Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Rà soát cung – cầu, kiểm soát giá nhà ở xã hội

    Sáng 1-10, Đoàn giám sát của Thường trực HĐND tỉnh Khánh Hòa do đồng chí Phạm Thị Xuân Trang – Phó Chủ tịch HĐND tỉnh làm Trưởng đoàn làm việc với UBND tỉnh về chuyên đề tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và phát triển nhà ở xã hội (NƠXH) trên địa bàn tỉnh. Làm việc với đoàn có đồng chí Trần Hòa Nam – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo các sở, ngành liên quan.

    Quang cảnh buổi làm việc.

    Theo báo cáo, nhu cầu NƠXH, nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp toàn tỉnh đến năm 2030 khoảng 156.988 căn, trong đó nhu cầu NƠXH khoảng 97.433 căn, nhà lưu trú công nhân khoảng 59.555 căn.

    Từ năm 2021 đến nay, toàn tỉnh đã hoàn thành và đang triển khai 25 dự án NƠXH với quy mô khoảng 25.937 căn, tương đương 26,62% nhu cầu NƠXH đến năm 2030. Riêng năm 2026 có 15 dự án đang triển khai với 21.401 căn.

    Đồng chí Phạm Thị Xuân Trang phát biểu tại buổi làm việc.

    Giai đoạn 2023 – 2030, tỉnh đã xác định 51 vị trí phát triển NƠXH với tổng diện tích khoảng 284,91ha, trong đó có 21 vị trí khoảng 171,43ha dành xây dựng NƠXH; 22 vị trí thuộc quỹ đất 20% trong các dự án nhà ở thương mại, khu đô thị với khoảng 71,52ha; 5 vị trí khoảng 31,96ha dành xây dựng nhà lưu trú công nhân.

    Đồng chí Trần Hòa Nam phát biểu tại buổi làm việc.

    Qua khảo sát một số dự án, Đoàn giám sát ghi nhận tiến độ triển khai đã có chuyển biến nhưng vẫn còn những vấn đề cần quan tâm. Dự án MK Central City đã hoàn thành, đưa vào sử dụng sớm 5 tháng so với kế hoạch. Một số công trình NƠXH tại Khu đô thị biển Bình Sơn – Ninh Chử (Khu K2) còn hoàn thiện thủ tục pháp lý, có nguy cơ chậm tiến độ. Đối với Khu NƠXH CT-01, khối lượng công việc còn tương đối lớn, số lượng nhân công tại công trường còn hạn chế trong khi mục tiêu hoàn thành, bàn giao vào quý IV/2027.

    Đoàn giám sát cũng lưu ý sự chênh lệch giá bán NƠXH giữa các khu vực. Tại Khu K2, giá khoảng 18 triệu đồng/m², trong khi một số dự án khu vực phía bắc tỉnh có giá khoảng 21 – 24,6 triệu đồng/m². Với mức giá này, tổng giá trị căn hộ vẫn là khoản chi phí lớn đối với một bộ phận người thu nhập thấp. Nhu cầu đăng ký giữa các dự án cũng có sự khác biệt khá lớn.

    Lãnh đạo Sở Xây dựng báo cáo tại buổi làm việc.

    Thành viên đoàn giám sát phát biểu tại buổi làm việc.

    Lãnh đạo Sở Tài chính phát biểu tại buổi làm việc.

    Lãnh đạo Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh phát biểu tại buổi làm việc.

    Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Trần Hòa Nam cho biết, UBND tỉnh tiếp thu đầy đủ các kết luận, kiến nghị của Đoàn giám sát; đồng thời trao đổi một số nội dung liên quan. Sau khi Quốc hội ban hành cơ chế đặc thù về phát triển NƠXH, tỉnh đã thu hút thêm nhiều nhà đầu tư; đồng thời chỉ đạo rà soát nhu cầu gắn với từng nhóm đối tượng, quan tâm phát triển nhà lưu trú công nhân và nhà ở cho thuê.

    Tỉnh tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn về giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Về giá bán, UBND tỉnh đã giao Sở Xây dựng rà soát quy trình thẩm tra, thẩm định, bảo đảm đúng quy định; tiếp tục rà soát cung – cầu trên phạm vi toàn tỉnh, nhất là nhu cầu nhà ở của công nhân.

    Kết luận buổi làm việc, đồng chí Phạm Thị Xuân Trang ghi nhận nỗ lực của UBND tỉnh trong việc kịp thời ban hành các văn bản, tháo gỡ khó khăn cho phát triển NƠXH, nhất là sau sáp nhập tỉnh. Đồng chí đề nghị UBND tỉnh tiếp tục đôn đốc, tăng tốc các dự án; rà soát danh mục dự án để phân kỳ đầu tư phù hợp với nhu cầu thực tế; bố trí quỹ đất NƠXH hợp lý hơn, tránh tập trung tại các khu đô thị; thường xuyên cập nhật Cẩm nang hướng dẫn người dân tiếp cận NƠXH. Đồng thời, tăng cường kiểm soát các yếu tố chi phí đầu vào để giá bán sát thực tế; căn cứ khả năng cân đối ngân sách để bổ sung nguồn vốn hỗ trợ người dân vay mua NƠXH và tăng cường quản lý, vận hành nhà chung cư sau khi đưa vào khai thác.

    MẠNH HÙNG

    Nguồn https://baomoi.com/ra-soat-cung-cau-kiem-soat-gia-nha-o-xa-hoi-c56173016.epi

  • APEC 2027: Hạ tầng điện đón đầu sức nóng tăng trưởng

    Cuối tháng 9, Đặc khu Phú Quốc vừa có nắng lại chuyển mưa. Những cơn mưa xối xả liên tục rồi cũng đến lúc tạnh, trời lại hửng nắng, thời tiết trên đảo ngọc những ngày này khá thất thường. Trên nhiều tuyến đường, các công trình trọng điểm phục vụ Tuần lễ cấp cao APEC 2027 vẫn đang trên đà hoàn thiện, nhiều khu vực thi công còn ngổn ngang các hạng mục xây lắp. Phía sau những công trình đang được gấp rút hoàn tất là hệ thống hạ tầng điện cũng đang theo tiến độ về đích.

    Từ chỉ đạo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), Ban Quản lý dự án Điện lực miền Nam, Công ty Điện lực An Giang cùng các đơn vị liên quan đã hoàn thành liên tiếp ba công trình điện trọng điểm trong tháng 8 vừa qua, tiếp thêm nền móng vững chắc về đảm bảo hạ tầng điện lâu dài cho Phú Quốc, đón đầu trước 1 năm chuẩn bị cho Tuần lễ cấp cao APEC 2027 diễn ra tại nơi này.

    Các công trình hoàn thành đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hạ tầng lưới điện tại Phú Quốc; đồng thời tạo động lực bứt phá kinh tế-xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng và sẵn sàng bảo đảm cung cấp điện tuyệt đối an toàn, ổn định, phục vụ sự kiện APEC 2027. Ảnh: TTXVN phát

    *Ba công trình, bước chuyển tăng năng lực cấp điện

    Đến Phú Quốc những ngày này, cùng với các công trình phục vụ Tuần lễ cấp cao  APEC 2027 đang được gấp rút hoàn thiện, những dự án điện mới đã hiện diện trong hệ thống hạ tầng của đặc khu. Nhằm tăng năng lực và độ tin cậy cung cấp điện cho Đặc khu Phú Quốc, đồng thời đáp ứng yêu cầu phục vụ APEC 2027, EVNSPC đã đầu tư ba công trình gồm Trạm biến áp 220 kV Phú Quốc, Đường dây 110 kV Phú Quốc – Bắc Phú Quốc và Đường dây 110 kV Phú Quốc – Nam Phú Quốc với tổng vốn đầu tư gần 2.165 tỷ đồng.

    Theo đó, đường dây 110 kV Phú Quốc – Bắc Phú Quốc có chiều dài 41,4 km, gồm hai mạch và 75 vị trí trụ; Đường dây 110 kV Phú Quốc – Nam Phú Quốc có chiều dài tuyến 40 km, gồm hai mạch và 79 vị trí trụ; trong đó có 2,7 km cáp ngầm; Trạm biến áp 220 kV Phú Quốc gồm hai máy biến áp 250 MVA và hai mạch đường dây 220 kV đấu nối dài 38 km; trong đó phần cáp ngầm dài 2,7 km.

    Đường dây 110 kV Phú Quốc – Bắc Phú Quốc có tổng mức đầu tư gần 353 tỷ đồng, đóng điện ngày 28/8/2026; công trình có quy mô 2×20,7km và 75 vị trí trụ. Ảnh: Huy Hùng – TTXVN

    Sáng 28/8, Ban Quản lý dự án Điện lực miền Nam, Công ty Điện lực An Giang phối hợp với Trung tâm Điều độ hệ thống điện miền Nam và các đơn vị liên quan đóng điện thành công đường dây 110 kV Phú Quốc – Bắc Phú Quốc. Đây là công trình thứ ba liên tiếp được đưa vào vận hành trong tháng 8/2026. Trước đó đường dây 110 kV Phú Quốc – Nam Phú Quốc đã được đóng điện ngày 16/8 và trạm biến áp 220 kV Phú Quốc đóng điện ngày 19/8.

