Nguồn https://baomoi.com/de-ha-noi-khong-con-bi-dong-truoc-mua-lon-c55952502.epi
Category: Tin BĐS Việt Nam
-
Thi công xuyên kỳ nghỉ lễ trên đại công trường ở Phú Quốc
Dưới nắng gió đảo ngọc những ngày tháng 8, hàng nghìn công nhân, kỹ sư đang chạy đua với thời gian trên công trường Trung tâm Hội nghị và Triển lãm APEC 2027 tại Phú Quốc. Các mũi thi công được triển khai đồng loạt, từ lắp đặt hệ mái, kính mặt ngoài đến hoàn thiện các hạng mục bên trong công trình.
Để đảm bảo tiến độ, lực lượng kỹ sư, công nhân duy trì thi công ngày đêm theo phương án “ba ca, bốn kíp”, bất chấp thời tiết nắng mưa thất thường trên đảo. Theo thiết kế, Trung tâm Hội nghị và Triển lãm APEC 2027 có tổng diện tích sàn khoảng 153.130m², gồm một tầng hầm, ba tầng nổi và tầng tum kỹ thuật. Công trình cao 39,25m, diện tích mái khoảng 52.000m².
Điểm nhấn kiến trúc của công trình là hệ mái với những đường cong uốn lượn, lấy cảm hứng từ những con sóng biển Phú Quốc. Thiết kế này được thể hiện qua 13 nhịp mái chính, tạo nên hình dáng đặc trưng cho toàn bộ công trình. Hệ mái sử dụng khoảng 12.000 tấn kết cấu thép, với khả năng vượt nhịp không cột lên tới 81m. Khu vực sảnh chính được thiết kế để tận dụng ánh sáng tự nhiên. Ảnh: TĐC
Một chi tiết khác trong thiết kế là hệ hàng hiên bao quanh tòa nhà, rộng khoảng 15m và dài hơn 300m. Đây vừa là không gian chuyển tiếp giữa cảnh quan bên ngoài với khu vực hội nghị, vừa góp phần thích ứng với điều kiện khí hậu nhiệt đới. Các tầng của công trình được bố trí theo từng nhóm công năng. Tầng 1 dành cho khu hậu cần và hệ thống nhà hàng; tầng 2 có khoảng 30 phòng họp đa năng với hệ thống vách ngăn linh hoạt. Tầng 3 là không gian rộng khoảng 3.000m², phục vụ các phiên họp APEC chính thức của nguyên thủ và có thể chuyển đổi thành phòng yến tiệc cấp nhà nước.
Đáng chú ý, đại sảnh (ballroom) có diện tích khoảng 11.050m², được thiết kế không cột. Khi hoàn thành, không gian này dự kiến vượt Caesars Forum tại Las Vegas (Mỹ) để trở thành phòng ballroom không cột có diện tích lớn nhất thế giới. Theo ông Hoàng Khắc Kỳ, Trưởng bộ phận xây dựng công trình, đến nay dự án đã hoàn thành khoảng 98% khối lượng bê tông cốt thép và hơn 95% kết cấu thép chính. Chủ đầu tư đặt mục tiêu hoàn thiện phần mặt ngoài công trình trong quý IV/2026 và hoàn thành toàn bộ nội thất trong quý I/2027. Ảnh: TĐC
Trên công trường, những ngày nghỉ lễ 2/9 cũng không làm giảm nhịp thi công. Hàng nghìn kỹ sư, công nhân tiếp tục bám trụ, từng bước hoàn thiện công trình để kịp phục vụ Tuần lễ Cấp cao APEC 2027. Ảnh: TĐC
Nguồn https://baomoi.com/thi-cong-xuyen-ky-nghi-le-tren-dai-cong-truong-o-phu-quoc-c55952407.epi
-
Gỡ điểm nghẽn, chủ động nguồn vật liệu
Trong khi đó, nguồn cung có thời điểm chưa đáp ứng kịp, một số loại vật liệu khan hiếm, giá tăng, ảnh hưởng đến tiến độ và chi phí công trình. Bài toán đặt ra là phải chủ động nguồn cung, từ khai thác hiệu quả các mỏ hiện có đến chuẩn bị quỹ mỏ cho những năm tới.
