Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Tăng tốc giải phóng mặt bằng, tạo đà thu hút đầu tư công nghệ cao và bán dẫn

    Ông Nguyễn Ngọc Anh, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND phường Quế Võ.

    Với lợi thế về hạ tầng giao thông và đô thị phát triển nhanh, phường Quế Võ xác định công nghiệp điện tử, công nghệ cao, bán dẫn, tự động hóa và công nghiệp hỗ trợ là hướng đi chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và nâng cao đời sống Nhân dân.

    Thời gian qua, UBND phường đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn tích cực phối hợp với các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ hạ tầng kỹ thuật và giải phóng mặt bằng tại nhiều dự án trọng điểm. Nhờ đó, công tác thu hồi đất đạt nhiều kết quả khả quan: Khu công nghiệp An Việt Quế Võ đã hoàn thành bồi thường, hỗ trợ 17,16 ha với kinh phí hơn 85 tỷ đồng; Khu công nghiệp Quế Võ III, trong đó phân khu 1 đã chi trả 549,3 tỷ đồng (thu hồi 277,8 ha), phân khu 2 đã thu hồi 50,4 ha/67,5 ha. Các dự án khác, bao gồm cụm công nghiệp Quế Võ và Khu công nghiệp Quế Võ mở rộng 2 đang tiếp tục được triển khai nhằm tạo quỹ đất sạch thu hút các doanh nghiệp công nghệ hiện đại.

    Để tháo gỡ khó khăn và nâng cao hiệu quả đầu tư, phường Quế Võ kiến nghị tỉnh cùng các sở, ngành tiếp tục hỗ trợ công tác giải phóng mặt bằng; bảo đảm tiến độ đầu tư hạ tầng giao thông, điện, nước, xử lý môi trường và nhà ở công nhân. Đồng thời, địa phương đề xuất tỉnh quan tâm hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho các ngành điện tử và bán dẫn.

    Thời gian tới, phường Quế Võ xác định giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ trọng tâm. Bên cạnh đó, địa phương sẽ đẩy mạnh cải cách hành chính, đồng hành cùng doanh nghiệp, ưu tiên thu hút các dự án xanh, giá trị gia tăng cao, góp phần xây dựng Bắc Ninh phát triển thông minh, hiện đại và bền vững.

    PV

    Nguồn https://baomoi.com/tang-toc-giai-phong-mat-bang-tao-da-thu-hut-dau-tu-cong-nghe-cao-va-ban-dan-c55993629.epi

  • Lĩnh Nam sẽ thay đổi thế nào trong quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng?

    Tuyến đường ven sông và những không gian phát triển mới

    Theo phương án được trình bày tại hồ sơ Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5000, đoạn tuyến qua phường Lĩnh Nam được xác định từ cầu Vĩnh Tuy đến trạm bơm Yên Sở, chiều dài khoảng 7,5km. Tuyến cơ bản bám sát, chạy dọc theo đê, có bề rộng mặt cắt ngang 54m. Tại vị trí giao với cầu Thanh Trì, dự kiến tổ chức nút giao liên thông.

    Phương án đoạn tuyến qua phường Lĩnh Nam. Ảnh: PV

    Đáng chú ý, đoạn từ cầu Vĩnh Tuy đến cầu Cự Khối đi sát mép sông, dự kiến xây dựng kè đứng nhằm hạn chế việc cắt vào phần lòng sông. Tài liệu cũng nêu diện tích bị ảnh hưởng của tuyến đường đi qua khoảng 50,6ha.

    Những thông tin này cho thấy quy hoạch không chỉ xác định hướng tuyến giao thông mà còn đặt ra yêu cầu tổ chức không gian ven sông phù hợp với điều kiện thực tế. Với người dân Lĩnh Nam, đây là cơ sở để nghiên cứu, góp ý về hướng tuyến, kết nối giao thông, hạ tầng kỹ thuật, cảnh quan và những tác động có thể phát sinh trong quá trình triển khai.

    Tuy nhiên, cần phân biệt rõ diện tích bị ảnh hưởng của tuyến đường với diện tích đất sẽ bị thu hồi. Các nội dung cụ thể liên quan đến phạm vi thu hồi, đối tượng bị ảnh hưởng, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và tiến độ thực hiện cần được làm rõ trong quá trình hoàn thiện quy hoạch triển khai dự án.

    Công viên, đô thị đa mục tiêu và câu chuyện giữ gìn làng xóm

    Không gian Lĩnh Nam trong phương án quy hoạch không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ giao thông. Tại phân đoạn Đ3, từ cầu Thanh Trì đến cầu Mễ Sở, khu vực được định hướng phát triển với các chức năng thương mại, dịch vụ, vận chuyển, công viên nông nghiệp sinh thái, nghỉ dưỡng kết hợp trải nghiệm sáng tạo; đồng thời bảo tồn, khôi phục các giá trị lịch sử, văn hóa phục vụ du lịch.

