Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Gỡ vướng cung ứng xi măng, siết chặt quản lý tài sản công

    Quang cảnh phiên chất vấn của Thường trực HĐND tỉnh Gia Lai. Ảnh: Đ.T

    Cung ứng xi măng chưa theo kịp nhu cầu

    Chất vấn về vấn đề cung ứng xi măng, ông Võ Ngọc Bình – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Bồng Sơn đề nghị Giám đốc Sở Tài chính làm rõ nguyên nhân việc cung ứng xi măng phục vụ làm đường giao thông nông thôn và kiên cố hóa kênh mương tại các địa phương còn chậm, chưa đáp ứng kịp vào thời điểm thi công thuận lợi, nhất là vào mùa khô và sau khi kết thúc vụ sản xuất. Đồng thời, đại biểu đề nghị có giải pháp căn cơ để khắc phục tình trạng này.

    Ông Trần Cang – Giám đốc Sở Tài chính trả lời chất vấn nội dung đại biểu nêu. Ảnh: Đ.T

    Trả lời nội dung này, Giám đốc Sở Tài chính Trần Cang cho biết: Chính sách hỗ trợ xi măng thời gian qua đã phát huy hiệu quả, song việc cung ứng đến các địa phương còn chậm.

    Nguyên nhân chủ yếu do địa bàn tỉnh rộng, nhu cầu xây dựng phân tán. Việc tổ chức mua sắm tập trung rồi vận chuyển đến từng địa phương, từng công trình phát sinh nhiều thủ tục, mất thời gian.

    Bên cạnh đó, điều kiện thời tiết giữa các khu vực không đồng nhất, dẫn đến có nơi cần thi công nhưng chưa được cấp xi măng, trong khi nơi chưa đến thời điểm thi công lại được cung cấp trước.

    Theo Giám đốc Sở Tài chính, phương thức mua sắm tập trung hiện nay khó đáp ứng linh hoạt nhu cầu thi công thực tế. Vì vậy, từ năm 2027, Sở đề xuất chuyển sang phương thức “tính bằng vật, cấp bằng tiền”. Theo đó, kinh phí hỗ trợ được xác định trên cơ sở số lượng xi măng đã được tỉnh phê duyệt cho từng công trình, từng địa phương.

    Sau khi kế hoạch và dự toán được phê duyệt, kinh phí sẽ được phân bổ để các xã chủ động mua xi măng, lựa chọn thời điểm và nhà cung cấp phù hợp, bảo đảm đúng quy định.

    Cách làm này được kỳ vọng giúp cơ sở chủ động hơn trong tổ chức thi công, phù hợp với điều kiện thời tiết và nhu cầu thực tế; đồng thời, rút ngắn quy trình mua sắm, giảm khâu trung gian và nâng cao trách nhiệm của địa phương.

    Giám đốc Sở Tài chính đề nghị HĐND tỉnh nghiên cứu sửa đổi phương thức hỗ trợ theo hướng này; qua đó khắc phục tình trạng chậm cung ứng xi măng, bảo đảm các công trình giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương được triển khai đúng thời điểm và phát huy hiệu quả nguồn lực ngân sách.

    Giải trình thêm về nguyên nhân chậm cung ứng, Giám đốc Sở Xây dựng Nguyễn Trường Sơn cho biết: Năm 2026 là năm đầu triển khai Chương trình bê tông hóa giao thông nông thôn giai đoạn 2026-2030 với quy mô lớn; ngân sách tỉnh hỗ trợ khoảng 1.165,17 tỷ đồng, liên quan đến 135 xã, phường. Do đó, các khâu từ hoàn thiện cơ chế, xác định nhu cầu, danh mục công trình, kế hoạch đến bố trí nguồn kinh phí phải được thực hiện đồng thời.

    Một trong những nguyên nhân được chỉ ra là tiến độ đăng ký nhu cầu của các địa phương còn chậm. Sở Xây dựng đã triển khai rà soát, đăng ký nhu cầu từ tháng 7-2025. Tuy nhiên, đến ngày 12-11-2025 mới có 29/135 xã, phường đăng ký; 106 địa phương còn lại chưa đăng ký đầy đủ. Sau đó, một số địa phương tiếp tục điều chỉnh, bổ sung nhu cầu và danh mục công trình, khiến quá trình tổng hợp, hoàn thiện kế hoạch kéo dài.

    Ông Nguyễn Trung Kiên – Phó Trưởng Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh chất vấn nội dung liên quan đến cung ứng xi măng phục vụ làm đường giao thông nông thôn và kiên cố hóa kênh mương tại các địa phương. Ảnh: Đ.T

    Kết luận nội dung liên quan đến phát triển giao thông nông thôn và cung ứng xi măng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Rah Lan Chung nhấn mạnh: Chương trình kiên cố hóa và phát triển hệ thống giao thông nông thôn giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu hoàn thành khoảng 1.785 km đường, với tổng kinh phí hơn 1.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, quá trình triển khai còn những bất cập, nhất là trong cung ứng xi măng.

    Chủ tịch HĐND tỉnh đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành khẩn trương nghiên cứu phương án phù hợp; trước mắt xem xét khả năng chuyển từ cung ứng xi măng sang hỗ trợ bằng tiền đối với các địa phương đã đăng ký, nhằm bảo đảm triển khai chương trình trong năm 2026.

    Đồng thời, nghiên cứu sửa đổi nghị quyết của HĐND tỉnh về chương trình kiên cố hóa giao thông nông thôn, trong đó xem xét lại mức hỗ trợ của Nhà nước và mức đóng góp của người dân phù hợp với từng khu vực, từng loại hình giao thông.

    Rà soát, xử lý nhà công sản để tránh lãng phí

    Đối với nhóm vấn đề quản lý, sử dụng và khai thác tài sản công, ông Trần Nhật Quân – Phó Trưởng ban Pháp chế HĐND tỉnh đề nghị Giám đốc Sở Xây dựng làm rõ nguyên nhân nhiều căn nhà thuộc sở hữu nhà nước chưa được đưa vào khai thác, sử dụng, để trống kéo dài; đồng thời, làm rõ số tiền thuê nhà còn phải truy thu và biện pháp xử lý các khoản nợ kéo dài nhiều năm.