Các mỏ đá tại xã Quang Sơn được đề xuất xác định là mỏ vật liệu xây dựng thông thường, góp phần bổ sung nguồn cung phục vụ các công trình, dự án trên địa bàn.
Hiện, Thái Nguyên có 114 giấy phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường còn thời hạn, gồm 36 giấy phép khai thác cát, sỏi; 48 giấy phép khai thác đá vôi; 17 giấy phép đất san lấp; 6 giấy phép khai thác đá cát kết và 7 giấy phép khai thác đất sét làm gạch; 10 giấy phép thăm dò còn hiệu lực, trong đó 9 giấy phép liên quan trực tiếp đến vật liệu xây dựng.
Tuy nhiên, nguồn cung chưa đáp ứng ngay nhu cầu thị trường, một số mỏ trên địa bàn tỉnh còn hạn chế về công suất, trong khi việc nâng sản lượng phải thực hiện theo quy định.
Ông Dương Sơn Hà, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cho biết: Tỉnh đang rà soát hiện trạng, điều chỉnh các mỏ thuộc thẩm quyền cấp phép, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế sau sắp xếp và phục vụ phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026- 2030. Trong đó, nhóm khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, nhất là đất san lấp và đá xây dựng, được đặc biệt quan tâm.
Trong Quy hoạch tỉnh giai đoạn 2025-20230, Thái Nguyên bổ sung 6 mỏ đất san lấp, trong đó có khu vực Núi Đậu 1, phường Phúc Thuận, diện tích 13,82ha.
Từ rà soát này, những mỏ còn khả năng tăng công suất đang được hướng dẫn thực hiện các thủ tục cần thiết để bổ sung nguồn cung. Mỏ cát kết Hằng Ngọc Tú tại phường Phúc Thuận là một trường hợp như vậy. Mỏ có trữ lượng khoảng 631 3 nghìn m nhưng công suất hiện mới đạt 21 3 nghìn m /năm. Hiện doanh nghiệp đang đề nghị nâng thêm 11 nghìn m3 /năm.
Ông Đỗ Công Hanh, Phó Chủ tịch UBND phường Phúc Thuận, cho biết địa phương có 3 mỏ đất và 2 mỏ cát, sỏi. Phường đang phối hợp rà soát thủ tục để tỉnh xem xét cấp phép khai thác đất san lấp tại 3 mỏ theo cơ chế đặc thù.
Mỏ đá Lũng Chò 2, xã Quang Sơn, của Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Hà Nội đang thực hiện nâng công suất khai thác, bổ sung nguồn đá xây dựng.
Với cát tự nhiên, nguồn cung còn hạn chế; một số mỏ chưa thể khai thác do người dân lo ngại sạt lở bờ sông. Tỉnh đang tính toán bổ sung cát từ các địa phương lân cận, tận dụng đá, cuội để nghiền cát, đồng thời nâng công suất mỏ Cù Vân và hoàn thiện thủ tục các mỏ Quan Nưa I, II.
Về lâu dài, Thái Nguyên đang chủ động tạo thêm dư địa nguồn vật liệu thông qua điều chỉnh quy hoạch. Phương án điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, đề xuất bổ sung 63 khu vực mỏ với tổng nhu cầu sử dụng đất hơn 1.059ha. Trong đó có 29 khu vực đá vôi, diện tích hơn 421ha, cùng các nhóm đá cát kết, cát sỏi, đất san lấp, đất sét làm gạch ngói và đôlômit.
Nguồn cát tự nhiên còn hạn chế, tỉnh đang tìm giải pháp bổ sung nguồn cung từ các địa phương lân cận.
Song song với mở rộng nguồn cung, Thái Nguyên cũng định hướng phát triển vật liệu xây dựng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và tăng sử dụng vật liệu xanh. Đến năm 2030, vật liệu xây không nung phấn đấu chiếm trên 40% tổng sản lượng; vật liệu mới, vật liệu xanh đạt khoảng 20% thị phần.