    Tài liệu quy hoạch xác định các dự án thành phần liên quan trực tiếp đến Lĩnh Nam, gồm: Dự án thành phần 12 – Cụm công viên Lĩnh Nam; Dự án thành phần 13 – Cụm công viên Lĩnh Nam – Nam Phù – Hồng Vân; Dự án thành phần 17 – Khu đô thị đa mục tiêu Lĩnh Nam và khu định cư Lĩnh Nam. Các dự án này thuộc Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.

    Định hướng trên cho thấy Lĩnh Nam được đặt trong một không gian phát triển rộng hơn, nơi giao thông, công viên, dịch vụ, đô thị và các giá trị văn hóa có sự gắn kết. Với những làng xóm lâu đời như Thúy Lĩnh, câu chuyện quy hoạch vì thế không chỉ là mở thêm đường hay hình thành các khu đô thị mới mà còn là tổ chức lại không gian sống, khai thác giá trị cảnh quan và gìn giữ những giá trị văn hóa đã được hình thành qua nhiều thế hệ.

    Quy hoạch cũng nêu định hướng trước mắt cải tạo, chỉnh trang khu vực dân cư thuộc các làng xóm, không bao gồm khu vực nằm trong phạm vi di dời theo QH257 và phạm vi ảnh hưởng của trục đại lộ cảnh quan, nút giao thông.

    Đây là những nội dung người dân cần tiếp tục nghiên cứu, đối chiếu với bản đồ và hồ sơ quy hoạch để góp ý thiết thực. Đặc biệt, các vấn đề liên quan đến đất đai, giao thông, hạ tầng, môi trường, cảnh quan và bảo tồn làng xóm cần được xem xét trong mối quan hệ với đời sống thực tế của địa phương.

    Thương Huế

    Nguồn https://baomoi.com/linh-nam-se-thay-doi-the-nao-trong-quy-hoach-phan-khu-do-thi-song-hong-c55993832.epi

  • TPHCM triển khai Luật Phát triển đô thị: Khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng (Bài 2)

    Biến quyền được trao thành năng lực quyết định

    Điểm xuất phát của cải cách lần này phải nhận thức rằng phân quyền không đồng nghĩa với trao thêm quyền trên giấy. Một cơ quan chỉ thực sự được trao quyền khi cơ quan đó biết mình được quyết định điều gì, quyết định đến đâu, bằng công cụ nào, trong thời hạn bao lâu và phải chịu trách nhiệm về kết quả nào. TPHCM cần biến toàn bộ khoảng 240 nội dung được Luật trao quyền thành một hệ thống quản trị có thể vận hành được. Đây phải được xem là nhiệm vụ xây dựng năng lực quản trị mới, chứ không chỉ là nhiệm vụ rà soát pháp lý.

    Mỗi quyền được trao cần được chuyển thành một “hồ sơ vận hành”. Hồ sơ đó phải xác định rõ nội dung quyền, chủ thể có thẩm quyền, phạm vi quyết định, điều kiện sử dụng, trình tự thực hiện, thời hạn giải quyết, nguồn lực cần thiết, trách nhiệm của người quyết định và cơ chế hậu kiểm.

    Trên cơ sở đó, TPHCM cần hình thành một bản đồ quyền hạn đô thị, cho phép nhìn toàn bộ hệ thống từ Trung ương đến thành phố, HĐND, UBND, Chủ tịch UBND, các sở ngành và chính quyền cơ sở. Bản đồ này phải trả lời được câu hỏi rất đơn giản nhưng có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả quản trị: một vấn đề cụ thể thì ai là người có quyền quyết định cuối cùng?

    Đây là điều cần thiết để chấm dứt tình trạng quyền lực bị phân tán nhưng trách nhiệm lại không rõ ràng. Trong một hệ thống mà nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng không có chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng, quyết định thường bị đẩy lên cấp cao hơn, thời gian kéo dài và tâm lý an toàn hành chính trở thành lực cản của phát triển.

    Luật Phát triển đô thị đã mở rộng cơ chế để Thành phố chủ động ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong một số trường hợp đặc thù

    Vì vậy, nguyên tắc mới phải là “một việc – một người chịu trách nhiệm cuối cùng”. Điều này không có nghĩa một người phải làm tất cả, mà mỗi chương trình, mỗi dự án chiến lược và mỗi nhiệm vụ quan trọng phải có một chủ thể chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng.

