệu quả, góp phần đẩy nhanh tiến độ các dự án này”, Bộ trưởng Bộ Xây dựng cho biết thêm.

    Với cơ chế, chính sách đặc thù cho phép áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với các gói thầu thuộc Dự án, Bộ trưởng Bộ Xây dựng cho hay, chính sách này được đề xuất theo hướng “cho phép” được áp dụng nhằm tạo thêm cơ chế lựa chọn cho chủ đầu tư. Trong quá trình triển khai, căn cứ tính chất, yêu cầu kỹ thuật, tiến độ và điều kiện cụ thể của từng gói thầu, chủ đầu tư có trách nhiệm xem xét, đánh giá và quyết định việc áp dụng hình thức chỉ định thầu theo thẩm quyền. Trường hợp áp dụng, việc lựa chọn nhà thầu phải tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đấu thầu, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả và không làm giảm yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng công trình, an toàn lao động và an toàn giao thông.

    Chính sách này tương tự với chính sách đã được Quốc hội chấp thuận đối với các dự án: cao tốc Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2021 – 2025; Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột; Biên Hòa – Vũng Tàu; Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng; đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; Quy Nhơn – Pleiku; Vinh – Thanh Thủy.

    Kết quả triển khai thực hiện việc áp dụng cơ chế đặc biệt về chỉ định thầu trong 2 năm 2022 và 2023 tại Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội đối với các Dự án cao tốc quan trọng quốc gia đã triển khai trong thời gian vừa qua (cao tốc Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2021 – 2025, Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột, Biên Hòa – Vũng Tàu, Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng) cũng cho thấy, việc áp dụng cơ chế chỉ định thầu đã giảm thủ tục, thời gian, chi phí của chủ đầu tư cũng như các nhà thầu trong việc thực hiện lựa chọn nhà thầu. 

    Đồng thời, việc sớm khởi công xây dựng, giải ngân vốn đầu tư các dự án góp phần bảo đảm thực hiện hiệu quả, thành công các mục tiêu đã đề ra của Chương trình, khơi thông nguồn lực, tăng khả năng hấp thụ vốn vào nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm cho người lao động, ổn định xã hội…

    Ngoài các cơ chế, chính sách đặc thù trên, Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội có các cơ chế, chính sách đặc thù khác như: về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư tổ chức thực hiện tiểu dự án hoặc các tiểu dự án di dời công trình điện có điện áp từ 110 kV trở lên. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có Dự án đi qua chủ động bố trí, xây dựng khu tái định cư cho Dự án trên cơ sở hồ sơ thiết kế sơ bộ trong Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư.

    Nghị quyết cho phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu vực bãi đổ chất thải xây dựng trong Hồ sơ khảo sát Dự án và bàn giao mặt bằng cho nhà thầu để đổ chất thải xây dựng của Dự án; tổ chức quản lý bãi đổ chất thải xây dựng của Dự án theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về môi trường và quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác được thực hiện trong bước nghiên cứu khả thi của Dự án. Hồ sơ đề xuất chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác là thành phần hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi của Dự án. Quyết định phê duyệt Dự án đồng thời là Quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác.

    Trường hợp việc lập, thẩm định, phê duyệt Dự án có nội dung khác với quy hoạch có liên quan thì Dự án được phê duyệt mà không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch. Sau khi Dự án được phê duyệt, các quy hoạch có liên quan phải được kịp thời rà soát, điều chỉnh, cập nhật và công bố.

    Nguồn thu từ việc phát triển các khu đô thị, khu chức năng xung quanh tuyến đường sau khi trừ đi chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu vực phát triển khu đô thị, khu chức năng hai bên tuyến đường Vành đai 5 và chi phí khác có liên quan theo quy định của pháp luật, chính quyền địa phương cấp tỉnh được giữ lại một phần tỷ lệ để nộp vào ngân sách địa phương và phần còn lại nộp vào ngân sách trung ương. Giao Chính phủ quy định cụ thể về tỷ lệ phân chia và phương thức thực hiện.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng nhấn mạnh, tiếp thu những ý kiến thảo luận tại tổ, tại hội trường, đặc biệt là kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội, đồng thời thực hiện chương trình hành động của Chính phủ, Bộ Xây dựng đã khẩn trương tổ chức nghiên cứu tổng thể về việc đầu tư toàn tuyến với mục tiêu đây không phải là một tuyến đường đơn lẻ mà là một trục kết nối liên vùng, là công trình chiến lược để mở rộng không gian phát triển mới của vùng Thủ đô Hà Nội.

    “Cơ quan soạn thảo đã cân nhắc rất nhiều phương án phân kỳ đầu tư để có lộ trình phù hợp với khả năng cân đối vốn. Đồng thời, xem xét trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư một lần cho toàn tuyến, tạo cơ sở pháp lý để Bộ Xây dựng và các địa phương triển khai trong thời gian tới, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, không cắt khúc, không chắp vá. Đây là cách làm mà chúng tôi tin là thận trọng nhưng không chần chừ, khả thi nhưng vẫn giữ được tầm nhìn dài hạn”, Bộ trưởng Bộ Xây dựng nói. 

    Với các cơ chế, chính sách đặc thù đã được Quốc hội thông qua, Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội được kỳ vọng sớm hình thành, tạo tuyến đường bộ cao tốc kết nối Thủ đô Hà Nội với các địa phương trong vùng, nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải bền vững, tạo động lực lan tỏa, mở ra không gian phát triển kinh tế mới; tạo tiền đề phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; phân luồng giao thông từ xa, góp phần giảm ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường; hoàn thiện đồng bộ hệ thống đường vành đai Thủ đô Hà Nội và thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và các Nghị quyết của Đảng.

