Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Định hình cơ chế huy động nguồn lực cho các đại dự án đường sắt

    Nhiệm vụ cấp bách

    Mặc dù vẫn đang trong giai đoạn dự thảo, nhưng Đề án “Xây dựng cơ chế, chính sách huy động nguồn lực phát triển đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị” do Bộ Tài chính chủ trì xây dựng đang được các nhà đầu tư trong và ngoài nước kỳ vọng sẽ tạo một trong những đột phá lớn về thể chế, mở thêm các kênh huy động nguồn lực cho những dự án đường sắt có quy mô đầu tư đặc biệt lớn trong thời gian tới.

    Tại công văn số 13093/BTC-PTHT gửi các bộ, cơ quan, địa phương và đơn vị liên quan vào cuối tuần trước, Bộ Tài chính cho biết đã xây dựng dự thảo Đề cương Đề án và đề nghị Bộ Xây dựng cùng các bộ, ngành, địa phương phối hợp nghiên cứu, tham gia ý kiến. Tính đến ngày 5/8/2026, cơ quan chủ trì đã nhận được 19/36 văn bản góp ý của các bộ, cơ quan, địa phương.

    Hành khách chờ lên tàu tại tuyến đường sắt đô thị Hà Nội, đoạn Nhổn – ga Hà Nội. Ảnh: METRO Hà Nội

    Trên cơ sở các ý kiến đã nhận được và để bảo đảm tiến độ thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao, Bộ Tài chính đã xây dựng dự thảo Đề án kèm phụ lục phân công nhiệm vụ, đồng thời dự thảo Quyết định thành lập Tổ công tác xây dựng Đề án.

    “Theo kế hoạch, các bộ, cơ quan, địa phương sẽ tiếp tục hoàn thiện những nội dung được phân công và gửi Bộ Tài chính trước ngày 25/9/2026 để tổng hợp, hoàn thiện Đề án trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt” – công văn số 13093/BTC-PTHT của Bộ Tài chính nêu rõ.

    Được biết, việc xây dựng Đề án là một trong những nhiệm vụ cấp bách được Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và các cơ quan liên quan triển khai trong bối cảnh hàng loạt dự án đường sắt trọng điểm đang được yêu cầu đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư và thực hiện.

    Trong đó, Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam cùng hệ thống đường sắt đô thị tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh có quy mô đầu tư đặc biệt lớn, được kỳ vọng tạo bước chuyển căn bản về năng lực vận tải trên các hành lang kinh tế quan trọng của đất nước, đồng thời từng bước giải quyết bài toán giao thông tại hai đô thị lớn nhất cả nước.

    Quy hoạch mạng lưới đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị

    Theo quy hoạch, Việt Nam có 2 tuyến đường sắt tốc độ cao. Tuyến Bắc – Nam dài khoảng 1.541 km, khổ 1.435 mm; tuyến Hà Nội – Quảng Ninh dài khoảng 124 km, khổ 1.435 mm.

    Đối với đường sắt đô thị, theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, mạng lưới gồm 18 tuyến, tổng chiều dài khoảng 979 km.

    Tại TP. Hồ Chí Minh, sau khi sáp nhập 3 tỉnh, thành phố, Thành phố đã bổ sung 5 tuyến đường sắt vào danh mục được hưởng các cơ chế, chính sách đặc thù, đồng thời xác định 6 tuyến ưu tiên.

    Đối với các tuyến đường sắt quốc gia, bên cạnh Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam có sơ bộ tổng mức đầu tư lên tới 1.713.548 tỷ đồng và tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng có tổng mức đầu tư 289.339 tỷ đồng, Bộ Xây dựng đang báo cáo cấp có thẩm quyền cân đối nguồn lực để đầu tư các tuyến đường sắt Biên Hòa – Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh – Cần Thơ – Cà Mau, Vũng Áng – Mụ Giạ và Tháp Chàm – Đà Lạt. Sơ bộ nhu cầu vốn đầu tư của 4 tuyến này lên tới 445.093 tỷ đồng.

    Trong khi đó, nhu cầu vốn đầu tư hệ thống đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cũng rất lớn. Theo tính toán, đến năm 2030, tổng nhu cầu vốn khoảng 27,7 tỷ USD, tương đương 729.070 tỷ đồng; đến năm 2035, con số này tăng lên khoảng 53,41 tỷ USD, tương đương 1.404.680 tỷ đồng.

    Quy mô nguồn lực rất lớn nói trên cho thấy việc chỉ dựa vào ngân sách nhà nước và các nguồn vốn truyền thống sẽ khó đáp ứng yêu cầu đầu tư. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hình thành cơ chế huy động vốn đa dạng, đủ sức thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước.

    Hình thành các dòng vốn lớn

    Để tạo bước đột phá trong giải bài toán huy động nguồn lực, đối với đường sắt tốc độ cao, dự thảo Đề án xác định Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tập trung đầu tư các công trình hạ tầng chính có tính chất nền tảng và dẫn dắt; đồng thời huy động tối đa nguồn lực xã hội tham gia phát triển công nghiệp đường sắt, sản xuất phương tiện, thiết bị, logistics, thương mại và dịch vụ.

    Nguồn vốn được định hướng đa dạng hóa, kết hợp đầu tư công, ODA, vốn vay ưu đãi dài hạn, tín dụng phát triển và các nguồn vốn hợp pháp khác, đồng thời bảo đảm an toàn nợ công. Cùng với đó, quỹ đất, không gian trên cao, không gian ngầm tại khu vực nhà ga sẽ được khai thác gắn với phát triển đô thị, dịch vụ và logistics, qua đó tạo nguồn thu để tái đầu tư cho hệ thống đường sắt tốc độ cao.

    Đối với đường sắt đô thị, dự thảo Đề án xác định hệ thống này phải được phát triển đồng bộ, hiện đại, trở thành trục vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn, đồng thời gắn chặt với quy hoạch đô thị, sử dụng đất và phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD).