    TPHCM có thể sử dụng “ma trận” trách nhiệm để xác định rõ người trực tiếp thực hiện, người chịu trách nhiệm cuối cùng, những người phải được tham vấn và những người phải được thông tin. Cách làm này đặc biệt cần thiết đối với những vấn đề liên ngành như TOD, phát triển hạ tầng, tái cấu trúc đô thị, nhà ở, logistics và các chương trình đầu tư lớn. Sự thay đổi phải được phản ánh trực tiếp vào cách đánh giá bộ máy. Một sở ngành không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng văn bản đã xử lý hoặc số cuộc họp đã tổ chức. Một dự án cũng không thể chỉ được đánh giá bằng số tiền đã giải ngân. Câu hỏi phải là kết quả cuối cùng đã đạt được là gì.

    Đây là bước chuyển từ “quản lý công việc” sang “quản lý kết quả”. Trong giao thông, kết quả không phải chỉ là bao nhiêu ki-lô-mét đường được xây dựng, mà là người dân mất bao nhiêu thời gian để đi lại. Trong nhà ở, kết quả không chỉ là bao nhiêu căn hộ được xây, mà là bao nhiêu người có khả năng tiếp cận nhà ở phù hợp. Trong TOD, kết quả không phải chỉ là bao nhiêu nhà ga được hoàn thành, mà là bao nhiêu người có thể sống, làm việc, học tập và tiếp cận dịch vụ trong phạm vi thuận tiện của giao thông công cộng.

    Để làm được điều đó, TPHCM cần hình thành hệ thống KPI quản trị thống nhất. Những chỉ số cơ bản phải bao gồm thời gian ra quyết định, thời gian giải quyết thủ tục, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung, số vòng xin ý kiến liên ngành, tỷ lệ nhiệm vụ quá hạn, tỷ lệ quyết định đúng thẩm quyền, chi phí hành chính của doanh nghiệp và mức độ hài lòng của người dân.

    Mục tiêu trong năm đầu tiên phải đủ cụ thể để có thể kiểm chứng. Thành phố cần hướng tới việc xác định rõ chủ thể đối với 100% nội dung được trao quyền; xây dựng quy trình vận hành đối với 100% nhóm quyền quan trọng; giảm khoảng 30-50% thời gian ra quyết định ở những quy trình được phân quyền; giảm ít nhất 50% các trường hợp phải xin ý kiến ngoài thẩm quyền; đưa tỷ lệ quyết định bị trả lại do không rõ thẩm quyền xuống dưới 2%.

    Nhưng chỉ giảm thời gian là chưa đủ. Một chính quyền nhanh nhưng quyết định thiếu cơ sở cũng không phải chính quyền tốt. Vì vậy, phân quyền phải đi cùng với trách nhiệm, dữ liệu và hậu kiểm. Trong những lĩnh vực pháp luật cho phép, TPHCM cần từng bước chuyển từ tư duy tiền kiểm sang quản trị bằng tiêu chuẩn, dữ liệu, trách nhiệm và hậu kiểm.

    Người được trao quyền phải được quyết định trong phạm vi pháp luật đã xác định. Sau đó, hệ thống kiểm tra tính hợp pháp, hiệu quả và kết quả của quyết định. Đây là điều kiện để quyền lực mới thực sự có ý nghĩa. Nếu mọi quyết định vẫn phải xin ý kiến trước dù đã được trao quyền thì về thực chất, hệ thống vẫn vận hành theo cơ chế cũ. Do đó, cải cách lần này không chỉ là cải cách thủ tục mà phải là cải cách văn hóa ra quyết định.

    Người được trao quyền phải có khả năng quyết định. Người quyết định đúng phải được bảo vệ bằng cơ chế hậu kiểm minh bạch. Người cố tình né tránh trách nhiệm bằng cách đẩy hồ sơ lên cấp trên phải được nhìn nhận như một vấn đề quản trị. Mọi quyết định quan trọng phải được gắn với dữ liệu, tiêu chí và trách nhiệm rõ ràng.

    Luật Phát triển đô thị được kỳ vọng sẽ giúp TPHCM bứt phá

    Cần xây dựng bản đồ không gian phát triển

    Nếu nhóm chiến lược thứ nhất tạo ra năng lực quyết định thì nhóm chiến lược thứ hai phải trả lời câu hỏi: năng lực đó sẽ được sử dụng để tổ chức không gian phát triển như thế nào? Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với TPHCM bởi một trong những “điểm nghẽn” lâu năm của thành phố nằm ở sự chia cắt giữa quy hoạch, đất đai, hạ tầng, tài chính và đầu tư.

    Quy hoạch có thể đúng nhưng dự án không triển khai được. Đất có thể có giá trị nhưng không tạo ra nguồn lực cho hạ tầng. Hạ tầng được đầu tư nhưng không kích hoạt được không gian xung quanh. Một khu vực có tiềm năng nhưng không có cơ chế tài chính và thể chế phù hợp để phát triển. Vì vậy, TPHCM cần chuyển từ tư duy “quản lý không gian” sang “tổ chức không gian tạo ra giá trị”. Một bản quy hoạch mới không chỉ trả lời đất này được sử dụng vào mục đích gì. Nó phải trả lời không gian này phục vụ ai, tạo ra giá trị kinh tế nào, cần hạ tầng gì, cần bao nhiêu nguồn lực và giá trị tăng thêm sẽ được phân bổ như thế nào.