    Diệp Anh  (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/thong-qua-chu-truong-dau-tu-vanh-dai-5-vung-thu-do-ha-noi-voi-nhieu-co-che-chinh-sach-dac-thu-c55900150.epi

  • Hà Nội dự kiến hỗ trợ tối đa 6 triệu đồng cho mỗi hộ lắp điện mặt trời

    HĐND TP Hà Nội vừa có dự thảo nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ cho hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và hệ thống lưu trữ điện trên địa bàn thành phố Hà Nội

    Nguồn kinh phí hỗ trợ hộ gia đình lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và hệ thống lưu trữ điện tại nhà ở riêng lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội được bố trí từ nguồn ngân sách Thành phố bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp xã.

    Hộ gia đình đáp ứng điều kiện hỗ trợ theo quy định được hỗ trợ kinh phí lắp đặt hệ thống điện mặt trời hộ gia đình như sau:

    Ảnh minh họa

    Trường hợp điện mặt trời hộ gia đình không lắp đặt hệ thống lưu trữ điện: Mức hỗ trợ kinh phí lắp đặt là 1.000.000 đồng cho 1 kWp tổng công suất định mức của các tấm quang điện lắp đặt trong hệ thống, nhưng không vượt quá 3.000.000 đồng.

    Trường hợp hệ thống lưu trữ điện được lắp đặt đồng bộ với điện mặt trời hộ gia đình: Ngoài khoản hỗ trợ theo quy định trên, được hỗ trợ thêm 1.000.000 đồng cho 1 kWh tổng dung lượng của hệ thống lưu trữ điện, nhưng không vượt quá 3.000.000 đồng.

    Mức hỗ trợ được xác định theo công suất, dung lượng ghi trên tài liệu kỹ thuật của thiết bị và không vượt quá chi phí thực tế hợp pháp mà hộ gia đình đã thanh toán sau khi trừ khoản hỗ trợ khác của Nhà nước cho cùng nội dung đầu tư, nếu có.

    Đồng thời, các hộ lắp đặt phải có cam kết khai thác, sử dụng hệ thống điện mặt trời hộ gia đình đúng mục đích trong thời gian tối thiểu 3 năm kể từ ngày nhận kinh phí hỗ trợ; cam kết chịu trách nhiệm về an toàn điện, phòng cháy, chữa cháy, an toàn chịu lực công trình, bảo vệ môi trường và việc quản lý, xử lý thiết bị sau sử dụng theo quy định của pháp luật.

    Theo dự thảo, hồ sơ đề nghị hỗ trợ được nộp tại UBND cấp xã nơi hộ gia đình lắp đặt hệ thống. Chủ tịch UBND cấp xã là người có thẩm quyền quyết định phê duyệt và thu hồi kinh phí hỗ trợ.

    Trần Hoàng

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-du-kien-ho-tro-toi-da-6-trieu-dong-cho-moi-ho-lap-dien-mat-troi-c55900006.epi

  • Quốc hội thông qua cơ chế đặc thù APEC Phú Quốc: Gỡ vướng, không hợp thức hóa sai phạm

    Không loại trừ trách nhiệm khi có sai phạm

    Nghị quyết tập trung xử lý những dự án, công trình đã được triển khai, thi công xây dựng trong thời gian từ tháng 3/2025 đến trước ngày 18/5/2026 trong khi một số thủ tục theo quy định pháp luật chưa được hoàn thiện.

    Trong đó, phạm vi áp dụng có công trình, hạng mục công trình thuộc dự án đối ứng thực hiện trên quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án Trung tâm tổ chức Hội nghị APEC theo hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (BT).

    Các hoạt động khai thác, thu hồi khoáng sản, đổ chất thải, tiếp nhận chất thải từ hoạt động xây dựng để phục vụ những dự án, công trình thuộc diện nêu trên cũng được đưa vào phạm vi điều chỉnh.

    Các đại biểu Quốc hội tại phiên họp sáng 24/8. Ảnh: Như Ý

    Nghị quyết đồng thời quy định rõ đối tượng áp dụng gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện dự án, công trình và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

    Việc xác định phạm vi được đặt ra nhằm tránh tình trạng cơ chế đặc thù bị mở rộng sang những dự án không thuộc diện được cấp có thẩm quyền cho chủ trương.

    Một trong những nguyên tắc đáng chú ý của Nghị quyết là việc xử lý các vướng mắc phải bảo đảm không hợp pháp hóa sai phạm có tính chất vụ lợi (nếu có); không để phát sinh sai phạm mới và không loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có sai phạm vì mục đích vụ lợi.

    Cùng với đó, các cơ quan có trách nhiệm phải kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng việc thực hiện Nghị quyết để tham nhũng, tiêu cực, làm thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước.

    Bỏ quy định về thời hạn cho thuê đất 70 năm

    Trước khi được Quốc hội thông qua, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn đã có báo cáo tiếp thu, giải trình của Chính phủ về các ý kiến liên quan đến vấn đề này.

    Cụ thể, trong quá trình xây dựng Nghị quyết, vấn đề phạm vi và đối tượng áp dụng nhận được sự quan tâm của cơ quan thẩm tra và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn. Ảnh: Như Ý

    Có ý kiến đề nghị phải có danh mục cụ thể các dự án, công trình được hưởng cơ chế đặc thù, nhằm bảo đảm chỉ áp dụng đối với những dự án đã được cấp có thẩm quyền cho chủ trương, tránh mở rộng phạm vi hoặc tạo tiền lệ.

    Theo giải trình của Chính phủ, dù Điều 1 đã quy định cụ thể phạm vi áp dụng, Chính phủ vẫn chỉ đạo rà soát, xây dựng danh mục dự án, công trình kèm theo thuyết minh căn cứ đề xuất áp dụng Nghị quyết đối với từng công trình.

    Chính phủ, các bộ, ngành và UBND tỉnh An Giang được giao trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, thanh tra quá trình thực hiện, bảo đảm Nghị quyết chỉ được áp dụng đúng đối tượng và không bị lợi dụng để mở rộng sang những trường hợp khác.

