Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Hải Phòng: Chưa xây dựng phương án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã

    Theo Sở Nội vụ thành phố Hải Phòng, hiện nay đơn vị đang phối hợp với các sở, ngành thành phố và các cơ quan liên quan tham mưu rà soát những đơn vị hành chính chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện hoặc phát sinh bất hợp lý trong quá trình vận hành. Đây là bước rà soát nhằm tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

    Ngày 26/8/2026, Sở Nội vụ có Công văn số 5146/SNV-XDCQ&CTTN gửi các sở, ban, ngành thành phố, đề nghị tham gia ý kiến vào dự thảo Kế hoạch triển khai, rà soát, nghiên cứu, sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn thành phố.

    Sở Nội Vụ thành phố Hải Phòng

    Trên cơ sở kế hoạch sau khi được UBND thành phố phê duyệt và căn cứ các tiêu chí, nguyên tắc, điều kiện, quy trình do Trung ương quy định, Sở Nội vụ mới tổng hợp kết quả rà soát, nghiên cứu để xây dựng phương án điều chỉnh nếu thực sự cần thiết. Việc này phải bảo đảm khoa học, thận trọng, tạo đồng thuận xã hội, không gây xáo trộn và được báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét.

    Đáng chú ý, trong thời gian gần đây, trên không gian mạng xuất hiện và lan truyền tệp Công văn số 5146/SNV-XDCQ&CTTN kèm theo một đề án giả định về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

    Trước thông tin này, Sở Nội vụ khẳng định Công văn số 5146/SNV-XDCQ&CTTN là văn bản do Sở ban hành, tuy nhiên không có phụ lục đính kèm như nội dung đang được lan truyền trên không gian mạng. Đồng thời, đến thời điểm hiện nay, Sở Nội vụ chưa xây dựng phương án hay đề án nào về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã.

    Việc rà soát, nghiên cứu trong thời gian tới được thực hiện trên cơ sở Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; Kế hoạch số 06-KH/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 221/NQ-CP ngày 9/8/2026 của Chính phủ và Kế hoạch số 322/KH-UBND ngày 22/8/2026 của UBND thành phố Hải Phòng.

    Theo định hướng này, quá trình rà soát không đồng nghĩa với việc ngay lập tức tiến hành sắp xếp lại các đơn vị hành chính cấp xã. Các phương án, nếu có, chỉ được nghiên cứu trên cơ sở đánh giá thực tế quá trình vận hành, xác định những đơn vị chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện hoặc phát sinh bất hợp lý; đồng thời phải tuân thủ các quy định, tiêu chí và quy trình của Trung ương.

    Hải Phòng tiếp tục rà soát, hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

    Trước những thông tin chưa được kiểm chứng đang lan truyền, Sở Nội vụ đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy, cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Thành ủy, quan tâm định hướng thông tin. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người dân được đề nghị nâng cao cảnh giác, chủ động kiểm chứng thông tin từ các nguồn chính thống; không chia sẻ, phát tán những nội dung chưa được cơ quan có thẩm quyền xác nhận, tránh gây hoang mang dư luận.

    Như vậy, trọng tâm trước mắt của Hải Phòng là tiếp tục rà soát, đánh giá thực tiễn vận hành các đơn vị hành chính cấp xã. Việc điều chỉnh chỉ được đặt ra khi thực sự cần thiết và phải hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đồng thời bảo đảm sự ổn định và đồng thuận trong xã hội.

    Xuân Huy

    Nguồn https://baomoi.com/hai-phong-chua-xay-dung-phuong-an-sap-xep-don-vi-hanh-chinh-cap-xa-c55948242.epi

  • Bộ Xây dựng xây dựng thông tư về phân cấp, kiểm tra hoạt động chuyên ngành

    Triển khai Kết luận, Nghị quyết về thay đổi bộ máy của Trung ương, địa phương và kết thúc hoạt động cơ quan thanh tra tại các bộ, Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ của các bộ, cơ quan ngang bộ.

    Bộ Xây dựng đang triển khai xây dựng dự thảo Thông tư quy định về phân cấp và quy trình kiểm tra trong hoạt động chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của Bộ. (Ảnh minh họa).

    Điều này dẫn đến sự thay đổi liên quan đến thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực xây dựng để đánh giá, xem xét đối với việc chấp hành pháp luật chuyên ngành của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý Nhà nước theo ngành, lĩnh vực của Bộ Xây dựng.

    Mặt khác, tại điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định 217/2025/NĐ-CP ngày 5/8/2025 của Chính phủ về hoạt động kiểm tra chuyên ngành đã quy định: “Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND các cấp có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức, thực hiện hoạt động kiểm tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý”.

    Vì vậy, việc xây dựng, ban hành Thông tư của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định về phân cấp và quy trình kiểm tra trong hoạt động chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của Bộ Xây dựng là cần thiết và phù hợp với thực tế.

    Dự thảo Thông tư quy định nội dung kiểm tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng; phân cấp kiểm tra chuyên ngành trong một số lĩnh vực của Bộ Xây dựng; quy trình kiểm tra chuyên ngành theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 18 Nghị định số 217/2025/NĐ-CP.

    Dự thảo Thông tư có bố cục gồm 4 Chương, 17 Điều và các phụ lục kèm theo. Trong đó, Chương I là các quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; nội dung kiểm tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng.

    Chương II là quy định về phân cấp kiểm tra chuyên ngành trong một số lĩnh vực của Bộ Xây dựng, bao gồm quy định về nguyên tắc phân cấp và phân cấp thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành.

    Chương III là các quy định về quy trình kiểm tra chuyên ngành, gồm: Xây dựng, phê duyệt và ban hành kế hoạch kiểm tra chuyên đề; kiểm tra theo chỉ đạo, giao nhiệm vụ của người có thẩm quyền; ban hành quyết định kiểm tra chuyên ngành; đoàn kiểm tra chuyên ngành; địa điểm, thời hạn và phương thức tiến hành kiểm tra; xây dựng, phê duyệt và ban hành kế hoạch tiến hành kiểm tra; tiến hành kiểm tra chuyên ngành; lập biên bản kiểm tra và xử lý trong quá trình kiểm tra; báo cáo kết quả và xử lý sau kiểm tra; mẫu văn bản và hồ sơ kiểm tra chuyên ngành.

    Chương IV là quy định về tổ chức thực hiện và điều khoản thi hành.

    Dịch Phong

    Nguồn https://baomoi.com/bo-xay-dung-xay-dung-thong-tu-ve-phan-cap-kiem-tra-hoat-dong-chuyen-nganh-c55948124.epi

  • Loạt nhà máy rác ‘ngắc ngoải’, nguy cơ phát sinh điểm nóng về môi trường

    Bất thường tại một doanh nghiệp liên tục xin ngừng hoạt động

    Ngày 10/8, Công ty CP Bình Minh Vina Greens – Chủ đầu tư dự án Khu xử lý rác tại xã Thạch Lạc có văn bản gửi UBND tỉnh Hà Tĩnh xin tạm dừng nhận rác thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày và tạm dừng một phần hoạt động của nhà máy. Đây là dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư năm 2018, công suất lò đốt 24 tấn rác/ngày với thời hạn hoạt động 15 năm.

    Khu xử lý rác tại xã Thạch Lạc liên tục gặp sự cố khiến lượng rác thải tồn đọng rất lớn.