    Trước hết, Thành phố cần xây dựng một bản đồ không gian phát triển TPHCM tầm nhìn 100 năm. Bản đồ này phải xác định các vùng động lực và các hành lang phát triển của Thành phố, bao gồm trung tâm tài chính, đổi mới sáng tạo, TOD, cảng – logistics, công nghiệp công nghệ cao, đô thị tri thức, đô thị sinh thái, kinh tế biển, kinh tế ban đêm, du lịch và những khu vực cần tái cấu trúc. Nhưng bản đồ đó không thể chỉ là một sản phẩm quy hoạch.

    Mỗi vùng động lực phải có một chiến lược phát triển riêng và một gói thể chế đi kèm. Quy hoạch phải kết nối với đất đai, hạ tầng, tài chính, đầu tư, nhà ở, môi trường và dịch vụ công. Một vùng được xác định là động lực nhưng không có cơ chế huy động đất, vốn và hạ tầng thì vẫn chỉ là một vùng được tô màu trên bản đồ. Điều cần thiết là biến mỗi vùng động lực thành một “gói phát triển không gian”.

    Khi một khu vực được xác định là trung tâm đổi mới sáng tạo, Thành phố phải biết ở đó sẽ có bao nhiêu doanh nghiệp, bao nhiêu lao động tri thức, loại hạ tầng nào, loại nhà ở nào, dịch vụ nào và nguồn vốn nào. Khi một khu vực được xác định là TOD, phải biết dân số bao nhiêu, việc làm bao nhiêu, giao thông công cộng ra sao, nhà ở vừa túi tiền ở đâu, trường học và y tế ở đâu, không gian công cộng thế nào và nguồn thu nào có thể quay trở lại đầu tư hạ tầng. Đây là cách biến quy hoạch từ bản đồ sử dụng đất thành một mô hình phát triển.

    Một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá chất lượng quy hoạch là khả năng tạo ra dự án. Một quy hoạch tốt nhưng không thể chuyển thành danh mục dự án có nguồn lực và chủ thể thực hiện thì chưa phải là quy hoạch phát triển. TPHCM cần xây dựng danh mục dự án chiến lược gắn trực tiếp với các vùng động lực. Các dự án phải được tổ chức thành chuỗi thay vì tồn tại độc lập.

    Một tuyến giao thông phải được kết nối với phát triển TOD. TOD phải kết nối với nhà ở và việc làm. Nhà ở phải kết nối với trường học, y tế và dịch vụ. Tất cả phải tạo ra giá trị đất, giá trị kinh tế và nguồn thu để tái đầu tư hạ tầng. Khi đó, một tuyến metro không còn đơn thuần là một dự án giao thông. Nó trở thành một chuỗi phát triển: giao thông –> TOD –> nhà ở –> thương mại và dịch vụ –> việc làm –> tăng giá trị đất –> huy động giá trị tăng thêm –> tái đầu tư hạ tầng.

    Đây chính là logic của một đô thị có khả năng tự tạo ra nguồn lực phát triển. Trong năm đầu tiên, 100% vùng động lực cần có danh mục dự án ưu tiên; 100% dự án chiến lược phải xác định được cơ quan chịu trách nhiệm, nguồn vốn và tiến độ chuẩn bị. Thời gian chuẩn bị các dự án ưu tiên phải giảm tối thiểu 30%, và với những dự án được áp dụng đầy đủ cơ chế mới, mục tiêu cần hướng tới mức giảm khoảng 50%.

    Trong toàn bộ quá trình giải phóng không gian phát triển, TOD cần được coi là một chương trình trọng điểm. TOD không thể được hiểu đơn giản là xây nhà ga rồi phát triển bất động sản xung quanh. TOD là phương thức tổ chức lại đời sống đô thị quanh giao thông công cộng. Một TOD hoàn chỉnh phải đồng thời giải quyết giao thông, đất đai, nhà ở, việc làm, trường học, y tế, thương mại, công viên, không gian công cộng và tài chính. Những TOD đầu tiên cần được xem như những phòng thí nghiệm phát triển đô thị. Thành phố phải lựa chọn một số khu vực có điều kiện phù hợp để thử nghiệm mô hình hoàn chỉnh trước khi nhân rộng.

    (Còn tiếp…) 

    TÂN PHONG – QUỐC PHONG – LÊ BÌNH

    Nguồn https://baomoi.com/tphcm-trien-khai-luat-phat-trien-do-thi-khoi-thong-nguon-luc-cho-tang-truong-bai-2-c55993846.epi

  • Tháo gỡ khó khăn về giá và tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng

    Mỏ khai thác đá làm vật liệu xây dựng tại xã Như Thanh.