    Đáng chú ý, trong quá trình tiếp thu ý kiến, quy định về thời hạn cho thuê đất 70 năm cũng được điều chỉnh. Chính phủ cho biết dự thảo Nghị quyết đã lược bỏ quy định đặc thù này để áp dụng thống nhất theo pháp luật đất đai, với thời hạn tối đa theo quy định hiện hành.

    Việc Quốc hội ban hành cơ chế đặc thù được đặt trong bối cảnh tiến độ chuẩn bị cho Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Phú Quốc rất cấp bách. Nghị quyết hướng tới giải quyết những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn, đặc biệt đối với các công trình đã triển khai trước khi hoàn thiện đầy đủ thủ tục pháp lý.

    Luân Dũng – Trường Phong

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-thong-qua-co-che-dac-thu-apec-phu-quoc-go-vuong-khong-hop-thuc-hoa-sai-pham-c55899997.epi

  • Địa phương được phân cấp quản lý, bắt buộc ứng dụng BIM trong thiết kế kiến trúc

    Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc. Ảnh: Quochoi.vn

    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14 bổ sung nhiều quy định về bảo tồn bản sắc văn hóa trong kiến trúc, ứng dụng công nghệ số và mô hình BIM; đồng thời tăng cường phân cấp cho chính quyền cấp xã trong lập, thẩm định, ban hành quy chế quản lý kiến trúc.

    Cụ thể, bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc được xác định là những đặc trưng về tổ chức không gian, hình thức kiến trúc, kỹ thuật xây dựng, cảnh quan, phản ánh tri thức văn hóa, lịch sử, tập quán sinh hoạt và điều kiện tự nhiên của cộng đồng dân cư, được hình thành trong xã hội và một khu vực xác định. Việc xác định bản sắc văn hóa phải dựa trên cơ sở khoa học, điều tra, khảo sát thực tế, có sự tham gia của chuyên gia và cộng đồng.

    Các yếu tố nhận diện gồm khu vực, tuyến phố, điểm dân cư, công trình kiến trúc có giá trị cần bảo tồn, kế thừa; các đặc trưng về hình thái không gian, chiều cao, mật độ xây dựng, vật liệu, màu sắc, hình thức kiến trúc tổng thể và tại từng khu vực. Đồng thời, việc quản lý phải xác định yêu cầu kế thừa, phát huy giá trị kiến trúc truyền thống phù hợp với quá trình phát triển đô thị và nông thôn.

    Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp tại hội trường sáng 24-8. Ảnh: Quochoi.vn

    Dự thảo Luật vừa được thông qua quy định UBND có thẩm quyền lập, ban hành quy chế quản lý kiến trúc chịu trách nhiệm xác định và cụ thể hóa bản sắc văn hóa dân tộc về kiến trúc của địa phương trong quy chế. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn và phát huy những giá trị này.

    Một điểm mới đáng chú ý là yêu cầu thiết kế kiến trúc phải xác định giải pháp tổ chức không gian, hình thức kiến trúc phù hợp với quy hoạch, đáp ứng yêu cầu về công năng, kỹ thuật, mỹ thuật và bảo đảm thể hiện bản sắc văn hóa trong kiến trúc.

    Thiết kế cũng phải xem xét toàn diện các yêu cầu về kinh tế – xã hội, công năng, kỹ thuật, phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, bản sắc văn hóa dân tộc và các yêu cầu khác đối với công trình.

    Đáng chú ý, dự thảo Luật vừa được thông qua bổ sung quy định: “Khi thiết kế kiến trúc, lập hồ sơ thiết kế kiến trúc phải ứng dụng công nghệ số, áp dụng mô hình thông tin công trình (BIM) theo quy định của pháp luật về xây dựng.”

    Quy định này được kỳ vọng thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động thiết kế, quản lý và triển khai các dự án xây dựng, đồng thời nâng cao khả năng phối hợp, kiểm soát thông tin công trình trong suốt quá trình đầu tư.

    Đối với khu vực nông thôn, Luật nhấn mạnh yêu cầu kế thừa giá trị kiến trúc truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại; ưu tiên sử dụng vật liệu xây dựng địa phương và giải pháp kỹ thuật tiên tiến. Kiến trúc xanh, tiết kiệm năng lượng và tạo lập các giá trị đặc trưng của nông thôn cũng được khuyến khích.

    Tại các khu vực có nguy cơ chịu ảnh hưởng của thiên tai, Luật khuyến khích áp dụng mẫu thiết kế kiến trúc đối với công trình công cộng, nhà ở nông thôn, đồng thời bảo đảm yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai.

    Luật cũng điều chỉnh đáng kể việc lập quy chế quản lý kiến trúc đô thị và nông thôn. Theo đó, quy chế quản lý kiến trúc đô thị được lập cho đô thị, đô thị mới và xã, đặc khu được định hướng là đô thị. Quy chế quản lý kiến trúc nông thôn được lập cho xã và đặc khu, trừ trường hợp được định hướng là đô thị.

    UBND cấp tỉnh quyết định việc lập và ban hành riêng quy chế quản lý kiến trúc nông thôn hoặc tích hợp nội dung này trong quy hoạch chung xã và ban hành đồng thời với việc phê duyệt quy hoạch chung xã. Đối với những khu vực đô thị, xã, đặc khu có yêu cầu riêng về quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan, UBND cấp tỉnh quyết định việc lập quy chế quản lý kiến trúc riêng cho khu vực đó.

    Đặc biệt, UBND cấp tỉnh có thể phân cấp hoặc ủy quyền cho UBND cấp xã tổ chức lập, thẩm định và ban hành quy chế quản lý kiến trúc có phạm vi hoàn toàn thuộc địa giới đơn vị hành chính cấp xã, nếu đáp ứng đủ điều kiện về tổ chức bộ máy, cán bộ và năng lực chuyên môn.

    UBND cấp tỉnh đồng thời phải chuyển giao dữ liệu, bố trí nguồn lực, hướng dẫn chuyên môn, hỗ trợ kỹ thuật và kiểm tra việc thực hiện phân cấp; quyết định phạm vi, thời gian khi thực hiện ủy quyền cho cấp xã. Quy định này tạo cơ sở để chính quyền cơ sở chủ động hơn trong quản lý không gian, kiến trúc và cảnh quan trên địa bàn, phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.