    Hiện tại, Khu xử lý rác tại xã Thạch Lạc đang ký hợp đồng xử lý chất thải rắn sinh hoạt cho 8 xã trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Từ cuối năm 2024, doanh nghiệp này đã chuyển nhượng toàn bộ cổ phần cho một đơn vị mới. Từ đó đến nay, cho rằng xảy ra tranh chấp nội bộ, khó khăn về nguồn vốn, ảnh hưởng nặng nề từ các trận bão trong năm 2025 và bị chi phí nhiên liệu tăng cao, mất điện thường xuyên và liên tục nhưng không được thông báo trước… là những nguyên nhân dẫn đến việc máy móc thiết bị bị hư hỏng nghiêm trọng. Do vậy, doanh nghiệp này đã xin ngừng hoạt động sản xuất để tập trung khắc phục sự cố máy móc, chờ kết luận của cơ quan chức năng về vụ việc tranh chấp.

    Đây không phải là lần đầu tiên doanh nghiệp này xin ngừng tiếp nhận rác. Trước đó, ngày 12/3/2026 Công ty CP Bình Minh Vina Greens cũng đã thông báo dừng tiếp nhận rác từ các xã Lộc Hà, Mai Phụ, Hồng Lộc, Đông Kinh và một số vùng lân cận khiến lượng rác ùn ứ, tồn đọng rất lớn. Đầu tháng 1/2024, lò đốt rác này cũng “dở chứng”, tạm ngừng hoạt động đã khiến cho hàng trăm tấn rác thải ở nhiều địa phương bị ùn ứ, tồn đọng, gây ô nhiễm môi trường.

    Bãi chôn lấp rác thải khổng lồ trong khuôn viên Nhà máy xử lý rác thải của Công ty CP Môi trường và Công trình đô thị Hà Tĩnh tại xã Cẩm Xuyên.

    Ngoài ra, cho rằng hiện tại Công ty đã áp dụng công nghệ máy móc tiên tiến vào hoạt động nhưng với đơn giá 307.000 đồng/tấn thì hoạt động không có lãi, doanh nghiệp này đã đề xuất và được UBND tỉnh Hà Tĩnh đã đồng ý ban hành đơn giá mới. Song, lấy lý do hiện tại máy móc của công ty hoạt động không ổn định, cần thêm nguồn vốn để đầu tư, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp. Do vậy, dù đã được điều chỉnh đơn giá, công ty vẫn chưa hoạt động.

    Trước Văn bản đề nghị ngừng tiếp nhận rác và dừng hoạt động, ngày 18/8 UBND tỉnh Hà Tĩnh có Văn bản yêu cầu Công ty CP Bình Minh Vina Greens khẩn trương thực hiện sửa chữa, khắc phục các hạng mục hư hỏng, xuống cấp để đưa nhà máy đi vào hoạt động ổn định trước ngày 30/8/2026.

    Đồng thời, giao Công an tỉnh Hà Tĩnh (Phòng cảnh sát Kinh tế) tiếp nhận và tiếp tục thụ lý, xử lý vụ việc liên quan đến tranh chấp giữa Công ty CP Bình Minh Vina Greens và chủ sở hữu trước đây theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền.

    Tình trạng tương tự cũng xảy ra tại các doanh nghiệp, cơ sở xử lý rác thải rắn sinh hoạt trên toàn tỉnh Hà Tĩnh. Cuối tháng 7/2026, Sở NN&MT Hà Tĩnh chủ trì, thành lập Đoàn kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đối với các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn. Qua đó, ghi nhận phần lớn các cơ sở đều đã ngừng tiếp nhận rác, thậm chí quá tải ngừng hoạt động từ nhiều tháng nay.

    Loạt dự án xử lý rác thải đồng loạt “đóng băng”, khổ vì rác tồn đọng

    Cụ thể, Nhà máy xử lý rác thải huyện Vũ Quang (cũ) tại xã Thượng Đức, vừa mới đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động từ năm 2024 nhưng chỉ sau 1 năm thì thiết bị dây chuyền hư hỏng, cơ sở xuống cấp và đã ngừng tiếp nhận và xử lý rác thải từ nhiều tháng qua.

    Cuối tháng 7/2026, lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh kiểm tra tại 10 dự án xử lý rác thải đang hoạt động trên địa bàn, trong đó ghi nhận chỉ 2 doanh nghiệp hoạt động tốt, còn lại phần lớn là cầm chừng hoặc tạm ngừng hoạt động.

    Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt xã Cẩm Quan đã hoạt động trong thời gian dài, nhiều hạng mục cơ sở vật chất xuống cấp, công nghệ xử lý chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thường xuyên phát sinh mùi hôi, ảnh hưởng đến môi trường và đời sống của người dân khu vực xung quanh. Hầu hết các lò đốt độc lập đang sử dụng hệ thống máy móc xuống cấp, công nghệ lạc hậu nên hoạt động cầm chừng. Tại đây, thậm chí một số máy móc được đầu tư, mua sắm nhưng không sử dụng được, gây thất thoát, lãng phí ngân sách Nhà nước.

    Các bãi chôn lấp rác thải ở phường Nam Hồng Lĩnh và xã Sơn Tây đã quá niên hạn sử dụng, lượng rác quá tải, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Lò đốt rác thải của HTX Tân Phát tại xã Cổ Đạm có công suất thiết kế khoảng 36 tấn/ngày. Tuy nhiên, do xây dựng đã lâu, dây chuyền lạc hậu, bị ảnh hưởng bởi mưa bão… nên công suất chỉ đạt khoảng 11 tấn/ngày. Tại đây thường xuyên xảy ra tình trạng quá tải.

    Lò đốt rác thải của Công ty CP Lam Sơn Nghi Xuân tại xã Tiên Điền hiện tại đang tạm ngừng hoạt động để sửa chữa, cải tạo lò đốt và băng tải phân loại rác. Lượng rác tồn đọng trong khuôn viên rất nhiều, nguy cơ ô nhiễm môi trường. Lò đốt rác thải xã Hương Sơn cũng đã ngừng hoạt động từ tháng 7/2025 đến nay khiến rác thải ở các xã thuộc địa bàn huyện Hương Sơn (cũ) tồn đọng nhiều, môi trường khu xử lý bị ô nhiễm.

    Hàng trăm tấn rác thải được vùi lấp khi chưa qua xử lý bị phát hiện trong quá trình thăm dò địa chất thi công dự án KCN VSIP Hà Tĩnh

    Từ tháng 1/2026, bãi chôn lấp rác thải xã Hồng Lộc – một trong những địa điểm tập kết, xử lý rác thải lớn nhất của các xã thuộc địa bàn huyện Lộc Hà và Can Lộc (cũ) ngừng tiếp nhận rác thải cũng là một trong những nguyên nhân gây ùn ứ, tồn đọng lượng rác thải lớn trên địa bàn Hà Tĩnh. Khu vực bãi rác này là vị trí từ năm 2025 đã được UBND tỉnh Hà Tĩnh chấp thuận chủ trương cho Công ty CP Môi trường và Xử lý rác thải An Dương (Nghệ An) thực hiện dự án Nhà máy Xử lý chất thải rắn tại xã Hồng Lộc với quy mô 9,5ha, tổng mức đầu tư gần 1.500 tỷ đồng; công suất xử lý khoảng 950 tấn rác/ngày đêm, dự kiến đưa vào vận hành từ năm 2029.

    Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay dự án vẫn chưa thể triển khai khi vấp phải sự phản đối quyết liệt từ người dân do lo ngại vị trí quy hoạch nằm ở khu vực đầu nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bà con. Bất luận, dự án đã hoàn thành báo cáo đánh giá tác động môi trường và được Bộ NN&MT thẩm định.