    Để hoàn thành các công trình trong thời gian ngắn, các đơn vị phải đối mặt với nhiều khó khăn; trong đó, giải phóng mặt bằng là một trong những vấn đề lớn. Các tuyến đường dây trải dài trên đặc khu, với nhiều vị trí móng, trụ đi qua đất của tổ chức, hộ dân, khiến khối lượng khảo sát, đo đạc, kiểm đếm lớn. Một số khu đất đã qua nhiều lần chuyển nhượng, thay đổi chủ sử dụng, trong khi có trường hợp chủ đất không sinh sống tại địa phương hoặc vắng mặt trong thời gian dài, gây khó khăn cho việc xác định, liên hệ và hoàn tất các thủ tục liên quan.

    Đặc biệt từ tháng 4, thời tiết mưa nhiều cũng ảnh hưởng đến quá trình thi công. Bởi có những thời điểm các đơn vị phải tổ chức thi công ngày đêm, kể cả ngày nghỉ, để bảo đảm tiến độ.

    Trong khi đó, việc vận chuyển vật tư, thiết bị từ đất liền ra đặc khu cũng đặt ra yêu cầu riêng, trong khi nhiều công trình phục vụ APEC 2027 đồng thời triển khai khiến nguồn nhân lực thi công bị phân tán.

    Đường dây 110kV Phú Quốc – Nam Phú Quốc đóng điện rạng sáng ngày 16/8/2026. Công trình có tổng mức đầu tư hơn 934 tỷ đồng, quy mô 2x20km và 79 vị trí trụ; trong đó phần cáp ngầm dài 2,7km. Ảnh: Huy Hùng – TTXVN

    Với những đoạn tuyến đi qua khu vực rừng hoặc phần đất của người dân, các đơn vị phải sử dụng thiết bị bay không người lái, Flycam để hỗ trợ khảo sát, kéo dây và tổ chức thi công phù hợp với điều kiện thực tế. Những yêu cầu và giải pháp thi công đặc thù trên đảo được xử lý song song với việc bảo đảm tiến độ, để ba công trình có thể lần lượt hoàn thành và đưa vào vận hành trong tháng 8/2026.

    Việc đưa ba công trình vào vận hành đã góp phần hoàn thiện kết nối lưới điện 110 kV trên đảo và đáp ứng tiêu chí N-1. Năng lực cấp điện cho Phú Quốc được nâng lên, không chỉ đảm bảo điện trong suốt thời gian diễn ra Tuần lễ cấp cao APEC 2027 mà còn tạo nguồn dự phòng cung ứng điện cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đặc khu trong tương lai.

    Đường dây 110 kV Phú Quốc – Bắc Phú Quốc có tổng mức đầu tư gần 353 tỷ đồng, đóng điện ngày 28/8/2026; công trình có quy mô 2×20,7km và 75 vị trí trụ. Ảnh: Huy Hùng – TTXVN

    Theo Phó Tổng giám đốc EVN Nguyễn Tài Anh, sau khi các công trình hoàn thành, EVNSPC cần tiếp tục kiểm tra, theo dõi, hoàn thiện hệ thống, đào tạo lực lượng vận hành và tổ chức diễn tập các phương án xử lý sự cố. Đồng thời lưu ý đến yêu cầu an toàn đối với các công trình điện trên biển khi tàu có tải trọng lớn lưu thông, nguy cơ ảnh hưởng đến cáp ngầm và các trụ điện trên biển. Do đó, lãnh đạo EVN yêu cầu EVNSPC phối hợp với địa phương và cơ quan quản lý hàng hải nghiên cứu các giải pháp cảnh báo từ xa để bảo vệ công trình này.

    Về đảm bảo cung ứng điện cho Tuần lễ cấp cao APEC 2027, Phó Tổng giám đốc EVN Nguyễn Tài Anh cũng yêu cầu EVNSPC trao đổi kinh nghiệm từ các đơn vị từng thực hiện nhiệm vụ bảo đảm điện cho những sự kiện lớn như A50, A80, từ đó xây dựng phương án phù hợp với điều kiện của Đặc khu Phú Quốc. “Đây không chỉ là yêu cầu đối với công trình này mà còn là yêu cầu đối với con người vận hành hệ thống điện ở đây”, lãnh đạo EVN nhấn mạnh.

    *Đón đầu nhu cầu điện tăng trưởng

    Đứng tại trạm 220 kV Phú Quốc, công trình vừa được đóng điện ít ngày trước, có thể thấy đây không chỉ là một hạng mục mới trong hệ thống điện trên đảo mà còn là điểm nối quan trọng trong hệ thống điện đang vận hành. Ông Nguyễn Phước Quý Hùng, Giám đốc Công ty Điện lực An Giang cho biết, việc đưa vào vận hành trạm 220 kV Phú Quốc đã tạo điều kiện cấp điện cho Đặc khu Phú Quốc ổn định hơn so với trước đây, tạo khả năng dự phòng cho hệ thống điện trên đảo.

     TBA 220kV Phú Quốc có quy mô 2x250MVA và 2×19 km đường dây 220kV đấu nối, được EVNSPC khởi công ngày 20/12/2025, đóng điện thành công vào 23h30 ngày 19/8/2026. Đây là dự án huyết mạch để chuyển đổi cấp điện áp vận hành 220kV cho đường dây Kiên Bình – Phú Quốc, nâng năng lực cấp nguồn lên 500MVA. Ảnh: Huy Hùng – TTXVN

    Theo Giám đốc Nguyễn Phước Quý Hùng, sau khi đóng điện, Công ty Điện lực An Giang sẽ theo dõi hệ thống 24/7, thường xuyên kiểm tra hành lang tuyến và tổ chức bảo dưỡng. Riêng tuyến đường dây 220 kV Kiên Bình – Phú Quốc có đoạn đi trên biển nên việc quản lý vận hành có những yêu cầu riêng.

    “Trong năm nay, sản lượng điện thương phẩm của Đặc khu Phú Quốc khoảng 1 tỷ kWh, tương đương khoảng 1/7 tổng sản lượng điện của An Giang. Con số này cho thấy điện không chỉ phục vụ các công trình Hội nghị APEC mà còn phục vụ một trung tâm du lịch, dịch vụ có nhu cầu điện lớn đang tăng trưởng tại đặc khu”, lãnh đạo Công ty Điện lực An Giang chia sẻ.

    Công nhân điện lực Phú Quốc (PC An Giang) hướng dẫn sử dụng điện an toàn tiết kiệm. Ảnh: Huy Hùng – TTXVN

    Chiều ở Phú Quốc, sau những cơn mưa bất chợt, trời hửng nắng trở lại. Tại các khu nghỉ dưỡng dọc đảo, khách du lịch vẫn khá đông; trong đó có nhiều du khách nước ngoài. Không khí ấy cho thấy một phần hoạt động du lịch vẫn đang diễn ra sôi động song song với những công trình phục vụ APEC 2027 còn ngổn ngang thi công ở nhiều nơi trên đảo. Nhu cầu điện của Phú Quốc đang hiển hiện sức tăng nóng.

    Điện mặt trời mái nhà được lắp đặt tại khách sạn Famiana (đặc khu Phú Quốc). Ảnh: Huy Hùng – TTXVN

    Ông Nguyễn Văn Đồng, Tổng giám đốc Công ty TNHH Phương Anh Đức đã đầu tư tại Phú Quốc từ năm 2008 và đưa khu nghỉ dưỡng Famiana Resort & Spa đi vào hoạt động từ năm 2012. Famiana Resort & Spa được xây dựng trên diện tích 1,8 ha với 100 phòng, công suất sử dụng phòng thường ở mức 65 – 70%, cao điểm có thể lên 80 – 90%. Nhìn vào hoạt động của khu nghỉ dưỡng này, câu chuyện về nguồn điện cũng gắn với từng giai đoạn phát triển của Phú Quốc.

    Ông Đồng cho biết: Trước khi Phú Quốc được cấp điện từ lưới quốc gia, doanh nghiệp phải sử dụng máy phát diesel. Chi phí nhiên liệu có thời điểm vượt 600 triệu đồng mỗi tháng. Khi điện lưới quốc gia được đưa ra đảo vào năm 2014, chi phí tiền điện của doanh nghiệp giảm còn một phần ba so với trước. Hiện hóa đơn tiền điện của khu nghỉ dưỡng dao động trên 100-300 triệu đồng/tháng tùy thời điểm.

    Ngoài ra khu nghỉ dưỡng này đã lắp điện mặt trời mái nhà, giúp giảm khoảng 30% chi phí điện và thời gian thu hồi vốn dự kiến 4 – 5 năm.

    Điện mặt trời mái nhà được lắp đặt tại khách sạn Famiana (đặc khu Phú Quốc). Ảnh: Huy Hùng – TTXVN

    Từ Famiana Resort & Spa, câu chuyện về nhu cầu điện tiếp tục hiện ra tại khu nghỉ dưỡng Salinda Phú Quốc. Ông Quách Hải Âu, phụ trách an ninh và giám sát kỹ thuật cho biết, khu nghỉ dưỡng có 121 phòng, các hệ thống kỹ thuật hoạt động 24/7. Công suất sử dụng phòng thường ở mức 80 – 90%, có thời điểm đạt 100%.