    Luật quy định UBND cấp tỉnh, cấp xã có trách nhiệm tổ chức rà soát, đánh giá quá trình thực hiện quy chế quản lý kiến trúc định kỳ 5 năm hoặc đột xuất để xem xét điều chỉnh. Quy chế cũng có thể được điều chỉnh khi có thay đổi về quy hoạch hoặc địa giới đơn vị hành chính làm ảnh hưởng đến tính chất, chức năng, quy mô khu vực lập quy chế.

    UBND cấp tỉnh có thể quyết định điều chỉnh một số nội dung quy chế khi cần thiết, trên cơ sở đề xuất của cơ quan lập quy chế hoặc UBND cấp xã và kết quả rà soát, đánh giá. Trường hợp cấp xã được cấp tỉnh phân cấp hoặc ủy quyền, UBND cấp xã có thể quyết định điều chỉnh quy chế theo thẩm quyền được giao.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày báo cáo tiếp thu giải trình. Ảnh: Quochoi.vn

    Trước khi biểu quyết, Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo một số nội dung chính đã được tiếp thu, giải trình, chỉnh lý và hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết về nhóm đề nghị tăng cường cơ chế kiểm soát chuyên môn của cơ quan cấp tỉnh khi phân cấp cho xã trong lập, ban hành quy chế quản lý kiến trúc: Chính phủ đề nghị giữ nguyên như phương án của dự thảo luật. Việc phân cấp, ủy quyền và cơ chế kiểm soát chuyên môn đã được pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương quy định. Khi thực hiện phân cấp, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ quy định cụ thể yêu cầu, cơ chế để bảo đảm chất lượng chuyên môn phù hợp với từng trường hợp.

    Về vấn đề quy định thời gian thẩm định quy hoạch phù hợp với từng cấp độ của đồ án, bảo đảm chất lượng thẩm định: Chính phủ đề nghị giữ nguyên quy định về thời hạn tối đa là 20 ngày. Việc rút ngắn thời gian nhằm cải cách thủ tục hành chính, không làm thay đổi yêu cầu về nội dung, chất lượng thẩm định và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

    Chính phủ xin tiếp thu về đề nghị đối với công tác quản lý, hành nghề (việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm phải gắn với cơ chế kiểm soát, đồng thời đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu). Dự thảo luật đã được rà soát, chỉnh lý, hoàn thiện theo hướng tăng cường hậu kiểm, phát triển nghề nghiệp liên tục, xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu hành nghề, bảo đảm cải cách thủ tục hành chính đi đôi với hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước.

    Đình Hiệp

    Nguồn https://baomoi.com/dia-phuong-duoc-phan-cap-quan-ly-bat-buoc-ung-dung-bim-trong-thiet-ke-kien-truc-c55900062.epi

  • Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư Vành đai 5 Vùng Thủ đô gần 290.000 tỷ đồng

    Hôm nay, Quốc hội thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 Vùng Thủ đô Hà Nội. Tuyến đường dài khoảng 349km, đi qua 7 tỉnh, thành gồm: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ. 

    Hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035

    Dự án được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và các nguồn vốn hợp pháp khác, chia thành nhiều dự án thành phần.

    Mục tiêu của dự án là hình thành tuyến cao tốc kết nối Hà Nội với các địa phương trong vùng, đáp ứng nhu cầu vận tải, mở ra không gian phát triển kinh tế mới và tạo động lực lan tỏa.

    Tuyến đường giúp phân luồng giao thông từ xa, giảm ùn tắc, ô nhiễm môi trường; hoàn thiện hệ thống đường vành đai Thủ đô.

    Dự án áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, bảo đảm an toàn, đồng bộ và hiệu quả; khuyến khích ứng dụng công nghệ cao trong khảo sát, thiết kế, thi công và thích ứng với biến đổi khí hậu. Khi đi vào khai thác, tuyến đường sẽ thu phí điện tử không dừng.

    Sơ bộ tổng mức đầu tư dự án là 288.268 tỷ đồng, từ ngân sách nhà nước được bố trí trong các kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn và các nguồn vốn hợp pháp khác.

    Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh phát biểu giải trình trước khi Quốc hội thông qua

    Trong giai đoạn 2026-2030, ngân sách trung ương dự kiến bố trí khoảng 61.394 tỷ đồng để đầu tư khoảng 116km tuyến cao tốc chính qua Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng và Bắc Ninh.

    Dự án được chuẩn bị đầu tư từ năm 2026, triển khai xây dựng từ năm 2027 và phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.

    Toàn dự án cần khoảng 4.011ha đất, trong đó có khoảng 1.776ha đất trồng lúa, gồm 1.590ha đất chuyên trồng lúa nước từ hai vụ trở lên; khoảng 210ha đất lâm nghiệp và 2.025ha đất khác.

    Chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được tính theo khối lượng giải phóng mặt bằng

    Trước khi Quốc hội biểu quyết, Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh thay mặt Chính phủ trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội và kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Theo Bộ trưởng, Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan liên quan rà soát tổng mức đầu tư, bảo đảm tính đúng, tính đủ và hạn chế phát sinh trong quá trình thực hiện.

    Chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được tính theo khối lượng giải phóng mặt bằng trên bản đồ giải thửa, quy hoạch sử dụng đất; đơn giá bồi thường đất, tài sản trên đất, hệ số giá đất và mức hỗ trợ do UBND các tỉnh, thành phố áp dụng tại thời điểm chuẩn bị đầu tư năm 2026.

    Do khả năng cân đối ngân sách trung ương trong giai đoạn 2026-2030 còn hạn chế, Chính phủ lựa chọn phương án trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư toàn tuyến với quy mô 6 làn xe, thực hiện bằng hình thức đầu tư công và giãn tiến độ hoàn thành sang giai đoạn 2031-2035.