    Ông Trần Nhật Quân – Phó Trưởng ban Pháp chế HĐND tỉnh đề nghị Giám đốc Sở Xây dựng làm rõ nguyên nhân nhiều căn nhà thuộc sở hữu nhà nước chưa được đưa vào khai thác, sử dụng. Ảnh: Đ.T

    Giải trình về vấn đề này, Giám đốc Sở Xây dựng cho biết: Sau sáp nhập tỉnh, đơn vị đang quản lý 293 căn nhà ở, trong đó, 172 căn đang cho thuê có hợp đồng, 75 căn có người sử dụng nhưng chưa ký hợp đồng và 46 căn đang để trống.

    Số lượng này giảm 16 căn so với trước sáp nhập do 16 căn thuộc Khu tập thể Khí tượng thủy văn khu vực Tây Nguyên (phường Pleiku) được thu hồi, tháo dỡ để phục vụ giải phóng mặt bằng Dự án cải tạo nút giao thông Phù Đổng.

    Tính đến tháng 8-2026, tổng số tiền thuê nhà đã thu hơn 731 triệu đồng, tiền bán nhà hơn 1,6 tỷ đồng. Trong khi đó, số tiền thuê nhà còn nợ từ các thời kỳ trước chuyển sang hơn 700,5 triệu đồng.

    Giám đốc Sở Xây dựng Nguyễn Trường Sơn trả lời chất vấn. Ảnh: Đ.T

    Theo Giám đốc Sở Xây dựng, những tồn tại chủ yếu là nợ, chậm nộp tiền thuê nhà; một số cơ sở nhà, đất để trống, chưa được xử lý hoặc chưa ký hợp đồng.

    Nguyên nhân một phần do công nợ tồn đọng từ các giai đoạn trước, một số hộ có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp; trong khi một số căn nằm trong các khu chung cư, nhà tập thể xuống cấp nên chưa thể xử lý riêng lẻ.

    Để khắc phục, Sở Xây dựng đang phân loại, xử lý từng nhóm nhà, đất. Đối với các khu chung cư, nhà tập thể xuống cấp, UBND tỉnh đã phê duyệt phương án thực hiện Đề án di dời, dự kiến hoàn thành trong năm 2027. Sau khi di dời, các cơ quan liên quan sẽ đề xuất phương án quy hoạch, sử dụng và khai thác hiệu quả quỹ đất.

    Đối với các căn nhà, cơ sở nhà đất để trống khác, Sở tiếp tục rà soát, đề xuất bán đấu giá hoặc giao địa phương quản lý, xử lý theo quy định. Với 75 căn đang có người sử dụng nhưng chưa ký hợp đồng, 37 căn sẽ được xử lý theo phương án di dời; 38 căn còn lại tiếp tục được rà soát, phân loại và hoàn thiện hồ sơ.

    Về công tác thu hồi tiền thuê nhà, Sở Xây dựng phối hợp với các địa phương xác minh những trường hợp thuộc diện được miễn, giảm; đồng thời xây dựng lộ trình thanh toán đối với các hộ thực sự khó khăn.

    Những trường hợp không thuộc diện khó khăn nhưng chậm hoặc không thực hiện nghĩa vụ tài chính sẽ được đôn đốc thanh toán; nếu nợ từ 3 tháng trở lên không có lý do chính đáng, Sở sẽ tham mưu thực hiện thủ tục thu hồi nhà theo quy định.

    Sở cũng yêu cầu Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định xây dựng đối chiếu công nợ đến từng hợp đồng, từng hộ hằng tháng; thông báo nghĩa vụ tiền thuê và cảnh báo ngay khi phát sinh nợ, không để công nợ tiếp tục kéo dài, phát sinh nợ mới.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Quế giải trình, làm rõ các nội dung liên quan. Ảnh: Đ.T

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Quế thống nhất với các ý kiến chất vấn của các đại biểu; đồng thời đề nghị Sở Xây dựng tiếp tục tham mưu UBND tỉnh tăng cường quản lý quỹ nhà thuộc tài sản công, bảo đảm sử dụng hiệu quả, tránh lãng phí, thất thoát.

    Đối với việc thu tiền thuê nhà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng: Đây là vấn đề khó, nhạy cảm bởi nhiều người thuê nhà có hoàn cảnh khó khăn, trong đó có cả gia đình chính sách.

    Tuy nhiên, người thuê nhà vẫn phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng và quy định pháp luật. Vì vậy, Sở Xây dựng cần phối hợp với chính quyền địa phương tăng cường tuyên truyền, vận động, hỗ trợ người thuê nâng cao thu nhập, thực hiện tiết kiệm để có điều kiện thanh toán tiền thuê nhà đúng quy định.

    Bên cạnh đó, Sở Xây dựng cần tham mưu UBND tỉnh phương án xử lý, hóa giá và khai thác quỹ nhà, đất công phù hợp, bảo đảm phát huy hiệu quả tài sản nhà nước, hạn chế thất thoát, lãng phí.

    Kết luận nội dung quản lý, sử dụng và khai thác nhà ở thuộc tài sản công, Chủ tịch HĐND tỉnh Rah Lan Chung nhấn mạnh: Đây là vấn đề cần đặc biệt quan tâm, bởi quản lý không chặt chẽ có thể dẫn đến lãng phí, thất thoát và sử dụng tài sản nhà nước không hiệu quả.

    Chủ tịch HĐND tỉnh Rah Lan Chung phát biểu kết luận các nội dung chất vấn. Ảnh: Đ.T

    Chủ tịch HĐND tỉnh đề nghị UBND tỉnh, Sở Xây dựng tiếp tục rà soát, thống kê đầy đủ hiện trạng quỹ nhà; làm rõ các trường hợp nhà ở xuống cấp, không còn nhu cầu sử dụng và những khó khăn trong thu tiền thuê.

    Trên cơ sở đó, xây dựng phương án sắp xếp, bố trí, quản lý và khai thác hiệu quả quỹ nhà, nhất là trong bối cảnh tỉnh đang rà soát, sắp xếp tài sản công dôi dư sau sắp xếp tổ chức bộ máy.

    Chủ tịch HĐND tỉnh cũng đề nghị các ban HĐND tỉnh tăng cường giám sát chuyên đề đối với công tác quản lý, sử dụng nhà ở thuộc tài sản công; UBND tỉnh nghiên cứu giao cơ quan chức năng tăng cường thanh tra, kiểm tra, bảo đảm tài sản công được quản lý, sử dụng và khai thác đúng quy định, tiết kiệm, hiệu quả, không để xảy ra thất thoát, lãng phí.

