Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Kinh doanh bất động sản sai quy định có thể bị phạt 1 tỷ đồng

    Ảnh minh họa

    Nghị định 339/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, quản lý, phát triển nhà và kinh doanh BĐS, có hiệu lực từ ngày 26-8.

    Theo quy định mới, hành vi đưa nhà ở, công trình xây dựng hoặc phần diện tích sàn xây dựng vào kinh doanh khi chưa đủ điều kiện có thể bị phạt 800 triệu đồng đến 1 tỷ đồng. Mức phạt tương tự được áp dụng đối với chủ đầu tư đưa nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai vào kinh doanh khi chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định.

    Trong hoạt động kinh doanh quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản, mức phạt 800 triệu đồng đến 1 tỷ đồng được áp dụng đối với hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho cá nhân tự xây dựng nhà ở khi chưa đáp ứng đủ điều kiện. Trường hợp chuyển nhượng, cho thuê hoặc cho thuê lại quyền sử dụng đất cho tổ chức không đủ điều kiện cũng chịu mức phạt này.

    Đáng chú ý, hoạt động chuyển nhượng dự án BĐS cũng được siết chặt. Chủ đầu tư có thể bị phạt 800 triệu đồng đến 1 tỷ đồng nếu chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án khi dự án chưa đáp ứng đủ điều kiện, nguyên tắc theo quy định. Mức phạt này cũng áp dụng đối với hành vi chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án BĐS không đúng hình thức, phạm vi kinh doanh.

    Ngoài phạt tiền, doanh nghiệp vi phạm có thể bị đình chỉ hoạt động kinh doanh BĐS từ 3-6 tháng. Đồng thời, phải hoàn trả cho bên nhận chuyển nhượng toàn bộ số tiền đã thu không đúng quy định và khoản lợi tức phát sinh.

    Đối với việc chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, Nghị định 339 cũng quy định mức phạt800 triệu đồng đến 1 tỷ đồng nếu việc chuyển nhượng không bảo đảm các điều kiện theo quy định. Bên chuyển nhượng ngoài chịu phạt còn phải hoàn trả cho bên nhận chuyển nhượng toàn bộ số tiền đã thu không đúng quy định, kèm khoản lợi tức phát sinh.

    Không chỉ các giao dịch BĐS, việc cung cấp thông tin về nhà ở và thị trường BĐS cũng được quy định chế tài nghiêm. Theo đó, tổ chức không cung cấp hoặc cung cấp không chính xác, không đầy đủ số liệu về nhà ở và thị trường BĐS theo quy định có thể bị phạt 800 triệu đồng đến 1 tỷ đồng. Tổ chức vi phạm còn có thể bị đình chỉ hoạt động kinh doanh BĐS từ 3-6 tháng.

    Trong khi đó, hành vi đưa BĐS chưa đủ điều kiện kinh doanh lên sàn giao dịch bị phạt 400-600 triệu đồng. Mức phạt này cao hơn đáng kể so với quy định trước đây tại Nghị định 16/2022/NĐ-CP, vốn quy định mức phạt 200-250 triệu đồng đối với hành vi tương ứng.

    Các quy định mới cho thấy xu hướng tăng chế tài đối với những hành vi đưa BĐS chưa đủ điều kiện ra thị trường, chuyển nhượng dự án trái quy định và cung cấp thông tin không chính xác, qua đó tăng trách nhiệm của chủ đầu tư và các tổ chức tham gia thị trường.

    Trà Giang

    Nguồn https://baomoi.com/kinh-doanh-bat-dong-san-sai-quy-dinh-co-the-bi-phat-1-ty-dong-c56002424.epi

  • An Giang đẩy nhanh tiến độ các nhà máy xử lý giải quyết ô nhiễm môi trường

    Mỗi ngày 687 tấn rác thải đổ về bãi rác lộ thiên

    Ngày 8/9, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cho biết, tình trạng quá tải trong xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn đã được báo cáo lãnh đạo UBND tỉnh An Giang để tìm giải pháp tháo gỡ.

    Theo báo cáo, tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tỉnh An Giang hiện nay khoảng 2.274 tấn/ngày (đô thị 962 tấn/ngày, chiếm tỷ lệ 42%; nông thôn 1.311 tấn/ngày, chiếm tỷ lệ 58%). Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom khoảng 1.737 tấn/ngày, đạt tỷ lệ 76,4% (đô thị 910 tấn/ngày, đạt tỷ lệ 94,6%; nông thôn 827 tấn/ngày, đạt tỷ lệ 63,1%).

    Mỗi ngày có 687 tấn rác thải không được xử lý đổ tại các bãi rác lộ thiên trên địa bàn tỉnh An Giang.

    Tuy nhiên, công tác xử lý rác thải hiện nay khoảng 1.050 tấn/ngày, trong đó, chôn lấp hợp vệ sinh khoảng 660 tấn/ngày (chiếm tỷ lệ 38%), xử lý trong nhà máy khoảng 390 tấn/ngày (chiếm tỷ lệ 22%), còn lại khoảng 687 tấn/ngày (chiếm tỷ lệ 40%) đổ xá tại các bãi rác lộ thiên.

    Hiện nay, tổng khối lượng rác thải đã tiếp nhận trên địa bàn tỉnh An Giang khoảng 2,5 tấn chờ xử lý dần. Trong đó, tại 66 bãi rác lộ thiên trên địa bàn tỉnh đang chứa khoảng 630.000 tấn, phần còn lại khoảng 1,87 triệu tấn ở các khu chôn lấp hợp vệ sinh (Bình Hòa, Phú Thạnh, Kênh 10, Mương Đào…).

    Theo ghi nhận thực tế, dọc tuyến quốc lộ 61 qua địa bàn xã Vĩnh Hòa Hưng, tỉnh An Giang tồn tại một bãi rác lộ thiên khoảng 20 năm qua với khối lượng lên đến hơn 50.000 tấn. Người dân địa phương cho biết, mỗi ngày, bãi rác này tiếp nhận từ 10-20 tấn rác thải sinh hoạt trên địa bàn được tập kết về đổ xá tại bãi rác.

    Tại đặc khu Phú Quốc, tình trạng tồn đọng, ùn ứ rác thải gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cũng đang là vấn đề báo động. Trong đó, bãi rác tạm Đông Cây Sao tồn đọng hơn 150.000 tấn rác thải sinh hoạt cũ cần xử lý.

    Đẩy nhanh tiến độ các dự án

    Theo quy hoạch tỉnh An Giang, tổng công suất của các nhà máy đến năm 2030 khoảng 4.910 – 6.710 tấn/ngày. Trong đó, tổng công suất 3 nhà máy Thoại Sơn, Chợ Mới, Tâm Sinh Nghĩa đang hoạt động là 390 tấn/ngày; Tổng công suất 4 nhà máy đã được chấp thuận chủ trương đầu tư 745 tấn/ngày; Tổng công suất xử lý của 3 nhà máy đã được trình cấp có thẩm quyền thông qua danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất là1.290 tấn/ngày.

    Bãi rác lộ thiên trên địa bàn xã Vĩnh Hòa Hưng, tỉnh An Giang có khoảng 50.000 tấn rác thải sinh hoạt tồn đọng nhiều năm qua chưa được xử lý.