    Nguyên tắc được đặt ra là đầu tư hoàn chỉnh từng đoạn trong phạm vi nguồn vốn được bố trí, bảo đảm hoàn thành và đưa vào khai thác ngay, không triển khai dàn trải hoặc để công trình dở dang.

    Trước mắt, đoạn tuyến phía Đông dài khoảng 116km, từ cầu Thái Hà đến nút giao cao tốc Bắc Giang – Lạng Sơn, được ưu tiên đầu tư. Theo Chính phủ, đây là đoạn có nhu cầu vận tải cao, có thể khai thác độc lập và có tiềm năng phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ.

    Các đoạn còn lại để khép kín Vành đai 5 sẽ được triển khai ngay công tác chuẩn bị đầu tư, quản lý quỹ đất và huy động nguồn lực. Khi cân đối được vốn, các dự án này có thể triển khai theo chủ trương đã được Quốc hội thông qua.

    Thành Huế

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-thong-qua-chu-truong-dau-tu-vanh-dai-5-vung-thu-do-gan-290-000-ty-dong-c55899922.epi

  • Thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

    Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải báo cáo giải trình trước Quốc hội về những vấn đề liên quan đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

    Tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, ngày 5/8/2026 và ngày 10/8/2026, các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại Tổ và Hội trường về dự án Luật; đã có 70 lượt ý kiến của các đại biểu Quốc hội cho ý kiến đối với Dự án Luật (trong đó có 53 ý kiến phát biểu tại Tổ, 17 ý kiến phát biểu tại Hội trường, 02 ý kiến bằng văn bản của đại biểu và 06 ý kiến bằng văn bản của các đoàn Đại biểu Quốc hội).

    Báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo luật, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải cho biết, về việc tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật, bảo đảm các quy định rõ ràng, chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật; đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và thực tiễn, đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức, doanh nghiệp, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực, tiếp thu ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã rà soát, chỉnh lý dự thảo Luật bảo đảm các quy định rõ ràng, chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ trong hệ thống phát luật; đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và thực tiễn, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức, doanh nghiệp và phù hợp với đặc thù trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    Về việc tập trung rà soát những nội dung đã tiếp thu, những vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm và các quy định có liên quan trực tiếp đến tổ chức thi hành; kịp thời xử lý những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất hoặc có thể phát sinh vướng mắc, khoảng trống pháp lý trong quá trình thực hiện, Bộ trưởng nêu rõ, trên cơ sở các ý kiến tập trung tại phiên thảo luận của các đại biểu Quốc hội tại Tổ và Hội trường, Chính phủ đã rà soát các điều khoản có tác động trực tiếp đến tổ chức thi hành và chỉnh lý theo hướng xác định rõ chủ thể, thẩm quyền và quy định chuyển tiếp để không tạo khoảng trống pháp lý trong quá trình thực hiện.

    Cụ thể, dự thảo Luật đã quy định về thời gian chờ xuất cảnh sau khi người lao động trúng tuyển đi làm việc ở nước ngoài với thời hạn không quá 180 ngày kể từ ngày người lao động trúng tuyển; trường hợp doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết về thời gian chờ xuất cảnh thì phải bồi thường theo thỏa thuận và hoàn trả tiền dịch vụ thu từ người lao động, các khoản thu khác người lao động đã nộp. Dự thảo đồng thời giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định thời hạn bồi thường, hoàn trả tiền cho người lao động.

    Về thẩm quyền giải quyết thủ tục đăng ký hợp đồng nhận lao động thực tập, dự thảo Luật đã điều chỉnh thẩm quyền giải quyết thủ tục này là cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đảm bảo thống nhất với quy định hiện hành phù hợp với chủ trương về phân quyền, phân cấp.

    Về việc tiếp tục rà soát các dự thảo nghị định, thông tư quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, bảo đảm các nội dung được Luật giao được quy định đầy đủ, cụ thể, đồng bộ và có thể triển khai thực hiện ngay khi Luật có hiệu lực, tiếp thu ý kiến, Chính phủ đã rà soát để đồng bộ các dự thảo văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; trong đó quy định các nội dung liên quan đến cơ sở dữ liệu, phân tách thông tin, kết nối dữ liệu sẽ được quy định cụ thể tại Thông tư do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành; các nội dung được Luật giao sẽ được quy định đầy đủ, đúng thẩm quyền và đảm bảo tiến độ ban hành để các văn bản có hiệu lực ngay khi Luật có hiệu lực thi hành.

    Về việc tiếp tục hoàn thiện ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật lập pháp, bảo đảm chính xác, chặt chẽ tiếp thu ý kiến, Chính phủ đã tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện cả về nội dung, kỹ thuật lập pháp của dự thảo Luật theo quy định, bảo đảm chính xác, chặt chẽ.

    Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.

    Hải Liên

    Nguồn https://baomoi.com/thong-qua-luat-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-luat-nguoi-lao-dong-viet-nam-di-lam-viec-o-nuoc-ngoai-c55899854.epi

  • Xây dựng các cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia

    Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Ảnh: Doãn Tấn – TTXVN

    Tiếp tục chương trình Kỳ họp, sáng 24/8, Quốc hội đã biểu quyết thông qua các luật gồm: Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.

    Phòng ngừa tranh chấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

    Với 471/472 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Luật gồm 5 chương, 35 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.

    Luật quy định nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở; hòa giải viên, tổ hòa giải, người được mời tham gia hòa giải, các bên trong hòa giải ở cơ sở; hoạt động hòa giải ở cơ sở; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hòa giải ở cơ sở. Luật này không áp dụng đối với hoạt động hòa giải của tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải lao động, hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (gọi chung là cấp xã) và hoạt động hòa giải được luật khác quy định.

    Trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật trước khi Quốc hội tiến hành biểu quyết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã tổ chức chỉ đạo, chỉnh lý toàn diện dự thảo Luật, bảo đảm phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp, tính hợp hiến, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; đồng thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số.