    QUANG TẤN

    Nguồn https://baomoi.com/go-vuong-cung-ung-xi-mang-siet-chat-quan-ly-tai-san-cong-c56005861.epi

  • Nghệ An: Quá hạn 1 tuần, một số mỏ vẫn chưa lắp trạm cân, truyền dữ liệu camera

    Hơn 200 mỏ đồng loạt lắp trạm cân, camera giám sát

    Ngày 8/9, ghi nhận của phóng viên Báo Xây dựng cho thấy, tại các vùng tập trung đông các mỏ khoáng sản của tỉnh Nghệ An như Phúc Lộc, Châu Lộc, Quỳ Hợp, Đô Lương, Hoàng Mai, hầu hết các mỏ đã hoàn thành việc lắp đặt trạm cân và hệ thống camera giám sát theo yêu cầu của UBND tỉnh.

    Trạm cân tại mỏ bãi Giang được lắp đặt theo hướng dẫn của Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An.

    Đơn cử ở mỏ đá bãi Giang ở xã Phúc Lộc, tại đây, trạm cân được lắp đặt ở cả 2 đầu: nơi khai thác thô và vị trí xuất bán các loại đá thành phẩm.

    Ông T.Q, phụ trách quản lý mỏ cho biết: Trạm cân đầu ra cùng hệ thống camera giám sát quanh mỏ đã được đơn vị lắp từ lâu và đang hoạt động tốt. Vừa rồi thực hiện yêu cầu của cơ quan quản lý, đã cho lắp đặt thêm một trạm cân đầu vào để cân đá thô sau khi khai thác rồi mới đưa sang chế biến các sản phẩm đá làm vật liệu xây dựng như: xay đá 1×2, đá 4×6, base… Tổng chi phí cho việc lắp đặt thêm trạm cân và bổ sung camera tại các vị trí như hướng dẫn là khoảng 175 triệu đồng.

    “Hiện nay hệ thống hoạt động tốt, cũng giúp ích rất nhiều cho công tác quản lý tại mỏ. Những chi phí đầu tư thêm này chắc sẽ phải đưa vào hạch toán trong chi phí sản xuất”, ông Q chia sẻ.

    Tương tự như ở mỏ khai thác đá trắng của công ty T.T (xã Châu Lộc), đơn vị này đã lắp đặt và vận hành trạm cân cũng như camera từ nhiều năm trước. Đợt này, do hệ thống camera gắn sim mạng không tương thích để truyền dữ liệu nên doanh nghiệp đã đầu tư thay thế và hoàn thành việc lắp đặt bổ sung hệ thống camera, thiết bị kết nối ngay trong tháng 8, bắt đầu truyền dữ liệu từ những ngày đầu tháng 9.

    Ông T chủ doanh nghiệp cho biết: Tổng kinh phí lắp đặt camera và đường truyền hết hơn 20 triệu đồng.

    Không thuận lợi như hầu hết các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn, đối với khu vực mỏ ở Hoàng Mai, dù đã quá thời hạn tỉnh giao đến hơn 1 tuần, nhưng một số doanh nghiệp còn đang gặp khó khăn trong kết nối dữ liệu.

    Một mỏ khai thác đá ở Hoàng Mai đã lắp đặt trạm cân, hệ thống camera giám sát nhưng đang gặp khó trong kết nối và truyền dữ liệu.

    Đơn cử như mỏ khai thác đá nằm một bên đường tỉnh 538 thuộc phường Hoàng Mai. Hệ thống trạm cân được đơn vị này lắp đặt từ cách đây hơn một năm, nhưng chủ yếu phục vụ hoạt động kiểm soát khối lượng nội bộ của đơn vị. 

    Nay thực hiện yêu cầu của UBND tỉnh, doanh nghiệp đã đầu tư làm thêm nhà điều hành, hệ thống camera giám sát. Tuy nhiên, các hoạt động vẫn mới chỉ dừng ở ghi chép số liệu thủ công do còn thiếu kết nối.

    Ông C.L, chủ doanh nghiệp cho biết: Ở đây sóng viễn thông và mạng 4G rất yếu. Đơn vị phải liên hệ với MobiFone Nghệ An (đơn vị được Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An giới thiệu) để họ hỗ trợ đường truyền và kết nối.

    Còn mỏ đất Đồi Tương ở gần QL48D, khi PV có mặt mỏ đang tạm dừng hoạt động do vừa rồi thời tiết mưa lớn liên tục. Đi một vòng quanh mỏ, PV không thấy có trạm cân cũng như hệ thống camera giám sát như tỉnh yêu cầu.

    Theo tìm hiểu của PV, việc yêu cầu 289 doanh nghiệp khai thác khoáng sản ở Nghệ An phải lắp đặt trạm cân, camera giám sát kết nối dữ liệu về tỉnh, được thực hiện theo Kết luận số 165-KL/TU ngày 30/7/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Việc này nhằm tăng cường quản lý hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh nhằm ngăn chặn thất thoát tài nguyên và chống thất thu ngân sách.

    Song song với việc yêu cầu các doanh nghiệp tự lắp đặt thiết bị trước ngày 31/8, tỉnh này cũng đã giao cho MobiFone Nghệ An chủ trì xây dựng kho dữ liệu số dùng chung. Trong đó, các dữ liệu liên quan đến khoáng sản sẽ được thu thập truyền về kho để các cơ quan quản lý nhà nước theo dõi, quản lý.

    Theo Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An, đến nay, việc xây dựng kho dữ liệu dùng chung cũng như phần mềm i-NgheAn đang được MobiFone triển khai. Thời gian tỉnh giao phải hoàn thành để chạy thử nghiệm là trước ngày 30/9 năm nay.

    Lý giải về việc khó kết nối dữ liệu, đường truyền, đại diện MobiFone Nghệ An thông tin, đơn vị đang tích cực thực hiện nhiệm vụ mà tỉnh giao theo mốc thời gian đã ấn định. Quá trình triển khai vẫn có những khó khăn nhưng đều được đơn vị từng bước tháo gỡ.