    Đặc biệt, Đề án đặt trọng tâm vào đột phá thể chế, đổi mới phương thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực, qua đó thu hút thêm nguồn lực xã hội tham gia phát triển hệ thống đường sắt đô thị.

    Điểm đáng chú ý nhất trong nhóm cơ chế, chính sách huy động vốn được đề cập trong dự thảo Đề án là sự chuyển đổi căn bản trong cách tiếp cận nguồn lực cho đường sắt. Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo đối với hạ tầng cốt lõi, nhưng các kênh huy động vốn được định hướng mở rộng sang trái phiếu Chính phủ chuyên biệt, trái phiếu chính quyền địa phương, ODA và vốn vay ưu đãi, tín dụng phát triển, PPP, vốn tư nhân trong và ngoài nước, đồng thời khai thác nguồn lực từ đất đai và TOD.

    Đáng chú ý, dự thảo Đề án không chỉ hướng tới việc “huy động thêm tiền”, mà còn đặt mục tiêu hình thành các dòng vốn dài hạn phù hợp với đặc thù của các dự án đường sắt có tổng mức đầu tư rất lớn, thời gian xây dựng và hoàn vốn kéo dài. Với đường sắt đô thị, việc khai thác phần giá trị đất đai tăng thêm do hạ tầng tạo ra có thể đưa TOD trở thành một công cụ tài chính, thay vì chỉ là mô hình phát triển đô thị.

    Cách tiếp cận này cũng phù hợp với các cơ chế đặc thù mà Quốc hội đã cho phép Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh áp dụng trong huy động ODA, phát hành trái phiếu địa phương và bố trí vốn qua nhiều kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn.

    “Nếu được thể chế hóa đầy đủ, đây sẽ là bước chuyển đáng kể từ tư duy “ngân sách làm đường sắt” sang “Nhà nước dẫn dắt để huy động nguồn lực làm đường sắt” – đại diện Cục Đường sắt Việt Nam đánh giá.

    Anh Minh

    Nguồn https://baomoi.com/dinh-hinh-co-che-huy-dong-nguon-luc-cho-cac-dai-du-an-duong-sat-c55932685.epi

  • Tháo điểm nghẽn, đưa dự án tồn đọng trở lại hoạt động

    Không để rà soát chỉ dừng ở thống kê

    Theo Công điện, tính đến ngày 31/7/2026, Hệ thống 751 (Hệ thống cơ sở dữ liệu của Ban Chỉ đạo về giải quyết các dự án tồn đọng) đã ghi nhận 4.619 dự án, đất đai gặp khó khăn, vướng mắc. Trong đó, 3.984 dự án đã được các bộ, cơ quan trung ương và địa phương rà soát, phân loại thành 6 nhóm; còn 635 dự án chưa được rà soát, phân loại.

    Qua tổng hợp của Bộ Tài chính, việc triển khai vẫn còn một số hạn chế như cập nhật thông tin chậm, số liệu trên Hệ thống 751 tại một số địa phương chưa thống nhất với báo cáo gửi các cơ quan có thẩm quyền. Đối với những dự án phức tạp về pháp lý, kéo dài qua nhiều thời kỳ pháp luật, thông tin về tình huống, căn cứ pháp lý, nguyên nhân và đề xuất giải pháp ở một số trường hợp còn chưa đầy đủ.

    Đồ họa: Phương Anh

    Vì vậy, Công điện 58 đặt trọng tâm vào việc xác định rõ dự án, nguyên nhân, thẩm quyền và hướng xử lý. Thủ tướng yêu cầu các địa phương rà soát, thống kê, phân loại tổng thể; vấn đề thuộc thẩm quyền phải quyết liệt xử lý dứt điểm, vấn đề vượt thẩm quyền phải sớm đề xuất phương án. Việc cập nhật đầy đủ tình hình phân loại và xử lý các dự án trên Hệ thống 751 phải hoàn thành trước ngày 15/9/2026.

    Theo đó, yêu cầu đặt ra không còn dừng ở việc lập danh sách các dự án gặp khó khăn, mà phải chuyển từ “có tên trong hệ thống” sang “có phương án xử lý và có kết quả cụ thể”.

    Phân loại đúng, xử lý đến cùng

    Thực tế tại một số địa phương cho thấy, khi xác định rõ nguyên nhân và phân loại từng nhóm vướng mắc, việc xử lý dự án có thể được triển khai cụ thể hơn.

    Tại Quảng Ninh, theo Hệ thống 751, có 68 dự án thuộc diện theo dõi, xử lý. Đến nay, tỉnh đã tháo gỡ, xử lý dứt điểm 47 dự án, trong đó 45 dự án không còn khó khăn, vướng mắc và 2 dự án được đưa ra khỏi hệ thống theo dõi. Với 21 dự án còn lại, tỉnh đã hoàn thành rà soát pháp lý và chỉ đạo các cơ quan liên quan xây dựng phương án xử lý.

    Trong số này, 13 dự án còn vướng các quy định về đất đai, những dự án còn lại liên quan đến kết luận thanh tra, kiểm tra và đang tiếp tục được xử lý theo thẩm quyền.

    Xử lý đến cùng các dự án tồn đọng

    Theo các chuyên gia kinh tế, mục tiêu cuối cùng không phải chỉ làm giảm số lượng dự án trên Hệ thống 751, mà là đưa những dự án đủ điều kiện trở lại hoạt động, xử lý đúng quy định đối với những dự án không còn khả năng triển khai và giải phóng các nguồn lực đang bị ách tắc. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao đặt ra yêu cầu huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, đây là một trong những giải pháp quan trọng để khơi thông dòng vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, tài sản và tạo thêm động lực cho phát triển kinh tế – xã hội.