    Tại một số thời điểm, nhu cầu tăng cao trong khi khả năng cung ứng không đáp ứng kịp đã kéo theo giá VLXD tăng, gây áp lực lớn cho các nhà thầu. Doanh nghiệp không chỉ phải tìm kiếm nguồn vật liệu thay thế mà còn phải tính toán lại chi phí vận chuyển, ảnh hưởng đến phương án thi công và tiến độ dự án. Trong khi đó, tỉnh đang đồng loạt triển khai nhiều dự án giao thông, đô thị, công nghiệp và hạ tầng quy mô lớn. Nhu cầu cát, đá, đất san lấp vì thế tiếp tục tăng, tạo sức ép lên khả năng cung ứng của các mỏ. Theo báo cáo, nhu cầu đất san lấp trong năm 2026 của các công trình sử dụng vốn ngân sách Nhà nước là khoảng 23,533 triệu m3 nguyên khai; nhu cầu toàn tỉnh là 75,583 triệu m3 nguyên khai. Tuy nhiên, công suất các khu vực mỏ đất đang hoạt động mới đáp ứng khoảng 57,5% nhu cầu của các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, 18% nhu cầu đất san lấp trên toàn tỉnh; công suất các khu vực mỏ cát đang hoạt động mới đáp ứng khoảng 6,15% nhu cầu của các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, 3,6% nhu cầu cát xây dựng trên toàn tỉnh; 182 mỏ đá đang hoạt động với công suất khoảng trên 8 triệu m3/năm tương đương 11,8 triệu m3 đá nguyên khai…

    Ông Nguyễn Thanh Quân, Giám đốc Tổng Công ty CP Đầu tư xây dựng Minh Tuấn, cho rằng: “Để khắc phục tình trạng khan hiếm và giá VLXD tăng cao, các chủ mỏ khi cung cấp báo giá cho cơ quan chức năng cần bổ sung thông tin về khả năng cung cấp thực tế còn lại trong năm. Các chủ đầu tư và đơn vị tư vấn cũng cần làm việc trực tiếp với các mỏ ngay từ khâu lập dự toán để bảo đảm VLXD được lựa chọn trên cơ sở khả năng cung ứng thực tế”.

    Bên cạnh vấn đề giá và nguồn cung, doanh nghiệp cũng phản ánh những khó khăn trong quá trình khai thác vật liệu phục vụ các dự án đầu tư công. Ông Nguyễn Duy Nở, Giám đốc Công ty TNHH Hoàng Tuấn, cho rằng, việc áp dụng Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP của Chính phủ “Về việc ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024” đã phần nào tháo gỡ “nút thắt” về nguồn vật liệu. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, nhà thầu vẫn chưa rõ cơ quan chủ trì và phương pháp xác định, thẩm định đơn giá cũng như các chi phí thực tế được tính vào giá vật liệu để thanh, quyết toán. Một khó khăn khác là thời gian cấp phép khai thác thường chỉ từ 6 đến 12 tháng, trong khi thủ tục giải phóng mặt bằng theo đúng quy trình có thể kéo dài. Nếu doanh nghiệp tự thỏa thuận với người dân, chi phí lại bị đẩy lên rất cao. Những vướng mắc này khiến doanh nghiệp khó chủ động về thời gian và chi phí khai thác, trong khi nhu cầu vật liệu phục vụ các dự án ngày càng lớn.

    Những phản ánh từ phía doanh nghiệp cho thấy, bên cạnh bài toán bảo đảm nguồn cung, việc xác định giá VLXD sát với chi phí thực tế cũng đang là một trong những “điểm nghẽn” cần được tháo gỡ. Khi giá công bố chưa phản ánh đầy đủ diễn biến thị trường, doanh nghiệp không chỉ gặp khó trong tính toán chi phí khai thác mà còn bị động trong quá trình lập dự toán, thanh quyết toán các dự án. Trao đổi về vấn đề này, ông Hoàng Văn Đồng, Giám đốc Sở Xây dựng Thanh Hóa, cho biết: “Việc công bố giá được thực hiện trên cơ sở thu thập báo giá của đơn vị cung cấp, hóa đơn bán hàng của doanh nghiệp khai thác mỏ và hợp đồng giữa doanh nghiệp với khách hàng. Tuy nhiên, thông tin công bố đôi khi chưa phản ánh đầy đủ diễn biến thị trường, do doanh nghiệp cung cấp thông tin chưa đầy đủ, chưa chính xác và công tác thu thập, kiểm soát dữ liệu tại cơ sở còn hạn chế. Để khắc phục tình trạng này, Sở Xây dựng sẽ tăng cường công khai thông tin về giá và trữ lượng các mỏ trên hệ thống điều hành và trang thông tin điện tử để doanh nghiệp, nhà đầu tư dễ tiếp cận. Cùng với đó, sở sẽ xử lý nghiêm những trường hợp cung cấp thông tin không chính xác”.