    Việc lắp đặt trạm cân, camera giám sát và truyền dữ liệu về tỉnh được kỳ vọng sẽ giúp ích cho công tác kiểm tra, xác định khối lượng khai thác đúng với thực tế, hạn chế thất thoát khoáng sản và thất thu thuế.

    Lãnh đạo tỉnh lập 5 đoàn kiểm tra đột xuất

    Với vai trò là đơn vị được giao chủ trì, trong thời gian qua Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An đã rất tích cực trong công tác chỉ đạo điều hành, đôn đốc các doanh nghiệp, địa phương thực hiện. Tại Sở, nhiệm vụ được phân công theo hướng rõ người, rõ việc, rõ mốc thời gian.

    Như ở Phòng Khoáng sản, 10 chuyên viên chia làm 5 nhánh để làm đầu mối hỗ trợ, đôn đốc đối với 289 đơn vị khai thác khoáng sản tại 132 xã phường. Tiến độ thực hiện của từng đơn vị được cập nhật liên tục.

    61 mỏ chưa khai thác hoặc đang tạm dừng hoạt động sẽ chưa phải lắp đặt trạm cân nhưng các doanh nghiệp phải cam kết với địa phương bằng văn bản.

    Ông Nguyễn Công Lực, Trưởng phòng Khoáng sản, Sở NN&MT cho biết: Nếu chiều tối qua vẫn còn 7 đơn vị chưa thực hiện, thì đến 9h sáng nay (ngày 8/9) giảm chỉ còn 5 đơn vị. Số đơn vị đang trong tiến trình lắp đặt là 31 đơn vị. Số đơn vị được cấp luồng (lắp xong trạm cân, camera cấp luồng kết nối) là 176 đơn vị.

    Hiện còn 61 mỏ chưa khai thác, hoặc đang tạm dừng khai thác nên doanh nghiệp xin lùi thời gian lắp đặt vì không hoạt động. Một số nơi không có sóng điện thoại (vùng biên giới, vùng đồi núi hẻo lánh), hoặc thiết bị lắp đặt trước đây đã cũ, không tương thích với hệ thống mới, đang được Sở và MobiFone hỗ trợ xử lý. Cũng có trường hợp bến cát ven sông vừa lắp xong thì nước lũ về phải tạm thời tháo ra, di dời đến nơi cao hơn, tuy nhiên doanh nghiệp có cam kết bằng văn bản với địa phương về việc sẽ không hoạt động trong thời gian không có trạm cân”.

    “Tính trên số lượng mỏ đang hoạt động thì số lượng doanh nghiệp đã lắp trạm cân, kết nối đạt tới 90%. Trong vài ngày tới mục tiêu hoàn thành 100% sẽ đạt được”, ông Lực nhận định.

    Để có được kết quả này, theo ông Lực là sự nỗ lực cố gắng rất lớn của lãnh đạo sở, cũng như từng cán bộ chuyên môn. Trong chưa đầy một tháng, anh em vừa rà soát, vừa đôn đốc, vừa báo cáo, vừa hỗ trợ xử lý các tình huống phát sinh, phải làm cả ngày nghỉ, ngày lễ.

    “Hiện nay, tỉnh cũng đã giao cho Sở chủ trì phối hợp với Sở Xây dựng, Sở Công thương, công an tỉnh, thuế tỉnh tham mưu UBND tỉnh thành lập 5 đoàn do lãnh đạo UBND tỉnh làm trưởng đoàn và đại diện lãnh đạo các cơ quan sơ, ngành để kiểm tra đột xuất việc lắp đặt, vận hành trạm cân, thiết bị đo, camera giám sát của các tổ chức hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh”, ông Lực thông tin.

    Văn Thanh

    Nguồn https://baomoi.com/nghe-an-qua-han-1-tuan-mot-so-mo-van-chua-lap-tram-can-truyen-du-lieu-camera-c56005803.epi

  • Từ ngày 1/10/2026, Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý Khu Liên hợp thể thao quốc gia

    Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị quyết số 264/NQ-CP về việc chuyển giao Khu Liên hợp thể thao quốc gia.

    Theo đó Chính phủ quyết nghị đồng ý chuyển giao nguyên trạng Khu liên hợp thể thao quốc gia về Bộ Quốc phòng quản lý, và chuyển một phần diện tích đất nằm trong quy hoạch Khu liên hợp thể thao quốc gia về UBND thành phố Hà Nội.

    Việc bàn giao, tiếp nhận phải hoàn thành trước ngày 1/10/2026. Từ thời điểm này, Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý Khu liên hợp thể thao quốc gia.

    Việc quản lý, tổ chức hoạt động thể dục, thể thao, đất đai, tài sản, tài chính, nhân sự tại Khu Liên hợp thể thao quốc gia thực hiện theo quy định của pháp luật về thể dục, thể thao, đất đai, đầu tư, tài chính, tài sản công và pháp luật khác có liên quan; bảo đảm hiệu quả, không để xảy ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực.

    Chính phủ giao Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về việc chuyển giao Khu Liên hợp thể thao quốc gia theo quy định tại Nghị quyết này và các quy định pháp luật khác có liên quan, hoàn thành trước ngày 15/9/2026.

     Tổ chức bàn giao đất đai về Bộ Quốc phòng, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội theo phương án đã được phê duyệt; bàn giao nguyên trạng tổ chức bộ máy, nhân sự, tài sản, tài chính, tài liệu, các quyền, nghĩa vụ có liên quan, các hoạt động, nhiệm vụ, công việc và các dự án đầu tư công đã và đang thực hiện tại Khu Liên hợp thể thao quốc gia về Bộ Quốc phòng sau khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    Trong quá trình chuyển giao, Cục Thể dục thể thao Việt Nam thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với Khu Liên hợp thể thao quốc gia; Khu Liên hợp thể thao quốc gia tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và sử dụng con dấu hiện nay cho tới khi Bộ Quốc phòng hoàn thành việc tiếp nhận, ban hành quyết định quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức theo mô hình quản lý mới.

    Khu Liên hợp thể thao quốc gia tiếp tục sử dụng kinh phí và triển khai nhiệm vụ theo kế hoạch ngân sách đã được phê duyệt (nếu có), trừ trường hợp có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.

    Bộ Quốc phòng có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và UBND thành phố Hà Nội tổ chức tiếp nhận, quản lý khu liên hợp theo phương án được phê duyệt.