    Điều đáng chú ý là mỗi dự án đều được tỉnh Quảng Ninh đặt trong một nhóm nguyên nhân và gắn với hướng xử lý tương ứng. Dự án đủ điều kiện được tháo gỡ để tiếp tục triển khai; trường hợp không còn khó khăn được đưa ra khỏi diện theo dõi. Những dự án còn vướng pháp lý tiếp tục được xác định căn cứ và phương án xử lý.

    Trong khi đó, tại Đà Nẵng, Sở Tài chính thành phố đã đôn đốc lần cuối, yêu cầu nhà đầu tư của 35 dự án hoàn thiện hồ sơ pháp lý để có cơ sở rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Trong số này, 28 dự án đã có báo cáo nhưng chưa đầy đủ nội dung; 7 dự án chưa nộp hồ sơ. Thành phố cũng yêu cầu các chủ đầu tư nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ ngay trong tháng 8 này. Theo Sở Tài chính Đà Nẵng, nếu không làm rõ hồ sơ, căn cứ pháp lý và trách nhiệm của từng bên, việc luẩn quẩn trong tháo gỡ rất dễ lại lặp lại.

    Công điện 58 cũng yêu cầu các địa phương chủ động chuyển kiến nghị của từng dự án đến bộ, cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực để được hướng dẫn, trả lời hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách xử lý. Trường hợp đã có quy định thì phải khẩn trương hướng dẫn thực hiện; trường hợp chưa có cơ sở pháp lý thì nghiên cứu, đề xuất giải pháp phù hợp.

    Như vậy, xử lý dự án tồn đọng đòi hỏi sự phối hợp xuyên suốt giữa địa phương, nhà đầu tư và các bộ, ngành, với yêu cầu rõ hơn về trách nhiệm và thời hạn.

    Giải phóng nguồn lực cho tăng trưởng

    Đằng sau mỗi dự án tồn đọng không chỉ là một hồ sơ chưa được giải quyết. Đó có thể là đất đai chưa được khai thác, nguồn vốn chưa phát huy hiệu quả, tài sản chưa được đưa vào sử dụng và những cơ hội đầu tư, kinh doanh bị bỏ lỡ.

    Theo PGS.TS Trần Đình Thiên – nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, tập trung xử lý các dự án tồn đọng kéo dài là một trong những động lực có tác động trực tiếp và nhanh đến tăng trưởng kinh tế trong năm 2026. Khi các dự án được tháo gỡ, nguồn lực đang bị mắc kẹt có điều kiện được đưa trở lại nền kinh tế, tạo thêm động lực cho hoạt động đầu tư và sản xuất.

    Còn theo chuyên gia kinh tế – TS. Nguyễn Minh Phong, việc tháo gỡ các dự án tồn đọng có ý nghĩa trong kích hoạt những nguồn lực đang bị “đóng băng” trong nền kinh tế. Khi các vướng mắc về pháp lý, quy hoạch, đất đai và thủ tục đầu tư được giải quyết, nguồn lực có cơ hội quay trở lại phục vụ sản xuất, kinh doanh, qua đó giảm lãng phí và tạo thêm dư địa cho tăng trưởng.

    Hai góc nhìn cho thấy, giá trị lớn nhất của việc xử lý dự án tồn đọng không nằm ở việc giảm bao nhiêu dự án trên danh sách, mà ở nguồn lực nào được giải phóng sau khi điểm nghẽn được tháo gỡ.

    Với 4.619 dự án, đất đai được ghi nhận gặp khó khăn, vướng mắc đến cuối tháng 7 vừa qua cho thấy, khối lượng công việc phía trước còn rất lớn. Hạn 15/9/2026 đòi hỏi các địa phương nhanh chóng hoàn tất rà soát, phân loại, cập nhật thông tin, nhưng quan trọng hơn là tạo chuyển biến trong xử lý thực tế.

    Từ cách làm của các địa phương đã cho thấy một hướng đi rõ hơn: không để rà soát dừng ở thống kê, mà phải xác định được nguyên nhân, trách nhiệm, phương án và thời hạn xử lý đối với từng dự án.

    Quảng Trị xác định hướng xử lý 31/33 dự án trên Hệ thống 751

    Quảng Trị đang đẩy nhanh xử lý các dự án đầu tư ngoài ngân sách chậm tiến độ, với yêu cầu chuyển từ rà soát, phân loại sang xác định rõ phương án, trách nhiệm và thời hạn xử lý.

    Đến nay, tỉnh đã phân loại 151 dự án chậm tiến độ thành 4 nhóm. Riêng 33 dự án có khó khăn, vướng mắc được ghi nhận trên Hệ thống 751, Quảng Trị đã xử lý hoặc xây dựng phương án tháo gỡ cho 31 dự án; trong đó 15 dự án đã được báo cáo Bộ Tài chính đề nghị đưa ra khỏi hệ thống, 2 dự án thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan Trung ương.

    UBND tỉnh Quảng Trị đang yêu cầu tiếp tục xử lý các dự án tồn đọng theo phương châm “rõ dự án, rõ nguyên nhân, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả”. Tỉnh kiên quyết xử lý, thu hồi các dự án không còn khả năng triển khai, vi phạm hoặc chây ỳ; đồng thời tạo điều kiện cho các dự án còn khả năng thực hiện, tránh để vướng mắc từ phía cơ quan nhà nước làm đình trệ dự án.

    Vân Hà

    Nguồn https://baomoi.com/thao-diem-nghen-dua-du-an-ton-dong-tro-lai-hoat-dong-c55932723.epi

  • LG thêm lựa chọn máy lọc khí cho không gian sống hiện đại

    Nắm bắt nhu cầu đó, năm 2026, LG ra mắt ba dòng máy lọc khí LG PuriCare WallFit, LG PuriCare 360 HIT thế hệ mới và LG PuriCare AeroMini, mang đến đa dạng lựa chọn về thiết kế, công năng, trải nghiệm phù hợp từng không gian sống.