    Tổng công suất xử lý của 5 nhà máy dự kiến kêu gọi đầu tư trong thời gian tới khoảng 700 – 1.200 tấn/ngày.

    Tuy nhiên, 4 dự án đầu tư nhà máy xử lý rác đã được chấp thuận chủ trương đầu tư tổng công suất 745 tấn/ngày đang bị chậm tiến độ. Trong đó, dự án Nhà máy xử lý rác Long Thạnh, xã Long Thạnh, 245 tấn/ngày; Nhà máy xử lý rác sinh hoạt Kiên Lương, xã Kiên Lương, 100 tấn/ngày; Nhà máy xử lý rác Tâm Hằng, xã Giang Thành, 100 tấn/ngày; Nhà máy xử lý chất thải rắn cụm Long Xuyên, xã Bình Hòa, 300 tấn/ngày.

    Theo đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy xử lý rác thải và sản xuất sản phẩm năng lượng tái tạo từ rác của Công ty TNHH Bất động sản Tâm Hằng tại Quyết định số 2924/QĐ-UBND ngày 25/6/2026 (gia hạn tiến độ thực hiện đến hết quý I năm 2028).

    Hiện trạng trong phạm vi bố trí các công trình của nhà máy còn tồn đọng khoảng 20.000 tấn rác thải cần xử lý để hoàn trả mặt bằng cho nhà đầu tư thực hiện dự án.

    Giải pháp là điều chỉnh vị trí bố trí các hạng mục công trình của nhà máy vào khu đất trống thuộc phạm vi khu đất đã được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư và gia hạn tiến độ thực hiện (Sở Nông nghiệp và Môi trường đã Báo cáo UBND tỉnh tại Báo cáo số 1162/BC-SNNMT ngày 3/9/2026). Thế nhưng, hiện nay, dự án này đang chậm tiến độ.

    Riêng nhà máy xử lý rác Long Thạnh (xã Long Thạnh). Nhà máy xử lý rác sinh hoạt Kiên Lương (xã Kiên Lương) đã đầu tư hoàn thành nhưng chưa đưa vào vận hành do khó khăn trong việc ký kết hợp đồng xử lý rác với các địa phương.

    Ngoài ra còn có 3 dự án nhà máy xử lý chất thải rắn có công suất lớn từ 300 – 1.000 tấn/ ngày đã được trình cấp có thẩm quyền thông qua danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh An Giang nhưng tiến độ triển khai cũng rất chậm.

    Trước tình hình trên, ông Hồ Văn Mừng, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang chỉ đạo, cần đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư nhà máy xử lý rác đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, đang triển khai đầu tư nhưng chậm tiến độ. Bên cạnh đó, trong năm 2027 tỉnh phải khởi công các dự án xử lý rác đang mời gọi đầu tư đúng tiến độ và quy hoạch đã được phê duyệt.

    “Ưu tiên thu hút doanh nghiệp đầu tư nhà máy xử lý rác thải, không bố trí ngân sách xây dựng nhà máy theo hướng đầu tư công. Ngoài ra phải lựa chọn công nghệ xanh, sạch, bền vững, không gây ô nhiễm, đáp ứng quy chuẩn Việt Nam. Đến năm 2030 toàn bộ rác thải trên địa bàn tỉnh phải được xử lý hợp vệ sinh, không còn tình trạng đổ rác lộ thiên”, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang nhấn mạnh.

    UBND tỉnh An Giang đánh giá việc phân loại rác tại nguồn thời gian qua còn mang tính thử nghiệm, chưa đồng bộ; phương tiện, hạ tầng thu gom và xử lý sau phân loại chưa đáp ứng yêu cầu.

    Ý thức phân loại rác của người dân cũng chưa trở thành thói quen thường xuyên. Theo kế hoạch mới, rác sinh hoạt được phân thành 3 nhóm: chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế; chất thải thực phẩm; và nhóm chất thải khác gồm chất thải nguy hại, cồng kềnh và chất thải còn lại.

    Lực lượng thu gom có quyền từ chối thu gom rác nếu hộ gia đình, cá nhân không phân loại đúng quy định, đồng thời thông báo cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý.

    Mục tiêu đến năm 2030 là hình thành thói quen phân loại rác ngay tại nguồn, tăng tái sử dụng, tái chế, giảm lượng rác phải xử lý và hạn chế ô nhiễm môi trường.

    Quốc Dũng

    Nguồn https://baomoi.com/an-giang-day-nhanh-tien-do-cac-nha-may-xu-ly-giai-quyet-o-nhiem-moi-truong-c56002336.epi

  • Lâm Đồng cho ý kiến đối với các dự thảo nghị quyết thuộc lĩnh vực kinh tế – ngân sách

    Đồng chí Tiêu Hồng Phúc, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì phiên họp

    Đồng chí Tiêu Hồng Phúc, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì phiên họp. Tham dự có lãnh đạo UBND tỉnh, các ban HĐND tỉnh cùng các sở, ngành, đơn vị liên quan.

    Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Lâm Đồng Y Quang BKrông (bên phải) và Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Ban Dân tộc HĐND tỉnh Đa Cát Vinh (bên trái) dự phiên họp

    Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Ban Văn hóa – Xã hội HĐND tỉnh Nguyễn Thị Thuận Bích (bên phải) và Tỉnh ủy viên, Trưởng Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh Phạm Thị Tường Vân (bên trái) dự phiên họp

    Tại phiên họp, Thường trực HĐND tỉnh xem xét, cho ý kiến đối với: dự thảo Nghị quyết điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm tỉnh Lâm Đồng, giai đoạn 2026 – 2030; dự thảo Nghị quyết ban hành Danh mục dự án và phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư công năm 2026 từ nguồn ngân sách địa phương (đợt 7); dự thảo Nghị quyết gia hạn thời gian bố trí vốn thực hiện dự án đầu tư công nguồn ngân sách địa phương.

    Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Ngọc Phúc dự phiên họp

    Phiên họp cũng cho ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết về điều chỉnh một số chỉ tiêu tại Nghị quyết số 62/NQ-HĐND, ngày 10/12/2025 của HĐND tỉnh về kế hoạch tài chính 5 năm giai đoạn 2026 – 2030 tỉnh Lâm Đồng; dự thảo Nghị quyết Danh mục khu đất dự kiến thực hiện dự án thí điểm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; dự thảo Nghị quyết quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác để thực hiện dự án Nhà máy thủy điện Đa Hir; dự thảo Nghị quyết quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác để thực hiện dự án Nhà máy thủy điện Đa Nhim Thượng 2.

    Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Lâm Đồng Y Quang BKrông phát biểu tại phiên họp

    Thường trực HĐND tỉnh cũng xem xét, cho ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết quy định nội dung chi, mức chi hoạt động khuyến nông trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; dự thảo Nghị quyết quy định mức hỗ trợ 1 dự án, định mức hỗ trợ các đối tượng tham gia dự án phát triển sản xuất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; dự thảo Nghị quyết thông qua đề án Kiện toàn tổ chức, hoạt động và phương án cấp, bổ sung vốn điều lệ của Quỹ Hỗ trợ nông dân tỉnh Lâm Đồng; dự thảo Nghị quyết quy định chế độ mua sắm, thủ tục cấp phát phù hiệu, cờ hiệu, cấp hiệu, biển hiệu và trang phục đối với công chức làm việc tại Chi cục Quản lý thị trường thuộc Sở Công thương tỉnh Lâm Đồng; cùng dự thảo Nghị quyết quy định mức tối đa, mức tối thiểu của hệ số điều chỉnh mức biến động thị trường về giá đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

    Tỉnh ủy viên, Trưởng Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh Phạm Thị Tường Vân báo cáo các nội dung thuộc thẩm quyền

    Đối với dự thảo Nghị quyết điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm tỉnh Lâm Đồng, giai đoạn 2026 – 2030, đồng chí Tiêu Hồng Phúc đề nghị Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh phối hợp với Sở Tài chính rà soát lại các nhiệm vụ, giải pháp, chỉ tiêu cho phù hợp với nghị quyết của Trung ương và của tỉnh, do một số chỉ tiêu còn chưa thống nhất.

    Phó Giám đốc Sở Tài chính Lâm Đồng Lê Bình Minh báo cáo tại phiên họp

    Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh Lâm Đồng Đinh Ngọc Nhân báo cáo tại phiên họp

    Đối với dự thảo Nghị quyết ban hành Danh mục dự án và phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư công năm 2026 từ nguồn ngân sách địa phương (đợt 7), Thường trực HĐND tỉnh đề nghị UBND tỉnh rà soát thực trạng nguồn vốn, việc điều chuyển vốn; làm rõ lý do, tính cấp bách của từng công trình, dự án và nguồn vốn đối ứng.

    Đồng chí Tiêu Hồng Phúc, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh kết luận phiên họp

    Đối với dự thảo Nghị quyết quy định mức tối đa, mức tối thiểu của hệ số điều chỉnh mức biến động thị trường về giá đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, dự thảo quy định mức tối đa K = 5,00 và mức tối thiểu K = 0,80; các đại biểu thống nhất trình HĐND tỉnh xem xét ban hành nghị quyết; đồng thời đề nghị UBND tỉnh bổ sung thuyết minh, số liệu khảo sát, phân tích để làm rõ cơ sở lựa chọn hai mức hệ số này.

    Đối với dự thảo Nghị quyết quy định nội dung chi, mức chi hoạt động khuyến nông trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, phiên họp thống nhất chờ Bộ Tài chính có thông tư mới để điều chỉnh, bổ sung theo quy định.

    Quang cảnh phiên họp

    Đối với dự thảo Nghị quyết quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác để thực hiện dự án Nhà máy thủy điện Đa Hir, đồng chí Tiêu Hồng Phúc yêu cầu làm rõ tính pháp lý, bảo đảm chặt chẽ trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét.

    Hữu Phúc

    Nguồn https://baomoi.com/lam-dong-cho-y-kien-doi-voi-cac-du-thao-nghi-quyet-thuoc-linh-vuc-kinh-te-ngan-sach-c56002333.epi

  • Tình huống cấp bách, hàng dự trữ quốc gia có thể được xuất trước, hoàn thiện hồ sơ sau

    Tình huống cấp bách, hàng dự trữ quốc gia có thể được xuất trước, hoàn thiện hồ sơ sau. Ảnh minh họa được tạo với sự hỗ trợ của AI.

    Đây là một trong những nội dung đáng chú ý tại Nghị định số 345/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều, biện pháp thi hành Luật Dự trữ quốc gia.

    Theo nghị định, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia tổ chức xuất hàng theo kế hoạch dự trữ quốc gia đã được phê duyệt hằng năm.

    Bên cạnh hoạt động theo kế hoạch, nghị định quy định cụ thể cơ chế xuất cấp trong các tình huống đột xuất, cấp bách.

    Tối đa 3 ngày quyết định xuất cấp

    Khi xảy ra thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, tình trạng cứu đói vượt khả năng của địa phương hoặc phát sinh yêu cầu cấp bách phục vụ nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và trật tự an toàn xã hội, cơ quan có thẩm quyền có thể đề nghị xuất cấp hàng dự trữ quốc gia.

    Tối đa 3 ngày kể từ khi nhận được đề nghị, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia ban hành quyết định xuất cấp và giao nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện, đồng thời gửi Bộ Tài chính để quản lý, theo dõi.

    Đáng chú ý, trong tình huống đặc biệt cấp bách mà chưa kịp ban hành quyết định, việc chỉ đạo xuất hàng có thể được thực hiện thông qua điện thoại trực tiếp, fax hoặc văn bản điện tử nhằm bảo đảm đáp ứng kịp thời mục tiêu dự trữ quốc gia.

    Đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp quản lý và bảo quản hàng dự trữ có thể huy động hoặc thuê ngay phương tiện để vận chuyển hàng đến địa điểm theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.

    Trong vòng 5 ngày kể từ ngày xuất cấp, đơn vị thực hiện phải hoàn thiện đầy đủ hồ sơ theo quy định.

    Xuất hàng khi giá cả, nguồn cung biến động

    Nghị định cũng quy định cơ chế xuất hàng dự trữ quốc gia khi giá cả thị trường hoặc nguồn hàng hóa tăng, giảm đột biến.

    Bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực hoặc UBND cấp tỉnh gửi đề nghị về Bộ Tài chính.

    Tối đa 5 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị, Bộ Tài chính lấy ý kiến các cơ quan liên quan. Cơ quan được lấy ý kiến phải trả lời trong thời hạn 3 ngày.

    Trong 5 ngày kể từ khi nhận đầy đủ ý kiến, Bộ Tài chính tổng hợp và ban hành quyết định xuất hàng dự trữ quốc gia.

    Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bộ, cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia phải báo cáo kết quả về Bộ Tài chính trong thời hạn tối đa 3 ngày.

    Đồng thời, sau khi xuất bán hoặc xuất cấp, cơ quan quản lý phải xây dựng kế hoạch nhập bổ sung lượng hàng dự trữ quốc gia theo quy định.

    Nghị định cũng quy định trình tự xuất cấp hàng dự trữ quốc gia phục vụ hoạt động của Đảng và Nhà nước cũng như một số trường hợp phát sinh ngoài kế hoạch dự trữ quốc gia đã được phê duyệt.

    Bạch Dương

    Nguồn https://baomoi.com/tinh-huong-cap-bach-hang-du-tru-quoc-gia-co-the-duoc-xuat-truoc-hoan-thien-ho-so-sau-c56002353.epi

  • Quy định hỗ trợ người dân bị thu hồi đất làm dự án điện hạt nhân

    Ảnh minh họa

    Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 66.26/2026/NQ-CP ngày 5/9/2026 về hỗ trợ bảo đảm sinh kế, ổn định đời sống và tái định cư cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án điện hạt nhân đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư.

    Nghị quyết áp dụng đối với địa phương có nhà máy điện hạt nhân đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định có nguồn gốc lấn, chiếm nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, cùng các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.

