Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Đồng chí Hầu Minh Lợi, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh làm việc với xã Thắng Mố

    Tham dự buổi làm việc có đồng chí Mai Đức Thông, Uỷ viên BCH Đảng bộ tỉnh, Giám đốc Báo và phát thanh, truyền hình Tuyên Quang, Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh.

    Đồng chí Hầu Minh Lợi, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh phát biểu kết luận tại buổi làm việc.

    Tại buổi làm việc, Ban Thường vụ Đảng ủy xã Thắng Mố đã báo cáo kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và công tác giải ngân vốn đầu tư trên địa bàn. Trong 9 tháng đầu năm 2026, xã đã tập trung vào công tác quản lý, điều hành và đẩy nhanh tiến độ thanh toán các nguồn vốn ngân sách.

    Cụ thể, đối với vốn chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (theo Quyết định 1289/QĐ-UBND), xã đã giải ngân trên 22,83 tỷ đồng, đạt 74,09% kế hoạch; nguồn vốn bổ sung trong năm 2026 (bao gồm đầu tư công và chi thường xuyên) giải ngân đạt trên 9,21 tỷ đồng, đạt 72% dự toán giao. Bên cạnh đó, nguồn vốn chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững đã thanh toán đạt 55% kế hoạch.

    Đồng chí Mai Đức Thông, Ủy viên BCH Đảng bộ tỉnh, Giám đốc Báo và phát thanh, truyền hình Tuyên Quang phát biểu tại buổi làm việc.

    Hiện nay, toàn xã có 22 công trình xây dựng đang được tích cực triển khai. Đáng chú ý, dự án trọng điểm Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS xã Thắng Mố đã hoàn thành 100% công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng với diện tích 29.094.7m2. Công trình đã đạt khoảng 25% khối lượng thi công và quyết tâm hoàn thành, đưa vào sử dụng trước ngày 30/7/2027.

    Tuy nhiên tiến độ thực hiện một số chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội vẫn còn chậm; việc thực hiện và giải ngân các nguồn vốn thuộc 3 chương trình mục tiêu Quốc gia, đầu tư công chưa đảm bảo tiến độ; công tác quản lý quy hoạch, đất đai, xây dựng chưa được triệt để.

    Các đại biểu dự buổi làm việc.

    Phát biểu chỉ đạo và kết luận buổi làm việc, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Hầu Minh Lợi ghi nhận sự nỗ lực của Ban Thường vụ Đảng ủy xã Thắng Mố trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thời gian qua, đặc biệt là sự chủ động trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và triển khai các dự án hạ tầng trọng điểm trên địa bàn. Đồng chí đề nghị Đảng ủy xã Thắng Mố cần rà soát, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công; có báo cáo chi tiết, toàn diện về tình hình thực hiện và giải ngân các nguồn vốn đầu tư công, nguồn vốn ngân sách giao trong năm và vốn bổ sung.

    Đồng thời, làm rõ nguyên nhân chậm tiến độ triển khai 3 Chương trình mục tiêu quốc gia. Đồng chí nhấn mạnh, Ban Thường vụ Đảng ủy xã cần nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ. Định kỳ hằng tháng, hằng quý và cuối năm, Đảng ủy xã phải nghe UBND xã báo cáo cụ thể về tiến độ thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao với tinh thần làm việc rõ ràng, quyết liệt. Qua đó, làm cơ sở để đánh giá năng lực thực thi nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên. Đồng chí lưu ý, xã phải tập trung khắc phục ngay những điểm nghẽn trong khâu quản lý, điều hành; tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ các công trình trên địa bàn; chủ động tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc phát sinh ngay từ cơ sở.