    LG PuriCare WallFit – hòa vào không gian, tối ưu từng mét vuông

    Với căn hộ hiện đại đề cao sự gọn gàng, LG PuriCare WallFit hướng đến bài toán tối ưu diện tích mà không làm ảnh hưởng đến tổng thể không gian. Thiết kế mỏng, có thể lắp đặt sát tường giúp thiết bị hạn chế cảm giác cồng kềnh, đồng thời tạo thêm sự linh hoạt khi bố trí nội thất.

    Bên cạnh thiết kế tối ưu không gian, LG PuriCare WallFit kết hợp bộ lọc V-Filter 3 lớp và công nghệ Plasmaster Ionizer, giúp lọc 99,999% bụi mịn PM0.01, đồng thời hỗ trợ loại bỏ nấm mốc, vi khuẩn, khí độc và tác nhân gây hại khác trong không khí. Đặc điểm này phù hợp với không gian có diện tích vừa phải hoặc được thiết kế theo phong cách tối giản, nơi mỗi món đồ đều cần cân đối với tổng thể.

    Máy có thiết kế mỏng, tối ưu không gian cùng V-Filter 3 lớp và Plasmaster Ionizer, hỗ trợ lọc 99,999% bụi mịn PM0.01.

    LG PuriCare WallFit không chỉ giải quyết nhu cầu làm sạch không khí, mà còn cho thấy cách thiết kế thiết bị gia dụng đang thay đổi để thích ứng với lối sống đô thị: Công nghệ hiện diện nhưng không nhất thiết trở thành điểm chiếm dụng không gian.

    LG PuriCare 360 HIT thế hệ mới – bao phủ không gian, kết nối cả gia đình

    Nếu LG PuriCare WallFit tập trung vào bài toán tối ưu diện tích, LG PuriCare 360 HIT thế hệ mới hướng đến không gian rộng, nơi gia đình cùng sinh hoạt và cần giải pháp chăm sóc không khí có khả năng phục vụ phạm vi lớn hơn.

    Hệ thống lọc đa lớp cùng công nghệ Ionizer hỗ trợ loại bỏ bụi mịn và nhiều tác nhân gây ô nhiễm.

    Bên trong LG PuriCare 360 HIT thế hệ mới là hệ thống lọc nhiều lớp với màng HEPA H13 hỗ trợ loại bỏ lên đến 99,999% bụi siêu mịn PM0.01, kết hợp màng than hoạt tính giúp khử mùi và khí độc hại. Công nghệ Ionizer cùng cảm biến bụi PM1.0 cùng cảm biến mùi giúp thiết bị chủ động theo dõi chất lượng không khí và điều chỉnh vận hành phù hợp.

    Thiết kế 360 độ của dòng LG PuriCare 360 HIT cho phép luồng khí được xử lý theo nhiều hướng, phù hợp khu vực sinh hoạt chung như phòng khách hoặc không gian mở. Với diện tích sử dụng lý tưởng lên đến 60 m2, sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu của gia đình muốn duy trì không gian sống trong lành mà không cần bố trí nhiều thiết bị ở vị trí khác nhau.

    LG PuriCare AeroMini – gọn nhẹ, linh hoạt cho không gian nhỏ

    Với kiểu dáng nhỏ gọn, LG PuriCare AeroMini phù hợp không gian có diện tích hạn chế như phòng ngủ, góc học tập hay bàn làm việc, đồng thời đáp ứng lối sống linh hoạt của người trẻ. Người dùng còn có thể cá nhân hóa thiết bị với phụ kiện ghép nối như quai xách da, khay cắm hoa, biến máy lọc khí thành một phần của không gian sống.

    LG PuriCare AeroMini phù hợp chăm sóc không khí trong những không gian không quá rộng.

    Sản phẩm sở hữu hệ thống lọc khí nhiều lớp, hỗ trợ loại bỏ tới 99,999% bụi siêu mịn PM0.01, vi khuẩn và nấm mốc. Kết hợp cùng thiết kế hút và thổi khí 360 độ, LG PuriCare AeroMini hỗ trợ duy trì chất lượng không khí trong không gian cá nhân.

    Nâng tầm trải nghiệm chăm sóc không khí cùng công nghệ AI và ThinQ

    Ngoài đáp ứng nhu cầu chăm sóc không khí theo từng không gian, LG còn tích hợp tính năng thông minh nhằm tối ưu trải nghiệm sử dụng. Trên LG PuriCare WallFit và LG PuriCare 360 HIT thế hệ mới, chế độ AI phân tích dữ liệu chất lượng không khí trong 3 ngày trước để dự đoán tình trạng không khí của ngày tiếp theo, từ đó chủ động điều chỉnh chế độ hoạt động, tối ưu mức năng lượng tiêu thụ và hỗ trợ kéo dài tuổi thọ bộ lọc. Cả hai sản phẩm đều sở hữu đèn báo chất lượng không khí 4 màu, giúp người dùng dễ dàng nhận biết tình trạng không khí trong phòng.

    Ba dòng LG PuriCare mang đến những lựa chọn khác nhau cho từng không gian.

    Trải nghiệm được mở rộng khi thiết bị kết nối với ứng dụng LG ThinQ, cho phép người dùng theo dõi chất lượng không khí theo thời gian thực và điều khiển máy lọc không khí ngay trên smartphone.

    Bộ ba máy lọc không khí LG PuriCare thế hệ mới, bao gồm LG PuriCare AeroMini, LG PuriCare WallFit và LG PuriCare 360 HIT mang đến giải pháp thanh lọc toàn diện và linh hoạt. Dải sản phẩm được thiết kế để tương thích với mọi đặc thù không gian, từ những căn phòng nhỏ cá nhân, căn hộ cần tối ưu diện tích đến không gian sinh hoạt chung rộng rãi của cả gia đình.