    65 trường hợp được hỗ trợ bằng mức bồi thường

    Theo Nghị quyết, 65 trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp ổn định có nguồn gốc lấn, chiếm trước ngày 1/7/2014, với tổng diện tích 22,62 ha, thuộc diện được hưởng các khoản hỗ trợ bằng tiền.

    Cụ thể, khoản hỗ trợ đối với đất thu hồi được tính bằng mức tiền bồi thường của loại đất nông nghiệp bị thu hồi. Diện tích được tính hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.

    Đối với tài sản gắn liền với đất, mức hỗ trợ bằng mức tiền bồi thường giá trị tài sản theo quy định của pháp luật về đất đai.

    Ngoài ra, các trường hợp này còn được hỗ trợ bảo đảm sinh kế, ổn định đời sống. Mức hỗ trợ được xác định bằng giá của loại đất nông nghiệp bị thu hồi trong bảng giá đất tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, nhân với hệ số 1,5.

    Diện tích tính hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.

    33 trường hợp được hỗ trợ bằng 80% mức bồi thường

    Đối với 33 trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp ổn định có nguồn gốc lấn, chiếm từ ngày 1/7/2014 đến trước ngày Nghị quyết số 174/2024/QH15 có hiệu lực, với tổng diện tích khoảng 11 ha, mức hỗ trợ được quy định thấp hơn.

    Theo đó, khoản hỗ trợ đối với đất thu hồi bằng 80% mức tiền bồi thường của loại đất nông nghiệp bị thu hồi. Diện tích được tính hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.

    Tài sản gắn liền với đất cũng được hỗ trợ bằng 80% mức tiền bồi thường giá trị tài sản.

    Bên cạnh đó, người sử dụng đất được hỗ trợ bảo đảm sinh kế, ổn định đời sống bằng một lần giá của loại đất nông nghiệp bị thu hồi trong bảng giá đất tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

    Được bố trí đất tái định cư nếu không còn chỗ ở khác

    Nghị quyết cũng quy định chính sách tái định cư đối với hộ gia đình, cá nhân có nhà ở gắn liền với đất, phải di chuyển chỗ ở và không còn nơi ở nào khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi.

    Những trường hợp này được giao đất tái định cư và phải nộp 50% giá trị suất tái định cư tối thiểu nếu được giao suất tái định cư tối thiểu.

    Trường hợp diện tích đất tái định cư được giao lớn hơn suất tối thiểu, người được giao đất phải nộp 50% giá trị suất tái định cư tối thiểu và 100% phần giá trị tăng thêm so với suất tối thiểu.

    Nghị quyết số 66.26/2026/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 5/9/2026.

    Đối với các trường hợp đã có quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Nghị quyết có hiệu lực, phương án sẽ được điều chỉnh, bổ sung theo chính sách mới để bảo đảm thống nhất trong toàn bộ dự án.

    Trường hợp đã nhận tiền theo phương án được phê duyệt trước ngày 5/9/2026, số tiền đã chi trả sẽ được khấu trừ vào khoản được hưởng theo phương án điều chỉnh, bổ sung.

    Hoàng Anh

    Nguồn https://baomoi.com/quy-dinh-ho-tro-nguoi-dan-bi-thu-hoi-dat-lam-du-an-dien-hat-nhan-c56002349.epi

  • Cà Mau đặt mục tiêu 100% khóm, ấp có đường bê tông

    Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, thời gian qua, hệ thống giao thông nông thôn trên địa bàn tỉnh Cà Mau đã được đầu tư, từng bước hoàn thiện, góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của Nhân dân.

    Việc hoàn thiện hạ tầng giao thông thông suốt đến 100% khóm, ấp không chỉ là tiêu chí cốt lõi trong xây dựng nông thôn mới mà còn là nhiệm vụ chính trị trọng tâm nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, tạo động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng – an ninh.

    Cà Mùa đặt mục tiêu 100% khóm, ấp có đường bê tông. Ảnh: Nguyên Du

    Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Cà Mau Huỳnh Quốc Việt cho biết, tỉnh Cà Mau xác định, phát triển giao thông nông thôn là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu của cả hệ thống chính trị nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030. Phát triển hạ tầng giao thông phải gắn liền với xây dựng nông thôn mới, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.

    Tỉnh Cà Mau quán triệt nguyên tắc đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, đúng quy hoạch; bảo đảm tính kết nối đồng bộ, liên hoàn theo nguyên tắc “đường đến đâu, cầu đến đó” (cầu và đường phải được đầu tư gắn kết, không tách rời), tăng cường kết nối với hệ thống đường tỉnh, quốc lộ. Tuyệt đối không phân bổ vốn bình quân theo địa giới hành chính xã/phường, không đầu tư dàn trải, lãng phí.  

    Đặc biệt là quán triệt sâu sắc phương châm “Nhà nước và Nhân dân cùng làm”, phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân; thiết lập cơ chế phối hợp, cam kết chặt chẽ giữa Nhà nước – Nhân dân – Nhà tài trợ. Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo hỗ trợ mặt đường cứng hóa; Nhân dân là chủ thể tự nguyện hiến đất, di dời vật kiến trúc, đắp nền đất đen, làm cống ngang đường phục vụ sản xuất nông nghiệp và tham gia đối ứng theo khả năng thực tế.

    Cùng với đó, Cà Mau cũng đẩy mạnh xã hội hóa tối đa các nguồn lực ngoài ngân sách, nhất là vận động tài trợ xây dựng hệ thống cầu giao thông nông thôn. Đa dạng hóa các đối tượng tham gia xã hội hóa; khuyến khích các doanh nghiệp hưởng lợi trực tiếp từ hạ tầng giao thông cùng tham gia đầu tư, hỗ trợ…

    Hoàn thiện hạ tầng giao thông tạo động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội. Ảnh: Nguyên Du

    Đến nay, toàn tỉnh Cà Mau đã có 43/55 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 3 xã đạt nông thôn mới nâng cao và 1 xã đạt nông thôn mới kiểu mẫu. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau, tổng nguồn vốn phân bổ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025 hơn 573 tỷ đồng. Đến cuối năm 2025, tỉnh giải ngân hơn 353 tỷ đồng, đạt 65,3% kế hoạch. Nguồn lực tập trung cho địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang, ven biển. 

    Theo ông Bùi Tứ Hải, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau, nguồn vốn đầu tư đã tạo bước ngoặt cải thiện hạ tầng thiết yếu, nhất là giao thông và thủy lợi. Bên cạnh đó, nguồn vốn ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội tiếp tục hỗ trợ hiệu quả hộ nghèo phát triển sản xuất, tạo sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao thu nhập bền vững. 

    Về lộ trình đạt chuẩn nông thôn mới, tỉnh Cà Mau phấn đấu năm 2026, có thêm 3 xã đạt chuẩn nông thôn mới (tỷ lệ 5,4%); giải ngân đạt từ 90% trở lên kế hoạch vốn năm 2026 và xử lý dứt điểm 100% vốn năm 2025 chuyển sang. 

    Đến nay tỉnh Cà Mau 43/55 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 3 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 1 xã nông thôn mới kiểu mẫu. Ảnh: Nguyên Du.