    Tin, ảnh: Minh Hoa

    Nguồn https://baomoi.com/dong-chi-hau-minh-loi-pho-chu-tich-thuong-truc-hdnd-tinh-lam-viec-voi-xa-thang-mo-c56199604.epi

  • Đừng để văn hóa đứng sau dòng vốn

    Sau 9 tháng, tỷ lệ giải ngân riêng của ngành văn hóa chưa có con số thống kê đầy đủ nên không thể suy diễn ngành này chậm hay nhanh từ mức bình quân chung. Tuy nhiên, câu chuyện đầu tư công đặt ra một vấn đề: văn hóa được nhìn nhận thế nào trong lựa chọn ưu tiên và tổ chức thực hiện? Nếu văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh của phát triển, thì trách nhiệm đầu tư phải tương xứng. Không thể đề cao văn hóa trong diễn văn nhưng để nhiệm vụ văn hóa chờ đợi.

    Nghị quyết 162/2024/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025- 2035 đã mở ra cơ hội lớn. Tổng nguồn vốn thực hiện giai đoạn 2025-2030 tối thiểu 122.250 tỉ đồng, trong đó ngân sách trung ương bố trí 50.000 tỉ đồng vốn đầu tư phát triển và 27.000 tỉ đồng vốn sự nghiệp. Đây là tổng nguồn lực chương trình, không phải toàn bộ vốn xây dựng. Sự phân biệt ấy nhắc rằng phát triển văn hóa cần đồng thời công trình, con người, hoạt động và nội dung.

    Có nguồn lực là điều kiện, nhưng chưa phải bảo đảm thành công. Thách thức nằm ở việc chuyển ưu tiên chính sách thành năng lực thực thi. Một dự án kéo dài không chỉ làm tăng chi phí; với di sản, đó có thể là thêm một mùa xuống cấp, thêm một phần ký ức mất đi. Với thiết chế cơ sở, đó là thời gian người dân tiếp tục thiếu nơi đọc sách, sinh hoạt, sáng tạo. Vốn chậm chuyển thành giá trị cũng có nghĩa cơ hội phát triển con người bị chậm lại.

    Vì vậy, phải thay đổi cách nhìn về hiệu quả đầu tư văn hóa. Đường sá có thể đo bằng chiều dài, công suất; văn hóa cần những thước đo phù hợp với mục tiêu phục vụ con người. Một nhà văn hóa hoàn thành nhưng đóng cửa phần lớn thời gian chưa thể coi là thành công. Một bảo tàng được xây dựng tốn kém nhưng thiếu nội dung, thiếu người xem cũng vậy. Điều cần chất vấn là người dân được hưởng gì, cộng đồng thay đổi thế nào, giá trị nào được bảo vệ và lan tỏa.

    Đây cũng là lúc phải vượt qua tư duy coi đầu tư văn hóa chủ yếu là xây dựng. Di sản cần bảo tồn, nghệ nhân cần truyền nghề, nghệ sĩ cần không gian sáng tạo, thư viện cần tài nguyên và dịch vụ. Những nhu cầu ấy liên quan nhiều nguồn kinh phí, phải được phân định và phối hợp đúng chức năng. Không thể dùng một công trình lớn để thay thế cả hệ sinh thái văn hóa; càng không thể xây xong rồi mới tìm người vận hành, nội dung hoạt động và ngân sách duy trì.

    Muốn khắc phục, cần bắt đầu từ khâu lựa chọn dự án. Đầu tư phải xuất phát từ khoảng trống dịch vụ, nguy cơ mất mát di sản và nhu cầu thực tế, thay vì khả năng đề xuất một danh mục đẹp. Ưu tiên cần dành cho nhiệm vụ cấp thiết, có căn cứ khoa học, có phương án vận hành và khả năng phục vụ rõ ràng. Những địa bàn khó khăn, cộng đồng ít cơ hội tiếp cận văn hóa phải được chú ý. Công bằng trong thụ hưởng là tiêu chí quan trọng của phát triển.

    Trong bảo tồn, yêu cầu tăng tốc càng phải đi cùng kỷ luật chuyên môn. UNESCO ghi nhận việc tu bổ di tích Huế sử dụng kỹ thuật, vật liệu truyền thống theo chuẩn mực quốc tế để duy trì tính xác thực. Bài học có ý nghĩa vượt khỏi một địa phương là, tiền có thể bổ sung, nhưng dấu tích gốc bị hủy hoại khó phục hồi. Chạy theo tỷ lệ giải ngân bằng làm mới di tích, đơn giản hóa nghiên cứu hay lựa chọn nhà thầu thiếu năng lực sẽ biến nguồn lực bảo tồn thành nguy cơ tổn hại.