    Dự thảo Luật cũng tập trung khắc phục những vướng mắc của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải, quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, góp phần phòng ngừa tranh chấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, tăng cường đồng thuận trong cộng đồng dân cư và góp phần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Về tiêu chuẩn của hòa giải viên (Điều 8), dự thảo Luật lược bỏ từ “thường xuyên” trong cụm từ “cư trú thường xuyên tại cơ sở” nhằm mở rộng phạm vi người được lựa chọn vào danh sách bầu hòa giải viên và bảo đảm thống nhất với Luật Cư trú; đồng thời, bổ sung tiêu chuẩn “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”; bổ sung tại khoản 5 Điều 8 quy định về các trường hợp không đủ tiêu chuẩn làm hòa giải viên, bao gồm người đang trong thời hạn thi hành quyết định xử lý kỷ luật, trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích để bảo đảm chặt chẽ.

    Về nghĩa vụ của hòa giải viên, Tổ trưởng tổ hòa giải, dự thảo Luật bổ sung nghĩa vụ của hòa giải viên về phối hợp thực hiện các biện pháp phòng ngừa trong trường hợp nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của các bên và của những người khác tham gia hòa giải tại khoản 4 Điều 13; nghĩa vụ của hòa giải viên trong việc đề xuất UBND cấp xã hỗ trợ bố trí người phiên dịch theo đề nghị của các bên tại khoản 6 Điều 13; bổ sung nghĩa vụ của Tổ trưởng tổ hòa giải trong việc thực hiện thủ tục đề nghị thanh toán thù lao theo vụ, việc hòa giải cho người được mời trực tiếp tham gia hòa giải tại khoản 7 Điều 18…

    Xác định rõ chính sách phát triển hoạt động xuất bản

    Đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua luật và nghị quyết. Ảnh: Doãn Tấn – TTXVN

    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản đã được Quốc hội thông qua với 472/475 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.

    Luật này quy định về tổ chức và hoạt động xuất bản; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động xuất bản; quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản. Hoạt động xuất bản bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm.

    Đối với chính sách của Nhà nước về phát triển hoạt động xuất bản, Luật quy định: Miễn, giảm thuế, tiền thuê đất, thuê bất động sản là tài sản công đối với nhà xuất bản theo quy định của pháp luật; Xây dựng và phát triển các cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia và hình thành các tập đoàn xuất bản, truyền thông đa nền tảng, đa sản phẩm. Cùng với đó là đầu tư xây dựng, phát triển hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ quản lý nhà nước, chuyển đổi số và phát triển thị trường xuất bản; đầu tư phát triển xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử, ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào hoạt động xuất bản theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan; ưu tiên, bố trí quỹ đất cho hoạt động xuất bản…

    Theo Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trình bày, một số ý kiến đề nghị hoàn thiện chính sách tại Điều 7 theo hướng rõ đối tượng, nguồn lực và cơ chế thực hiện; ưu tiên phát triển văn hóa đọc, xuất bản phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và nhóm yếu thế; làm rõ chính sách đối với cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia, tập đoàn xuất bản, truyền thông; đồng thời tăng cường chính sách phát triển nguồn nhân lực, tác giả, tác phẩm có giá trị, công nghiệp xuất bản, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và ưu đãi về thuế, đất đai.

    Chính phủ đã tiếp thu, chỉnh lý Điều 7 dự thảo Luật theo hướng xác định rõ các chính sách phát triển hoạt động xuất bản. Theo đó, quy định chính sách xây dựng và phát triển các cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia, hình thành các tập đoàn xuất bản, truyền thông đa nền tảng, đa sản phẩm; đầu tư hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, phát triển xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử và ứng dụng trí tuệ nhân tạo; đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu đối với xuất bản phẩm phục vụ các nhiệm vụ, đối tượng và địa bàn ưu tiên; ưu đãi đối với hoạt động in, phát hành; hỗ trợ bản quyền, dịch thuật, quảng bá; phát triển nguồn nhân lực, văn hóa đọc và thu hút nguồn lực xã hội.

    Các quy định này là chính sách phát triển; việc xây dựng và phát triển các cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia, hình thành các tập đoàn xuất bản, truyền thông đa nền tảng, đa sản phẩm sẽ được triển khai thông qua các đề án, phù hợp với chiến lược phát triển và được cấp có thẩm quyển phê duyệt; đồng thời áp dụng theo loại hình tổ chức của nhà xuất bản tại Điều 12, gồm đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

    Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc

    Trong phiên họp sáng 24/8, với 467/470 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.

    Theo Báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật, Chính phủ đã rà soát, chỉnh lý Điều 11 về yêu cầu đối với kiến trúc đô thị, kiến trúc nông thôn và Điều 12 về thiết kế kiến trúc theo hướng quy định kiến trúc tại đô thị, nông thôn phải kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, đồng thời phát triển phong cách kiến trúc hiện đại, tiên tiến, hài hòa với không gian kiến trúc, cảnh quan của khu vực xây dựng công trình.

    Đối với các ý kiến đề nghị bổ sung quy định về kiến trúc xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, vật liệu thân thiện môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, pháp luật về kiến trúc đã quy định tại Điều 6 về chính sách của Nhà nước trong hoạt động kiến trúc, bao gồm xây dựng định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam; xây dựng cơ sở dữ liệu, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về kiến trúc và mẫu thiết kế kiến trúc đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, thân thiện với môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai.

    Về các ý kiến đề nghị quy định cụ thể đối với quản lý hình thái kiến trúc, kiến trúc khu vực ven sông, ven biển, hải đảo; bảo tồn công trình có giá trị; bảo đảm khả năng tiếp cận đối với người khuyết tật, người cao tuổi và các nhóm yếu thế; xác định trách nhiệm của các chủ thể trong bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, Chính phủ nhận thấy đây là những nội dung thuộc yêu cầu quản lý kiến trúc đối với từng khu vực, từng loại công trình hoặc thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành có liên quan. Vì vậy, dự thảo Luật quy định theo nguyên tắc, đồng thời giao cụ thể hóa trong quy chế quản lý kiến trúc, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, từng loại công trình.