Chủ động nguồn vật liệu không chỉ là giải bài toán thiếu hụt trước mắt mà còn là bước chuẩn bị cần thiết để Thái Nguyên bảo đảm dư địa cho đầu tư, xây dựng và phát triển trong những năm tới.
Nguồn https://baomoi.com/go-diem-nghen-chu-dong-nguon-vat-lieu-c55952347.epi
-
Chậm khởi công tuyến cao tốc TP Hồ Chí Minh – Thủ Dầu Một – Chơn Thành
Tuy nhiên, trong các dự án trọng điểm được khởi công, động thổ dịp Quốc khánh 2/9 không có tuyến cao tốc trên.
Theo chỉ đạo của ông Hoàng Nguyên Dinh, Phó Chủ tịch UBND thành phố với Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch UBND 7 phường, xã liên quan đến dự án, gồm Bình Cơ, Vĩnh Tân, Bình Dương, Tân Hiệp, Tân Khánh, An Long và Phước Hoà, thì công tác bồi thường, thu hồi đất phục vụ Dự án cao tốc TP Hồ Chí Minh – Thủ Dầu Một – Chơn Thành phải được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của địa phương trong quý 3. Do đó các phường, xã phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, huy động cả hệ thống chính trị, các tổ chức đoàn thể và lực lượng ở cơ sở vào cuộc nhằm tạo sự đồng thuận của người dân; tăng cường đối thoại, giải thích chính sách, kịp thời nắm bắt và xử lý các kiến nghị, phản ánh của người dân.
Đối với các trường hợp đã được giải quyết đầy đủ quyền lợi nhưng vẫn không chấp hành, địa phương cần khẩn trương hoàn thiện hồ sơ để thực hiện các trình tự, thủ tục thu hồi đất theo quy định. Người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền địa phương phải trực tiếp theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện bồi thường, thu hồi đất, bảo đảm bàn giao mặt bằng sạch phục vụ thi công tuyến cao tốc TP Hồ Chí Minh – Thủ Dầu Một – Chơn Thành trước ngày 2/9. Không để nguyên nhân chủ quan của địa phương làm ảnh hưởng đến tiến độ dự án và các cam kết của thành phố với Chính phủ.
Một trong 16 khu nhà xưởng nằm trong danh sách xây dựng không phép, sai phép.
Để bảo đảm thời hạn bàn giao mặt bằng cho dự án, ngay từ tháng 6 bà Trần Thị Diễn Trinh, Bí thư Đảng uỷ – Chủ tịch HĐND, Tổ trưởng Tổ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện các công trình trọng điểm trên địa bàn phường Tân Khánh đã chỉ đạo rõ một loạt nội dung liên quan. Trong đó, đối với Dự án cao tốc TP Hồ Chí Minh – Thủ Dầu Một – Chơn Thành Bí thư Đảng uỷ phường giao UBND phường chỉ đạo Phòng Kinh tế – Hạ tầng và Đô thị phường rà soát, điều chỉnh số liệu đảm bảo thống nhất, chính xác. Tham mưu, xem xét thông qua các quyết định áp dụng đơn giá bồi thường đối với cột chịu lực làm cơ sở xây dựng phương án hỗ trợ khác.
Đặc biệt, bà Trinh giao UBND phường rà soát 16 trường hợp nhà xưởng trong phạm vi dự án để xác định việc chấp hành các quy định về xây dựng. Đối với trường hợp xây dựng không phép hoặc vi phạm trật tự xây dựng, cần xử lý và tổ chức cưỡng chế. Ngoài ra, đối với 36 trường hợp chưa được phê duyệt phương án bồi thường, Ban Quản lý (BQL) dự án khu vực Tân Uyên phải khẩn trương hoàn thiện hồ sơ để UBND phường xem xét, phê duyệt. Riêng với 39 trường hợp chưa được xác nhận trực tiếp sản xuất nông nghiệp, Phòng Kinh tế – Hạ tầng và Đô thị phường phối hợp với Ban điều hành khu phố xác minh để tham mưu UBND phường trả lời.