    Đến năm 2030, phấn đấu thêm 9 xã đạt chuẩn nông thôn mới (lũy kế 36/55 xã, đạt 65,5%); có 4 xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại (đạt 11,1%). Mục tiêu đến năm 2030, tỉnh Cà Mau phấn đấu toàn tỉnh có khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có khoảng 10% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại. 

    Đặc biệt, trong Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 – 2030 (giai đoạn I), tỉnh dự kiến bố trí nguồn vốn hơn 1.614 tỷ đồng để đầu tư diện mạo nông thôn phát triển toàn diện và bền vững. 

    Nguyên Du

    Nguồn https://baomoi.com/ca-mau-dat-muc-tieu-100-khom-ap-co-duong-be-tong-c56002662.epi

  • TPHCM nghiên cứu bảo tồn, xếp hạng di tích tại Công viên Lê Thị Riêng

    UBND TPHCM vừa chỉ đạo Sở Văn hóa và Thể thao chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tiến hành khảo sát, đánh giá hiện trạng hai hố chôn tập thể liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng, phường Hòa Hưng để khoanh vùng bảo vệ, xây dựng bia tưởng niệm và lập hồ sơ xem xét đề nghị xếp hạng di tích.

    Đến ngày 7/9 đã phát hiện, quy tập tổng cộng 592 bộ hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng

    Theo đó, Sở Văn hóa và Thể thao và các đơn vị có liên quan tiếp tục nghiên cứu, đánh giá giá trị lịch sử – văn hóa của khu vực hố chôn tập thể liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng; tổ chức khảo sát, đánh giá hiện trạng, thu thập, xác minh, hệ thống hóa các tư liệu lịch sử, tư liệu về quá trình tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và các tài liệu có liên quan để có cơ sở xác định giá trị, phạm vi nghiên cứu, bảo vệ của địa điểm.

    Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, Sở Văn hóa và Thể thao tham mưu UBND TP thực hiện các bước tiếp theo để lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích theo quy định; trường hợp có cơ sở đề nghị xếp hạng di tích quốc gia, thực hiện thủ tục xin ý kiến thống nhất của cơ quan tham mưu, quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở Trung ương theo quy định.

    Đồng thời, Sở Văn hóa và Thể thao chủ trì nghiên cứu, đề xuất phương án bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị địa điểm, trong đó nghiên cứu việc khoanh vùng bảo vệ, xây dựng bia tưởng niệm, bia giới thiệu và các hạng mục phù hợp khác sau khi có kết quả đánh giá giá trị và xác định phạm vi cần bảo vệ.

    Công viên Lê Thị Riêng trở thành “địa chỉ đỏ” linh thiêng được nhiều người dân đến thắp hương tưởng nhớ

    UBND TP giao phường Hòa Hưng phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao trong quá trình khảo sát, nghiên cứu; cung cấp các thông tin, tài liệu hiện có liên quan đến địa điểm, trong đó tập trung vào quá trình hình thành, quản lý, sử dụng; hiện trạng khu vực; quá trình phát hiện, tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; các hoạt động tưởng niệm, tri ân đã và đang được thực hiện; thông tin về tổ chức, cá nhân được giao quản lý, sử dụng khu vực và các tài liệu khác có liên quan. Đồng thời, có văn bản gửi Sở Văn hóa và Thể thao đề nghị nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích đối với khu vực hố chôn tập thể liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng.

    Trong thời gian nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích, UBND phường Hòa Hưng phối hợp với đơn vị quản lý Công viên Lê Thị Riêng thực hiện các biện pháp cần thiết để giữ nguyên hiện trạng khu vực có liên quan; không tự ý di dời, cải tạo, xây dựng hoặc thực hiện các hoạt động khác có khả năng làm thay đổi, ảnh hưởng đến các yếu tố có giá trị lịch sử của địa điểm khi chưa có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền.

    TPHCM giao Bộ Tư lệnh Thành phố phối hợp cung cấp các hồ sơ, tài liệu, tư liệu và thông tin liên quan đến quá trình chiến đấu, hy sinh của cán bộ, chiến sĩ; quá trình phát hiện, tìm kiếm, khai quật, quy tập hài cốt liệt sĩ tại khu vực; sơ đồ, bản đồ, hình ảnh, lời kể nhân chứng và các tư liệu khác có liên quan. Các tài liệu, tư liệu cung cấp cho Sở Văn hóa và Thể thao để tổng hợp, nghiên cứu, phục vụ việc đánh giá giá trị và lập hồ sơ khoa học di tích.

    Các bạn trẻ dâng hương, dâng hoa tại đài tưởng niệm Tổng Bí thư Trần Phú đặt trong công viên Lê Thị Riêng

    Sở Nội vụ được giao phối hợp rà soát, cung cấp các hồ sơ, tài liệu và thông tin có liên quan đến các liệt sĩ được tìm kiếm, quy tập tại khu vực hố chôn tập thể liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng, trong phạm vi quản lý; đồng thời phối hợp xác minh các thông tin về liệt sĩ, số lượng, danh tính và các hồ sơ liên quan trong phạm vi hồ sơ, tài liệu quản lý, lưu trữ (nếu có), để phục vụ công tác nghiên cứu, xác định giá trị lịch sử của địa điểm.

    Theo Bộ Tư lệnh TPHCM cho biết từ ngày 23/6 đến hết ngày 7/9, lực lượng chức năng đã phát hiện, quy tập tổng cộng 592 bộ hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng. Trong đó 274 bộ có di vật. Số hài cốt trên gồm 559 bộ riêng lẻ và 33 bộ tại 8 vị trí mộ tập thể. Hiện công tác tìm kiếm tại Khu B hiện vẫn tiếp tục được mở rộng.

    Thiên Long

    Nguồn https://baomoi.com/tphcm-nghien-cuu-bao-ton-xep-hang-di-tich-tai-cong-vien-le-thi-rieng-c56002546.epi

  • Siết quản lý, xử phạt vi phạm sử dụng nhà chung cư lên đến 300 triệu đồng

    Ảnh minh họa: chung cư Cosmo City phường Tân Mỹ TP. Hồ Chí Minh – Tác giả: Hồng Vinh

    Nghị định 339/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 26/8/2026, đưa ra các quy định cụ thể về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả. Đối với các vi phạm liên quan đến quản lý và sử dụng nhà chung cư, nghị định này quy định mức phạt từ 80 triệu đồng đến 300 triệu đồng, tùy theo mức độ và tính chất của hành vi vi phạm.

    Một trong những điểm nổi bật của nghị định là mức phạt từ 80 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với các hành vi như không mở tài khoản thanh toán để quản lý kinh phí bảo trì phần sở hữu chung nhà chung cư, không có văn bản đề nghị tổ chức Hội nghị nhà chung cư lần đầu, hoặc không công khai đầy đủ thông tin về tài khoản kinh phí bảo trì cho cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh. Ngoài ra, việc không lập kế hoạch bảo trì hoặc không thực hiện đầy đủ trách nhiệm bảo trì, quản lý vận hành cũng bị xử phạt trong khung này.