    Việc xây dựng tiêu chí nhận diện bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc cần được nghiên cứu trên cơ sở khoa học, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, miền, địa phương và yêu cầu phát triển trong từng giai đoạn; do đó, không quy định cứng trong Luật mà sẽ được nghiên cứu, cụ thể hóa trong Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các văn bản hướng dẫn có liên quan.

    Luật sửa đổi 4 luật trong lĩnh vực khoa học công nghệ có hiệu lực từ ngày 1/3/2027

    Cũng tại phiên họp sáng 24/8, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ đã được Quốc hội thông qua với 477/477 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.

    Báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật nêu rõ, về cắt giảm thủ tục hành chính, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện: Dự thảo Luật đã được rà soát, chỉnh lý để cắt giảm thủ tục hành chính, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, tạo thuận lợi cho tổ chức, doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước.

    Đối với Luật Tần số vô tuyến điện, việc phân định lại thẩm quyền quản lý hoạt động đào tạo, cấp chứng chỉ cho người khai thác thiết bị vô tuyến điện thuộc nghiệp vụ di động hàng hải từ Bộ Khoa học và Công nghệ sang Bộ Xây dựng đã tạo cơ sở để bãi bỏ ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện “Đào tạo, cấp chứng chỉ vô tuyến điện viên” tại Luật Đầu tư.

    Đối với Luật Viễn thông, việc cắt giảm điều kiện hoạt động đối với tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền được thực hiện đồng thời với việc thiết lập cơ chế quản lý theo hướng hậu kiểm nhằm bảo đảm việc cắt giảm điều kiện kinh doanh không tạo khoảng trống trong công tác quản lý nhà nước. Theo đó, công tác quản lý được thực hiện trên cơ sở ứng dụng công nghệ, dữ liệu số kết hợp cơ chế báo cáo, giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.

    Đối với Luật Giao dịch điện tử, việc cắt giảm thủ tục hành chính gia hạn giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy, thay đổi nội dung giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm chi phí tuân thủ khi bãi bỏ các thủ tục hành chính không còn cần thiết. Việc cắt giảm các thủ tục này được triển khai trên cơ sở sử dụng tối đa dữ liệu có sẵn trong cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối liên thông.

    Về yêu cầu ban hành kịp thời, đồng bộ văn bản quy định chi tiết, không phát sinh khoảng trống pháp lý, thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trái thẩm quyền, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát, xác định cụ thể các nội dung cần quy định chi tiết để khẩn trương xây dựng, ban hành hoặc trình ban hành, bảo đảm có hiệu lực đồng thời với Luật, không làm gián đoạn việc thực hiện các quy định của Luật sau khi được thông qua.

    Phan Phương/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/xay-dung-cac-co-quan-xuat-ban-truyen-thong-chu-luc-quoc-gia-c55899824.epi

  • Thông qua cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn cho các dự án, công trình phục vụ APEC 2027

    Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn báo cáo giải trình các ý kiến góp ý về Quy định cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang – Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

    Nghị quyết này quy định cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình, hạng mục công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang đã được tổ chức triển khai, đã được thi công xây dựng từ tháng 3 năm 2025 đến trước ngày 18 tháng 5 năm 2026, trước khi hoàn thiện thủ tục theo quy định của pháp luật, thuộc một trong các trường hợp:Dự án thuộc danh mục các dự án phục vụ Hội nghị APEC 2027 ban hành kèm theo Quyết định số 948/QĐ-TTg ngày 17/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ về giao nhiệm vụ chuẩn bị các điều kiện và thực hiện một số biện pháp để triển khai nhanh các dự án phục vụ Hội nghị APEC 2027 tại thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

    Công trình, hạng mục công trình thuộc dự án đối ứng thực hiện trên quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án Trung tâm tổ chức Hội nghị APEC áp dụng loại hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (Dự án BT).

    Hoạt động khai thác, thu hồi khoáng sản, đổ chất thải, tiếp nhận chất thải từ hoạt động xây dựng để phục vụ các dự án, công trình, hạng mục công trình quy định tại điểm a và điểm b khoản này.

    Nghị quyết này áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện các dự án, công trình, hạng mục công trình quy định tại khoản 1 Điều này và cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan.

    Về nguyên tắc thực hiện, Nghị quyết nêu rõ yêu cầu: Bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Nghị quyết này; phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể có liên quan theo quy định của pháp luật; chủ đầu tư, nhà đầu tư, nhà thầu phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, không làm phát sinh tranh chấp, khiếu kiện.

    Bảo đảm không hợp pháp hóa sai phạm có tính chất vụ lợi (nếu có), không để phát sinh sai phạm mới, không loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có sai phạm vì mục đích vụ lợi (nếu có); kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân có hành vi lợi dụng việc thực hiện Nghị quyết này để tham nhũng, tiêu cực, làm thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước.

    Bảo đảm phù hợp với thực tiễn khách quan, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của các dự án, công trình, hạng mục công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027; bảo đảm lợi ích chung, tổng thể của quốc gia, địa phương, không làm ảnh hưởng tới quốc phòng, an ninh, hoạt động đối ngoại.

    Bảo đảm các dự án, công trình đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn, chất lượng công trình, hoàn thành đúng tiến độ để nghiệm thu, bàn giao, đưa vào khai thác, sử dụng, vận hành an toàn, hiệu quả.

    Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026./.