    Chi phí điện của khu nghỉ dưỡng này thường vào khoảng 400 triệu đồng/tháng, cao điểm có thể lên 500 – 600 triệu đồng. Trước nhu cầu sử dụng điện tăng, đơn vị bố trí vận hành các hệ thống điện theo nhu cầu thực tế, tắt các thiết bị sử dụng điện không cần thiết vào ban đêm, sử dụng nước nóng năng lượng mặt trời và phân bổ phụ tải hợp lý theo lượng khách đến lưu trú.

    Những con số về tiền điện, công suất sử dụng phòng hay thời gian vận hành của các hệ thống kỹ thuật cho thấy nhu cầu điện tại các khu nghỉ dưỡng gắn trực tiếp với nhịp hoạt động du lịch trên đảo.

    Không chỉ vậy, nhu cầu sử dụng điện còn gắn với những cơ sở sản xuất phục vụ phát triển kinh tế biển tại đặc khu. Đến cơ sở sản xuất đá của anh Công, chúng tôi nhận thấy mỗi ngày cơ sở sản xuất khoảng 400 cây đá để cung cấp cho các nhà hàng, chợ và người bán hải sản với chi phí tiền điện khoảng 100 triệu đồng/tháng.

    Công nhân điện lực Phú Quốc (PC An Giang) kiểm tra hệ thống điện của khách hàng tại cơ sở xuất nước đá của Cty TNHH TK55. Ảnh: Huy Hùng – TTXVN

    “Trước đây, cơ sở phải dựa vào máy phát diesel và việc vận chuyển nhiên liệu ra đảo. Khi điện lưới ổn định hơn, cơ sở chuyển một phần hoạt động sang giờ thấp điểm. Điện ổn định giúp dây chuyền sản xuất đá duy trì liên tục, phục vụ các cơ sở kinh doanh thực phẩm và hải sản”, anh Công chia sẻ.

    Công nhân ngành điện đang chia sẻ việc sử dụng thiết bị điện tại xưởng làm đá của Công ty TNHH TK55. Ảnh: Huy Hùng – TTXVN

    Từ hệ thống điện 220 kV đến xưởng làm đá, câu chuyện điện ở Đặc khu Phú Quốc không chỉ nằm trong những con số của một dự án. Bởi đi qua những tuyến đường còn ngổn ngang, những công trình đang hoàn thiện và những cơ sở sản xuất kinh doanh đang hoạt động, có thể thấy nhu cầu điện nơi đây không chỉ được đặt ra cho một sự kiện lớn – Tuần lễ cấp cao APEC 2027.

    APEC 2027 là một mốc quan trọng. Việc Phú Quốc được chọn đăng cai Tuần lễ Cấp cao APEC 2027 được kỳ vọng sẽ là cú hích lớn về đầu tư hạ tầng, cải thiện dịch vụ và nâng tầm vị thế quốc tế của đảo ngọc. Đây không chỉ là cơ hội để quảng bá hình ảnh Phú Quốc ra toàn cầu, mà còn là dịp để kết nối sâu rộng với cộng đồng kinh tế quốc tế. Sau hội nghị, hệ thống điện đã và đang triển khai tại đây sẽ tạo thêm nền tảng vững chắc lâu dài cho sự phát triển của một đặc khu có nhu cầu sử dụng điện cho các hoạt động kinh tế ngày càng lớn trong tương lai./.

    Mai Phương – Văn Giáp/Bnews/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/apec-2027-ha-tang-dien-don-dau-suc-nong-tang-truong-c56172988.epi

  • Đầu tư trạm dừng nghỉ: Không để đường cao tốc đi trước dịch vụ

    Từ thực tiễn này, Bộ Xây dựng đang nghiên cứu thay đổi phương thức đầu tư theo hướng chủ động chuẩn bị các công trình thiết yếu ngay từ khi triển khai cao tốc, bảo đảm tính đồng bộ trong khai thác và không để những bất cập hiện nay lặp lại trên các tuyến đường mới.

    Tiến độ triển khai một số trạm dừng nghỉ trên cao tốc Bắc – Nam phía Đông không bảo đảm tiến độ. Ảnh: Văn Đức.

    Hai trạm dừng nghỉ “lỗi hẹn”

    Tiến độ đầu tư trạm dừng nghỉ trên cao tốc Bắc – Nam phía Đông tiếp tục được cơ quan quản lý đôn đốc, khi hai dự án tại Km534+310 thuộc đoạn Hàm Nghi – Vũng Áng và Km594+400 thuộc đoạn Vũng Áng – Bùng vẫn chưa hoàn thành theo hợp đồng.

    Hai dự án do Cục Đường bộ Việt Nam và Công ty cổ phần Tập đoàn Xuân Khiêm ký hợp đồng đầu tư từ tháng 3-2025. Theo cam kết, trạm Hàm Nghi – Vũng Áng phải hoàn thành các công trình dịch vụ công trong tháng 1-2026 và hoàn thành toàn bộ vào tháng 4-2026; trạm Vũng Áng – Bùng cũng phải hoàn thành các mốc tương tự trong tháng 1 và tháng 4-2026. Tuy nhiên, đến tháng 9-2026, cả hai vẫn chưa hoàn thành đầy đủ các hạng mục dịch vụ, trong đó có xưởng bảo dưỡng, sửa chữa và khu dịch vụ thương mại.

    Sau văn bản yêu cầu khắc phục vi phạm hồi tháng 5-2026, Cục Đường bộ Việt Nam tiếp tục thông báo lần thứ hai, yêu cầu nhà đầu tư khẩn trương khắc phục. Theo hợp đồng, nếu quá thời hạn mà các công trình dịch vụ công chưa hoàn thành, mỗi ngày chậm có thể bị giảm trừ tương ứng hai ngày thời gian kinh doanh, khai thác; trường hợp chậm quá 90 ngày, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét chấm dứt hợp đồng.

    Đây là ví dụ điển hình cho bài toán đang đặt ra đối với hệ thống trạm dừng nghỉ trên cao tốc: làm thế nào để công trình phục vụ giao thông không tiếp tục đi sau tuyến đường?

    Trong số 21 trạm dừng nghỉ được triển khai trên tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Đông, đến nay cả 21 trạm đã được bàn giao toàn bộ mặt bằng; 18 trạm đã hoàn thành công trình dịch vụ thiết yếu và đưa vào khai thác. Tuy nhiên, vẫn còn dự án đang thi công hoặc chưa hoàn tất các thủ tục để triển khai.

    Đáng chú ý, trạm dừng nghỉ tại Km144+560 trên cao tốc Vĩnh Hảo – Phan Thiết sau hơn một năm kể từ khi ký hợp đồng vẫn chưa thể triển khai thi công do chưa có mặt bằng sạch. Phải đến giữa tháng 7-2026, nhà đầu tư mới được bàn giao khoảng 23% diện tích, lại bàn giao nhỏ lẻ, không liên tục, không đủ điều kiện tổ chức thi công.

    Theo ông Đoàn Chí Hiếu, Trưởng phòng Thẩm định, Cục Đường bộ Việt Nam, thực tế triển khai cho thấy một số dự án từng chậm từ 6 đến 15 tháng chỉ vì mặt bằng bàn giao không đúng kế hoạch.

    Trạm dừng nghỉ trên cao tốc Bắc – Nam đoạn Mai Sơn – Quốc lộ 45 đã có đầy đủ các dịch vụ thiết yếu. Ảnh: Tuấn Lương.

    Khi trạm dừng nghỉ lại là một dự án mới

    Mặt bằng là một trong những điểm nghẽn, nhưng quá trình triển khai còn phát sinh các thủ tục về đầu tư, giao đất, thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, nguồn vật liệu xây dựng…

    Nhìn sâu hơn, các khó khăn này có chung một điểm: trạm dừng nghỉ đang được triển khai như một dự án độc lập sau khi tuyến cao tốc đã hoàn thành.

    Theo cách làm hiện nay, sau khi tuyến đường được xây dựng, cơ quan quản lý xác định vị trí, tổ chức lựa chọn nhà đầu tư. Nhà đầu tư tiếp tục lập dự án, thực hiện thủ tục pháp lý, xin giao đất, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị vật liệu rồi mới tổ chức thi công.

    Theo ông Bùi Quang Thái, Cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam, đây là bài học lớn sau quá trình triển khai 21 trạm dừng nghỉ. Sau khi đường cao tốc hoàn thành, mỗi trạm lại phải thực hiện như một dự án riêng, từ lập dự án, giải phóng mặt bằng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và nhiều thủ tục khác. Điều này khiến một quy trình đầu tư gần như được lặp lại, làm kéo dài tiến độ và ảnh hưởng tính đồng bộ của công trình.

    Xã hội hóa đầu tư trạm dừng nghỉ vẫn có ý nghĩa trong việc huy động nguồn lực ngoài ngân sách. PGS.TS Trần Chủng, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam, cho rằng đây là giải pháp phù hợp để giảm gánh nặng đầu tư ban đầu cho Nhà nước. Tuy nhiên, khi các thủ tục đầu tư được thực hiện sau khi tuyến đường đưa vào khai thác, hàng loạt khó khăn lại phát sinh, nhất là giải phóng mặt bằng và các thủ tục về đất đai, khoáng sản, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng.