    Cùng với đó, Bộ Quốc phòng ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Khu liên hợp thể thao quốc gia theo mô hình quản lý mới; bố trí ngân sách để bảo đảm hoạt động không bị gián đoạn sau khi hoàn tất bàn giao.

    Chính phủ cũng yêu cầu UBND thành phố Hà Nội tổ chức tiếp nhận phần diện tích đất đai theo phương án đã được phê duyệt; xây dựng phương án quản lý, sử dụng đối với phần đất tiếp nhận, bảo đảm đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    UBND thành phố Hà Nội phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng trong quá trình bàn giao, tiếp nhận Khu Liên hợp thể thao quốc gia; chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thuộc Thành phố cung cấp, đối chiếu và hoàn thiện hồ sơ, tài liệu có liên quan theo thẩm quyền.

    Đồng thời, chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng rà soát hiện trạng quản lý, sử dụng đất; xác định ranh giới, diện tích, mốc giới và hồ sơ địa chính của các cơ sở đất thuộc Khu Liên hợp thể thao quốc gia; thực hiện hoặc hướng dẫn thực hiện các thủ tục về đất đai, đăng ký biến động đất đai và các thủ tục có liên quan thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

    Rà soát, cung cấp thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, hạ tầng kỹ thuật và các nội dung quản lý nhà nước khác của địa phương có liên quan; phối hợp xử lý các tồn tại, vướng mắc về đất đai, trật tự xây dựng và nghĩa vụ tài chính về đất đai (nếu có) theo thẩm quyền, bảo đảm việc quản lý, khai thác Khu Liên hợp thể thao quốc gia được liên tục, đúng quy định của pháp luật.

    Các Bộ, cơ quan liên quan theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, thực hiện hướng dẫn, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng và UBND thành phố Hà Nội xử lý các vấn đề vướng mắc, vượt thẩm quyền của cơ quan chuyển giao, tiếp nhận (nếu có).

    Anh Vũ

    Nguồn https://baomoi.com/tu-ngay-1-10-2026-bo-quoc-phong-truc-tiep-quan-ly-khu-lien-hop-the-thao-quoc-gia-c56005964.epi

  • Đại tướng Lê Hồng Anh hỗ trợ 7,5 tỷ đồng nâng cấp trường học xã Vĩnh Bình

    Đại tướng Lê Hồng Anh (bìa trái) dự bàn giao các công trình tại xã Vĩnh Bình.

    Tham dự sự kiện có các đồng chí nguyên Thường trực Tỉnh ủy; các đồng Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy: Mai Hoàng Khởi, Bí thư Đảng ủy phường Rạch Giá; Lê Thanh Việt, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh An Giang.

    Công trình Trường Tiểu học Vĩnh Bình (phân hiệu 1) được đầu tư 2,5 tỷ đồng, thi công trong 4 tháng. Các hạng mục gồm sửa chữa, sơn lại phòng học, khu vệ sinh, lan can, cầu thang, hàng rào; sửa cửa sổ, nhà xe; san lấp, bê tông hóa sân trường; cải tạo hệ thống điện, chiếu sáng và xây dựng bờ kè ven sông.

    Trường THCS và THPT Vĩnh Bình Bắc được đầu tư 5 tỷ đồng để sửa chữa, sơn các dãy phòng học; xử lý thấm dột; sửa nền gạch, hàng rào; bê tông hóa, lát gạch sân trường; lắp đặt mái che, thay cửa và nâng cấp hệ thống điện, chiếu sáng.

    Đại tướng Lê Hồng Anh tặng mỗi Trường THCS và THPT Vĩnh Bình Bắc và Trường Tiểu học Vĩnh Bình 50 triệu đồng.

    Tổng kinh phí hai công trình là 7,5 tỷ đồng do Đại tướng Lê Hồng Anh hỗ trợ.

    Dịp này, Đại tướng Lê Hồng Anh trao 50 triệu đồng cho mỗi trường để hỗ trợ tập thể giáo viên. Công ty Đầu tư Phú Cường Kiên Giang hỗ trợ Quỹ Khuyến học xã Vĩnh Bình 100 triệu đồng.

    THỦY TIÊN – THÚY ANH

    Nguồn https://baomoi.com/dai-tuong-le-hong-anh-ho-tro-7-5-ty-dong-nang-cap-truong-hoc-xa-vinh-binh-c56005870.epi

  • EVN và tỉnh Quảng Trị phối hợp thúc đẩy phát triển đồng bộ nguồn và lưới điện

    Theo đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm việc với UBND tỉnh Quảng Trị về tình hình cung ứng điện, đầu tư xây dựng các công trình điện trên địa bàn và định hướng phát triển nguồn, lưới điện theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, thống nhất các giải pháp tạo nền tảng đáp ứng nhu cầu phụ tải, khai thác hiệu quả tiềm năng năng lượng và phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới.

    Toàn cảnh buổi làm việc. 

    Buổi làm việc do đồng chí Lê Hồng Vinh, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị, chủ trì. Tham dự về phía EVN có đồng chí Phạm Hồng Phương, Phó Tổng Giám đốc EVN; ông Nguyễn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTVTổng Công ty Điện lực miền Trung (EVNCPC); lãnh đạo Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT), Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện quốc gia (NSMO); Công ty Điện lực Quảng Trị cùng đại diện các ban chuyên môn của Tổng công ty.

    Những năm qua, hệ thống điện trên địa bàn Quảng Trị cơ bản đáp ứng nhu cầu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân. Theo báo cáo của EVNCPC, giai đoạn 2021-2025, điện thương phẩm trên địa bàn tỉnh tăng trưởng bình quân 4,19%/năm. Trong 7 tháng đầu năm 2026, điện thương phẩm đạt 1.396,16 triệu kWh, tăng 13,44% so với cùng kỳ. Điện lưới quốc gia đến với 100% số thôn/làng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị và tỉ lệ số hộ dân có điện đạt 99,98%.

    Cùng với sản lượng điện tăng, nhu cầu phụ tải trên địa bàn cũng có xu hướng tăng cao. Dự báo Pmax năm 2030 có thể đạt khoảng 792 MW. Hiện tổng công suất đặt các nguồn điện trên địa bàn tỉnh khoảng 1.528 MW, gấp khoảng 3 lần công suất phụ tải cực đại hiện nay.