Khu nhà xưởng có diện tích khá lớn nhưng chưa xác định được số thửa đất.
Báo cáo về tình hình giải phóng mặt bằng phục vụ dự án này vào tháng 7 vừa qua, ông Nguyễn Hữu Phương, Chủ tịch UBND phường Tân Khánh đã thông tin rằng, đoạn qua địa bàn Bình Dương cũ có chiều dài lên đến hơn 45,7km, trong đó đoạn qua địa bàn phường Tân Khánh dài hơn 3,6km. Địa phương này có 228 trường hợp bị ảnh hưởng từ việc giải phóng mặt bằng phục vụ tuyến cao tốc và đến tháng 7 vừa qua mới chỉ có 148 trường hợp đã bàn giao mặt bằng.
Về việc rà soát đối với 16 trường hợp nhà xưởng thuộc phạm vi dự án, ông Nguyễn Hữu Phương cho rằng BQL dự án đầu tư xây dựng của địa phương đã cung cấp danh sách 16 nhà xưởng sản xuất, phường đã chỉ đạo Phòng Kinh tế – Hạ tầng và Đô thị rà soát, báo cáo UBND phường xem xét.
Gần đây, khi trao đổi về số nhà xưởng được xác định xây dựng không phép, sai phép trên, ông Nguyễn Thái Bình, Phó Chủ tịch UBND phường Tân Khánh cho biết, danh sách và hồ sơ các nhà xưởng hiện địa phương đã nắm. Thậm chí hồ sơ nhiều nhà xưởng đã có biên bản xử phạt vi phạm về trật tự xây dựng. Do đó phường đang giao cho Phòng Kinh tế – Hạ tầng và Đô thị rà soát, đối chiếu lại từng thửa đất có nhà xưởng để xử lý.
Nguồn https://baomoi.com/cham-khoi-cong-tuyen-cao-toc-tp-ho-chi-minh-thu-dau-mot-chon-thanh-c55952300.epi
-
Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp ban hành Nghị quyết 46 ngày 9-7-2026 việc điều chỉnh danh mục dự án đấu thầu sử dụng đất
[Infographic] Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp ban hành Nghị quyết 46 ngày 9-7-2026 về việc điều chỉnh danh mục dự án đấu thầu sử dụng đất.
-
An Giang đầu tư hơn 5.290 tỷ đồng xây dựng tuyến giao thông kết nối liên tỉnh
Tại An Giang, Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Châu Đốc-Cần Thơ-Sóc Trăng giai đoạn 1. (Ảnh: Thanh Sang/TTXVN)
Nhằm hoàn thiện hạ tầng giao thông đường bộ, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội tỉnh bền vững và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Hội đồng Nhân dân tỉnh An Giang khóa XI vừa thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án nâng cấp, mở rộng đường ĐT.963 đoạn QL80 – Vị Thanh chạy qua địa bàn tỉnh kết nối với thành phố Cần Thơ.
Dự án có tổng mức đầu tư trên 5.290 tỷ đồng, sử dụng vốn vay từ Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và vốn đối ứng ngân sách địa phương, thời gian thực hiện từ năm 2027 đến năm 2032.
Đây là dự án thuộc nhóm A, do Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang làm cơ quan chủ quản, với nhà tài trợ chính là Ngân hàng Phát triển châu Á. Dự án bao gồm hai hạng mục công trình giao thông trọng điểm có ý nghĩa chiến lược đối với việc liên kết các tỉnh, thành phố trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo đó, hạng mục thứ nhất là nâng cấp, mở rộng tuyến ĐT.963 đoạn QL80 – Vị Thanh với tổng chiều dài hơn 42km, qua địa bàn các xã Thạnh Đông, Giồng Riềng, Ngọc Chúc, Hòa Thuận và Hòa Hưng thuộc tỉnh An Giang.