    Vấn đề vì vậy không chỉ là lựa chọn đầu tư công hay xã hội hóa, mà là tổ chức hai nguồn lực này trong cùng một quy trình để công trình thiết yếu có thể sẵn sàng khi tuyến cao tốc được đưa vào khai thác.

    Đầu tư đồng bộ ngay từ khi làm cao tốc

    Từ những bất cập trên, Cục Đường bộ Việt Nam kiến nghị thay đổi phương thức đầu tư trạm dừng nghỉ. Theo hướng này, việc đầu tư trạm sẽ được tính toán ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án cao tốc.

    Trạm dừng nghỉ nên được đầu tư đồng bộ ngay từ khi làm cao tốc. (Ảnh minh hoạ).

    Cụ thể, Nhà nước sẽ giải phóng mặt bằng theo quy mô quy hoạch của trạm dừng nghỉ cùng với dự án đường cao tốc; đầu tư trước các hạng mục dịch vụ công thiết yếu như đường ra, đường vào, bãi đỗ xe, khu vệ sinh, khu nghỉ ngơi. Sau khi công trình hoàn thành, cơ quan quản lý có thể khai thác tạm thời trong thời gian lựa chọn nhà đầu tư. Doanh nghiệp được lựa chọn sẽ tiếp tục đầu tư các hạng mục thương mại, dịch vụ và vận hành trạm; phần kinh phí Nhà nước đã đầu tư có thể được hoàn trả theo cơ chế phù hợp.

    Theo PGS.TS Trần Chủng, nếu thực hiện theo hướng này, toàn bộ diện tích dành cho đường cao tốc và trạm dừng nghỉ có thể được thu hồi trong cùng một dự án, thay vì phải giải phóng mặt bằng hai lần. Khi hai công trường được triển khai đồng thời, có thể tận dụng chung đường công vụ, vật liệu, thiết bị và nhân lực; các hệ thống cấp điện, cấp nước, thoát nước và đấu nối kỹ thuật cũng được thiết kế ngay từ đầu.

    Đây cũng là hướng Bộ Xây dựng đang nghiên cứu trong dự thảo sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến đầu tư trạm dừng nghỉ. Theo đề xuất, trong trường hợp cần thiết, cơ quan chủ quản có thể quyết định đầu tư trước một số hạng mục thiết yếu ngay trong dự án cao tốc, gồm đường ra, đường vào, bãi đỗ xe, khu vệ sinh và không gian nghỉ ngơi. Các hạng mục còn lại sẽ được thực hiện sau khi lựa chọn được nhà đầu tư xây dựng, khai thác.

    Cách làm này nhằm bảo đảm tuyến cao tốc khi đưa vào khai thác đã có những dịch vụ thiết yếu, đồng thời vẫn phát huy nguồn lực xã hội đối với các hạng mục thương mại có khả năng thu hồi vốn. Đây cũng là vấn đề có ý nghĩa đối với khai thác tuyến đường, bởi việc hoàn thành các công trình dịch vụ công thiết yếu tại trạm dừng nghỉ liên quan đến điều kiện triển khai thu phí.

    Những bất cập trong quá trình đầu tư 21 trạm dừng nghỉ trên cao tốc Bắc – Nam phía Đông đang đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách làm, thay vì chỉ xử lý từng dự án chậm tiến độ. Bộ Xây dựng đã yêu cầu Cục Đường bộ Việt Nam rà soát, tổng kết quá trình triển khai, nhận diện những tồn tại, đặc biệt về hình thức đầu tư, để đề xuất phương án thực hiện trong thời gian tới, bảo đảm các trạm dừng nghỉ được khai thác đồng bộ với tuyến cao tốc. Quan điểm được lãnh đạo Bộ Xây dựng nhấn mạnh là không để lặp lại những bất cập đã bộc lộ như các giai đoạn vừa qua. Qua đó, hạn chế tình trạng “đường có trước, trạm dừng nghỉ theo sau”, bảo đảm tính đồng bộ, an toàn và hiệu quả của mạng lưới cao tốc.

    Tuấn Lương

    Nguồn https://baomoi.com/dau-tu-tram-dung-nghi-khong-de-duong-cao-toc-di-truoc-dich-vu-c56173019.epi

  • Gia Lai tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công

    Kết quả tích cực nhưng áp lực còn lớn

    Theo Sở Tài chính, đến ngày 31-8, tỉnh đã huy động 30.244 tỷ đồng vốn đầu tư công, cao nhất từ trước đến nay, để phục vụ đầu tư phát triển. Nguồn lực này đã được tỉnh phân bổ cho 26 đơn vị cấp tỉnh và 135 xã, phường để đầu tư các công trình, dự án với yêu cầu phải đảm bảo giải ngân đạt 100% vốn đầu tư công năm 2026 theo Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 10-1-2026 của UBND tỉnh.

    Các nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công tuyến đường ven biển, đoạn Cát Tiến – Diêm Vân. Ảnh: T.Sỹ

    Đến hết tháng 8-2026, toàn tỉnh đã giải ngân 16.226 tỷ đồng, đạt 62,85% so với kế hoạch vốn được Thủ tướng Chính phủ giao trong năm 2026 là 25.817 tỷ đồng; nếu tính luôn cả vốn kéo dài từ năm 2025 sang năm 2026, tỉnh đã giải ngân được 17.070 tỷ đồng, đạt 56,25% so với kế hoạch vốn được HĐND tỉnh giao là 30.344 tỷ đồng.

    Đáng chú ý, nhiều đơn vị được tỉnh giao kế hoạch vốn đầu tư công lớn như: Ban Quản lý dự án các công trình giao thông và dân dụng tỉnh (10.454 tỷ đồng); Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng tỉnh (5.867 tỷ đồng); Ban Quản lý dự án nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh (2.303 tỷ đồng)… đều có tỷ lệ giải ngân vốn cao. Ở cấp xã, có 20 đơn vị cho thấy sự nỗ lực vượt bậc trong thực hiện các dự án và thanh quyết toán, đảm bảo tỷ lệ giải ngân đạt từ 60% trở lên.

    Tuy vậy, vốn đầu tư công còn lại phải giải ngân rất lớn, với 13.274 tỷ đồng. Cụ thể, vốn ngân sách trung ương (bao gồm vốn ODA) còn 4.560 tỷ đồng; vốn ngân sách tỉnh 7.736 tỷ đồng; vốn ngân sách phân cho cấp xã, phường 978 tỷ đồng. Đáng quan ngại là việc triển khai các công trình, dự án và giải ngân vốn đầu tư công không đồng đều giữa các chủ đầu tư.

    Ở cấp tỉnh, dù được tỉnh giao kế hoạch vốn không nhiều nhưng tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của 11 đơn vị còn rất thấp. Trong đó, Tỉnh đoàn được giao hơn 16,8 tỷ đồng nhưng vẫn chưa giải ngân được đồng nào. Tình trạng chậm trễ giải ngân vốn đầu tư công cũng đang diễn ra tại 73 đơn vị cấp xã, gây áp lực lớn trong những tháng cuối năm.

    Tăng tốc thi công các dự án, giải ngân vốn đầu tư công

    Vốn đầu tư công chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi đầu tư; việc giải ngân vốn tốt sẽ tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực, tạo động lực thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển. Vì thế, lãnh đạo tỉnh thường xuyên kiểm tra thực tế, chỉ đạo chủ đầu tư tăng tốc thi công các dự án và đẩy nhanh tiến độ giải ngân.

    Tuyến đường ven biển, đoạn Cát Tiến – Diêm Vân. Ảnh: T.Sỹ

    Những ngày qua, lãnh đạo Ban Quản lý dự án các công trình giao thông và dân dụng tỉnh thường xuyên bám sát công trường, đôn đốc và hỗ trợ nhà thầu tháo gỡ kịp thời các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện dự án.

    Hiện các nhà thầu đang tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án quy mô lớn như: Tuyến đường bộ cao tốc Quy Nhơn – Pleiku; tuyến đường ven biển đoạn Cát Tiến – Diêm Vân; đường cất hạ cánh số 2 và các công trình đồng bộ tại Cảng hàng không Phù Cát; tuyến đường kết nối từ cao tốc Bắc – Nam về Khu công nghiệp Phù Mỹ và Cảng Phù Mỹ…

    Ông Lưu Nhất Phong – Giám đốc Ban Quản lý dự án các công trình giao thông và dân dụng tỉnh – cho hay: “Cùng với việc đôn đốc thi công các công trình, dự án, Ban Quản lý rút ngắn thời gian thanh toán khối lượng công việc hoàn thành, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà thầu thực hiện các hạng mục công trình. Nhờ đó, đến ngày 31-8, Ban Quản lý đã giải ngân 7.904 tỷ đồng, đạt 75,6% tổng vốn đầu tư công năm 2026. Với tiến độ như hiện nay, chúng tôi đảm bảo giải ngân 100% kế hoạch vốn đã được tỉnh giao”.

    Tương tự, Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng tỉnh, Ban Quản lý dự án nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh, Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh cùng nhiều chủ đầu tư khác cũng đang đôn đốc các nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công các hạng mục công trình; đồng thời nhanh chóng hoàn thành hồ sơ, thủ tục thanh toán theo tiến độ hoàn thành.