    Kim Lan

    Nguồn https://baomoi.com/lg-them-lua-chon-may-loc-khi-cho-khong-gian-song-hien-dai-c55932754.epi

  • Xác định nhà đầu tư dự án hơn 30.150 tỷ đồng phát huy giá trị hồ Tây

    UBND Thành phố Hà Nội vừa phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư thực hiện Dự án đầu tư, cải tạo phát huy giá trị khu vực Hồ Tây và tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ theo phương thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (BT).

    Theo quyết định được UBND Thành phố Hà Nội ban hành, nhà đầu tư được lựa chọn là Công ty TNHH Thành phố Mặt Trời, người đại diện theo pháp luật là bà Bạch Thị Mai Hoa – Giám đốc.

    Dự án được triển khai tại phường Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Sơ bộ tổng mức đầu tư khoảng 30.151 tỷ đồng. Trong đó, vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư khoảng 4.523 tỷ đồng, tương đương 15%; phần vốn huy động hợp pháp khác khoảng 25.629 tỷ đồng.

    Đáng chú ý, hợp đồng BT của dự án được thanh toán bằng quỹ đất. Tuy nhiên, tại thời điểm lựa chọn nhà đầu tư, Hà Nội chưa xác định cụ thể vị trí, diện tích, thông tin quy hoạch và giá trị quỹ đất thanh toán. Các nội dung này sẽ tiếp tục được rà soát, xác định trong quá trình lập và thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi.

    Theo kế hoạch, toàn bộ dự án dự kiến hoàn thành trong năm 2030. Giai đoạn 1 triển khai từ quý III/2026 đến quý IV/2028, tập trung cải tạo các tuyến đường và xây dựng sàn cảnh quan; riêng đoạn Quảng An dự kiến hoàn thành trong quý III/2027.

    Giai đoạn 2 thực hiện từ quý I/2027 đến quý IV/2030, đầu tư đồng bộ các hạng mục công trình, cảnh quan, công viên và các hạng mục khác theo quy hoạch.

    Bên cạnh hệ thống giao thông, dự án sẽ đầu tư nhiều hạng mục như quảng trường, sàn ngắm cảnh ven hồ, cầu cảnh quan, bến thuyền, công viên, vườn hoa, bãi đỗ xe ngầm kết hợp dịch vụ cùng các công trình bảo vệ môi trường.

    Các hạng mục được định hướng hài hòa với cảnh quan tự nhiên, mở rộng không gian công cộng, nâng cao khả năng tiếp cận Hồ Tây và tạo thêm các điểm vui chơi, tham quan cho người dân, du khách.

    Toàn cảnh hồ Tây nhìn từ trên cao (Ảnh: Hữu Thắng).

    Quyết định của UBND Thành phố Hà Nội đồng thời đặt ra yêu cầu chặt chẽ đối với năng lực tài chính và quá trình huy động vốn của nhà đầu tư. Thành phố cũng yêu cầu nhà đầu tư khẩn trương hoàn thiện các thủ tục về quy hoạch, đầu tư, đất đai, môi trường; lập Báo cáo nghiên cứu khả thi trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt.

    Quá trình triển khai phải bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, không để xảy ra thất thoát, lãng phí nguồn vốn đầu tư; đồng thời bảo đảm ổn định đời sống người dân và đồng bộ hệ thống hạ tầng.

    Đặc biệt, công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, giải phóng mặt bằng phải bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người dân, Nhà nước và doanh nghiệp, không để xảy ra thất thoát, lãng phí, lợi ích nhóm, khiếu kiện đông người hoặc ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.

    Các sở, ngành và UBND phường Tây Hồ được giao hướng dẫn, thẩm định, giám sát quá trình chuẩn bị và triển khai dự án, bảo đảm các hạng mục phù hợp quy hoạch và đồng bộ với hệ thống hạ tầng kỹ thuật.

    Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng công trình giao thông thành phố Hà Nội là đầu mối thương thảo, ký kết, quản lý hợp đồng PPP và kiểm tra, giám sát việc huy động, sử dụng vốn. Trường hợp nhà đầu tư không bảo đảm nguồn vốn hoặc tiến độ, cơ quan này phải báo cáo UBND Thành phố để xem xét, xử lý.

    Nguyễn Hữu Thắng

    Nguồn https://baomoi.com/xac-dinh-nha-dau-tu-du-an-hon-30-150-ty-dong-phat-huy-gia-tri-ho-tay-c55932983.epi

  • Thành phố Hồ Chí Minh: Cấp điện an toàn, ổn định tuyệt đối cho lễ Quốc khánh 2/9

    EVNHCMC yêu cầu các đơn vị trực thuộc không thực hiện các thao tác trên lưới điện làm mất điện của khách hàng trong thời gian nghỉ lễ. (Ảnh: EVNHCMC)

    Theo kế hoạch, thành phố sẽ có 7 địa điểm bắn pháo hoa dịp này gồm: hầm sông Sài Gòn (phường An Khánh), Trung tâm Thành phố mới (phường Bình Dương), Quảng trường tháp Tam Thắng (phường Vũng Tàu), Công viên quảng trường Bà Rịa (phường Bà Rịa), Công viên văn hóa Đầm Sen (phường Bình Thới), Tòa tháp Saigon Marina IFC (phường Sài Gòn), Khu biệt thự Kim Long (cầu Rạch Đỉa, xã Nhà Bè).

    Thành phố cũng tổ chức lễ khánh thành, khởi công các dự án chào mừng Quốc khánh đất nước tại khu vực Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh (phường Xóm Chiếu). Cùng với đó là các chương trình triển lãm, kỷ niệm và nghệ thuật phục vụ nhân dân; các hoạt động dâng hương, dâng hoa, thắp nến tri ân và tưởng nhớ tại các địa điểm lịch sử, nghĩa trang liệt sĩ, tượng đài trên địa bàn quản lý.