Điểm đầu của tuyến giao với Quốc lộ 80 tại Km96+021 thuộc địa bàn xã Thạnh Đông (An Giang), điểm cuối tại Mố B cầu Lung Nia, phường Vị Tân (TP Cần Thơ).
Tuyến đường được nâng cấp từ quy mô đường cấp V đồng bằng hiện hữu lên quy mô đường cấp III đồng bằng theo Tiêu chuẩn kỹ thuật TCVN4054-2005. Sau khi hoàn thành, mặt đường rộng 11-12 m, thiết kế cho vận tốc xe chạy 80 km/h. Cùng với phần đường, hạng mục này xây dựng mới 37 cầu bê tông cốt thép và bê tông cốt thép dự ứng lực vĩnh cửu.
Tiếp đến, hạng mục thứ hai là xây dựng mới tuyến hành lang liên tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp) – Ô Môn (TP Cần Thơ) – Giồng Riềng (An Giang) với chiều dài 20km qua địa phận 2 xã Giồng Riềng và Thạnh Hưng thuộc tỉnh An Giang.
Tuyến bắt đầu từ ranh giới tiếp giáp với thành phố Cần Thơ tại xã Thuận Đông và điểm cuối kết nối trực tiếp vào tuyến cao tốc Hà Tiên – Rạch Giá – Bạc Liêu.
Tuyến đường này được xây dựng mới hoàn toàn đạt tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng, vận tốc thiết kế 80 km/h, mặt đường rộng 11 – 12 m, đồng thời xây dựng mới 22 cầu bê tông cốt thép và bê tông cốt thép dự ứng lực vĩnh cửu.
Dự án nâng cấp, mở rộng đường ĐT.963, tạo động lực bứt phá kinh tế-xã hội An Giang do tuyến đường chạy qua vùng sản xuất nông nghiệp, thủy sản trọng điểm của tỉnh nhưng hạ tầng giao thông hiện hữu đã xuống cấp, chưa đáp ứng kịp nhu cầu vận tải hàng hóa và giao thương ngày càng gia tăng.
Đồng thời, góp phần hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long theo Quyết định số 287/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và quy hoạch tỉnh An Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang Lê Trung Hồ nhấn mạnh, dự án nâng cấp, mở rộng đường ĐT.963, góp phần hoàn thiện hạ tầng giao thông, kết nối thuận lợi với mạng lưới giao thông liên kết vùng và phù hợp với các quy hoạch khác tạo động lực phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chủ động dịch chuyển cơ cấu kinh tế để giảm thiểu tác động của xâm nhập mặn và nước biển dâng, chủ động thích ứng biến đổi khí hậu và tạo điều kiện thuận lợi để xử lý những tình huống ứng phó thiên tai tại địa phương.
Đồng thời, dự án mở rộng không gian phát triển và tạo các hành lang để phát triển kinh tế, tạo quỹ đất cho sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả tài nguyên biển và vùng ven biển, phát triển kinh tế biển theo chiến lược biển Việt Nam.
Mặt khác, thu hút đầu tư phát triển các khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp, khu đô thị, du lịch, môi trường thủy sản; tăng cường củng cố an ninh; sắp xếp và ổn định dân cư ven biển, giảm thiểu thiệt hại từ tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu và nước biển dâng, hạn hán, xâm nhập mặn…
-
“Rừng xanh làm ra tiền”, 11 cộng đồng miền núi Nghệ An lần đầu hưởng lợi từ ERPA năm 2026
Quyết định đánh dấu bước chuyển của kinh tế carbon ở vùng Tây Nam Nghệ An
Ngày 28/08/2026, UBND tỉnh Nghệ An chính thức ban hành Quyết định số 3920/QĐ-UBND phê duyệt danh sách 11 cộng đồng dân cư thuộc 6 xã sẽ được hưởng lợi từ nguồn thu Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) bổ sung năm 2025, cho năm tài chính 2026. Đây là lần đầu tiên các cộng đồng dân cư quản lý rừng phòng hộ Tây Nam Nghệ An được tiếp cận nguồn vốn tín dụng carbon toàn cầu, sau nhiều năm các vườn quốc gia và khu bảo tồn lớn tại tỉnh như Pù Mát hay Pù Huống mới có cơ hội hưởng lợi từ chương trình này.