    Ông Đặng Hữu Bình, Trưởng phòng Môi trường (Sở NN&MT Hà Tĩnh) cho biết, hiện nay, lượng rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh khoảng trên 650 tấn/ngày đêm và dự báo tăng lên khoảng 1.000 tấn/ngày đêm vào năm 2030. Việc các nhà máy, cơ sở xử lý rác thải trên địa bàn đồng loạt hư hỏng, ngừng hoạt động đã khiến vấn đề xử lý rác hết sức khó khăn, hiện tỉnh Hà Tĩnh đang yêu cầu chủ cơ sở xử lý rác khẩn trương sửa chữa, khắc phục các hư hỏng, xuống cấp của lò đốt để sớm xử lý lượng rác tồn đọng. Trường hợp các doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thời hạn các nội dung được yêu cầu, phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

    Ngày 22/8, ông Hồ Huy Thành, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ký ban hành văn bản chỉ đạo việc thực hiện thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trên địa bàn. Trong đó, xác định trách nhiệm xử lý của tổ chức, cá nhân liên quan đến các điểm tồn đọng rác thải.

    Hiện trạng các dự án xử lý rác thải hiện nay tại Hà Tĩnh đều xuống cấp, thiết bị, cơ sở vật chất cũ kỹ. Một số thiết bị, máy móc được đầu tư mua sắm với số tiền hàng chục tỷ đồng nhưng không thể vận hành, gây lãng phí ngân sách Nhà nước.

    Cụ thể, đối với rác tồn đọng tại cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt, Hà Tĩnh gắn trách nhiệm quản lý nhà nước đến tận các xã, phường. Chủ tịch UBND xã, phường chịu trách nhiệm trước pháp luật và UBND tỉnh nếu để xảy ra tình trạng chất thải rắn sinh hoạt tồn đọng, ùn ứ kéo dài, gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý. Đối với các cơ sở thu gom, Hà Tĩnh yêu cầu thực hiện đầy đủ các nội dung trong hợp đồng đã ký, xử lý hết lượng rác thải tồn đọng, ùn ứ kéo dài, gây mất vệ sinh môi trường.

    Công an tỉnh Hà Tĩnh chủ động phối hợp với các địa phương, đơn vị liên quan nắm tình hình, phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo thẩm quyền. Trường hợp phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm, kịp thời thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật.

    Liên quan đến việc chôn lấp rác thải trái quy định, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Tĩnh vừa tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can xảy ra tại HTX Xây dựng – Môi trường H&Q ở xã Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Lò đốt rác của HTX này được đầu tư từ năm 2017, đến năm 2025 thì ngừng hoạt động khiến lượng rác tồn đọng rất lớn, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đầu năm 2026, để xử lý, doanh nghiệp đã tự ý cho chôn lấp rác thải tồn đọng trong khuôn viên, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nhiều hệ lụy về môi trường.

    Trước đó, ngày 11/6/2026, Công an tỉnh Hà Tĩnh cũng đã có Văn bản “cảnh báo” về việc có dấu hiệu chôn lấp, đổ chất thải rắn trái quy định tại xã Can Lộc.

    Thiên Thảo – Nguyễn Nam

    Nguồn https://baomoi.com/loat-nha-may-rac-ngac-ngoai-nguy-co-phat-sinh-diem-nong-ve-moi-truong-c55948216.epi

  • Thủ tướng yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các dự án đường cao tốc tại khu vực phía Bắc

    Tuyến Chợ Mới-Bắc Kạn đang được đẩy nhanh thi công. (Ảnh: Trần Trang/TTXVN)

    Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Công điện số 60/CĐ-TTg ngày 29/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư xây dựng công trình đường bộ cao tốc tại khu vực phía Bắc.

    Công điện gửi Bộ trưởng các Bộ: Xây dựng, Tài chính và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang.

    Công điện nêu thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, kết luận của Bộ Chính trị và chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về các giải pháp đột phá phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đầu tư công, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội, tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng nhanh, bền vững, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và các năm tiếp theo, thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, thi công và giải ngân vốn đầu tư các công trình, dự án hạ tầng trọng điểm.

    Việc đầu tư xây dựng các dự án đường bộ cao tốc có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm nâng cao năng lực giao thông, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.

    Dự án cao tốc tuyến Chợ Mới-Bắc Kạn qua địa phận xã Thanh Thịnh, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: Trần Trang/TTXVN)

    Hiện nay, tại khu vực các tỉnh, thành phố phía Bắc đang triển khai thi công 7 tuyến đường bộ cao tốc, được chia thành 14 dự án, dự án thành phần, Bộ Xây dựng là cơ quan chủ quản 1 dự án, các địa phương là cơ quan chủ quản, cơ quan có thẩm quyền các dự án còn lại.

    Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố là cơ quan chủ quản, cơ quan có thẩm quyền các dự án đã tích cực triển khai thực hiện, tuy nhiên, đến nay một số dự án vẫn còn tồn tại, vướng mắc về mặt bằng, xác định nguồn cung cấp vật liệu xây dựng; một số dự án có kế hoạch hoàn thành năm 2026 nhưng khối lượng còn lại lớn, đòi hỏi phải rất quyết tâm, nỗ lực mới có thể hoàn thành đáp ứng yêu cầu.

    Để sớm hoàn thành đưa vào khai thác các công trình, dự án, phát huy hiệu quả đầu tư, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

    Về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Lạng Sơn, Sơn La, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên chỉ đạo, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, tập trung giải quyết dứt điểm các vướng mắc, đẩy nhanh công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, di dời các công trình hạ tầng kỹ thuật, đảm bảo bàn giao mặt bằng sạch cho nhà thầu để thi công theo kế hoạch.

    Quá trình thực hiện cần quan tâm, chăm lo đời sống, tinh thần, sinh kế của người dân chịu ảnh hưởng; bảo đảm nơi ở, nơi sinh hoạt của người dân phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở hiện tại.

    Về nguồn cung vật liệu xây dựng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hưng Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình chỉ đạo các cơ quan tham mưu khẩn trương rà soát, quy hoạch, đẩy nhanh thủ tục cấp phép, gia hạn, nâng công suất các mỏ, bảo đảm nguồn cung cấp vật liệu xây dựng phục vụ cho các dự án, đặc biệt dự án thành phần 3 thuộc dự án đường Vành đai 4-Vùng Thủ đô Hà Nội, dự án Chợ Mới-Bắc Kạn, dự án Ninh Bình-Hải Phòng đoạn qua địa bàn tỉnh Ninh Bình và Hưng Yên đang gặp khó khăn về nguồn vật liệu xây dựng.

    Một đoạn cầu vượt đường Vành đai 4-Vùng Thủ đô qua Quốc lộ 1A đã hoàn thành phần lớn kết cấu nhịp. (Ảnh: Vũ Quang/TTXVN)

    Các địa phương tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ, chấn chỉnh việc chấp hành quy định của pháp luật về giá vật liệu xây dựng; kịp thời công bố giá vật liệu và chỉ số giá xây dựng, kiểm soát mặt bằng giá theo đúng quy định.

    Về công tác thi công, Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố là cơ quan chủ quản/cơ quan có thẩm quyền đối với các dự án có kế hoạch hoàn thành năm 2026 và các dự án đã khởi công từ năm 2025 nhưng tiến độ thi công còn chậm khẩn trương yêu cầu chủ đầu tư, nhà đầu tư và các đơn vị liên quan chủ động rà soát, điều chỉnh kế hoạch thi công các hạng mục phù hợp thực tế hiện trường, thời tiết, đặc biệt các hạng mục đường găng của dự án; huy động nguồn lực tài chính, nhân lực, xe máy, thiết bị, dây chuyền thi công, khắc phục thời tiết bất lợi, đẩy mạnh thi công để hoàn thành các dự án đúng kế hoạch.