    Thanh Hóa đang đứng trước cơ hội lớn để tăng tốc đầu tư hạ tầng, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường liên kết vùng. Tuy nhiên, để các dự án bảo đảm tiến độ, nguồn vật liệu cần được chuẩn bị tương ứng ngay từ sớm. Trong bối cảnh nhu cầu tiếp tục tăng, việc đánh giá đúng trữ lượng, công suất và khả năng cung ứng của các mỏ; cập nhật giá sát thị trường và công khai đầy đủ dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong đầu tư, thi công. Khi những “điểm nghẽn” về nguồn cung và giá vật liệu được tháo gỡ, các dự án hạ tầng sẽ có thêm điều kiện đẩy nhanh tiến độ, hạn chế phát sinh chi phí, qua đó góp phần đưa đầu tư hạ tầng trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội của tỉnh.

    Bài và ảnh: Minh Hà

    Nguồn https://baomoi.com/thao-go-kho-khan-ve-gia-va-tinh-trang-khan-hiem-vat-lieu-xay-dung-c55993419.epi

  • Hà Nội: Tăng tốc dự án khôi phục sông Tích

    Hoàn thành giai đoạn I trong năm 2026

    Những ngày tháng 9, tranh thủ thời tiết nắng ráo, các nhà thầu đã huy động nhân lực, phương tiện, trang thiết bị, tích cực triển khai thi công trên thựa địa các hạng mục còn dang dở thuộc giai đoạn I Dự án tiếp nước, cải tạo, khôi phục sông Tích.

    Ông Cấn Quốc Bảo, Phó Giám đốc Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và du lịch Bình Minh cho biết: Đến nay, đơn vị đã hoàn thành thi công cụm công trình đầu mối với các hạng mục chính: Cống đầu mối, kênh dẫn thượng lưu, kênh dẫn hạ lưu, kè bảo vệ và nhà quản lý vận hành.

    Một cống tiêu thuộc dự án đã được hoàn thành. Ảnh: Tùng Nguyễn

    Nhà thầu cũng đã hoàn thành đào đắp lòng dẫn sông Tích (đoạn 1); cơ bản hoàn thành đắp bờ đến cao trình thiết kế. Hiện, đang thi công hoàn thiện 17 cầu giao thông, 63 cống tiêu và 7 trạm bơm tưới. Các hạng mục đường giao thông còn lại cũng đang được tích cực thực hiện, dự kiến hoàn thành trước 30-12-2026.

    Đối với hạng mục Trạm bơm Cẩm Yên, đại diện nhà thầu cho biết, đã hoàn thành phần lớn khối lượng xây dựng, đang thi công các hạng mục còn lại; dự kiến hoàn thành, chạy thử và đưa vào vận hành chính thức trong tháng 12-2026.

    Ghi nhận thực tế trên công trường, cùng với các gói thầu về xây dựng, hai gói thầu về thiết bị cơ khí và thiết bị điện cũng đang được một số nhà thầu khác tích cực triển khai. Hiện, hợp phần gia công chế tạo thiết bị cơ khí đã được hoàn thành. Việc lắp đặt thiết bị phai phòng lũ, khe van tại 59/59 cống tiêu và 6/7 trạm bơm tưới cũng đang bước vào giai đoạn hoàn thiện.

    Các nhà thầu cũng đã hoàn thành lắp đặt hệ thống điện cho cống đầu mối Thuần Mỹ, trạm bơm Cầu Máng, cống Đầm Long và một phần các trạm bơm: Thuần Mỹ 1, Thuần Mỹ 2, Cây Đa. Các hạng mục còn lại đang hoàn thiện hồ sơ điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công và dự toán, dự kiến hoàn thành trong tháng 12-2026.

    Gấp rút thi công các hạng mục bổ sung

    Dự án tiếp nước, cải tạo, khôi phục sông Tích được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt tại Quyết định số 4927/QĐ-UBND. Hệ thống công trình trọng điểm này có quy mô dài 110,7km, gồm 3 đoạn.

    Đoạn 1 gồm khu đầu mối lấy nước sông Đà và kênh dẫn từ cống đầu mối đến cầu Trăng (thị xã Sơn Tây cũ); đoạn 2 gồm phần kênh dẫn từ cầu Trắng (thị xã Sơn Tây cũ) đến cầu Ó (huyện Phúc Thọ cũ); đoạn 3 gồm phần kênh dẫn từ cầu Ó (huyện Phúc Thọ cũ) đến Ba Thá (huyện Mỹ Đức cũ).