    Theo ông Tô Tấn Thi – Giám đốc Ban Quản lý dự án nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh: Các dự án do Ban Quản lý làm chủ đầu tư đảm bảo tiến độ, chất lượng. Dù một số nguồn vốn mới được tỉnh phân bổ nhưng nhờ có sự chuẩn bị từ trước nên việc giải ngân cũng được thực hiện nhanh. Đến ngày 31-8, Ban Quản lý đã giải ngân được hơn 1.286 tỷ đồng trên tổng kế hoạch vốn tỉnh giao là 2.303 tỷ đồng, số còn lại sẽ được giải ngân hết trong thời gian từ nay đến cuối năm.

    Ông Đinh Hữu Hòa – Phó Giám đốc Sở Tài chính – thông tin: Hiện nay, cùng với việc đôn đốc các chủ đầu tư thi công công trình và thanh quyết toán khối lượng công việc hoàn thành, Sở Tài chính tiếp tục tham mưu UBND tỉnh rà soát toàn bộ kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026. Đối với vốn ngân sách trung ương không có khả năng giải ngân hết, nghiên cứu điều chuyển sang các dự án sử dụng cùng nguồn vốn, phù hợp danh mục đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030 và đã có sẵn khối lượng thanh toán.

    PHẠM TIẾN SỸ

    Nguồn https://baomoi.com/gia-lai-tang-toc-giai-ngan-von-dau-tu-cong-c56173006.epi

  • Nghệ An có 4 dự án thuộc các công trình trọng điểm lĩnh vực Công Thương và Xây dựng

    Đồng chí Phùng Thành Vinh – Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì tại điểm cầu UBND tỉnh Nghệ An. Trong ảnh: Quang cảnh phiên họp tại điểm cầu UBND tỉnh Nghệ An. Ảnh: Thành Duy

    Đẩy nhanh GPMB, tiến độ thi công 4 công trình trọng điểm

    Tại phiên họp, Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương báo cáo tình hình triển khai các dự án thuộc lĩnh vực phụ trách, tập trung vào tiến độ các dự án đã được đầu tư và các dự án đang trong quá trình chuẩn bị đầu tư.

    Các đại biểu trao đổi, đánh giá tiến độ từng dự án; đồng thời đề xuất các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn, xử lý những vấn đề thuộc thẩm quyền và phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, qua đó bảo đảm tiến độ triển khai các công trình trọng điểm.

    Đối với Nghệ An, trên địa bàn tỉnh hiện có 4 dự án thuộc diện chỉ đạo của Ban Chỉ đạo, gồm: Nhà máy nhiệt điện LNG Quỳnh Lập; Trạm biến áp 500kV Quỳnh Lưu và đường dây đấu nối; cao tốc Vinh – Thanh Thủy; giải phóng mặt bằng, tái định cư phục vụ đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam.

    Đồng chí Phùng Thành Vinh – Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì tại điểm cầu UBND tỉnh Nghệ An. Ảnh: Thành Duy

    Đối với Nhà máy nhiệt điện LNG Quỳnh Lập, dự án được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư ngày 12/2/2026 cho liên danh PV Power, Công ty TNHH Mía đường Nghệ An và SK Innovation Co., Ltd thực hiện. Nhà đầu tư đã thành lập Công ty cổ phần điện LNG Quỳnh Lập.

    Hiện, nhà đầu tư lập quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 và Báo cáo nghiên cứu khả thi (FS). Công tác giải phóng mặt bằng khu vực nhà máy đã cắm mốc ranh giới tạm, trích đo 1.010 thửa với diện tích khoảng 59,1 ha, dự kiến hoàn thiện bản đồ trích đo để thẩm định, phê duyệt trước ngày 20/10.

    Với dự án Trạm biến áp 500kV Quỳnh Lưu và đường dây đấu nối, công trình khởi công tháng 3/2026 nhưng đang tạm dừng để hoàn thiện thủ tục giải phóng mặt bằng. Phần trạm biến áp tại xã Quỳnh Tam đã hoàn thành giải phóng mặt bằng, còn một hộ tại xã Quỳnh Sơn, dự kiến xử lý trước ngày 5/10.

    Các tuyến đường dây qua Quỳnh Tam, Quỳnh Sơn và Quỳnh Văn đang kiểm kê, xác định nguồn gốc đất và lập phương án bồi thường, dự kiến hoàn thành trong tháng 10.

    Phối cảnh 1 đoạn tuyến cao tốc Vinh – Thanh Thủy khu vực qua xã Kim Bảng. Ảnh: Thành Duy

    Cao tốc Vinh – Thanh Thủy dài hơn 60 km, đi qua 9 xã, tổng mức đầu tư khoảng 23.940 tỷ đồng, thực hiện giai đoạn 2025-2029. Dự án đã khởi công ngày 18/5, 5 trong 6 gói thầu xây lắp đã được lựa chọn nhà thầu.

    Đến nay, các địa phương đã bàn giao khoảng 40,34/60,031 km mặt bằng, đạt 67,2%. Trong 11 khu tái định cư phục vụ 199 hộ, hai khu đã hoàn thành. Năm 2026, dự án được bố trí hơn 4.435 tỷ đồng, đã giải ngân 3.706 tỷ đồng, đạt 82,73%.

    Đối với Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, đoạn qua Nghệ An dài khoảng 85,5 km, qua 18 xã, phường, diện tích giải phóng mặt bằng khoảng 519,2 ha, ảnh hưởng khoảng 2.150 hộ, trong đó 1.782 hộ dự kiến phải tái định cư.

    Tỉnh đang triển khai 41 khu tái định cư. Trong đó, 11 khu đã hoàn thành thủ tục đầu tư và thi công; 18 khu đã được phê duyệt dự án, đang hoàn thiện giải phóng mặt bằng và thủ tục lựa chọn nhà thầu; 12 khu đang lập, thẩm định, phê duyệt hồ sơ.

    Không để “tổ chức thực hiện” tiếp tục trở thành khâu yếu

    Phát biểu kết luận, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc nhấn mạnh, các công trình, dự án trọng điểm trong lĩnh vực Công Thương và Xây dựng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển sản xuất, tăng cường năng lực hạ tầng, bảo đảm an ninh năng lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo động lực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 và những năm tiếp theo.

    Các đại biểu dự phiên họp tại điểm cầu UBND tỉnh Nghệ An. Ảnh: Thành Duy

    Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh, Ban Chỉ đạo không làm thay chức năng quản lý Nhà nước của các bộ, ngành, địa phương và chủ đầu tư; đồng thời không thay thế trách nhiệm của người đứng đầu. Những vấn đề thuộc thẩm quyền của bộ, ngành, địa phương nào thì đơn vị đó phải chủ động giải quyết và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện.

    Phương thức hoạt động của Ban Chỉ đạo phải thực chất, hiệu quả, tập trung vào những vấn đề liên ngành, liên địa phương; những nội dung còn có ý kiến khác nhau và những điểm nghẽn vượt thẩm quyền giải quyết của các bộ, ngành, địa phương.

    Việc phân công nhiệm vụ phải bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn và rõ kết quả, qua đó thúc đẩy dự án đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, an toàn, hiệu quả, phòng ngừa thất thoát, lãng phí.

    Các đại biểu dự phiên họp tại điểm cầu UBND tỉnh Nghệ An. Ảnh: Thành Duy

    Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ nhấn mạnh, hiện nay vấn đề không còn nằm ở pháp luật, thể chế mà chủ yếu là khâu tổ chức thực hiện.

    Các bộ, ngành, địa phương phải tập trung nâng cao hiệu quả thực thi, không để “tổ chức thực hiện” tiếp tục trở thành khâu yếu; qua đó bảo đảm các nguồn lực được khơi thông, các điểm nghẽn được tháo gỡ và các dự án trọng điểm đạt tiến độ, chất lượng, hiệu quả đề ra.

    Thành Duy

    Nguồn https://baomoi.com/nghe-an-co-4-du-an-thuoc-cac-cong-trinh-trong-diem-linh-vuc-cong-thuong-va-xay-dung-c56172906.epi

  • Lào Cai tham dự hội nghị trực tuyến về rà soát, tháo gỡ vướng mắc các công trình trọng điểm

    Dự và chủ trì tại điểm cầu Lào Cai có đồng chí Phan Trung Bá – Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Cùng dự có lãnh đạo các sở, ngành, đơn vị liên quan.

    Đồng chí Phan Trung Bá – Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì tại điểm cầu Lào Cai.

    Theo báo cáo tại phiên họp, trong lĩnh vực năng lượng, việc đẩy nhanh tiến độ các dự án được xác định gắn với yêu cầu bảo đảm cung ứng điện và an ninh năng lượng. Bộ Công Thương đang rà soát các dự án chậm tiến độ, dự án có nguy cơ không đáp ứng tiến độ quy hoạch để nghiên cứu phương án xử lý, điều chỉnh, cập nhật quy hoạch và bổ sung nguồn điện khi cần thiết.