    Tổ chức thi công khoa học, hiệu quả, bảo đảm chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn trong cả vòng đời dự án, không vì tiến độ mà bỏ qua các quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật ảnh hưởng tới chất lượng công trình.

    Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố là cơ quan chủ quản, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu các chủ đầu tư, nhà đầu tư, Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự địa phương và các đơn vị thi công tăng cường, chủ động ứng phó với mưa lớn, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất; chủ động rà soát kế hoạch phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, bảo vệ thiết bị, vật tư, lán trại trong mùa mưa lũ; không dựng lán trại, bãi đúc cấu kiện và lưu trú tại các khu vực có nguy cơ sạt lở đất, lũ quét, ngập lụt; khẩn trương xây dựng đầy đủ hệ thống thoát nước (rãnh cơ, bậc nước, rãnh đỉnh, gia cố mái taluy…) đồng thời với quá trình thi công nền đường, bảo đảm tối đa an toàn cho người, thiết bị, vật tư, công trình và hạng mục đã thi công trên công trường.

    Về công tác giải ngân, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố là cơ quan chủ quản, cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo chủ đầu tư và các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân nguồn vốn các dự án bảo đảm đúng kế hoạch, đặc biệt đối với các dự án có kế hoạch hoàn thành trong năm 2026, các dự án được giao kế hoạch vốn năm 2026 lớn.

    Bộ Xây dựng theo dõi, đôn đốc các cơ quan, địa phương thực hiện nhiệm vụ được giao tại Công điện này, kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với các khó khăn, vướng mắc./.

    Phát triển hệ thống đường bộ cao tốc là nhiệm vụ trọng tâm, cấp thiết, nhằm hình thành trục giao thông xương sống của quốc gia; tăng cường liên kết vùng, giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, có ý nghĩa quan trọng để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 và các năm tiếp theo, đồng thời, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, mở rộng không gian phát triển và tạo động lực thu hút đầu tư, phát triển bền vững.

    Với tầm quan trọng, chiến lược nêu trên, tại Kết luận số 18-KL/TW ngày 4 tháng 4 năm 2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định “đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000km đường bộ cao tốc” và “tập trung đầu tư các tuyến đường bộ cao tốc theo quy hoạch.”

    (Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/thu-tuong-yeu-cau-day-nhanh-tien-do-cac-du-an-duong-cao-toc-tai-khu-vuc-phia-bac-c55948133.epi

  • 8 lô ‘đất vàng’ ở Cầu Giấy sắp lên sàn đấu giá, lô cao nhất gần 41 tỷ đồng

    Công ty Đấu giá hợp danh DVL vừa thông báo tổ chức đấu giá quyền sử dụng 8 thửa đất tại ô D23, khu đô thị mới Cầu Giấy.

    Theo thông báo, 8 thửa đất được ký hiệu từ F1 đến F8, có tổng diện tích 1.596m2. Diện tích từng thửa dao động từ 178 đến 231m2.

    Giá khởi điểm được đưa ra từ 85,9-176,6 triệu đồng/m2. Tính theo giá khởi điểm, tổng giá trị 8 thửa đất là gần 200 tỷ đồng.

    Trong đó, lô F3 có diện tích 231m2, giá khởi điểm 176,6 triệu đồng/m2, tương đương tổng giá khởi điểm gần 40,8 tỷ đồng – cao nhất trong 8 thửa đất.

    Lô F8 rộng 229m2 có giá khởi điểm gần 40,5 tỷ đồng. Trong khi đó, lô F2 có tổng giá khởi điểm thấp nhất, gần 15,3 tỷ đồng.

    Khu vực Cầu Giấy nhìn từ trên cao. Ảnh: Hoàng Hà

    Đây là các thửa đất ở, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, thời hạn sử dụng lâu dài.

    Theo quy hoạch, các thửa đất được xây dựng nhà ở liền kề cao 5 tầng, có 1 tum và 1 tầng hầm.

    Cuộc đấu giá được thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu trực tiếp tại phiên đấu giá, theo phương thức trả giá lên. Đối với mỗi thửa đất, người tham gia có thể phải trải qua tối đa 3 vòng trả giá.

    Để tham gia, khách hàng cần nộp khoản tiền đặt trước 5,3-14,3 tỷ đồng, tương đương 35% giá khởi điểm của từng thửa đất theo mức khởi điểm. Bước giá ở vòng đầu tiên dao động 278-292 triệu đồng/lượt trả giá, tùy từng lô.

    Mức giá khởi điểm của các lô đất sắp đấu giá được đưa ra trong bối cảnh giá nhà liền kề, biệt thự tại khu đô thị mới Cầu Giấy đang ở mức cao.

    Theo giá rao trên một số kênh bất động sản trực tuyến, biệt thự, liền kề tại khu đô thị mới Cầu Giấy hiện được chào bán khoảng 450-520 triệu đồng/m2, cao hơn khoảng 30% so với cùng kỳ năm trước.

    Hồng Khanh

    Nguồn https://baomoi.com/8-lo-dat-vang-o-cau-giay-sap-len-san-dau-gia-lo-cao-nhat-gan-41-ty-dong-c55948085.epi

  • Kiến tạo mạng lưới đô thị, mở không gian phát triển mới

    Đây không chỉ là sự đồng bộ về tiến độ, mà là cách tiếp cận hiện đại khi quy hoạch tỉnh mở đường, quy hoạch đô thị cụ thể hóa, để từng bước hình thành một không gian phát triển đa cực, đa trung tâm và liên kết.

    Quy hoạch chung các vùng đô thị Quy Nhơn, Pleiku, Hoài Nhơn, An Khê cùng các quy hoạch phân khu, khu chức năng và hạ tầng chiến lược đang được triển khai song song với điều chỉnh Quy hoạch tỉnh, nhằm tổ chức lại không gian phát triển sau hợp nhất, bảo đảm các đô thị động lực được quy hoạch đồng bộ với hạ tầng, dân cư, sản xuất và dịch vụ.

    Quy hoạch đồng thời, liên thông và tích hợp

    Sau hợp nhất, Gia Lai hội tụ không gian từ cao nguyên, biên giới đến đồng bằng ven biển, với bờ biển dài 134 km và đường biên giới 90,3 km giáp Campuchia.

    Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh xác lập mô hình “Ba trục hành lang động lực – Hai khu kinh tế – Ba khu vực động lực – Bốn phân vùng chức năng”, trong đó 4 đô thị trọng điểm được phân vai rõ: Quy Nhơn mở rộng là cực động lực hướng biển; Pleiku mở rộng là trung tâm phía Tây; Hoài Nhơn mở rộng là cực tăng trưởng phía Đông Bắc; An Khê mở rộng là mắt xích trung chuyển Đông – Tây.

    Theo ông Nguyễn Trường Sơn – Giám đốc Sở Xây dựng, việc triển khai đồng thời các quy hoạch xuất phát từ thay đổi căn bản về không gian phát triển của tỉnh sau hợp nhất, từ biển đến cao nguyên và kết nối tới cửa khẩu quốc tế.

    “Đây là bước chuyển từ tư duy quản lý địa giới sang kiến tạo không gian phát triển” – ông Sơn nhấn mạnh.

    Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh là một phần quan trọng trong mạng lưới đô thị vùng biên. Ảnh: H.D

    Rõ nhất là vùng đô thị Quy Nhơn – Pleiku. Trong đó, Quy Nhơn là trung tâm hành chính, kinh tế biển, logistics cảng biển và đối ngoại quốc tế; Pleiku là trung tâm vùng Tây Nguyên, dịch vụ tổng hợp, công nghiệp chế biến, logistics cao nguyên.

    2 đô thị đảm nhận các chức năng bổ trợ, gắn với hành lang chiến lược Quy Nhơn – An Khê – Pleiku – Lệ Thanh, kết nối cảng biển, sân bay, cao tốc, QL 19, vùng nông nghiệp Tây Nguyên và cửa khẩu quốc tế.

    Cụ thể hóa từ quy hoạch tỉnh đến từng đô thị

    Tinh thần “quy hoạch tỉnh mở khung – quy hoạch đô thị cụ thể hóa” được thể hiện ngay từ việc xác định phạm vi mở rộng và định hướng phát triển từng đô thị.

    Theo Giám đốc Sở Xây dựng Nguyễn Trường Sơn, phạm vi đô thị mở rộng được xác định trên cơ sở tổng hợp vai trò, chức năng trong hệ thống đô thị toàn tỉnh; các hành lang, cực tăng trưởng; điều kiện tự nhiên, dân cư; hạ tầng hiện hữu và nhu cầu phát triển dài hạn.

    Từ định hướng đến năm 2030, Quy Nhơn mở rộng khoảng 1.193 km², Pleiku khoảng 1.261 km², Hoài Nhơn khoảng 420 km² và An Khê khoảng 130 km².

    Quy Nhơn và Pleiku được nghiên cứu ở quy mô lớn vì là hai cực chính của cấu trúc phát triển mới: Quy Nhơn đại diện cho cực biển – hội nhập quốc tế – cảng biển – đô thị dịch vụ; Pleiku là cực cao nguyên sinh thái – công nghiệp chế biến – logistics – dịch vụ vùng.

    “Diện tích lớn không đồng nghĩa toàn bộ sẽ được đô thị hóa. Quy mô mở rộng nhằm tạo đủ không gian kinh tế để tổ chức các động lực tăng trưởng mới, chứ không đơn thuần xuất phát từ nhu cầu mở rộng đô thị” – ông Sơn nói.

    Theo quy hoạch mới, vùng đô thị Quy Nhơn được định hướng là cực đô thị biển, cảng biển, logistics, du lịch, khoa học – giáo dục, trí tuệ nhân tạo và dịch vụ cấp vùng. Ảnh: Dũng Nhân

    Tại Quy Nhơn, Chủ tịch UBND phường Quy Nhơn Nguyễn Đức Toàn – cho biết: Địa phương sẽ bám sát Quy hoạch tỉnh và Quy hoạch chung đô thị Quy Nhơn, rà soát không gian, chuẩn bị quỹ đất và hạ tầng cho thương mại – dịch vụ, du lịch, logistics, kinh tế biển; đồng thời tháo gỡ điểm nghẽn về giao thông, hạ tầng kỹ thuật, giải phóng mặt bằng và thủ tục hành chính.

    Ở phía Tây, Pleiku định hướng tổ chức không gian theo mô hình đô thị đa trung tâm, chuẩn bị hạ tầng, quỹ đất cho logistics, công nghiệp chế biến, nông nghiệp công nghệ cao, dịch vụ và du lịch; tăng kết nối vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến và thị trường.

    Pleiku định hướng phát triển đô thị đa trung tâm, gắn hạ tầng, logistics với vùng nguyên liệu, chế biến và thị trường. Ảnh: Phạm Quý

    Tại An Khê, Chủ tịch UBND phường An Khê Đặng Quốc Hoài Huy – chia sẻ: Địa phương sẽ cụ thể hóa quy hoạch theo hướng phát triển các khu vực mới dọc sông Ba, kết nối hai bờ sông; chuẩn bị không gian, hạ tầng cho công nghiệp chế biến nông – lâm sản, logistics, dịch vụ; khai thác giá trị quần thể di tích Tây Sơn thượng đạo để phát triển du lịch, từng bước trở thành cực tăng trưởng phía Đông Bắc.

    Để quy hoạch thành công cụ kiến tạo phát triển

    Theo TS. Trần Du Lịch – thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính – tiền tệ Quốc gia, hành lang Quy Nhơn – Pleiku – Lệ Thanh có thể hình thành hệ thống cảng cạn, giúp giảm chi phí logistics cho vùng phía Tây, hướng hàng hóa qua cảng Quy Nhơn và cảng Phù Mỹ trong tương lai.

    Với nông nghiệp công nghệ cao và chăn nuôi, ông nhấn mạnh nguyên tắc phân vai: “Để phát triển, Nhà nước phải làm được, còn lại thị trường sẽ làm” – phần việc của Nhà nước là giao thông kết nối, hạ tầng điện, hạ tầng số và năng lượng tái tạo.

    TS. Trần Du Lịch cũng lưu ý mở rộng địa giới đô thị không đồng nghĩa phát triển tốt hơn nếu để xảy ra đô thị hóa “vết dầu loang” – nhà ở lấn dần đất nông nghiệp tự phát; các đô thị mở rộng cần dành không gian cho công viên, không gian xanh và không gian công cộng.

    Từ góc độ cơ quan quản lý, ông Nguyễn Trường Sơn cho rằng thách thức lớn nhất là biến một không gian hành chính mới thành không gian phát triển thống nhất.

    Điều này đòi hỏi chuẩn hóa dữ liệu, rà soát các quy hoạch cũ để kế thừa hoặc điều chỉnh, đồng bộ hạ tầng giao thông, xử lý điểm nghẽn trên các hành lang chiến lược và lựa chọn đúng trọng tâm để phân bổ nguồn lực, tránh đầu tư dàn trải.

    Mục tiêu hoàn thành 4 quy hoạch chung đô thị trong quý IV/2026 là nhiệm vụ khẩn trương, nhưng không vì áp lực tiến độ mà đơn giản hóa nghiên cứu. Bởi khi được phê duyệt, các quy hoạch phải trở thành công cụ kiến tạo phát triển, có khả năng dẫn dắt đầu tư trong 10-20 năm tới.

    “Nhìn tổng thể, việc đồng thời điều chỉnh Quy hoạch tỉnh và 4 quy hoạch đô thị trọng điểm cho thấy sự chuyển dịch tư duy từ quy hoạch từng đô thị riêng lẻ sang kiến tạo mạng lưới đô thị động lực có liên kết, bổ trợ và cộng hưởng nguồn lực.

    Khi quy hoạch được tổ chức nhất quán từ cấp tỉnh đến đô thị, nhà đầu tư có bức tranh không gian rõ ràng để lựa chọn vị trí; hạ tầng được đầu tư đúng trọng điểm; người dân được hưởng lợi từ không gian sống bài bản hơn. Đây là nền tảng để Gia Lai bước vào giai đoạn phát triển mới với năng lực cạnh tranh và khả năng liên kết vùng thực chất” – TS. Trần Du Lịch khẳng định.