    Mức phạt từ 160 triệu đồng đến 200 triệu đồng áp dụng cho các hành vi như xác định kinh phí bảo trì phần sở hữu chung không đúng quy định, không ghi thông tin về tài khoản thanh toán trong hợp đồng mua bán, hoặc bán, cho thuê chỗ để xe ô tô trong nhà chung cư không đúng quy định. Đặc biệt, hành vi không bàn giao kinh phí bảo trì cho Ban quản trị nhà chung cư có thể bị phạt đến 300 triệu đồng.

    Nghị định cũng quy định mức phạt từ 200 triệu đồng đến 260 triệu đồng đối với các hành vi như không bố trí đủ diện tích làm nhà sinh hoạt cộng đồng, quản lý kinh phí vận hành không đúng quy định, hoặc không tổ chức Hội nghị nhà chung cư lần đầu. Đối với hành vi tự ý chuyển đổi công năng, mục đích sử dụng phần sở hữu chung hoặc sử dụng căn hộ chung cư vào mục đích không phải để ở, mức phạt có thể lên đến 300 triệu đồng.

    Ngoài các mức phạt tiền, nghị định còn đưa ra các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc mở tài khoản thanh toán để quản lý kinh phí bảo trì, buộc có văn bản đề nghị tổ chức Hội nghị nhà chung cư, hoặc buộc công khai hồ sơ theo quy định của pháp luật về nhà ở. Các biện pháp này nhằm đảm bảo việc quản lý, sử dụng nhà chung cư và kinh phí bảo trì được thực hiện đúng quy định, bảo vệ quyền lợi của cư dân.

    Đặc biệt, Nghị định 339 cũng tăng cường mức phạt đối với hành vi sử dụng chung cư vào mục đích không phải để ở, với mức phạt từ 100 triệu đồng đến 130 triệu đồng, tăng hơn 3 lần so với quy định trước đây. Khung phạt này cũng áp dụng cho các hành vi cố ý gây thấm, dột căn hộ chung cư, tự ý chuyển đổi công năng phần sở hữu chung, không quản lý, vận hành nhà ở nhiều tầng, nhiều căn hộ.

    Đối với ban quản trị nhà chung cư, nghị định yêu cầu thành viên phải có giấy chứng nhận hoàn thành khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nếu không sẽ bị phạt từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng. Việc quản lý, sử dụng kinh phí bảo trì sai quy định, tự ý chuyển đổi công năng phần sở hữu chung hay không công khai việc sử dụng kinh phí bảo trì sẽ bị phạt từ 50 triệu đồng đến 60 triệu đồng.

    Theo đánh giá của các chuyên gia, Nghị định 339/2026/NĐ-CP là một bước tiến quan trọng trong việc siết chặt quản lý và xử lý vi phạm trong lĩnh vực xây dựng và quản lý nhà chung cư. Với các quy định chi tiết và mức phạt nghiêm khắc, Nghị định này không chỉ bảo vệ quyền lợi của cư dân mà còn góp phần nâng cao chất lượng quản lý, sử dụng nhà chung cư, đảm bảo an toàn và trật tự trong cộng đồng.

    Hồng Vinh

    Nguồn https://baomoi.com/siet-quan-ly-xu-phat-vi-pham-su-dung-nha-chung-cu-len-den-300-trieu-dong-c56002232.epi

  • Hà Nội định hình lại không gian đô thị dọc 40 km sông Hồng

    Tổ chức lại không gian đô thị

    TP Hà Nội đang lấy ý kiến về Đề án điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5.000 để thực hiện Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Khu vực nghiên cứu có chiều dài khoảng 40 km, từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, tương đương khoảng 1/3 chiều dài sông Hồng chảy qua Hà Nội.

    Ranh giới phía Bắc là đê Tả sông Hồng, phía Nam là đê Hữu sông Hồng. Tổng diện tích khu vực khoảng 11.418 ha, thuộc 9 xã và 7 phường gồm Hồng Hà, Ô Diên, Thượng Cát, Đông Ngạc, Phú Thượng, Lĩnh Nam, Thanh Trì, Nam Phù, Hồng Vân, Mê Linh, Thiên Lộc, Vĩnh Thanh, Đông Anh, Bồ Đề, Long Biên và Bát Tràng.

    Theo đề án, Hà Nội đặt ra nguyên tắc sắp xếp, quy hoạch lại khu dân cư ngoài đê, đồng thời tổ chức đồng bộ không gian hai bên sông Hồng. Không gian đô thị mới và các công trình dịch vụ được bố trí dọc các trục đường chính. Các khu cao tầng được tổ chức theo tuyến, với mật độ xây dựng thấp và chiều cao giảm dần về phía đê nhằm bảo đảm tầm nhìn và vi khí hậu.

    Phối cảnh đô thị sông Hồng về đêm.

    Giữa các khu đô thị cao tầng và làng xóm sẽ hình thành các vùng đệm để tạo sự chuyển tiếp về không gian. Cảnh quan các làng nghề truyền thống được khai thác phục vụ du lịch sinh thái; các công trình giáo dục, y tế, văn hóa và quỹ đất cây xanh được bổ sung, nâng cấp.

    Dọc bãi sông sẽ hình thành chuỗi công viên đô thị, kết nối với các khu đô thị thông qua các trục xanh theo hướng Đông – Tây. Những khu vực thường xuyên ngập nước phía ngoài đê bối được bố trí các công viên bảo tồn tự nhiên.

    Tại khu vực tiếp giáp nội đô lịch sử, các không gian chức năng tổng hợp được tổ chức gắn với những không gian văn hóa, lịch sử như cầu Long Biên và trục Hồ Tây – Cổ Loa.

    Về cấu trúc không gian kiến trúc, toàn khu được chia thành ba phân đoạn để quản lý và phát triển.

    Đoạn 1 từ cầu Hồng Hà đến cầu Thăng Long có diện tích khoảng 3.436 ha, quy mô dân số 160.000 người. Khu vực này được định hướng phát triển không gian sinh thái, bảo tồn tính tự nhiên, công viên chuyên đề, công viên thể dục thể thao và cây xanh cảnh quan.

    Các khu dân cư làng xóm được cải tạo, chỉnh trang trước mắt, ngoại trừ những khu nằm trong phạm vi di dời theo Quy hoạch phòng chống lũ hoặc bị ảnh hưởng bởi đại lộ cảnh quan, nút giao thông. Khu vực cũng phát triển các khu đa chức năng, thương mại, dịch vụ, vận chuyển tại cụm cảng Chèm và các nhóm nhà ở.

    Đoạn 2 từ cầu Thăng Long đến cầu Thanh Trì rộng khoảng 4.548 ha, quy mô dân số khoảng 541.000 người. Đây là khu vực trung tâm của phân khu, được xác định là “Phòng khách đô thị”, tập trung các chức năng công cộng, văn hóa, thương mại, dịch vụ và không gian cảnh quan.

    Theo phương án, khu vực này sẽ được tái thiết mạnh, bổ sung các chức năng thương mại, dịch vụ, thiết chế văn hóa tập trung và các công trình điểm nhấn, tạo liên kết khu vực Hồ Tây – Cổ Loa.

    Đoạn 3 từ cầu Thanh Trì đến cầu Mễ Sở có diện tích khoảng 3.435 ha, dân số khoảng 499.000 người. Khu vực được định hướng phát triển thương mại, dịch vụ, vận chuyển, công viên nông nghiệp sinh thái, nghỉ dưỡng kết hợp trải nghiệm sáng tạo.