    EVN và các đơn vị thành viên đang tập trung triển khai nhiều dự án nguồn điện quy mô lớn tại Quảng Trị. Đáng chú ý, Dự án Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I đang được khẩn trương hoàn thiện, với tiến độ tổng thể đạt 99,62%. Theo kế hoạch, Tổ máy 1 phát điện thương mại trong tháng 11/2026 và Tổ máy 2 trong tháng 12/2026.

    Đối với Dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II, hợp đồng EPC được ký ngày 9/2/2026 và có hiệu lực từ ngày 20/3/2026. Nhà thầu đang hoàn thiện công tác khảo sát, thiết kế kỹ thuật để triển khai thi công; dự kiến Tổ máy 1 phát điện thương mại vào tháng 2/2030, Tổ máy 2 vào tháng 4/2030 và hoàn thành toàn bộ dự án trong năm 2030.

    Cùng với các dự án nguồn, hệ thống truyền tải điện cũng được đẩy mạnh đầu tư nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn và phụ tải. Nhiều công trình 500kV, 220kV đang được triển khai, trong đó có Trạm cắt 500kV Quảng Trị 2, Trạm biến áp 500kV Lao Bảo, đường dây 500kV Lao Bảo – Quảng Trị 2 và các công trình nâng cao khả năng truyền tải trên các tuyến 220kV khu vực. Theo kế hoạch, một số công trình quan trọng dự kiến hoàn thành, đưa vào vận hành trong giai đoạn 2026-2028.

    Đối với lưới điện phân phối, giai đoạn 2021-2025, EVNCPC đầu tư hơn 2.169 tỷ đồng để hoàn thành 12 dự án lưới điện 110 kV và 260 dự án cấp trung, hạ áp. Ông Nguyễn Thanh, Chủ tịch HĐTV EVNCPC cho biết: “Để đáp nhu cầu phụ tải ngày càng tăng và phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh giai đoạn 2026-2030, EVNCPC dự kiến đầu tư phát triển lưới điện trên địa bàn tỉnh Quảng Trị khoảng 4.324 tỷ đồng. Riêng các công trình 110kV đang triển khai gồm 12 danh mục với tổng quy mô tăng thêm khoảng 102,5 km đường dây và gần 400 MVA công suất trạm biến áp”.

    Lãnh đạo EVNCPC khẳng định, Tổng công ty sẽ tiếp tục ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển lưới điện, nhất là tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu vực có tốc độ tăng trưởng phụ tải cao. Các dự án sẽ được triển khai theo hướng đồng bộ, bảo đảm đủ công suất, nâng cao độ tin cậy và chất lượng cung cấp điện, đáp ứng yêu cầu thu hút đầu tư và mở rộng sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

    Chủ tịch HĐTV EVNCPC Nguyễn Thanh trao đổi về định hướng đầu tư lưới điện. 

    Do đó, tại buổi làm việc, lãnh đạo tỉnh Quảng Trị và EVN và các đơn vị liên quan đã cùng bàn các giải pháp kêu gọi và lựa chọn nhà đầu tư xây dựng mới lưới truyền tải xã hội hóa để vận hành đồng bộ với các dự án nguồn điện.

    Ông Phạm Hồng Phương, Phó Tổng Giám đốc EVN cũng kiến nghị tỉnh Quảng Trị ưu tiên các dự án nguồn điện có khả năng cấp điện, tiêu thụ tại chỗ; tiếp tục hỗ trợ các đơn vị trong công tác đầu tư xây dựng, giải phóng mặt bằng; bố trí quỹ đất cho các công trình điện trong kế hoạch sử dụng đất hằng năm; đẩy nhanh thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chuyển mục đích sử dụng đất rừng.

    Phó Tổng Giám đốc EVN Phạm Hồng Phương phát biểu tại buổi làm việc.

    Phát biểu kết luận, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Lê Hồng Vinh ghi nhận sự phối hợp, hỗ trợ của EVN và các đơn vị thành viên; đề nghị các sở, ban, ngành và địa phương tiếp tục phối hợp chặt chẽ, bảo đảm tiến độ các dự án. Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh, Quảng Trị sẽ tiếp tục đồng hành cùng EVN và các đơn vị liên quan, đẩy nhanh tiến độ các dự án, phát triển đồng bộ nguồn và lưới điện, từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa Quảng Trị trở thành trung tâm năng lượng của cả nước, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới.

    Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh và Quy hoạch tỉnh Quảng Trị điều chỉnh, giai đoạn 2026-2030, Quảng Trị được bổ sung khoảng 12.963 MW công suất nguồn điện; giai đoạn 2031-2035 bổ sung thêm khoảng 3.892 MW. Dự kiến đến năm 2030, tổng công suất nguồn điện trên địa bàn đạt khoảng 14.491 MW, cao gấp 18,3 lần công suất phụ tải dự báo, khoảng 792 MW. Quy mô nguồn lớn đặt ra yêu cầu phải phát triển đồng bộ hệ thống truyền tải, bảo đảm khả năng tiếp nhận và giải tỏa công suất.

    Thành Long

    Nguồn https://baomoi.com/evn-va-tinh-quang-tri-phoi-hop-thuc-day-phat-trien-dong-bo-nguon-va-luoi-dien-c56005899.epi

  • Sửa Luật Đất đai: Siết dự án chậm triển khai, bảo đảm quyền lợi người dân

    Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Luật Đất đai sửa đổi theo 7 nhóm chính sách lớn đã được Chính phủ thông qua, trong đó có hoàn thiện quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

    Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất bổ sung cơ chế xử lý đối với đất được giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư nhưng không sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng.

    Đất chậm sử dụng quá 60 tháng có thể bị thu hồi

    Việc siết xử lý đất chậm đưa vào sử dụng được kỳ vọng hạn chế tình trạng dự án kéo dài, gây lãng phí nguồn lực đất đai. Ảnh minh họa: Duy Khánh

    Theo dự thảo, đối với đất để thực hiện dự án đầu tư nhưng không sử dụng hoặc chậm sử dụng, nhà nước sẽ thu một khoản tiền lũy tiến hằng năm, tăng dần theo thời gian không sử dụng hoặc chậm sử dụng đất. Nếu quá 60 tháng mà chủ đầu tư vẫn không đưa đất vào sử dụng, Nhà nước sẽ thu hồi.