    TRỌNG LỢI

    Nguồn https://baomoi.com/kien-tao-mang-luoi-do-thi-mo-khong-gian-phat-trien-moi-c55947911.epi

  • Thái Nguyên xây dựng bể chứa nước điều tiết chống ngập úng đô thị

    Bể chứa chống ngập úng có dung tích 2.500m³ đang được khẩn trương thi công. (Ảnh: THẾ BÌNH)

    Là tuyến đường trung tâm đô thị tỉnh Thái Nguyên nhưng mỗi khi mưa lớn là đường Hoàng Văn Thụ bị ngập úng, nước từ nhiều nơi đổ về khu vực trước cổng Trường mầm non 19/5 Thái Nguyên gây ngập sâu, làm cho lưu thông, đi lại, buôn bán của người dân, hoạt động của nhà trường gặp nhiều khó khăn.

    Khắc phục tình trạng này, Ủy ban nhân dân phường Phan Đình Phùng đề xuất và được cơ quan chức năng và tỉnh Thái Nguyên chấp thuận xây dựng bể chứa nước điều tiết và trạm bơm chống ngập úng khu vực nêu trên.

    Công trình bao gồm, bể chứa điều tiết được xây dựng ngầm trong khuôn viên Trường mầm non 19/5 Thái Nguyên, phạm vi gần 500m2, bể có chiều dài 35m, rộng 15m, cao 5m, vị trí đặt hai máy bơm (công suất 5m3/giây) cao 7m. Đáy, 4 thành và mặt bể được xây dựng bằng bê-tông cốt thép, dung tích chứa 2.500m3 nước; bổ sung hệ thống hố ga thu nước mặt đường Hoàng Văn Thụ rồi dẫn vào bể chứa. Từ bể chứa, hai máy bơm tự động bơm nước vào ống thép có đường kính 1,4m để dẫn nước ra sông Cầu.

    Theo chủ đầu tư, đường ống từ bể chứa điều tiết dẫn nước ra sông Cầu được xây dựng ngầm, đi dọc ngõ 62 đường Hoàng Văn Thụ, qua khu vực phía sau tiệm vàng Quý Tùng đến trước mặt tòa nhà chung cư Teco Phủ Liễn, qua trước Đài tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ, chạy dọc đường Bắc Kạn đến cây xăng cầu Gia Bẩy và xả ra sông Cầu. Việc lựa chọn hướng tuyến này nhằm giảm đến mức thấp nhất tác động đến các công trình ngầm và hạ tầng đô thị.

    Với tổng mức đầu tư hơn 50 tỷ đồng, công trình được xây dựng theo lệnh khẩn cấp nhằm giảm thủ tục hành chính, đẩy nhanh tiến độ thi công để giảm tác động đến các hoạt động của xã hội và Trường mầm non 19/5 Thái Nguyên. Cụ thể, dự tính công trình sẽ hoàn thành vào tháng 4/2027, trong đó bể nước điều tiết sẽ hoàn thành vào khoảng tháng 11/2026 để trả lại mặt bằng khuôn viên và các hoạt động bình thường của Trường mầm non 19/5 Thái Nguyên.

    Tuy nhiên, người dân trên địa bàn, nhất là các phụ huynh Trường mầm non 19/5 mong muốn chủ đầu tư và nhà thầu tổ chức thi công bể chứa nước điều tiết vào những khung giờ phù hợp nhằm giảm tác động tiêu cực đối với các hoạt động trong khu vực, rút ngắn hơn nữa thời gian thi công để hoàn trả khuôn viên và cổng chính Trường mầm non 19/5 để phục vụ các hoạt động nuôi, dạy, đưa, đón trẻ.

    THẾ BÌNH

    Nguồn https://baomoi.com/thai-nguyen-xay-dung-be-chua-nuoc-dieu-tiet-chong-ngap-ung-do-thi-c55947993.epi

  • Làng xưa nay đã đổi thay

    Từ sinh sống ở những vùng rừng núi thiếu thốn, người dân được chuyển đến các khu dân cư có hạ tầng đồng bộ, từng bước ổn định cuộc sống, nâng cao thu nhập. Từ giữa năm 2026, 4 làng được sắp xếp thành 2 làng Plei Pông và Plei Hek, tạo nền tảng cho chặng đường phát triển mới.

    An cư nơi đất mới

    Nhắc lại những năm tháng sống trong vùng rừng núi, bà Kpă H’Le (59 tuổi, làng Kinh Pêng cũ, nay thuộc làng Plei Pông) không khỏi xúc động. “Hồi đó nghèo lắm, trong rừng không có điện, không đường, không trường, không trạm. Đường đi khó, các cháu nhỏ ít được đến trường, ốm đau cũng không biết chạy đi đâu. Có người sinh con ngay trong rừng vì xa bệnh viện quá” – bà H’Le kể.

    Một góc làng Plei Pông (xã Chư A Thai) với những ngôi nhà được chỉnh trang, đường giao thông được đầu tư, góp phần làm đổi thay diện mạo khu dân cư. Ảnh: L.N

    Trước đây, người dân chủ yếu sống tự cung, tự cấp. Cua, ốc, ếch bắt được quanh suối là nguồn thức ăn hằng ngày; việc đi chợ, mua thịt, cá khá xa xỉ. Trẻ em ít có điều kiện đến trường, nhiều em theo cha mẹ lên nương rẫy. Sản xuất phụ thuộc vào nương rẫy và thời tiết nên cuộc sống còn nhiều khó khăn.

    Năm 2024, làng Kinh Pêng được đầu tư dự án sắp xếp, bố trí ổn định dân cư với tổng mức đầu tư hơn 22,45 tỷ đồng, xây dựng hạ tầng cho 76 hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Khu dân cư được quy hoạch trên diện tích gần 5 ha; mỗi hộ được cấp 400 m² đất ở. Hạ tầng được đầu tư đồng bộ, khang trang với đầy đủ điện, đường, trường, trạm.

    Từ khi chuyển về khu dân cư mới, cuộc sống người dân từng bước đổi thay. Bà Rơ Mah H’Nhin (làng Plei Pông) phấn khởi nói: “Nay về đây có điện, đường bê tông, trường học, nước máy… bà con yên tâm làm rẫy, chăn nuôi, con cái được đi học đầy đủ”.

    Ngôi nhà sàn khang trang của gia đình anh Đinh Tơn ở làng Plei Hek (xã Chư A Thai), được xây dựng sau khi gia đình ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo. Ảnh: L.N

    Ông Kpă Tô Na – Trưởng thôn Plei Pông. cho hay: Hơn 20 năm trước, người dân từ thị trấn Phú Thiện (nay là xã Phú Thiện) vào sống rải rác trong rẫy trên núi Hlông. Sau thời gian được chính quyền và các lực lượng chức năng kiên trì tuyên truyền, vận động, bà con dần xuống núi. Cuối năm 2024, 76 hộ được bố trí tại khu dân cư mới có đường, điện, nước; con cái đi học thuận lợi hơn nên rất phấn khởi.

    Tại làng Plei Hek, ông Đinh Dung – Phó Bí thư Chi bộ, già làng, người có uy tín là một trong những người tích cực vận động bà con từ núi Cheng Leng xuống định cư. Theo ông, ban đầu nhiều hộ còn băn khoăn vì đã quen nơi ở cũ, gắn bó với đất sản xuất và tập quán sinh hoạt. Tuy nhiên, nhờ cấp ủy, chính quyền và các lực lượng kiên trì tuyên truyền, vận động, bà con dần đồng thuận.

    “Lúc đầu bà con cũng hơi căng thẳng, không chịu rời rừng nhưng rồi các cấp cùng vào cuộc tuyên truyền, vận động thì bà con dần đồng thuận” – ông Dung kể.

    Từ những nơi từng thiếu thốn đủ bề, người dân nay có nơi ở ổn định, thuận lợi tiếp cận các dịch vụ thiết yếu. Đây cũng là nền tảng để bà con từng bước thay đổi cách làm ăn.