Nguồn thu ERPA được chi trả dựa trên số liệu giảm phát thải khí nhà kính thực tế được đo đạc, kiểm định bởi các tổ chức quốc tế độc lập. Ảnh minh hoạ.
Quyết định do Ban quản lý rừng phòng hộ Tây Nam Nghệ An chủ trì lập kế hoạch và trình tỉnh phê duyệt, sau 6 tháng đánh giá diện tích, mức độ đóng góp của các cộng đồng vào việc bảo vệ, duy trì và phát triển diện tích rừng tự nhiên. Khác với các nguồn vốn hỗ trợ phát triển khác, nguồn thu ERPA được chi trả dựa trên số liệu giảm phát thải khí nhà kính thực tế được đo đạc, kiểm định bởi các tổ chức quốc tế độc lập, đảm bảo tính minh bạch và xứng đáng với công sức của người dân bảo vệ rừng.
Hiện có 11 cộng đồng dân cư thụ hưởng năm 2026. Các cộng đồng này chủ yếu là người dân tộc thiểu số Thái, Mường sinh sống tại các vùng núi sâu, có vai trò chính trong việc quản lý, bảo vệ gần 12.000 ha rừng phòng hộ Tây Nam được đưa vào danh sách hưởng lợi, phân bổ tại 6 xã có số lượng cộng đồng thụ hưởng gồm: xã Nghĩa Đồng xóm Khe Thần; xã Giai Xuân: xóm Nghĩa Trung; xã Tiên Đồng: xóm Đồng Tâm, bản Minh Trung, bản Thái Minh; xã Anh Sơn: bản Vều 1, bản Vều 2; xã Anh Sơn Đông: thôn Vĩnh Sơn 1, thôn Tào Sơn 3, thôn Tào Sơn 4); xã Thành Bình Thọ: bản Đông Thọ.
Đặc biệt, các bản Vều 1 và Vều 2 nằm trong vùng đệm xanh của Vườn quốc gia Pù Mát, nơi người dân đã thực hiện các quy định nghiêm ngặt về bảo vệ rừng trong hơn 15 năm, không cho phép khai thác gỗ thương mại hay phát nương làm rẫy phá vỡ hệ sinh thái. Ông Trần Văn Mười, trưởng bản Vều 1 chia sẻ: “Chúng tôi giữ rừng từ đời ông cha, nay chỉ nghĩ rằng là giữ nguồn nước, giữ không khí cho con cháu. Không ngờ rừng xanh lại có thể bán “carbon” cho thế giới, lấy tiền xây nhà văn hóa, làm đường bê tông cho bản”.
Nguồn vốn ERPA, nguyên nhân các cộng đồng được hưởng lợi
Theo quy định tại quyết định của UBND tỉnh Nghệ An, Ban quản lý rừng phòng hộ Tây Nam Nghệ An có trách nhiệm lập Kế hoạch tài chính năm 2026 chi tiết về số tiền mỗi cộng đồng được nhận, cùng với các mục tiêu sử dụng vốn, phải được công khai tại trụ sở UBND các xã và trên cổng thông tin điện tử tỉnh để người dân giám sát. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh sẽ phối hợp với các đơn vị liên quan kiểm tra định kỳ 6 tháng một lần, đảm bảo nguồn vốn chỉ được sử dụng cho các mục tiêu phát triển cộng đồng và hoạt động bảo vệ rừng.
Ngược với nhiều nguồn vốn hỗ trợ được chia nhỏ cho từng hộ gia đình, nguồn vốn ERPA này sẽ được tập trung quản lý bởi cộng đồng, dành cho các hạng mục phục vụ chung: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bản làng, hỗ trợ chi phí sinh hoạt cho các hộ nghèo, đầu tư các mô hình sinh kế bền vững không làm ảnh hưởng đến rừng như nuôi ong lấy mật, trồng dược liệu dưới tán rừng, hay chi trả lương cho các tổ bảo vệ rừng cộng đồng.