    Để chuẩn bị cho dịp đặc biệt này, từ trước đó một tháng, Tổng công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh (EVNHCMC) đã có nhiều văn bản chỉ đạo các đơn vị bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định, tin cậy phục vụ các hoạt động của thành phố. Theo đó, ngành điện thành phố đã quán triệt đến từng cán bộ công nhân viên tầm quan trọng của việc bảo đảm điện đối với sự kiện chính trị trọng đại này. EVNHCMC yêu cầu các đơn vị tuyệt đối không chủ quan, không để xảy ra sai sót trong quá trình triển khai thực hiện bảo đảm cung cấp điện.

    Các Công ty Điện lực khu vực và Công ty Lưới điện Cao thế tăng cường kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các khiếm khuyết của thiết bị nguồn, lưới điện. Hành lang các tuyến dây cần được phát quang để bảo đảm an toàn lưới điện, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức người dân về hành lang an toàn lưới điện và ổn định cho ngày nghỉ lễ.

    Hai đơn vị cũng được yêu cầu lập phương án bảo đảm cung cấp điện trong thời gian nghỉ lễ Quốc khánh và tổ chức diễn tập tại địa điểm tổ chức lễ mít tinh, diễu hành sự kiện, lễ hội trên địa bàn quản lý. Đặc biệt, từ 0 giờ ngày 29/8/2026 đến 24 giờ ngày 2/9/2026, các đơn vị không thực hiện thao tác trên lưới làm mất điện khách hàng trong thời gian nghỉ lễ, trừ các trường hợp xảy ra sự cố hoặc có yêu cầu đặc biệt khác.

    Cắt tỉa nhánh cây để bảo đảm hành lang an toàn lưới điện. (Ảnh: EVNHCMC)

    Các Công ty Điện lực chủ động, phối hợp chính quyền địa phương tăng cường các biện pháp bảo vệ an ninh đối với các công trình điện; rà soát, xây dựng và triển khai các phương án bảo vệ an ninh, an toàn, phòng chống cháy nổ cho các công trình điện và tuyên truyền ngăn ngừa các trường hợp vi phạm hành lang tuyến dây. Các đơn vị này phải thực hiện bảo đảm cung cấp điện an toàn và ổn định điện cho các khu vực diễn ra các sự kiện.

    Trung tâm Điều độ hệ thống điện ngoài việc thực hiện các chức năng chuyên môn, phải phối hợp chặt chẽ với Công ty Lưới điện cao thế và các Công ty Điện lực để bảo đảm cấp điện ưu tiên cho các sự kiện.

    Trong khi đó, các công ty trực thuộc EVNHCMC tổ chức bố trí lực lượng trực vận hành và tăng cường nhân sự trực tại các trạm trọng điểm (nếu cần thiết); chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, vật tư, phương tiện, thiết bị để xử lý kịp thời các tình huống sự cố phát sinh suốt thời gian diễn ra sự kiện.

    QUANG QUÝ-VIỆT HOA

    Nguồn https://baomoi.com/thanh-pho-ho-chi-minh-cap-dien-an-toan-on-dinh-tuyet-doi-cho-le-quoc-khanh-2-9-c55932579.epi

  • Lâm Đồng gắn trách nhiệm người dân nhận khoán với dịch vụ môi trường rừng

    Tiền dịch vụ môi trường rừng góp phần giữ màu xanh cho đại ngàn Lâm Đồng.

    Từ nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng, các chủ rừng và tổ chức nhà nước trên địa bàn tỉnh đã chủ động ký hợp đồng khoán và chi trả kịp thời, qua đó tạo thêm nguồn thu nhập ổn định cho người dân, từng bước đưa lợi ích kinh tế gắn chặt với trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng.

    Lâm Đồng có diện tích rừng lớn, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo vệ nguồn nước, điều hòa khí hậu và phát triển kinh tế-xã hội. Để quản lý rừng hiệu quả, thời gian qua, ngoài lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách, tỉnh chỉ đạo triển khai đồng bộ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng kịp thời, đúng quy định nên đã khuyến khích người dân tham gia quản lý bảo vệ rừng ngày càng nhiều hơn. Từ chỗ bảo vệ rừng là trách nhiệm nay đã trở thành quyền lợi kinh tế thiết thực gắn với đời sống người dân.

    Người dân bảo vệ rừng chủ động thực hiện công tác phòng cháy trên diện tích rừng nhận khoán.

    Anh K’Vệ ở thôn 3, xã Bảo Lâm 5 cho biết, trước đây các hộ dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng chủ yếu vì trách nhiệm với địa phương dẫn đến việc tuần tra, kiểm soát rừng chưa thực sự thường xuyên; mặt khác do kinh phí hỗ trợ còn hạn chế nên chưa khuyến khích được người dân gắn bó với rừng. Hiện nay rừng được khoán cho người dân bằng diện tích cụ thể gắn với nguồn thu nhập tương xứng. Vì vậy, khi rừng được giữ thì người dân được hưởng lợi, rừng bị xâm hại thì chính người nhận khoán bị ảnh hưởng trực tiếp. Thực tế này đã làm thay đổi căn bản nhận thức của người dân trong quản lý bảo vệ rừng, có trách nhiệm hơn với rừng bằng chính nguồn thu nhập của gia đình.

    Toàn tỉnh Lâm Đồng hiện có gần 14.000 hộ gia đình, cá nhân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng tại các chủ rừng là Nhà nước. Phần lớn lực lượng này là đồng bào dân tộc thiểu số, những người có đời sống gắn bó lâu đời với rừng, am hiểu địa bàn và trở thành lực lượng quan trọng trong công tác bảo vệ rừng từ cơ sở.