    Hạ tầng khang trang, sinh kế khởi sắc

    Cán bộ xã, thôn trò chuyện, nắm bắt tình hình đời sống, sản xuất của người dân làng Plei Hek (xã Chư A Thai). Ảnh: L.N

    Sự thay đổi ở 4 làng nói trên được bắt nguồn từ Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 13-2-2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai (cũ) về “Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy các cấp về xây dựng làng nông thôn mới trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh”.

    Tổng diện tích đất ở tại 4 làng sau quy hoạch tăng từ 3,62 ha lên 47,15 ha; 294 căn nhà được di dời, sắp xếp. Địa phương đầu tư 5,41 km đường dây điện, cải tạo hệ thống nước tự chảy, làm mới nhiều tuyến giao thông nông thôn, hạ tầng phục vụ sản xuất tại cánh đồng mía Plei Pông và khu tái định cư Kinh Pêng.

    Theo ông Đinh Y ChHưn – Trưởng thôn Plei Hek, đến nay 100% đường nội thôn được bê tông hóa; 100% người dân sử dụng điện lưới quốc gia và nước sạch, nước hợp vệ sinh. Những con đường mới không chỉ thuận lợi đi lại mà còn giúp vận chuyển nông sản, tiếp cận khu vực sản xuất.

    Ông Kpă Tô Na cho biết, khoảng 80 – 90% đường trong làng đã được bê tông hóa hoặc cứng hóa. Nếu trước đây đường nội đồng chủ yếu là đường đất, việc vận chuyển nông sản gặp nhiều khó khăn thì nay xe cộ có thể vào tận nơi.

    “Đường đi lại thuận tiện hơn, xe cộ vào được nên vận chuyển nông sản cũng dễ. Kinh tế gia đình vì vậy có điều kiện phát triển hơn” – ông Tô Na nói.

    Giai đoạn 2019 – 2020, mô hình cánh đồng lớn trồng mía được triển khai với diện tích 87,1 ha. Công ty CP Nông nghiệp AgriS Gia Lai hỗ trợ hơn 6,5 tỷ đồng về giống, vật tư và đầu tư sản xuất cho người dân Plei Pông. Chăn nuôi bò sinh sản cũng trở thành hướng phát triển giúp nhiều hộ có thêm sinh kế.

    Gia đình anh Đinh Tơn ở Plei Hek từ hộ nghèo, được hỗ trợ bò sinh sản, sau đó chủ động chăm sóc, nhân đàn, kết hợp sản xuất nông nghiệp và làm thêm để tăng thu nhập. Đến năm 2023, gia đình anh thoát nghèo.

    “Gia đình tôi kết hợp nhiều công việc để có nguồn thu nhập ổn định hơn. Tôi làm việc tại một công ty, thu nhập mỗi tháng hơn 10 triệu đồng; vợ ở nhà chăm con, chăn đàn bò và sản xuất mía. Gia đình cũng vừa làm được ngôi nhà sàn khang trang trị giá gần 500 triệu đồng” – anh Tơn chia sẻ.

    Theo ông Phạm Văn Quyến – Trưởng Phòng Kinh tế xã Chư A Thai: Trước đây người dân chủ yếu sản xuất quy mô hộ gia đình, phụ thuộc vào thời tiết và giá cả. Một số diện tích lúa 1 vụ, mì, mía hiệu quả thấp được chuyển sang trồng thuốc lá, khoai lang, cho thu nhập cao và ổn định hơn. Người dân cũng chú trọng sử dụng giống mới, áp dụng KHKT và tìm đầu ra cho sản phẩm.

    Nếp nghĩ đổi thay

    Hạ tầng được cải thiện, sinh kế đa dạng giúp đời sống người dân từng bước nâng lên. Theo Trưởng thôn Plei Hek, bên cạnh sản xuất nông nghiệp, nhiều người, nhất là thanh niên, đi làm tại các công ty để có thu nhập ổn định. Nhiều gia đình kết hợp làm công ty, chăn nuôi và sản xuất.

    Năm 2021, thu nhập bình quân của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek khoảng 11,2 triệu đồng/người/năm; đến năm 2025 tăng lên 31 triệu đồng/người/năm, gần gấp 3 lần. Tỷ lệ hộ nghèo cũng giảm qua từng năm.

    Từ tháng 6-2026, 4 làng được sắp xếp thành 2 làng Plei Pông và Plei Hek. Sau sắp xếp, Plei Pông có 316 hộ/1.382 nhân khẩu; Plei Hek có 273 hộ/1.193 nhân khẩu. Hiện tỷ lệ nghèo đa chiều ở Plei Hek còn hơn 19%, Plei Pông còn hơn 14%.

    Ông Phạm Văn Lượng – Chủ tịch UBND xã Chư A Thai – cho biết: 3 chuyển biến rõ nhất ở các làng nói trên là điều kiện sống, hạ tầng được cải thiện; sinh kế, phương thức sản xuất thay đổi; nhận thức, tư duy của người dân từng bước chuyển biến. Nếu trước đây một bộ phận còn phụ thuộc vào hỗ trợ của Nhà nước thì nay nhiều hộ đã chủ động phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, đầu tư cho tương lai.

    Thời gian tới, xã Chư A Thai tiếp tục nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững; chuyển đổi diện tích sản xuất kém hiệu quả sang cây trồng, vật nuôi có giá trị cao hơn. Địa phương chú trọng liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản, hoàn thiện hạ tầng, đào tạo nghề, khuyến khích thanh niên phát triển kinh tế và xây dựng nông thôn mới.

    LÊ NAM

    Nguồn https://baomoi.com/lang-xua-nay-da-doi-thay-c55947925.epi

  • Đà Nẵng làm rõ nguyên nhân chậm tiến độ dự án di tích Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng

    Khách tham quan Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng tại xã Thạnh Bình (thành phố Đà Nẵng). Ảnh tư liệu, minh họa: Trần Tĩnh/TTXVN

    Theo đó, trong tháng 8/2026, Ban Quản lý dự án sẽ bàn giao toàn bộ phần diện tích đã hoàn thành là 17.000 m2 (đạt 90% khối lượng dự án) cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố cùng các đơn vị liên quan, để chuẩn bị tổ chức Lễ kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng vào cuối tháng 9/2026 sắp tới. 

    Phần việc còn lại gồm 1.800 m2 (10% khối lượng dự án) hiện vướng giải tỏa nhà của 2 hộ dân và một phần đất của 1 hộ dân khác, Ban Quản lý dự án dự kiến sẽ thi công hoàn thành dứt điểm trong năm 2026, sau khi được bàn giao mặt bằng sạch. Đồng thời, Ban Quản lý dự án cũng kiến nghị UBND thành phố Đà Nẵng cho phép tạm ứng kinh phí từ dự án để chi trả trước cho các hộ dân đang vướng mắc mặt bằng, giúp sớm có mặt bằng sạch để thi công hoàn thành toàn bộ dự án trong năm 2026.

    Về tiến độ cụ thể của dự án, đối với gói thầu Khu di tích gốc, đơn vị đã hoàn thành trùng tu, tôn tạo và bàn giao đưa vào sử dụng từ ngày 09/04/2025 (vượt tiến độ 3 tháng). Còn gói thầu khu phát huy giá trị di tích được khởi công ngày 02/06/2025, theo kế hoạch sẽ hoàn thành vào 31/10/2026; nhưng vẫn đang chưa thể thi công các hạng mục nâng cấp đường, mương thoát nước đường DH5 và 20m kè sát bờ suối (diện tích 1.800 m2), nguyên nhân do vướng giải phóng mặt bằng.