Cuối năm 2025, tỉnh Nghệ An giao hơn 202.000 ha rừng cho 27.339 hộ dân quản lý. Ảnh: Nguyễn Công
Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) được ký kết vào tháng 10/2020 giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường (trước là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRD), đơn vị nhận ủy thác của Quỹ Đối tác carbon lâm nghiệp (FCPF) – một quỹ toàn cầu hỗ trợ các nước đang phát triển thực hiện giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng (REDD+). Mô hình này hoạt động trên nguyên tắc: các địa phương bảo vệ rừng hiệu quả, giảm được lượng phát thải khí nhà kính sẽ được các quốc gia phát triển trả tiền cho lượng carbon mà rừng lưu giữ được, thông qua các giao dịch tín dụng carbon trên thị trường quốc tế.
Riêng năm 2025, Nghệ An đã có hơn 34.500 chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư quản lý gần 200.000 ha rừng được hưởng lợi từ nguồn thu ERPA bổ sung, với tổng số vốn hơn 120 tỷ đồng được phân bổ cho các vùng trồng rừng, bảo vệ rừng hiệu quả trên toàn tỉnh. Quyết định phê duyệt 11 cộng đồng tại Tây Nam là bước tiếp theo của tỉnh trong việc phân bổ nguồn vốn này đến tận người dân trực tiếp làm công tác bảo vệ rừng, thay vì chỉ dừng lại ở các tổ chức quản lý nhà nước như các giai đoạn trước.
Làm sao để nguồn vốn ERPA không “mất tích” giữa đường
Mặc dù quyết định đã được ban hành, các chuyên gia môi trường cũng đặt ra những thách thức đối với việc triển khai nguồn vốn này tại Tây Nam Nghệ An. Đầu tiên là năng lực quản lý tài chính của các cộng đồng dân cư vùng cao, nhiều nơi chưa có kinh nghiệm quản lý một nguồn vốn lớn, dễ dẫn đến sử dụng sai mục đích hay thất thoát. Thứ hai là cần có cơ chế giám sát kép, vừa có sự kiểm tra từ các cơ quan nhà nước, vừa có sự tham gia giám sát của chính người dân trong cộng đồng, đảm bảo nguồn vốn được chia sẻ công bằng, đúng người đúng việc.
Để giải quyết những vấn đề này, UBND tỉnh Nghệ An đã yêu cầu Ban quản lý rừng phòng hộ Tây Nam phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh tổ chức các lớp tập huấn về quản lý tài chính cộng đồng, xây dựng quy chế chi tiêu công khai hàng tháng tại các bản, và thành lập tổ giám sát cộng đồng gồm 3 người dân độc lập để theo dõi việc sử dụng nguồn vốn. Nếu mô hình này thành công, Nghệ An sẽ nhân rộng cho hơn 30 cộng đồng dân cư khác tại các khu rừng phòng hộ khác trên địa bàn tỉnh trong năm 2027.
-
Đóng điện 3 công trình hơn 2.100 tỷ đồng phục vụ APEC 2027
3 công trình lưới điện phục vụ APEC 2027 có tổng mức đầu tư gần 2.165 tỷ đồng. Ảnh: EVNSPC
Với tổng mức đầu tư gần 2.165 tỷ đồng, 3 công trình lưới điện do Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) làm chủ đầu tư đã chính thức đóng điện, đảm bảo năng lực cấp điện cho Đặc khu Phú Quốc và Hội nghị cấp cao APEC 2027.
Các dự án được giao cho Ban Quản lý dự án Điện lực miền Nam triển khai, bao gồm Trạm biến áp 220 kV Phú Quốc, Đường dây 110 kV Phú Quốc – Bắc Phú Quốc và Đường dây 110 kV Phú Quốc – Nam Phú Quốc. Dù đối mặt với nhiều khó khăn, các công trình đã được hoàn thành đúng tiến độ đề ra.
Tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ
Đường dây 110 kV Phú Quốc – Nam Phú Quốc có tổng mức đầu tư hơn 934 tỷ đồng, quy mô 2×20 km và 79 vị trí trụ, trong đó có 2,7 km cáp ngầm. Công trình đã được đóng điện rạng sáng ngày 16/8/2026.
Tiếp đó, trạm biến áp 220 kV Phú Quốc với tổng mức đầu tư 877,6 tỷ đồng, quy mô 2 máy 250 MVA và 2×19 km đường dây 220 kV đấu nối (gồm 2,7 km cáp ngầm), cũng đóng điện thành công vào 23h30 ngày 19/8/2026.
Mới đây nhất, đường dây 110 kV Phú Quốc – Bắc Phú Quốc với tổng mức đầu tư gần 353 tỷ đồng, quy mô 2×20,7 km và 75 vị trí trụ, đã đóng điện vào ngày 28/8/2026.
Đường dây 110 kV Phú Quốc – Bắc Phú Quốc có tổng mức đầu tư gần 353 tỷ đồng, đóng điện ngày 28/8/2026. Ảnh: EVNSPC
Quá trình triển khai thi công gặp không ít thách thức, từ vướng mắc trong bồi thường, giải phóng mặt bằng, thiếu hụt nguồn lao động do địa bàn đang đồng loạt triển khai nhiều dự án phục vụ APEC 2027, đến thời tiết bất lợi mưa nhiều từ tháng 4 và khó khăn trong vận chuyển máy móc, vật tư từ đất liền ra đảo.
Để đảm bảo tiến độ, chủ đầu tư, tư vấn, giám sát và nhà thầu đã nỗ lực làm việc xuyên ngày, xuyên đêm, kể cả dịp lễ, Tết. Các nhà thầu cũng tận dụng thời tiết thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ từng hạng mục.
Trước khi 3 công trình hoàn thành, Đặc khu Phú Quốc được cấp điện từ hai nguồn 110kV độc lập: Trạm 110kV Phú Quốc (qua tuyến cáp ngầm 110kV Hà Tiên – Phú Quốc) và Trạm 110kV Nam Phú Quốc (qua tuyến đường dây 220kV vượt biển Kiên Bình – Phú Quốc). Khi xảy ra sự cố ở một nguồn, khả năng cung cấp điện cho các phụ tải trên địa bàn sẽ bị ảnh hưởng.
Đảm bảo điện năng cho APEC 2027
Xuyên suốt quá trình triển khai, dự án nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao từ Chính phủ, Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Cùng với đó, sự đồng thuận của hệ thống chính trị địa phương, chính quyền tỉnh An Giang, người dân Phú Quốc và sự phối hợp chặt chẽ từ Trung tâm Điều độ hệ thống điện miền Nam đã tạo điều kiện để các đơn vị thi công tháo gỡ nhiều rào cản.
Về phía chủ đầu tư, các cấp lãnh đạo EVNSPC, từ Hội đồng Thành viên, Ban Tổng giám đốc đến các phòng ban chuyên môn, liên tục bám sát công trường để kiểm tra, đôn đốc và trực tiếp giải quyết các vướng mắc phát sinh.
Sau khi hoàn thành, các công trình giúp hoàn thiện kết nối lưới điện 110kV trên địa bàn và đáp ứng tiêu chí N-1. Tổng năng lực cấp điện cho đặc khu Phú Quốc được nâng lên 315MVA và dự kiến mở rộng lên 500MVA.
Việc nâng cấp hạ tầng năng lượng không chỉ tăng khả năng đáp ứng phụ tải và độ tin cậy cung cấp điện, mà còn là bước chuẩn bị thiết yếu, sẵn sàng phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 cũng như chiến lược phát triển kinh tế – xã hội dài hạn của Đặc khu.
Nguồn https://baomoi.com/dong-dien-3-cong-trinh-hon-2-100-ty-dong-phuc-vu-apec-2027-c55952135.epi