    Theo định hướng này, việc xử lý đất chậm sử dụng không chỉ dừng ở biện pháp thu hồi mà trước đó còn tạo áp lực tài chính đối với chủ đầu tư. Cách tiếp cận này nhằm khuyến khích đưa đất vào sử dụng hiệu quả, đồng thời hạn chế tình trạng lợi dụng việc được giao, cho thuê đất để giữ đất trong thời gian dài.

    Dự thảo cũng bổ sung trường hợp nhà nước thu hồi đất theo bản án, quyết định của tòa án, đồng thời cơ bản kế thừa các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai, chấm dứt việc sử dụng đất, tự nguyện trả lại đất hoặc đất có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

    Luật sư Nguyễn Quốc Tuấn, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội cho rằng, việc tăng trách nhiệm đối với chủ đầu tư chậm đưa đất vào sử dụng là cần thiết, bởi đất đai là nguồn lực hữu hạn. Khi được nhà nước giao hoặc cho thuê đất để thực hiện dự án, chủ đầu tư phải có trách nhiệm sử dụng đúng mục đích và tiến độ.

    Theo luật sư, cơ chế tiền lũy tiến và mốc 60 tháng có thể tạo sức ép đủ lớn để chủ đầu tư không thể dễ dàng duy trì tình trạng dự án kéo dài. Tuy nhiên, điều quan trọng là quy định khi được ban hành phải xác định rõ thời điểm bắt đầu tính 60 tháng, thế nào là chậm đưa đất vào sử dụng và trường hợp nào được xem là nguyên nhân khách quan.

    “Cần phân biệt rõ trường hợp chủ đầu tư cố tình găm giữ đất với dự án chậm triển khai do vướng mắc về thủ tục, quy hoạch, giải phóng mặt bằng hoặc nguyên nhân thuộc trách nhiệm của cơ quan nhà nước. Nếu không làm rõ, quá trình áp dụng có thể phát sinh tranh chấp về lỗi và thời điểm tính thời hạn”, luật sư Nguyễn Quốc Tuấn nhấn mạnh.

    Theo luật sư Nguyễn Quốc Tuấn, việc siết xử lý đất chậm đưa vào sử dụng cần đi đôi với cơ chế bảo đảm quyền lợi hợp pháp của chủ đầu tư và người sử dụng đất. Ảnh: Cao Kỳ

    Tăng quyền tham gia của người có đất bị thu hồi

    Cùng với việc siết trách nhiệm của chủ đầu tư, dự thảo cũng đề xuất nhiều nội dung nhằm bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người có đất bị thu hồi.

    Một điểm đáng chú ý là trong quá trình tổ chức thu hồi đất, cơ quan thực hiện phải điều tra, xác định thu nhập từ việc sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; đồng thời tổ chức lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến của người có đất bị thu hồi trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

    Quy định này nhằm xác định đầy đủ hơn những khoản thu nhập mà người dân có thể bị mất do việc thu hồi đất, từ đó có phương án hỗ trợ phù hợp và hướng tới phục hồi sinh kế sau thu hồi.

    Dự thảo cũng đề xuất nhà ở, đất ở trong khu tái định cư được bố trí theo nhiều cấp nhà, nhiều mức diện tích để phù hợp với mức bồi thường và khả năng chi trả của người được tái định cư. Trong một số trường hợp, người có đất ở bị thu hồi để thực hiện dự án khu đô thị, khu dân cư nông thôn có thể được ưu tiên bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tại chính khu vực đất bị thu hồi.

    Theo luật sư Nguyễn Quốc Tuấn, đây là hướng tiếp cận cần thiết bởi vấn đề của người dân sau thu hồi đất không chỉ nằm ở số tiền bồi thường mà còn là khả năng ổn định cuộc sống.

    “Tái định cư không nên chỉ được hiểu là bố trí một nơi ở khác. Chính sách phải hướng tới việc giúp người dân ổn định cuộc sống, duy trì sinh kế, tiếp cận hạ tầng và các điều kiện thiết yếu sau khi chuyển đến nơi ở mới”, luật sư Nguyễn Quốc Tuấn phân tích.

    Luật sư cũng cho rằng các quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cần được thiết kế theo nguyên tắc minh bạch, dễ áp dụng và hạn chế cách hiểu khác nhau giữa các địa phương. Việc lấy ý kiến người dân trước khi phê duyệt phương án bồi thường sẽ giúp cơ quan chức năng nhận diện đầy đủ hơn những tác động thực tế của việc thu hồi đất.

    Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi đang đặt ra hai yêu cầu song song là kiểm soát chặt việc sử dụng đất, nhất là đất được giao cho các dự án nhưng chậm triển khai; đồng thời bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất.

    Nếu được hoàn thiện theo hướng hài hòa lợi ích, các quy định mới sẽ vừa tạo sức ép để chủ đầu tư sử dụng đất đúng tiến độ, vừa tăng tính minh bạch trong thu hồi đất và bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người dân.

    Hoàng Vũ

    Nguồn https://baomoi.com/sua-luat-dat-dai-siet-du-an-cham-trien-khai-bao-dam-quyen-loi-nguoi-dan-c56005805.epi

  • Người dân Vĩnh Gia kiến nghị tăng cường thu gom rác

    Người dân kiến nghị đến cấp ủy, chính quyền địa phương.

    Tại hội nghị, người dân kiến nghị chính quyền khảo sát, sửa chữa cầu dân sinh; lắp biển báo giao thông tại khu vực chợ, trường học; bổ sung đèn chiếu sáng và cải tạo hệ thống cống thoát nước nhằm hạn chế ngập úng.

    Về môi trường, người dân đề nghị bổ sung thùng chứa rác và tăng cường hiệu quả thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn.

    Một số ý kiến đề nghị đẩy nhanh việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, người già neo đơn và hỗ trợ người dân hoàn thiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Lãnh đạo xã Vĩnh Gia trực tiếp trả lời những nội dung thuộc thẩm quyền, đồng thời giao các bộ phận chuyên môn kiểm tra thực tế để có phương án xử lý đối với những vấn đề cần nguồn lực. Các kiến nghị vượt thẩm quyền sẽ được tổng hợp, báo cáo cấp trên xem xét, giải quyết.