    Nhân lực, phương tiện được huy động để thực hiện dự án. Ảnh: Tùng Nguyễn

    Ngày 8-7-2025, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3694/QĐ-UBND phê duyệt điều chỉnh dự án, phân kỳ đầu tư gồm 2 giai đoạn. Cụ thể, giai đoạn I: Thi công hoàn thiện đoạn 1 của dự án, hoàn thành trong năm 2026, với tổng mức đầu tư 5.173 tỷ đồng; giai đoạn II: Gồm đoạn 2 và đoạn 3 của dự án, dự kiến thực hiện trong giai đoạn 2026-2030.

    Đại diện chủ đầu tư, ông Nguyễn Hoàng Tùng, Phó Trưởng phòng Quản lý dự án đê điều (Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và nông nghiệp Hà Nội) cho biết: Ngay sau khi tiếp nhận dự án từ Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ban đã phối hợp với các xã, phường tích cực triển khai giải phóng mặt bằng.

    Cho đến tháng 6-2026, toàn bộ 317ha đất thuộc Dự án tiếp nước, cải tạo, khôi phục sông Tích đã hoàn thành công tác đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng theo quy định, và bàn giao cho chủ đầu tư để phối hợp với các nhà thầu tiến hành thi công trên thực địa.

    Cũng theo đại diện chủ đầu tư, đến thời điểm hiện nay, dự án đã hoàn thành phần lớn các hạng mục được phê duyệt theo Quyết định số 3694/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội. Hiện đang tiếp tục triển khai các hạng mục được điều chỉnh, bổ sung, trong đó có một số công trình như: 6 cầu dân sinh, 5 cống tiêu, 1 trạm bơm, tuyến kênh tưới Cây Đa…

    “Đến nay, đơn vị tư vấn thiết kế đã hoàn thành công tác khảo sát, lập thiết kế bản vẽ thi công. Trên cơ sở thông báo kết quả thẩm định của Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ban đã phê duyệt thiệt kế, dự toán, dự kiến các hạng mục bổ sung sẽ thi công hoàn thành tháng 8-2027”, ông Nguyễn Hoàng Tùng thông tin thêm.

    Việc cơ bản hoàn thành giai đoạn I đã hình thành công trình đầu mối lấy nước từ sông Đà và hệ thống công trình trên đoạn đầu tuyến sông Tích. Đây là tiền đề quan trọng để tiếp tục đầu tư các hạng mục bổ sung cũng như giai đoạn II của dự án; tiến tới hoàn thiện đồng bộ hệ thống, phát huy hiệu quả tổng thể trong tiêu thoát nước, phòng chống lũ cho khu vực phía Tây thành phố Hà Nội.

    Dự án tiếp nước, cải tạo, khôi phục sông Tích sau khi hoàn thành cả hai giai đoạn sẽ đáp ứng mục tiêu cung cấp nước tưới cho khoảng 16.000 ha đất sản xuất nông nghiệp, cải thiện môi trường sinh thái, tăng cường năng lực tiêu thoát nước, phòng chống lũ và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội cho khu vực phía Tây thành phố Hà Nội.

    Trọng Tùng

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-tang-toc-du-an-khoi-phuc-song-tich-c55993452.epi

  • Hà Nội dự kiến hạ giải nhiều công trình quanh hồ Hoàn Kiếm để tái thiết cảnh quan

    Thành phố Hà Nội vừa thông tin về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân điều chỉnh cục bộ quy hoạch phân khu đô thị H1-1B (khu vực hồ Gươm và phụ cận), tỷ lệ 1/2000 và một phần quy hoạch phân khu đô thị H1-1C, tỷ lệ 1/2000 kết hợp giải pháp quy hoạch chi tiết, tỷ lệ 1/500 cải tạo, chỉnh trang, tái thiết, tái cấu trúc không gian khu vực hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận.

    Thời gian lấy ý kiến từ ngày 7/9 đến hết ngày 26/9. UBND phường Hoàn Kiếm chủ trì, phối hợp UBND phường Cửa Nam tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư.

    Phạm vi nghiên cứu thuộc địa bàn hai phường Hoàn Kiếm và Cửa Nam, quy mô khoảng 65,89ha. Mục tiêu là tái cấu trúc không gian đô thị, tăng cường kết nối hồ Hoàn Kiếm với các khu vực quảng trường, công viên, di tích và không gian văn hóa lân cận.

    Cụ thể, khu vực phía Bắc hồ Hoàn Kiếm dự kiến mở rộng Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, hình thành quảng trường lớn, tăng cường kết nối với hồ Hoàn Kiếm và công viên – quảng trường phía Đông. Phương án nghiên cứu bố trí công trình biểu tượng “Khải hoàn môn”, lấy cảm hứng từ đôi cánh chim hạc đang vươn lên, tạo điểm nhấn kết thúc trục đô thị khu phố cổ và mở ra trục không gian mới về phía Nam.