    Đối với các dự án chưa có nhà đầu tư, đã lựa chọn nhà đầu tư nhưng chậm hoàn thiện thủ tục hoặc có nguy cơ chậm tiến độ, cơ quan chức năng được yêu cầu rà soát nguyên nhân, đôn đốc xử lý theo thẩm quyền; trường hợp vượt thẩm quyền phải kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

    Các nội dung liên quan trực tiếp đến Lào Cai cũng được đặt trong tổng thể tiến độ các công trình trọng điểm quốc gia, trong đó, dự án tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng đã được Quốc hội phê duyệt điều chỉnh chủ trương đầu tư ngày 24/8/2026; Chính phủ tiếp tục ban hành các văn bản triển khai, tạo cơ sở để đẩy nhanh các bước chuẩn bị đầu tư.

    Đối với dự án này, dự án thành phần 1 đang triển khai thi công quảng trường tại 3 vị trí ga và hoàn thiện hồ sơ thiết kế tuyến kết nối, quảng trường của 15 ga còn lại để lựa chọn nhà thầu thi công trong quý IV/2026. Dự án thành phần 2 đang hoàn thiện thủ tục báo cáo nghiên cứu khả thi; đồng thời phối hợp thúc đẩy thống nhất với phía Trung Quốc về hiệp định xây dựng cầu chung qua biên giới, làm cơ sở phê duyệt dự án trong quý IV/2026 và đàm phán hiệp định vay vốn.

    Cùng với đó, công tác giải phóng mặt bằng, xây dựng các khu tái định cư đang được các địa phương chủ động triển khai. Theo yêu cầu tiến độ, các địa phương cần đẩy nhanh giải phóng mặt bằng đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất trụ sở cơ quan nhà nước và công trình công cộng trong tháng 11 và 12/2026; hoàn thành các phần việc còn lại trong quý II/2027 để phục vụ thi công đồng bộ.

    Đại biểu dự họp tại điểm cầu tỉnh Lào Cai.

    Trong lĩnh vực điện, một số dự án liên quan trực tiếp đến địa bàn Lào Cai đang được triển khai. Cụ thể, dự án đường dây 220kV Than Uyên – Trạm 500kV Lào Cai đã bàn giao mặt bằng 108/156 vị trí và 30/75 khoảng néo; dựng cột tại 89/156 vị trí, kéo dây 12/75 khoảng néo. Dự án hiện còn vướng mắc tại các vị trí giao chéo với tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, đang được điều chỉnh hướng tuyến.

    Bên cạnh đó, dự án trạm biến áp 500kV Yên Bái và đường dây 500kV-220kV đấu nối, công suất 1.800MVA (dự kiến thực hiện giai đoạn 2027 – 2028), đã được UBND tỉnh Lào Cai chấp thuận chủ trương đầu tư và nhà đầu tư tại Quyết định số 2182/QĐ-UBND ngày 23/6/2026. Chủ đầu tư đang triển khai các bước tiếp theo.

    Tại phiên họp, các đại biểu tập trung phân tích những khó khăn, vướng mắc trong triển khai các dự án năng lượng trọng điểm, nhất là các dự án điện khí và hệ thống truyền tải điện.

    Đối với các dự án năng lượng, cần quản lý tiến độ theo từng mốc cụ thể, gồm thời điểm quyết định đầu tư, lựa chọn nhà thầu và khởi công xây dựng, thay vì chỉ kiểm điểm tại mốc hoàn thành cuối cùng. Qua đó, phải sớm xác định những dự án có nguy cơ không đáp ứng tiến độ, nhất là các dự án có thời gian triển khai kéo dài.

    Đối với lĩnh vực xây dựng, các đại biểu cho rằng tiến độ giải ngân đầu tư công năm 2026 đã có chuyển biến nhưng vẫn còn nhiều khó khăn. Nguyên nhân gồm những vấn đề kéo dài như chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng và những yếu tố đặc thù năm 2026 như giá vật liệu xây dựng, nhân công, nhiên liệu và tác động từ tình hình xung đột quốc tế.

    Các đại biểu tham dự tại điểm cầu Lào Cai.

    Các đại biểu thống nhất cần phân định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, đại diện chủ sở hữu, địa phương và chủ đầu tư, đồng thời xác lập các mốc tiến độ cụ thể đối với từng dự án để kịp thời tháo gỡ vướng mắc, hạn chế tình trạng chậm tiến độ kéo dài.

    Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc khẳng định các dự án trọng điểm trong lĩnh vực công thương, xây dựng có vai trò quan trọng, góp phần tạo động lực tăng trưởng, nâng cao năng lực sản xuất, cạnh tranh của nền kinh tế và thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.

    Phó Thủ tướng yêu cầu không làm thay chức năng quản lý nhà nước, không thay thế trách nhiệm của bộ, ngành, địa phương và chủ đầu tư; cơ quan nào thuộc thẩm quyền phải chủ động giải quyết, chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện; đồng thời tăng cường phối hợp liên ngành, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả.

    Phương thức chỉ đạo phải thực chất, hiệu quả, tập trung tháo gỡ những vấn đề liên ngành, liên địa phương; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để theo dõi, giám sát tiến độ, kịp thời cảnh báo nguy cơ chậm tiến độ và xử lý ngay các vấn đề phát sinh. Phó Thủ tướng lưu ý không chạy theo tiến độ mà ảnh hưởng đến chất lượng, an toàn công trình, đồng thời kiên quyết xử lý các trường hợp chậm trễ, thiếu trách nhiệm và kịp thời biểu dương những tập thể, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ.

    Đối với các dự án trọng điểm, Phó Thủ tướng yêu cầu theo dõi tiến độ theo từng khâu, từ chuẩn bị đầu tư, quyết định đầu tư, lựa chọn nhà thầu đến triển khai thi công và đưa công trình vào vận hành, không chỉ kiểm điểm ở mốc hoàn thành cuối cùng. Theo Phó Thủ tướng, điểm nghẽn hiện nay chủ yếu nằm ở khâu tổ chức thực hiện, do đó các bộ, ngành, địa phương và chủ đầu tư phải tập trung nâng cao hiệu quả công tác, bảo đảm dự án được triển khai đúng tiến độ, chất lượng, an toàn và hiệu quả đầu tư.

    Anh Dũng

    Nguồn https://baomoi.com/lao-cai-tham-du-hoi-nghi-truc-tuyen-ve-ra-soat-thao-go-vuong-mac-cac-cong-trinh-trong-diem-c56172891.epi

  • Tạo cơ chế đột phá, khơi thông nguồn lực phát triển đô thị

    Sự ra đời của Luật Phát triển đô thị, hứa hẹn sẽ là bệ phóng giúp Thành phố Hồ Chí Minh có bước phát triển đột phá. (Ảnh: THÀNH ĐẠT)

    Luật Phát triển đô thị có hiệu lực từ ngày 1/10, xác lập các cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội đáp ứng yêu cầu thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, thành phố khác, khu kinh tế đặc biệt và đầu tư xây dựng dự án khu đô thị lấn biển; góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số” và phát triển nhanh, bền vững đất nước.

    Luật gồm 5 Chương, 66 điều kiến tạo khung thể chế mới với mức độ phân quyền mạnh mẽ hơn, tạo cơ chế để thành phố giải quyết triệt để các điểm nghẽn, khơi thông, huy động tối đa nguồn lực và hình thành những mô hình kinh tế mới.

    Luật được thực hiện trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc bảo đảm tính hợp hiến, đổi mới tư duy lập pháp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với năng lực, điều kiện bảo đảm thực hiện và trách nhiệm giải trình; phát huy tiềm năng, lợi thế của các địa phương phù hợp với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, tạo không gian phát triển với tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức thực hiện.

    Luật bổ sung thẩm quyền của Hội đồng nhân dân thành phố trong việc điều chỉnh cục bộ Quy hoạch tổng thể thành phố, bảo đảm yêu cầu thống nhất quản lý nhà nước về quy hoạch, sự kết nối giữa Quy hoạch của thành phố với quy hoạch ở khu kinh tế đặc biệt trong trường hợp khu kinh tế đặc biệt nằm trên địa bàn thành phố.

    Hội đồng nhân dân thành phố được quy định thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích, huy động nguồn lực xã hội hóa, sử dụng tài sản công và ngân sách thành phố để bảo vệ, phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; hỗ trợ tổ chức, cá nhân tôn tạo, bảo vệ khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử và công trình kiến trúc có giá trị.

    Về phát triển hạ tầng năng lượng và công nghiệp năng lượng, Hội đồng nhân dân thành phố quy định các nội dung về mua bán điện trực tiếp, gồm đối tượng, điều kiện tham gia, cơ chế thực hiện và trách nhiệm của đối tượng tham gia mua bán điện trực tiếp, bảo đảm đầy đủ cơ sở pháp lý trong tổ chức thực hiện cũng như tính khả thi, thống nhất, an toàn và ổn định trong vận hành hệ thống điện…

    Thành phố được xây dựng chính sách học bổng, ưu đãi cho người có năng khiếu, tài năng hoặc thành tích đặc biệt xuất sắc; hỗ trợ người học, nhà giáo, cán bộ quản lý đi học tập, nghiên cứu trong các lĩnh vực, ngành trọng điểm. Quyền lợi cụ thể được thực hiện theo chính sách do địa phương ban hành.