    Phát huy vai trò của cộng đồng, các đơn vị chủ rừng phối hợp tổ, nhóm nhận khoán xây dựng mạng lưới tuần tra trên toàn bộ diện tích được giao quản lý. Sự có mặt thường xuyên của người dân địa phương tại các khu vực gần rừng giúp nhiều điểm thường xuyên xảy ra xâm hại được kiểm soát tốt hơn. Đây cũng là cách đưa công tác bảo vệ rừng về sát cơ sở, phát huy vai trò của chính những người sống gần rừng.

    Để chính sách phát huy hiệu quả, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng luôn xác định việc quản lý, thu và chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng phải bảo đảm đúng quy định, công khai, minh bạch và kịp thời. Hằng năm, Quỹ chủ động ký kết hợp đồng ủy thác với các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng như các nhà máy thủy điện, cơ sở sản xuất nước sạch, doanh nghiệp du lịch và các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nguồn nước từ rừng. Nguồn tiền được thu đúng, thu đủ đã tạo nên quỹ tài chính ổn định để chi trả cho các chủ rừng và người nhận khoán.

    

    Dù điều kiện khó khăn, mức hỗ trợ còn thấp nhưng các hộ nhận khoán rất tích cực trong công tác tuần tra bảo vệ rừng.

    Đặc biệt, những năm gần đây, Quỹ đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn bộ quy trình quản lý, từ xây dựng cơ sở dữ liệu rừng, bản đồ số, xác định diện tích chi trả đến thực hiện thanh toán. Các chủ rừng chi trả tiền khoán bảo vệ rừng không dùng tiền mặt giúp người dân nhận tiền nhanh chóng, an toàn, hạn chế tối đa thất thoát và bảo đảm tính công khai, minh bạch.

    Đối với các chủ rừng là Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và các công ty lâm nghiệp, việc được tạm ứng nguồn kinh phí dịch vụ môi trường rừng ngay từ đầu năm và rải đều 4 quý có ý nghĩa rất quan trọng. Nguồn kinh phí này giúp các đơn vị duy trì hoạt động của các trạm quản lý bảo vệ rừng, tổ chức tuần tra thường xuyên, đặc biệt trong những tháng cao điểm mùa khô khi nguy cơ cháy rừng và xâm hại rừng luôn ở mức cao.

    Song song với công tác chi trả, Quỹ còn thường xuyên phối hợp các cơ quan chuyên môn tổ chức kiểm tra, giám sát việc quản lý và sử dụng nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng tại các đơn vị chủ rừng. Việc kiểm tra nhằm bảo đảm kinh phí được sử dụng đúng mục đích, kịp thời hướng dẫn các đơn vị khắc phục tồn tại, nâng cao hiệu quả quản lý nguồn tài chính từ rừng và chi trả kịp thời cho hộ nhận khoán.

    Chính sự minh bạch trong từng khâu thực hiện đã góp phần củng cố niềm tin của các chủ rừng, người nhận khoán cũng như các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng đối với chính sách. Đối với người dân, khi nhận thấy quyền lợi của mình được bảo đảm đầy đủ, đúng thời gian và đúng đối tượng, họ càng có thêm động lực để gắn bó với rừng.

    Chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cũng đang tạo ra giá trị mới, góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hiện nay, với diện tích nhận khoán phổ biến từ 20-30ha rừng/1hộ, nhiều hộ gia đình có nguồn thu ổn định khoảng 12 đến 18 triệu đồng/1năm. Đối với nhiều gia đình sống gần rừng, đây là khoản thu nhập có ý nghĩa đặc biệt bởi được duy trì hằng năm, giúp họ chủ động hơn trong phát triển kinh tế hộ.

    Tiền dịch vụ môi trường rừng góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm và bảo vệ lá phổi xanh của đại ngàn Tây Nguyên.

    Theo lãnh đạo Ban Quản lý rừng phòng hộ Đa Nhim, nguồn tiền hỗ trợ đã giúp nhiều hộ dân ở vùng lưu vực đầu nguồn có thêm điều kiện phát triển kinh tế, mua sắm phương tiện phục vụ sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống, nhờ đó giảm áp lực khai thác tài nguyên rừng. Khi có thu nhập ổn định từ việc giữ rừng, nhận thức của người dân cũng có sự chuyển biến tích cực, không còn xem rừng là nơi khai thác lâm sản mà xem rừng như là tài sản cần được bảo vệ lâu dài. Ngoài lợi ích kinh tế, người dân còn được hưởng lợi từ môi trường sinh thái ổn định, nguồn nước dồi dào phục vụ sản xuất và những giá trị do rừng mang lại.

    Theo bà Nguyễn Thị Hải, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng đã chứng minh tính đúng đắn và hiệu quả trong thực tiễn. Không chỉ tạo nguồn tài chính ổn định cho công tác quản lý, bảo vệ rừng, chính sách còn góp phần gắn kết trách nhiệm của người dân với quyền lợi kinh tế, tạo sự đồng thuận giữa Nhà nước, chủ rừng và cộng đồng. Chính sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ rừng với chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư đã và đang tạo nên một cơ chế quản lý rừng hiệu quả, trong đó người dân vừa là đối tượng thụ hưởng, cũng là chủ thể tích cực trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.

    Có thể khẳng định, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng đã đạt được mục tiêu “hai trong một”: vừa bảo vệ hiệu quả tài nguyên rừng, vừa tạo sinh kế ổn định, góp phần giảm nghèo bền vững cho người dân sinh sống gần rừng.

    Chấn Hưng – Hồng Duyên

    Nguồn https://baomoi.com/lam-dong-gan-trach-nhiem-nguoi-dan-nhan-khoan-voi-dich-vu-moi-truong-rung-c55932552.epi

  • Điện lưới quốc gia về bản Phua Di Tổng trước Tết Độc lập

    Công nhân Điện lực Na Sang (Công ty Điện lực Điện Biên) hướng dẫn người dân bản Phua Di Tổng (xã Pa Ham) sử dụng điện an toàn, tiết kiệm và hiệu quả.