    Khu vực phía Đông hồ Hoàn Kiếm nghiên cứu hình thành hệ thống quảng trường, công viên tại khu vực UBND Thành phố, Vườn hoa Lý Thái Tổ, Bưu điện Hà Nội và tháp Hòa Phong; tổ chức lại không gian quanh đền Bà Kiệu; bố trí công trình tưởng niệm Liệt sĩ Thủ đô; tăng cường kết nối với khu vực Đinh Lễ – Tràng Tiền và các không gian thương mại, dịch vụ phù hợp.

    Không gian công viên – quảng trường phía Đông được nghiên cứu phát triển không gian ngầm nhằm tăng cường không gian dịch vụ, công cộng và kết nối với ga C9 thuộc tuyến đường sắt đô thị số 2, tạo lập khu vực TOD văn hóa, dịch vụ, thương mại đặc biệt.

    Đáng chú ý, tại khu vực trụ sở UBND thành phố, phương án quy hoạch nghiên cứu tái cấu trúc khu đất, bố trí công trình mới cao 9 tầng nổi, 4 tầng hầm.

    Đồng thời, phương án nghiên cứu hạ giải trụ sở HĐND, UBND thành phố, Rạp Khăn quàng đỏ và khối nhà Cung Thiếu nhi. Ba khối kiến trúc Pháp gồm Ấu trĩ viện, Kho bạc Đông Dương và Tòa Đốc lý được nghiên cứu giữ lại.

    Trụ sở UBND Thành phố Hà Nội (Ảnh: Hữu Thắng).

    Không gian sau tái cấu trúc sẽ được tổ chức theo các trục Bắc – Nam, Đông – Tây, kết nối với công viên – quảng trường phía Bắc, phía Đông, Vườn hoa Lý Thái Tổ và hồ Hoàn Kiếm.

    Tại khu vực Bưu điện Hà Nội, phương án cũng nghiên cứu hạ giải một số công trình kiến trúc chưa phù hợp. Đồng thời, nghiên cứu giải pháp gợi nhắc, tái hiện hình ảnh, hình thái kiến trúc đặc trưng của Chùa Báo Ân cũ tại không gian trung tâm khuôn viên Bưu điện.

    Khu vực phía Đông Nam hồ Hoàn Kiếm, nghiên cứu tổ chức không gian thương mại nhỏ kết hợp cà phê, ki-ốt; nhấn mạnh trục Tràng Tiền kết nối từ hồ Hoàn Kiếm đến Nhà hát Lớn; tổ chức tuyến Nguyễn Khắc Cần – ngõ Tràng Tiền thành không gian đi bộ; bổ sung, mở rộng hướng tiếp cận cụm di tích Đình – Đền – Chùa Vũ Thạch từ các phố Hàng Khay, Bà Triệu và Hai Bà Trưng.

    Khu vực phía Tây hồ Hoàn Kiếm, nghiên cứu nối dài phố Nhà Thờ ra hồ Hoàn Kiếm, kết nối với phố Lê Thái Tổ, tạo không gian mở và phố đi bộ; nghiên cứu bố trí công trình khách sạn cao cấp trên cơ sở tái cấu trúc khu vực trụ sở Báo và Nhà in Báo Hà Nội Mới, trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Thành phố tại số 2 Tràng Thi và khu vực lân cận để phục vụ du lịch, phát triển kinh tế – xã hội.

    Đối với khu vực Quảng trường Cách mạng Tháng Tám, Nhà hát Lớn, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và phụ cận, Hà Nội nghiên cứu gắn kết hệ thống quảng trường, vườn hoa, bảo tàng và không gian kiến trúc cảnh quan phía Đông hồ Hoàn Kiếm.

    Phương án đồng thời nghiên cứu hợp nhất Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và Bảo tàng Cách mạng cũ để hình thành quần thể văn hóa liên thông trên mặt đất và không gian ngầm. Tại khu đất Bảo tàng Cách mạng cũ sau khi hợp nhất, nghiên cứu bố trí công trình mới mang tên “Tháp Tài chính Quốc tế”.

    Các công trình xây dựng mới sẽ phải được kiểm soát chặt chẽ về vị trí, tầng cao, hình khối, kiến trúc và trục nhìn, không che chắn các trục nhìn quan trọng, không làm suy giảm giá trị của các công trình lịch sử, văn hóa.

    Về giao thông, Hà Nội nghiên cứu đồng bộ hệ thống giao thông mặt đất với không gian ngầm, kết nối hồ Hoàn Kiếm, Nhà hát Lớn, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và các khu vực phát triển mới.

    Tại các khu vực quảng trường, công viên, phương án dự kiến bố trí từ 3-3,5 tầng hầm, kết nối với ga ngầm C9 theo mô hình TOD, phục vụ giao thông, bãi đỗ xe, thương mại, dịch vụ, văn hóa và các chức năng công cộng phù hợp.

    Nguyễn Hữu Thắng

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-du-kien-ha-giai-nhieu-cong-trinh-quanh-ho-hoan-kiem-de-tai-thiet-canh-quan-c55993536.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!