    Trước đó, như TTXVN đã thông tin, ngày 20/8 vừa qua, UBND thành phố Đà Nẵng đã có công văn yêu cầu Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật thành phố Đà Nẵng rà soát, kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm cơ quan, cá nhân trong việc chậm trễ hoàn thành dự án trên; khẩn trương báo cáo rà soát toàn bộ quá trình triển khai dự án, vướng mắc phát sinh, cơ quan, đơn vị, cá nhân cụ thể chịu trách nhiệm, báo cáo UBND thành phố.

    Lãnh đạo UBND thành phố Đà Nẵng cũng yêu cầu Ban Quản lý dự án chủ trì, phối hợp với UBND xã Thạnh Bình, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên quan khẩn trương tập trung mọi nguồn lực, tổ chức đẩy nhanh tiến độ thi công. Các đơn vị giải quyết dứt điểm các vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng dự án trước ngày 30/8/2026.

    Dự án “Phát huy giá trị di tích Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng” có tổng mức đầu tư hơn 56,5 tỷ đồng, thời gian thực hiện dự án từ năm 2017 đến năm 2026. Từ năm 2017 đến ngày 30/08/2021, chủ đầu tư dự án là UBND huyện Tiên Phước, sau đó dự án được bàn giao cho Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật Đà Nẵng.

    Dự án được triển khai trên 3 phân khu/hạng mục chính; trong đó, giữ nguyên di tích gốc; tu bổ nhà thờ chính, phục dựng nhà ngang, nhà cầu; cải tạo sân vườn, lối đi bộ, mộ thân sinh cụ Huỳnh, cổng ngõ; lắp đặt hệ thống chiếu sáng, tưới nước và phòng chống mối mọt.

    Về hạ tầng giao thông, thực hiện việc nâng cấp tuyến đường chính vào di tích dài khoảng 1.000m; nâng cấp tuyến đường DH5 phía Nam dài 300m. Khu phát huy giá trị di tích (khoảng 17.500 m²) được xây mới 2 nhà vệ sinh, 2 nhà xe, bãi đỗ xe, vịnh đỗ xe; xây dựng lối đi bộ, công viên cây xanh, khu trồng cây lưu niệm, đồi chè, vườn cây Mính Viên và mương nước cảnh quan dài 230m…

    Quốc Dũng (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/da-nang-lam-ro-nguyen-nhan-cham-tien-do-du-an-di-tich-nha-luu-niem-cu-huynh-thuc-khang-c55948002.epi

  • Gia Lai chấp thuận chủ trương đầu tư dự án thủy điện Sê San 4 mở rộng

    Dự án triển khai tại xã Ia O (tỉnh Gia Lai) và xã Ia Tơi (tỉnh Quảng Ngãi), với tổng diện tích sử dụng đất 40,15 ha; trong đó 29,95 ha sử dụng có thời hạn và 10,20 ha sử dụng tạm thời.

    Nhà máy có công suất thiết kế 120MW, sản lượng điện trung bình hằng năm khoảng 58,95 triệu kWh. Dự án sẽ đấu nối bằng đường dây 220kV mạch đơn từ trạm biến áp 220kV của nhà máy mở rộng đến thanh cái 220kV Trạm biến áp 220kV Nhà máy thủy điện Sê San 4 hiện hữu.

    Theo mục tiêu được phê duyệt, dự án nhằm bổ sung nguồn điện sạch từ năng lượng tái tạo cho hệ thống điện quốc gia, tạo nguồn dự phòng linh hoạt khi phụ tải biến động; đồng thời, tận dụng lượng nước xả thừa vào mùa lũ của nhà máy Sê San 4 hiện hữu để phát điện, góp phần giảm phát thải khí CO2.

    Nhà máy thủy điện Sê San 4. Ảnh: Công ty Phát triển Thủy điện Sê San

    Tổng vốn đầu tư của dự án hơn 2.995 tỷ đồng, trong đó vốn góp của nhà đầu tư hơn 599 tỷ đồng và vốn huy động hơn 2.396 tỷ đồng. Thời hạn hoạt động của dự án là 50 năm kể từ ngày được chấp thuận chủ trương đầu tư (23-8-2026).

    Theo tiến độ đề ra, từ tháng 9-2026 đến tháng 4-2027, nhà đầu tư sẽ triển khai các thỏa thuận chuyên ngành, thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi, đàm phán hợp đồng mua bán điện và thực hiện các thủ tục về đất đai. Dự án dự kiến khởi công vào tháng 5-2027 và hoàn thành, đưa vào vận hành vào tháng 6-2030.

    UBND tỉnh Gia Lai yêu cầu EVN phối hợp chặt chẽ với chính quyền và các sở, ngành của tỉnh Quảng Ngãi để hoàn tất thủ tục liên quan đến phần diện tích dự án nằm trên địa bàn tỉnh này; đồng thời chuẩn xác ranh giới, diện tích dự án với UBND xã Ia O, UBND xã Ia Tơi và Ban Quản lý rừng phòng hộ Gia Lai.

    Phương án đấu nối chỉ được triển khai khi phù hợp với Quy hoạch tỉnh đã được phê duyệt. Nhà đầu tư phải trình cấp có thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh vị trí đấu nối trong quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, cũng như trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận hướng tuyến đường dây đấu nối 220kV theo quy định…

    Theo Sở Tài chính tỉnh Gia Lai, Dự án Nhà máy thủy điện Sê San 4 mở rộng là 1 trong 6 dự án đầu tư thu hút mới từ ngày 21 đến 27-8-2026. 5 dự án còn lại, gồm: Nhà máy chế biến tinh bột sắn Vân Canh của Công ty TNHH MTV Nguyên Liêm (165 tỷ đồng); Nhà máy xử lý xà bần, phế thải xây dựng, tái chế làm vật liệu xây dựng, vật liệu san lấp Long Mỹ – Quy Nhơn của Công ty CP Công trình đô thị Gia Lai (57,5 tỷ đồng); Nhà máy chế biến thủy sản công nghệ cao SeaWealth Việt Nam của Công ty TNHH Thủy sản SeaWealth (31,5 tỷ đồng); Thủy điện Đăk Pô Kei của Công ty CP Thủy điện Đăk Pô Kei (198,03 tỷ đồng); Nhà máy thủy điện Ia Hiao của Công ty CP Thủy điện Ia Hiao (459,62 tỷ đồng).

    Như vậy, trong tháng 8-2026, Gia Lai thu hút mới 19 dự án, với tổng vốn đăng ký gần 9.820 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm 2026 đến nay, toàn tỉnh thu hút 198 dự án, vượt 16,47% kế hoạch năm do UBND tỉnh giao. Tổng vốn đăng ký đạt hơn 180.510 tỷ đồng, tăng 46,67% về số dự án và tăng 142,85% về vốn so với cùng kỳ năm 2025.

    Trong số này có 192 dự án trong nước, với tổng vốn hơn 176.501 tỷ đồng; 6 dự án FDI, tổng vốn hơn 4.009 tỷ đồng, tương đương 154,22 triệu USD. Công nghiệp tiếp tục là lĩnh vực thu hút đầu tư lớn nhất, với 102 dự án, tổng vốn đăng ký hơn 149.528 tỷ đồng.

    TRỌNG LỢI

    Nguồn https://baomoi.com/gia-lai-chap-thuan-chu-truong-dau-tu-du-an-thuy-dien-se-san-4-mo-rong-c55947917.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!