    ĐỨC TOÀN

    Nguồn https://baomoi.com/nguoi-dan-vinh-gia-kien-nghi-tang-cuong-thu-gom-rac-c56005871.epi

  • Hưng Yên ấn định thời điểm khởi công loạt dự án KCN, CCN

    Ấn định cụ thể thời gian khởi công 8 dự án KCN, CCN

    Ngày 5/9/2026, Văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên đã có văn bản số 1608/VP-KT1 về việc khởi công các dự án KCN, CCN. Việc tổ chức khởi công các dự án KCN, CCN được thực hiện nhằm bảo đảm tiến độ theo ý kiến chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy.

    Nội dung này được triển khai trên cơ sở Thông báo số 240/TB-UBND ngày 17/8/2026 của UBND tỉnh về kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Mạnh Quyền liên quan đến tiến độ, lộ trình, thời gian và việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án dự kiến khởi công mới nhân dịp Quốc khánh 2/9 và trong năm 2026.

    Theo chỉ đạo của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên Lê Quang Hòa, Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Văn Giang – Giai đoạn 1 được ấn định thời gian khởi công vào ngày 9/9/2026.

    Cùng với đó, 7 dự án KCN, CCN gồm: KCN Liên Hà Thái; KCN Thổ Hoàng; KCN số 01; KCN số 10; KCN số 15; CCN Lạc Đạo và CCN Đa Lộc dự kiến tổ chức khởi công vào ngày 12/9/2026.

    Việc xác định thời điểm cụ thể đối với từng dự án cho thấy yêu cầu của tỉnh Hưng Yên trong việc đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư, hoàn thiện các thủ tục cần thiết, qua đó bảo đảm các dự án đủ điều kiện triển khai theo quy định pháp luật.

    Yêu cầu rút ngắn tối đa thời gian giải quyết thủ tục

    Để bảo đảm các mốc thời gian nêu trên, UBND tỉnh Hưng Yên giao Giám đốc các sở, ngành liên quan; lãnh đạo Ban Quản lý Khu kinh tế và các KCN; Ban Quản lý các KCN tỉnh cùng Chủ tịch UBND các xã, phường nơi có dự án chủ động chỉ đạo các bộ phận chuyên môn hỗ trợ, hướng dẫn nhà đầu tư.

    Đáng chú ý, các cơ quan, đơn vị được yêu cầu **đẩy nhanh các thủ tục hành chính, rút ngắn tối đa thời gian** trong các lĩnh vực đất đai, môi trường, xây dựng, phòng cháy, chữa cháy và những điều kiện pháp lý có liên quan. Mục tiêu là bảo đảm các dự án đáp ứng đầy đủ điều kiện để khởi công theo quy định của pháp luật.

    Sở Công Thương, Ban Quản lý Khu kinh tế và các KCN, Ban Quản lý các KCN tỉnh được giao nhiệm vụ đôn đốc việc tổ chức thực hiện, bảo đảm đúng thời hạn và nội dung. Các đơn vị này đồng thời tham mưu bài diễn văn của lãnh đạo tỉnh tại các sự kiện khởi công theo chức năng, địa bàn quản lý.

    Theo yêu cầu của UBND tỉnh, nội dung tham mưu đối với **KCN Văn Giang** phải được gửi Văn phòng UBND tỉnh trước 16h ngày 7/9/2026; đối với các dự án KCN, CCN còn lại, thời hạn là trước 16h ngày 10/9/2026.

    Văn phòng UBND tỉnh được giao căn cứ chương trình tổng hợp các dự án đầu tư công và dự án đầu tư ngoài ngân sách khởi công dịp Quốc khánh và trong năm 2026 để tham mưu UBND tỉnh phân công các sở, ngành và mời lãnh đạo tỉnh tham dự các sự kiện.

    Việc đồng thời đẩy nhanh thủ tục hành chính và xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị được kỳ vọng góp phần bảo đảm tiến độ các dự án KCN, CCN theo kế hoạch của tỉnh, tạo thêm dư địa cho phát triển hạ tầng công nghiệp và thu hút đầu tư trên địa bàn.

    Xuân Trường

    Nguồn https://baomoi.com/hung-yen-an-dinh-thoi-diem-khoi-cong-loat-du-an-kcn-ccn-c56005734.epi

  • Đề xuất 18 lĩnh vực hạn chế người có chức vụ thành lập, quản lý doanh nghiệp sau khi thôi chức

    Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất 18 lĩnh vực người có chức vụ, quyền hạn bị hạn chế thành lập, quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi thôi chức. Ảnh minh họa AI

    Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định danh mục các lĩnh vực và thời hạn người có chức vụ, quyền hạn sau khi thôi giữ chức vụ không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc phạm vi quản lý của Bộ. Đây mới là dự thảo, chưa phải quy định có hiệu lực.

    Dự thảo xác định 18 lĩnh vực, trong đó có trồng trọt và bảo vệ thực vật; chăn nuôi và thú y; thủy lợi; đê điều và phòng, chống thiên tai; lâm nghiệp; thủy sản; biến đổi khí hậu; môi trường; đất đai; đo đạc và bản đồ; tài nguyên nước; phát triển nông thôn; chất lượng, chế biến và phát triển thị trường; diêm nghiệp; viễn thám; khí tượng thủy văn; quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo cùng các chương trình, dự án, đề án thuộc các lĩnh vực trên.

    Theo đề xuất, người có chức vụ, quyền hạn từng công tác trong 11 nhóm lĩnh vực đầu tiên sẽ phải chờ đủ 24 tháng kể từ ngày thôi giữ chức vụ trước khi được thành lập, quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã trong lĩnh vực đó.

    Với các lĩnh vực từ phát triển nông thôn đến quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, thời hạn dự kiến là 12 tháng.

    Riêng người thôi chức khi đang là cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp nghiên cứu, xây dựng hoặc thẩm định, phê duyệt chương trình, dự án, đề án thuộc diện quy định, thời hạn hạn chế được đề xuất kéo dài đến khi thực hiện xong chương trình, dự án, đề án.

    Mai Thoa

    Nguồn https://baomoi.com/de-xuat-18-linh-vuc-han-che-nguoi-co-chuc-vu-thanh-lap-quan-ly-doanh-nghiep-sau-khi-thoi-chuc-c56005727.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!