    Quy hoạch đồng thời đặt yêu cầu bảo tồn, khôi phục các giá trị lịch sử, văn hóa phục vụ du lịch; phát triển các khu đa chức năng gắn với cảng Thanh Trì, Bát Tràng và các làng nghề.

    Tại cả ba phân đoạn, khung chỉ tiêu quy hoạch – kiến trúc quy định tầng cao tối đa 30-45 tầng. Mật độ xây dựng đối với khu dịch vụ – công cộng là 60%, nhóm nhà ở 35-40%, công viên công cộng 5% và công viên chuyên đề 25%.

    18 dự án thành phần tạo diện mạo mới cho trục sông

    Đối với khu dân cư hiện hữu, Hà Nội rà soát 12 cụm làng nghề với tổng diện tích khoảng 1.067 ha. Hồ sơ cũng phân loại các cụm làng lâu đời, làng nghề và làng nghề truyền thống. Có 8 cụm làng được cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc; 2 cụm làng tái thiết và 2 cụm làng di dời theo quy hoạch phòng chống lũ.

    Cùng với mạng lưới giao thông, quy hoạch bố trí chuỗi công viên tại nhiều vị trí dọc sông. Danh mục dự án thành phần gồm các cụm công viên Tráng Việt, Tàm Xá, Ngọc Thụy, Long Biên – Cự Khối, Thượng Cát – Liên Mạc, Ô Diên, Phú Thượng, Hồng Hà, Lĩnh Nam, Lĩnh Nam – Nam Phù – Hồng Vân và Xuân Quan – Phụng Công.

    Đoạn sông Hồng qua 16 xã, phường của TP Hà Nội.

    Về giao thông, quy hoạch tổ chức đồng bộ đường bộ, đường sắt, đường thủy và giao thông công cộng. Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng là tuyến đường bộ chính chạy dọc hai bên sông, trong đó tuyến Tả Hồng dài khoảng 35 km và tuyến Hữu Hồng dài khoảng 45,35 km, đều được định hướng là trục chính đô thị với phần đường chính 6 làn xe cơ giới.

    Các tuyến đường chính đô thị và liên khu vực có quy mô 6-8 làn xe, bề rộng 40-50 m; đường khu vực quy mô 2-4 làn xe, bề rộng 17,5-30 m. Hệ thống vượt sông được tổ chức với 17 cầu đường bộ. Trong đó có 6 cầu hiện hữu gồm Thăng Long, Nhật Tân, Long Biên, Chương Dương, Vĩnh Tuy và Thanh Trì; 6 cầu đang triển khai gồm Hồng Hà, Thượng Cát, Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Ngọc Hồi và Mễ Sở; cùng 5 cầu quy hoạch là Liên Trung, Tàm Xá, Cự Khối, Bát Tràng và Khuyến Lương.

    Mạng lưới đường sắt quốc gia được định hướng nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới các tuyến hướng tâm, đường sắt vành đai; trong đó có tuyến đường sắt vành đai dọc vành đai 4, kết nối tại khu vực cầu Hồng Hà và cầu Mễ Sở. Mạng lưới đường sắt đô thị đi qua khu vực gồm 11 tuyến..

    Quy hoạch cũng bố trí các bãi đỗ xe công cộng kết hợp tại khu cây xanh, khu công cộng, nút giao khác mức và khu vực gầm cầu cạn. Các dự án xây dựng mới phải đáp ứng nhu cầu đỗ xe của công trình và một phần nhu cầu của khu vực.

    Theo hồ sơ, quy hoạch sẽ được cụ thể hóa bằng 18 dự án thành phần, gồm 2 dự án đầu tư tuyến giao thông; 11 dự án đầu tư công viên; 2 dự án đầu tư kè và chỉnh trị lòng sông, bờ sông; 3 dự án đầu tư khu đô thị định cư, tái thiết.

    Tiến độ dự kiến thực hiện từ năm 2026 đến 2038. Giai đoạn 2026-2030, thành phố ưu tiên Trục đại lộ cảnh quan hai bên sông, kè và chỉnh trị lòng, bờ sông, một số công viên, khu vực “Phòng khách đô thị”, khu đô thị định cư tại Lĩnh Nam, Long Biên và các dự án giải phóng mặt bằng độc lập. Giai đoạn 2030-2038 sẽ hoàn thành các dự án thành phần còn lại.

    Hồ sơ xác định 6 nhóm giá trị cốt lõi gồm an toàn; xây dựng thành phố ven sông phát triển hài hòa với nước; sinh thái; giao thông; chức năng, kinh tế; văn hóa – văn minh. Cùng với đó là các yêu cầu về nền móng phòng chống lũ, hạ tầng đồng bộ, chuyển đổi chức năng và nâng cấp chất lượng.

    Quang Phong/Báo Tin tức và Dân tộc

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-dinh-hinh-lai-khong-gian-do-thi-doc-40-km-song-hong-c56002330.epi

  • Thường trực HĐND tỉnh Nghệ An đề nghị rà soát, cắt giảm các nghị quyết lan tỏa thấp, vai trò dẫn dắt không còn

    Quang cảnh cuộc làm việc. Ảnh: Thành Duy

    Sáng 8/9, Đoàn giám sát chuyên đề của Thường trực HĐND tỉnh về việc thực hiện các nghị quyết liên quan đến cơ chế, chính sách phát triển kinh tế – xã hội làm việc với UBND tỉnh.

    Các đồng chí: Hoàng Nghĩa Hiếu – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Võ Trọng Hải – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đồng chủ trì.

    Cùng dự cuộc làm việc có các đồng chí: Dương Đình Chỉnh – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh; Bùi Thanh An – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; Nguyễn Văn Đệ – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Nguyễn Như Khôi – Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; các Ủy viên UBND tỉnh và thành viên Đoàn giám sát.

    Đề nghị bãi bỏ 2 nghị quyết; sửa đổi, bổ sung, thay thế 9 nghị quyết

    Chương trình giám sát tập trung vào 18 nghị quyết về cơ chế, chính sách thuộc các lĩnh vực kinh tế – ngân sách, văn hóa – xã hội và dân tộc. Trước khi làm việc với UBND tỉnh, Đoàn đã làm việc trực tiếp tại cơ sở nhằm đánh giá kết quả thực hiện và những khó khăn phát sinh trong quá trình triển khai.

    Đồng chí Chu Đức Thái – Ủy viên Thường trực HĐND tỉnh, Trưởng ban Văn hóa – Xã hội trình bày báo cáo kết quả giám sát. Ảnh: Thành Duy

    Qua giám sát, Thường trực HĐND tỉnh đánh giá việc triển khai các nghị quyết cơ bản được thực hiện nghiêm túc, góp phần hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an sinh và thúc đẩy một số lĩnh vực sản xuất, văn hóa, giáo dục.

    Tuy nhiên, việc thực hiện một số chính sách còn chậm; công tác tuyên truyền, hướng dẫn chưa đồng đều. Nguồn lực bố trí ở một số chính sách chưa đáp ứng nhu cầu; việc lập dự toán và giải ngân tại một số đơn vị chưa sát thực tế. Một số chính sách đã bộc lộ những điểm không còn phù hợp nhưng chưa được rà soát, sửa đổi hoặc bãi bỏ kịp thời.