    Hải Liên

    Nguồn https://baomoi.com/thong-qua-co-che-chinh-sach-dac-thu-thao-go-kho-khan-cho-cac-du-an-cong-trinh-phuc-vu-apec-2027-c55899981.epi

  • Lâm Đồng tính phương án triển khai cao tốc Phan Thiết – Bảo Lộc – Gia Nghĩa

    Đồng chí Nguyễn Hồng Hải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng chủ trì buổi làm việc

    Theo báo cáo Sở Tài chính, tuyến cao tốc Phan Thiết – Bảo Lộc – Gia Nghĩa là dự án trọng điểm phấn đấu triển khai trong nhiệm kỳ 2025 – 2030, góp phần tăng cường kết nối liên vùng, mở rộng không gian phát triển đô thị, du lịch, dịch vụ và thu hút đầu tư.

    Theo đề xuất sơ bộ, tuyến cao tốc có chiều dài khoảng 143,81 km, gồm: 124,16 km phần đường; 12,75 km cầu cạn; 9 cầu và 6,9 km qua 7 hầm; 9 nút giao liên thông. Dự án được đề xuất quy mô 4 làn xe hoàn chỉnh, nền đường rộng 24,75 m, tốc độ thiết kế 80 – 120 km/giờ.

    Ông Dương Minh Châu, Phó Giám đốc Sở Tài chính báo cáo phương án triển khai dự án Đường bộ cao tốc Phan Thiết – Bảo Lộc – Gia Nghĩa

    Nhu cầu sử dụng đất khoảng 1.295 ha, trong đó khoảng 424 ha đất rừng, 131 ha đất thuộc vùng quy hoạch, dự trữ khoáng sản bô xít và 740 ha đất khác. Tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 54.897 tỷ đồng, gồm: 37.866 tỷ đồng chi phí xây dựng và 7.865 tỷ đồng chi phí giải phóng mặt bằng.

    Với nhu cầu vốn gần 55.000 tỷ đồng, Sở Tài chính đánh giá phương án đầu tư toàn bộ bằng vốn công không khả thi. Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030 dự kiến ngân sách tỉnh đáp ứng khoảng 7.500 tỷ đồng, Trung ương hỗ trợ khoảng 17.500 tỷ đồng, còn thiếu khoảng 25.000 tỷ đồng. Vì vậy, phương thức đối tác công tư (PPP) được xem là hướng phù hợp để huy động thêm nguồn lực xã hội.

    Ông Nguyễn Thanh Chương, Phó Giám đốc Sở Xây dựng phát biểu tại buổi làm việc

    Theo Sở Tài chính, hiện có 2 nhà đầu tư quan tâm dự án là Liên danh Trung Nam – INDEL CORP – Trung Nam E&C và Công ty TNHH Tập đoàn Xây dựng Tô Thương. Tuy nhiên, đến nay mới có Liên danh Trung Nam – INDEL CORP – Trung Nam E&C đề xuất được giao lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi.

    Sở Tài chính cho rằng hồ sơ của Liên danh còn nhiều nội dung cần làm rõ, nhất là tỷ lệ vốn nhà nước tham gia, khả năng huy động vốn chủ sở hữu, vốn vay và năng lực, kinh nghiệm của từng thành viên. Do chưa có đầy đủ thông tin chứng minh, hiện chưa đủ cơ sở đánh giá sơ bộ năng lực, kinh nghiệm của nhà đầu tư.

    Ông Nguyễn Ngọc Nam, Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh phát biểu tại buổi làm việc

    Việc Liên danh đề xuất lập hồ sơ không đồng nghĩa đã được lựa chọn làm nhà đầu tư. Trường hợp được chấp thuận lập hồ sơ, Liên danh phải tự chịu kinh phí và mọi rủi ro; việc này không tạo ưu tiên hay cam kết chỉ định nhà đầu tư. Sau khi chủ trương đầu tư được phê duyệt, việc lựa chọn nhà đầu tư sẽ thực hiện công khai, minh bạch theo quy định.

    Mặt khác, dự án dự kiến ảnh hưởng khoảng 424 ha đất rừng và 131 ha vùng quy hoạch, dự trữ khoáng sản bô xít. Đây là những vấn đề pháp lý lớn cần được nghiên cứu, xử lý theo quy định về lâm nghiệp, khoáng sản và thẩm quyền chuyển mục đích sử dụng rừng, đất khoáng sản. Hồ sơ hiện chưa đưa ra đầy đủ giải pháp xử lý khu vực chồng lấn quy hoạch bô xít và bù hoàn rừng.

    Đại diện lãnh đạo các cơ quan, đơn vị tham dự buổi làm việc

    Sở Tài chính cũng đề xuất phương án Nhà nước chủ động chuẩn bị hồ sơ PPP; theo đó, Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng số 2 chuẩn bị dự án Phan Thiết – Bảo Lộc, Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng số 3 chuẩn bị dự án Gia Nghĩa – Bảo Lộc.

    Trường hợp Liên danh được chấp thuận lập hồ sơ đề xuất, nhà đầu tư phải xây dựng phương án tài chính chi tiết, xác định rõ vốn nhà nước, vốn chủ sở hữu, vốn vay; đồng thời làm rõ giải pháp xử lý đất rừng và khoáng sản. Hồ sơ đề xuất dự án, nếu được chấp thuận, dự kiến hoàn thành và nộp về Sở Tài chính trước ngày 4/11/2027.

    Đồng chí Nguyễn Hồng Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan liên quan tập trung rà soát phương án đầu tư, triển khai dự án Đường bộ cao tốc Phan Thiết – Bảo Lộc – Gia Nghĩa

    Tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hồng Hải yêu cầu các cơ quan liên quan tập trung rà soát phương án đầu tư, nguồn lực thực hiện, năng lực nhà đầu tư quan tâm và những vấn đề về đất rừng, khoáng sản; bảo đảm việc chuẩn bị dự án chặt chẽ, đúng quy định, có tính khả thi và đáp ứng yêu cầu tiến độ.

    Đại diện lãnh đạo các sở, ngành tham dự buổi làm việc

    Hoàng Sa

    Nguồn https://baomoi.com/lam-dong-tinh-phuong-an-trien-khai-cao-toc-phan-thiet-bao-loc-gia-nghia-c55899904.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!