    Công trình thuộc Chương trình “Bừng sáng Điện Biên”, trực tiếp cấp điện phục vụ sinh hoạt, sản xuất cho gần 100 hộ dân tại bản Phua Di Tổng; góp phần hoàn thiện hạ tầng lưới điện nông thôn trên địa bàn.

    Ngay sau khi đóng điện, cán bộ, công nhân viên Điện lực Na Sang đã kiểm tra hệ thống điện sau công tơ; hướng dẫn người dân sử dụng điện an toàn, tiết kiệm và hiệu quả.

    Công nhân Điện lực Na Sang (Công ty Điện lực Điện Biên) thao tác đóng điện trạm biến áp cấp điện cho bản Phua Di Tổng (xã Pa Ham).

    Điện lưới quốc gia về bản trước Tết Độc lập 2/9 đáp ứng mong mỏi của người dân, đồng thời tạo thêm điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao đời sống và xây dựng bản làng ngày càng khởi sắc.

    Thu Huyền (Công ty Điện lực Điện Biên)

    Nguồn https://baomoi.com/dien-luoi-quoc-gia-ve-ban-phua-di-tong-truoc-tet-doc-lap-c55932696.epi

  • Chủ tịch tỉnh Quảng Ngãi chỉ đạo nóng vụ khai thác cát trái phép trên sông Trà Bồng

    Ngày 28/8, UBND tỉnh Quảng Ngãi thông tin, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Tâm vừa có văn bản chỉ đạo kiểm tra, xác minh nội dung phản ánh của các cơ quan thông tin đại chúng về tình trạng khai thác cát trái phép trên sông Trà Bồng.

    Theo văn bản, ngày 24/8/2026, các cơ quan thông tin đại chúng phản ánh tại khu vực sông Trà Bồng, đoạn giáp ranh giữa xã Trà Bồng và xã Đông Trà Bồng, xảy ra tình trạng khai thác, vận chuyển cát trái phép. Hoạt động này diễn ra cả ngày lẫn đêm, tồn tại trong thời gian dài. Chính quyền địa phương đã xử lý nhưng chưa triệt để chấm dứt tình trạng trên.

    Ngang nhiên đưa xe tải ra đoạn sông Trà Bồng (xã Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi) để khai thác cát trái phép. Ảnh: Nguyễn Ngọc

    Trước tình hình trên, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi giao Sở NN&MT chủ trì, phối hợp với các đơn vị, địa phương liên quan khẩn trương kiểm tra, xác minh, làm rõ nội dung phản ánh; xử lý nghiêm hoặc tham mưu cấp thẩm quyền xử lý nghiêm các hành vi vi phạm (nếu có) theo đúng quy định. Kết quả thực hiện báo cáo UBND tỉnh trước ngày 8/9/2026.

    Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu UBND các xã Trà Bồng, Đông Trà Bồng theo chức năng, nhiệm vụ tăng cường quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác trên sông Trà Bồng theo quy định và các văn bản chỉ đạo liên quan của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh.

    Đồng thời, tăng cường phối hợp, cùng các sở, ngành và lực lượng chức năng để có biện pháp xử lý hiệu quả, nhằm chấm dứt tình trạng khai thác cát trái phép tại khu vực trên. Kết quả thực hiện báo cáo UBND tỉnh (qua Sở NN&MT) trước ngày 5/9/2026.

    Các hố, vệt bánh xe do các đối tượng “trộm” cát để lại. Ảnh: Nguyễn Ngọc

    Chủ tịch UBND các xã Trà Bồng và Đông Trà Bồng phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh nếu tiếp tục để xảy ra tình trạng khai thác cát trái phép tại khu vực này.

    Đối với Công an tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị theo chức năng, nhiệm vụ theo dõi, phối hợp, chủ động nắm bắt thông tin, tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm theo quy định.

    Trước đó, Báo Tiền Phong có bài phản ánh “Cát tặc ngang nhiên ‘rút ruột’ sông Trà Bồng”. Theo phản ánh của người dân khu vực giáp ranh giữa xã Trà Bồng và Đông Trà Bồng (tỉnh Quảng Ngãi) thời gian qua tình trạng khai thác cát trái phép diễn ra tại nhiều điểm trên sông Trà Bồng.

    Hoạt động khai thác cát trái phép ở xã Đông Trà Bồng (tỉnh Quảng Ngãi) diễn ra ngay giữa ban ngày. Ảnh: Nguyễn Ngọc

    Sau khi báo chí đăng tải, những hố cát đã được san lấp lại nguyên trạng. Ảnh: Nguyễn Ngọc

    Các đối tượng hoạt động cả ngày lẫn đêm, sử dụng xe tải, máy múc và cả máy cày để đưa cát ra khỏi lòng sông. Dọc khu vực bờ sông xuất hiện nhiều dấu vết khai thác, hố sâu do các đối tượng trộm cát để lại. Đáng chú ý, dù chính quyền địa phương cho biết đã kiểm tra, xử lý, tình trạng khai thác cát trái phép vẫn tái diễn.

    Được biết, thời gian qua, tại các cuộc họp liên quan đến công tác quản lý khoáng sản trên địa bàn, lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi nhiều lần yêu cầu siết chặt công tác quản lý, không để xảy ra thất thoát tài nguyên.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Đỗ Tâm Hiển nhấn mạnh, quan điểm của tỉnh là xử lý nghiêm tình trạng khai thác khoáng sản trái phép. Địa phương nào để xảy ra khai thác cát trái phép, làm thất thoát tài nguyên khoáng sản thì phải chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh.

    Nguyễn Ngọc

    Nguồn https://baomoi.com/chu-tich-tinh-quang-ngai-chi-dao-nong-vu-khai-thac-cat-trai-phep-tren-song-tra-bong-c55932580.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!