    Đồng chí Dương Đình Chỉnh – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh phát biểu ý kiến. Ảnh: Thành Duy

    Đoàn giám sát đề nghị tỉnh tập trung nguồn lực cho những chính sách có trọng tâm, trọng điểm; lập dự toán sát nhu cầu thực tế, tăng cường phân cấp cho cơ sở và xác định rõ trách nhiệm của cơ quan tham mưu khi chính sách triển khai chậm. Việc đánh giá hiệu quả chính sách cũng cần được thực hiện thường xuyên để kịp thời điều chỉnh.

    Đối với 18 nghị quyết thuộc diện giám sát, Đoàn đề nghị tham mưu trình HĐND tỉnh bãi bỏ 2 nghị quyết do không còn phù hợp với thực tiễn và căn cứ pháp lý đã hết hiệu lực; 9 nghị quyết khác được đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế nhằm đồng bộ với các quy định mới của Trung ương và phù hợp thực tế.

    Đồng chí Nguyễn Văn Đệ – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu ý kiến. Ảnh: Thành Duy

    Phát biểu tại cuộc làm việc, thay mặt UBND tỉnh, đồng chí Võ Trọng Hải đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, tính khách quan và phương pháp làm việc khoa học của Đoàn giám sát; đồng thời nghiêm túc tiếp thu các ý kiến, kiến nghị.

    UBND tỉnh sẽ chỉ đạo các sở, ngành rà soát những nghị quyết về cơ chế, chính sách đã ban hành nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả; đánh giá lại mức độ phù hợp với quy định pháp luật mới, tình hình thực tiễn và định hướng phát triển để tham mưu sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ.

    Đồng chí Võ Trọng Hải – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu ý kiến. Ảnh: Thành Duy

    “Quan điểm nhất quán là phải rà soát để tích hợp các cơ chế, chính sách có sự tương đồng, tránh để quá nhiều nghị quyết, nhiều chính sách nhưng không sát thực tiễn, khó triển khai, khó tiếp cận”, Chủ tịch UBND tỉnh nói.

    Đồng chí cũng đề nghị các Ban của HĐND tỉnh tham gia ngay từ đầu quá trình xây dựng nghị quyết, phối hợp với UBND tỉnh trong nghiên cứu, đề xuất chính sách để nâng cao chất lượng và tạo sự đồng thuận.

    Chủ tịch UBND tỉnh cũng khẳng định sẽ nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, trong đó, thủ tục triển khai, giải ngân, thanh, quyết toán phải rõ ràng, dễ thực hiện; đối tượng thụ hưởng dễ tiếp cận và chính sách phải tạo ra hiệu quả thực chất.

    Các sở, ngành liên quan được yêu cầu phối hợp chặt chẽ trong hướng dẫn, theo dõi quá trình thực hiện; kịp thời phát hiện, đôn đốc những nơi triển khai chậm. Văn phòng UBND tỉnh được giao phối hợp với Sở Tài chính và các sở, ngành xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể, bảo đảm rõ việc, rõ cơ quan chủ trì, rõ thời gian, rõ trách nhiệm và rõ kết quả.

    Đo đếm hiệu quả bằng kết quả thực tế

    Kết luận cuộc làm việc, Chủ tịch HĐND tỉnh Hoàng Nghĩa Hiếu đề nghị bổ sung số liệu tài chính đã chi trả so với tổng nguồn ngân sách được bố trí cho từng chính sách.

    Từ đó, cần phân tích nguyên nhân giải ngân thấp, chẳng hạn thủ tục còn rườm rà, đối tượng thụ hưởng không có nhu cầu hoặc công tác thông tin, tuyên truyền chưa đến được người dân. Đồng thời, kết quả đạt được của từng nghị quyết và tác động cụ thể đối với phát triển kinh tế – xã hội cũng cần được làm rõ.

    Đồng chí Hoàng Nghĩa Hiếu – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh phát biểu kết luận cuộc làm việc. Ảnh: Thành Duy

    Yêu cầu này được đặt ra trong bối cảnh nguồn lực tài chính giai đoạn tới được dự báo rất khó khăn, khả năng cân đối ngân sách địa phương chịu áp lực lớn. Vì vậy, các cơ chế, chính sách phải thực sự hiệu quả, vừa hỗ trợ đúng đối tượng, vừa khơi thông nguồn lực và tạo động lực cho tăng trưởng.

    Đồng chí đề nghị UBND tỉnh tham mưu trình HĐND tỉnh xử lý các nghị quyết theo kiến nghị của Đoàn giám sát; đồng thời, cần chủ động rà soát cả những nghị quyết ngoài 18 chính sách được giám sát lần này.

    Những chính sách không còn phù hợp, tính lan tỏa thấp, vai trò dẫn dắt không còn cần được nghiên cứu để trình HĐND tỉnh cắt giảm. Cùng với đó là khắc phục những hạn chế trong tổ chức thực thi và giải quyết các kiến nghị chính đáng từ cơ sở.

    Các đồng chí lãnh đạo và Ủy viên UBND tỉnh dự cuộc làm việc. Ảnh: Thành Duy

    Từ kết quả giám sát, Chủ tịch HĐND tỉnh yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện chính sách theo hướng gắn chính sách mới với khả năng cân đối nguồn lực tài chính, bảo đảm tính khả thi.

    Các sở, ngành khi tham mưu cần tăng cường tích hợp những chính sách có cùng mục tiêu thành các đề án, chương trình lớn, qua đó, tập trung nguồn lực và nâng cao hiệu quả đầu tư; hạn chế việc xây dựng quá nhiều chính sách nhỏ lẻ, manh mún.

    Trong tổ chức thực hiện, cần khẩn trương ban hành hướng dẫn thống nhất, quy định rõ cơ quan tiếp nhận, phê duyệt và quy trình thủ tục; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công bố các bộ thủ tục rút gọn, giảm khâu trung gian, tăng phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực cho cơ sở.

    Các thành viên trong đoàn giám sát dự cuộc làm việc. Ảnh: Thành Duy

    Đối với công tác kiểm tra, đôn đốc, đồng chí yêu cầu các cấp, ngành cấp tỉnh bám sát cơ sở, tăng cường hướng dẫn trực tiếp, thường xuyên rà soát khả năng “hấp thụ” chính sách để kịp thời tháo gỡ vướng mắc, tránh tình trạng chính sách đã ban hành nhưng người dân không tiếp cận được.

    Chủ tịch HĐND tỉnh giao Đoàn giám sát, trực tiếp là các Ban của HĐND tỉnh theo từng lĩnh vực và Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh tiếp thu đầy đủ ý kiến tại cuộc làm việc, khẩn trương hoàn thiện báo cáo kết quả giám sát để trình Thường trực HĐND tỉnh xem xét, thông qua kết luận giám sát chuyên đề.

    Thành Duy

    Nguồn https://baomoi.com/thuong-truc-hdnd-tinh-nghe-an-de-nghi-ra-soat-cat-giam-cac-nghi-quyet-lan-toa-thap-vai-tro-dan-dat-khong-con-c56002298.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!