    Ủy ban nhân dân thành phố được quyết định chuyển đổi giữa nhà ở thương mại, nhà ở xã hội và nhà tái định cư để đáp ứng nhu cầu thực tế. Người bị thu hồi nhà, đất ở được bố trí tái định cư bằng nhà ở xã hội, sau khi thanh toán đủ tiền mua nhà theo quy định, được công nhận quyền sở hữu đầy đủ như với nhà thương mại theo quy định của Ủy ban nhân dân thành phố.

    Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Phát triển đô thị. (Ảnh: DUY LINH)

    Luật cũng quy định xã, phường hoặc đặc khu được công nhận là khu kinh tế đặc biệt khi có vị trí chiến lược, phù hợp định hướng phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; có cảng hàng không quốc tế hoặc cảng biển loại I trở lên; có không gian tương đối độc lập, dễ kiểm soát, dân số và diện tích tự nhiên lớn. Chính phủ quyết định công nhận sau khi có chủ trương của cấp có thẩm quyền.

    Về khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp, Luật quy định thẩm quyền của Chính phủ trong việc quy định trình tự, thủ tục công nhận, gia hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ việc áp dụng chế độ ưu tiên hải quan đối với khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp, tạo cơ sở để hoàn thiện các cơ chế pháp lý cụ thể cho tổ chức thực hiện.

    Nhà đầu tư chiến lược thực hiện dự án tại khu kinh tế đặc biệt được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp như dự án ở địa bàn đặc biệt khó khăn. Với dự án đầu tư mới thuộc danh mục ưu tiên, thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể được kéo dài thêm tối đa 5 năm so với quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Luật Phát triển đô thị chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2026, các chính sách ưu đãi thuế đặc thù sẽ áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2027. Để bảo đảm tính liên tục, Nghị quyết số 98 và Nghị quyết số 260 sẽ tiếp tục được thực hiện và chỉ hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/4/2027.

    VY ANH

    Nguồn https://baomoi.com/tao-co-che-dot-pha-khoi-thong-nguon-luc-phat-trien-do-thi-c56172915.epi

  • Thu phí bảo vệ môi trường đối với khí thải: Cần thực chất hơn

    Hiện nay, một số cơ sở sản xuất ở khu vực ngoại thành Hà Nội xả khí thải chưa qua xử lý gây ô nhiễm môi trường. Ảnh: ST

    Khoản phí nhỏ, khối lượng quản lý lớn

    Nghị định số 153/2024/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với khí thải có hiệu lực từ ngày 5-1-2025. Thành phố Hà Nội đã triển khai việc kê khai, thẩm định, thông báo và thu phí; đồng thời từng bước phân định trách nhiệm giữa cơ quan chuyên môn của thành phố và chính quyền cơ sở. Theo đó, năm 2025, toàn thành phố có khoảng 120 đơn vị đã được thẩm định, ra thông báo nộp phí, với tổng số thu hơn 435 triệu đồng. Sáu tháng đầu năm 2026, số phí thu được khoảng 312 triệu đồng.

    Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, đối với các cơ sở phải quan trắc khí thải định kỳ, việc xác định phí đòi hỏi tổng hợp, kiểm tra, đối chiếu số liệu quan trắc, lưu lượng, nồng độ các thông số ô nhiễm cùng hồ sơ môi trường. Trong khi đó, số phí biến đổi thực tế tại các cơ sở thuộc diện nộp phí ở Hà Nội rất thấp, dao động từ vài đồng đến vài nghìn đồng.

    Nói cách khác, một khoản thu rất nhỏ nhưng quy trình quản lý lại không nhỏ. Cơ quan quản lý phải tiếp nhận, kiểm tra, thẩm định tờ khai; doanh nghiệp phải chuẩn bị, kê khai số liệu; cán bộ chuyên môn phải đối chiếu với hồ sơ và dữ liệu quan trắc. Khi hệ thống phần mềm chưa đồng bộ, nhiều công việc vẫn phải thực hiện thủ công, chi phí tuân thủ vì thế càng đáng được tính đến.

    Trong quản lý chất lượng không khí, không thể chỉ nhìn vào số tiền thu được. Ô nhiễm đến từ nhiều nguồn và cần kiểm soát đồng thời. Trưởng phòng Quản lý môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Trọng Nhất cho biết, theo phân tích của thành phố, bụi thứ cấp đóng góp khoảng 27% ô nhiễm không khí, giao thông 23%, xây dựng và bụi đường 20%, đốt mở 12%, công nghiệp 10% và các nguồn khác khoảng 8%.

    Con số này cho thấy phí đối với khí thải công nghiệp chỉ là một mắt xích trong hệ thống kiểm soát nguồn phát thải.

    Khí thải phương tiện giao thông khó quản lý và thu phí môi trường. Ảnh: ST

    Gỡ vướng để phí trở thành công cụ quản lý

    Nghị định số 153/2024/NĐ-CP gắn đối tượng chịu phí với các cơ sở thuộc diện phải có giấy phép môi trường, trong đó có nội dung cấp phép xả khí thải. Tuy nhiên, Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP ngày 18-5-2026 đã thay đổi tiêu chí, thu hẹp đối tượng phải có giấy phép môi trường trên cơ sở loại hình hoạt động và ngưỡng phát sinh nước thải, khí thải phải xử lý.

    Từ đây xuất hiện những trường hợp chuyển tiếp chưa có cách hiểu thống nhất. Có cơ sở trước đây thuộc diện phải có giấy phép môi trường nhưng theo tiêu chí mới không còn thuộc diện này; có cơ sở đã được cấp giấy phép có nội dung xả khí thải nhưng nay không còn thuộc diện phải có giấy phép, được lựa chọn tiếp tục sử dụng giấy phép đến hết thời hạn hoặc thực hiện đăng ký môi trường. Nghĩa vụ nộp phí trong những trường hợp này căn cứ vào tình trạng pháp lý mới hay giấy phép còn hiệu lực vẫn cần được hướng dẫn rõ.

    Hà Nội đã phải có Văn bản số 10693/SNNMT-QLMT ngày 29-7-2026 gửi Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị hướng dẫn. Điều đó cho thấy đây không còn là vướng mắc ở một vài hồ sơ riêng lẻ mà cần được giải quyết bằng hướng dẫn thống nhất từ Trung ương.

    Một điểm nghẽn khác là phương pháp tính và quy trình thẩm định. Báo cáo của Sở đánh giá phương pháp tính tương đối phức tạp; thủ tục tiếp nhận, kiểm tra và thẩm định tờ khai tạo khối lượng công việc đáng kể. Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của thành phố cũng chưa đồng bộ với hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; chưa có phần mềm chuyên dụng để quản lý thống nhất việc kê khai, thẩm định, theo dõi và đối chiếu số thu.

    Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Minh Tấn từng nhấn mạnh, với công tác kiểm soát ô nhiễm không khí, nếu chỉ dừng ở xây dựng văn bản là chưa đủ; điều quan trọng là tổ chức thực thi hiệu quả, gắn với thực tiễn cơ sở. Ông Nguyễn Minh Tấn cũng cho biết, thành phố đang tăng cường cơ chế phối hợp giữa Sở và chính quyền xã, phường, đồng thời chú trọng dữ liệu môi trường để phục vụ quản lý, giám sát.

    Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Nguyễn Minh Tấn cho biết, giải pháp được Sở đưa ra để tháo gỡ điểm nghèn này khá rõ, cụ thể: Đơn giản hóa cách kê khai, tính và thu đối với các cơ sở có mức phí thấp; nghiên cứu thu theo quý hoặc theo năm; tăng trách nhiệm tự kê khai và chịu trách nhiệm về số liệu của người nộp phí, đi cùng cơ chế kiểm tra, hậu kiểm; đồng thời xây dựng phần mềm dùng chung.

    Đây là hướng cần thiết để chuyển từ tiền kiểm nặng thủ tục sang hậu kiểm có trọng tâm. Cơ sở phát thải lớn, nguy cơ cao phải được kiểm soát chặt; trường hợp phí nhỏ có thể áp dụng quy trình đơn giản hơn nhưng không đồng nghĩa với buông quản lý. Bởi mục tiêu của phí bảo vệ môi trường đối với khí thải không chỉ là tạo thêm một khoản thu. Giá trị cốt lõi phải là buộc nguồn thải nhận diện rõ trách nhiệm của mình và giúp cơ quan quản lý có thêm một công cụ kiểm soát phát thải.

    Hà Nội đang bước vào giai đoạn yêu cầu kiểm soát chất lượng không khí ngày càng thực chất, từ giao thông, xây dựng đến công nghiệp. Trong bối cảnh đó, từng công cụ quản lý đều phải phát huy đúng vai trò. Thu được ít không đáng ngại; đáng ngại là quản lý tốn nhiều mà hiệu quả chưa tương xứng. Vì vậy, việc cần làm lúc này không phải chạy theo số thu, mà là làm cho cơ chế thu phí gọn hơn, dữ liệu chính xác hơn, trách nhiệm rõ hơn và hậu kiểm mạnh hơn. Khi đó, khoản phí dù nhỏ vẫn có thể tạo ra giá trị lớn hơn: góp phần nhận diện, giám sát và kiểm soát nguồn phát thải ngay từ cơ sở.

    Bài viết có sự phối hợp của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội

    Đức Duy

    Nguồn https://baomoi.com/thu-phi-bao-ve-moi-truong-doi-voi-khi-thai-can-thuc-chat-hon-c56172848.epi

  • Hội Nông dân tỉnh giám sát việc thực hiện Quyết định số 182/QĐ-TTg tại xã Tả Van

    Quang cảnh buổi giám sát việc thực hiện Quyết định số 182/QĐ-TTg tại xã Tả Van của Hội Nông dân tỉnh Lào Cai.

    Làm việc với đoàn có đại diện Thường trực Đảng ủy, lãnh đạo UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân xã cùng các phòng, ban chuyên môn và Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Tả Van.

    Quyết định số 182/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Hội Nông dân Việt Nam tham gia phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp đến năm 2030”.

    Tại buổi làm việc, đoàn giám sát đã nghe báo cáo về kết quả triển khai, những thuận lợi, khó khăn và kiến nghị của địa phương đối với chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể.

    Xã Tả Van được thành lập trên cơ sở sáp nhập các xã Mường Hoa, Hoàng Liên và Tả Van trước đây, vận hành theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 1/7/2025. Xã có diện tích tự nhiên hơn 15.300 ha, gồm 14 thôn, gần 3.200 hộ với hơn 19.000 nhân khẩu; đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 96,86%.

    Thực hiện Quyết định số 182/QĐ-TTg và chỉ đạo của tỉnh, UBND xã đã ban hành quyết định kiện toàn Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể; phối hợp tổ chức 5 buổi tuyên truyền cho hơn 600 lượt cán bộ, hội viên nông dân.

    Đồng chí Trần Xuân Trường – Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Chủ tịch UBND xã Tả Van báo cáo kết quả thực hiện và đề xuất một số kiến nghị với đoàn giám sát.

    Hiện xã có 13 hợp tác xã đăng ký trên hồ sơ, trong đó 1 hợp tác xã đang hoạt động, doanh thu năm 2026 đạt khoảng 950 triệu đồng; 3 hợp tác xã đang hoặc đã giải thể; 9 hợp tác xã ngừng hoạt động đang được rà soát, xử lý.

    Địa phương đang hỗ trợ hoàn thiện thủ tục thành lập Hợp tác xã Nông nghiệp công nghệ cao Sâm Ngọc Linh Sa Pa; bước đầu vận động 40 hộ dân tại 2 thôn Séo Mý Tỷ và Dền Thàng đăng ký tham gia, gieo ươm 23.100 hạt giống sâm Ngọc Linh trên diện tích thí điểm 5 ha.

    Xã cũng triển khai mô hình trồng cải dầu tăng vụ trên diện tích 7,4 ha và rau vụ đông hữu cơ trên diện tích 4,3 ha cho 56 hộ dân; hỗ trợ máy móc sản xuất cho 185 hộ nghèo, cận nghèo với tổng kinh phí gần 2,2 tỷ đồng từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và vốn đối ứng của Nhân dân.

    Đoàn giám sát kiểm tra hồ sơ, tài liệu liên quan đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương.

    Sau khi nghe báo cáo, đoàn giám sát chia thành 2 tổ kiểm tra hồ sơ, tài liệu liên quan đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương; đồng thời khảo sát một số mô hình phát triển kinh tế, liên kết sản xuất và gieo ươm dược liệu trên địa bàn.

    Kết luận buổi giám sát, đồng chí Nguyễn Chương Phát – Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh ghi nhận những nỗ lực của xã Tả Van trong kiện toàn tổ chức bộ máy và triển khai Đề án “Hội Nông dân Việt Nam tham gia phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp đến năm 2030”.

    Đồng chí Nguyễn Chương Phát – Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh phát biểu tại buổi giám sát.

    Đồng chí đề nghị cấp ủy, chính quyền xã tiếp tục rà soát, xử lý dứt điểm các hợp tác xã ngừng hoạt động; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nông dân phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới; quy hoạch vùng nguyên liệu dược liệu chất lượng cao gắn với bảo vệ rừng và du lịch sinh thái; nâng cao năng lực quản trị cho đội ngũ cán bộ hợp tác xã; chủ động kết nối chuỗi sản xuất, tiêu thụ, góp phần nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững cho người dân.

    Đoàn giám sát của Hội Nông dân tỉnh tham quan mô hình nuôi ong của gia đình ông Lò Văn Dương, thôn Tả Van Giáy, xã Tả Van.

    Lê Hưng

    Nguồn https://baomoi.com/hoi-nong-dan-tinh-giam-sat-viec-thuc-hien-quyet-dinh-so-182-qd-ttg-tai-xa-ta-van-c56172900.epi

  • Tháo gỡ vướng mắc cho các công trình trọng điểm

    Phiên họp được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến giữa đầu cầu trụ sở Chính phủ với các tỉnh, thành đang có các công trình trọng điểm lĩnh vực Công Thương và Xây dựng.

    Dự phiên họp có đại diện lãnh đạo bộ ngành Trung ương, địa phương.

    Phía điểm cầu TP. Huế tham dự có đồng chí Lê Trí Thanh, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố.

    Tại điểm cầu TP. Huế, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Lê Trí Thanh chủ trì hội nghị.

    Theo Báo cáo của Bộ Xây dựng, mặc dù nhiều dự án hạ tầng giao thông trọng điểm đang được nỗ lực triển khai, công tác giải ngân vốn đầu tư công hiện mới đạt hơn 40% – thấp hơn mức trung bình cả nước (52,9%). Nhiều dự án nguy cơ chậm tiến độ, đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương tập trung tháo gỡ dứt điểm mặt bằng và nguồn vật liệu.  

    Để bảo đảm hoàn thành các công trình, dự án quan trọng Quốc gia theo kế hoạch, Bộ Xây dựng kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương tập trung hoàn thiện thủ tục đầu tư các dự án mới; xử lý dứt điểm các vướng mắc về mặt bằng; rà soát, phối hợp nâng công suất mỏ vật liệu, giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu vật liệu xây dựng; lập tiến độ thi công chi tiết theo tuần/tháng đối với các dự án có nguy cơ chậm tiến độ trong năm 2026.  

    Thời gian qua, tại TP. Huế, các cấp chính quyền và chủ đầu tư đang tập trung toàn lực đẩy nhanh tiến độ triển khai ba dự án trọng điểm ngành xây dựng, đặc biệt là các công trình hạ tầng giao thông chiến lược Quốc gia.  

    Đối với tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Đông đoạn La Sơn – Hòa Liên, đến nay sản lượng xây lắp đã đạt hơn 2.593 tỷ đồng trên tổng số 2.649 tỷ đồng, tương đương 97,89% giá trị. Tuyến chính mở rộng đã cơ bản hoàn thành và đưa vào sử dụng, trong khi các hạng mục bổ sung như nút giao Khe Tre, xử lý đường đầu cầu Vực Tròn và các vị trí sạt trượt đang được khẩn trương triển khai thi công theo đúng kế hoạch.  

    Bên cạnh đó, dự án đầu tư xây dựng mở rộng đường bộ cao tốc Bắc – Nam đoạn Cam Lộ – La Sơn, đến nay khối lượng thi công của một số hạng mục chính đã hoàn thành. Công tác GPMB phần tuyến chính đã cơ bản hoàn thành từ giai đoạn đầu, phần diện tích bổ sung đang tích cực triển khai, phấn đấu hoàn thành bàn giao trong tháng 10/2026. 

    Dự án đầu tư xây dựng mở rộng đường bộ cao tốc Bắc – Nam đoạn Cam Lộ – La Sơn đang triển khai thi công.

     Đối với dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, tuyến đường sắt đi qua TP. Huế, mặc dù công tác khảo sát, kiểm kê đã cơ bản hoàn thành, dự án hiện vẫn đang chờ Ban QLDA Thăng Long bàn giao tim mốc tuyến đường để có thể tiến hành kiểm đền và đền bù GPMB.

    Để chủ động quỹ đất phục vụ dự án, TP. Huế đang triển khai tổng cộng 33 dự án hạ tầng với kinh phí khoảng 1.787 tỷ đồng, bao gồm 22 khu tái định cư, 6 khu nghĩa trang, 4 trường học và 1 dự án khu chợ kết hợp tái định cư. Đến nay, đã có 10 dự án hoàn thành thi công xây dựng và các dự án còn lại đạt tiến độ từ 34% đến 90%.

    Về tình hình giải ngân, nguồn vốn bố trí năm 2026 sau điều chỉnh là hơn 1.053 tỷ đồng với tỷ lệ giải ngân chung đạt 62,32%. Thành phố đặt mục tiêu đến ngày 31/12/2026 sẽ bàn giao phần lớn đất cho người dân xây nhà và di dời chợ, đồng thời hoàn thành GPMB, bàn giao 100% mặt bằng sạch vào ngày 31/12/2027 để thi công dự án đường sắt Bắc – Nam theo đúng yêu cầu của Chính phủ.

    HÀ NGUYÊN – THÀNH NHÂN

    Nguồn https://baomoi.com/thao-go-vuong-mac-cho-cac-cong-trinh-trong-diem-c56172913.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!