    Tuy nhiên, thận trọng khoa học không đồng nghĩa chấp nhận trì trệ hành chính. Cần tách rõ thời gian nghiên cứu cần thiết với sự chậm trễ do hồ sơ yếu, phối hợp kém, đùn đẩy hoặc sợ trách nhiệm. Mỗi dự án phải chỉ rõ vướng ở đâu, ai giải quyết, khi nào hoàn thành. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm cả về tiến độ lẫn chất lượng. Không thể để một cuộc họp kết thúc bằng yêu cầu chung chung, rồi cuộc họp sau lại nghe cùng những khó khăn chưa được xử lý.

    Giám sát cũng phải theo đến lúc công trình hoạt động. Bên cạnh tỷ lệ thanh toán, cần công khai tiến độ, chất lượng, chi phí vận hành, mức độ sử dụng và phản hồi cộng đồng. Báo chí cần đặt câu hỏi về hiệu quả thực tế, không chỉphản ánh lễ khởi công, khánh thành. Người dân phải có cơ hội góp ý về nhu cầu, cách sử dụng và khả năng tiếp cận thiết chế. Sự tham gia ấy giúp đồng vốn bám sát đời sống.

    Áp lực giải ngân cuối năm là phép thử trách nhiệm, nhưng đầu tư văn hóa cần tầm nhìn dài hạn. Đất nước không thể phát triển bền vững nếu hạ tầng vật chất tiến nhanh mà đời sống tinh thần tụt lại. Đưa vốn đến đúng nhiệm vụ, biến công trình thành hoạt động, biến chính sách thành quyền thụ hưởng: đó mới là cách khẳng định văn hóa được đặt ở vị trí xứng đáng. 

    HƯƠNG BÌNH

    Nguồn https://baomoi.com/dung-de-van-hoa-dung-sau-dong-von-c56199659.epi

  • Người hoạt động ở thôn, tổ dân phố được hưởng chính sách gì sau sắp xếp?

    Từ ngày 1/7/2026, Nghị quyết số 21/2026/NQ-HĐND của HĐND Thành phố Hà Nội có hiệu lực, quy định khá toàn diện về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố cũng như chức danh, số lượng và chế độ đối với người hoạt động không chuyên trách. Nghị quyết gồm 5 chương, 26 điều, được ban hành trong bối cảnh Hà Nội tiếp tục kiện toàn mô hình tổ chức chính quyền và bộ máy ở cơ sở.

    Không phải một “cấp chính quyền” thu nhỏ

    Điểm cần hiểu đầu tiên là thôn, tổ dân phố không phải một cấp hành chính độc lập. Theo Nghị quyết 21, đây là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú, được tổ chức ở xã, phường; là nơi cộng đồng thực hiện dân chủ trực tiếp và là cầu nối giữa người dân với chính quyền địa phương cấp xã. Cách thiết kế này cho thấy sau sắp xếp, vai trò của thôn, tổ dân phố không giảm đi, nhưng trọng tâm được đặt rõ hơn vào tự quản cộng đồng, tập hợp dân cư và hỗ trợ chính quyền cơ sở, thay vì hành chính hóa hoạt động của khu dân cư.

    Cán bộ tổ dân phố phường Giảng Võ (Hà Nội) trong một buổi họp triển khai công việc trên địa bàn.

    Nguyên tắc hoạt động cũng được xác định khá rõ: tinh gọn, hợp lý, hiệu quả; phát huy quyền làm chủ trực tiếp của người dân; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; tuân thủ pháp luật, hương ước, quy ước và phù hợp điều kiện thực tế từng địa bàn. Chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cộng đồng cũng được đặt thành một yêu cầu mới.

    Điều này diễn ra đồng thời với quá trình Hà Nội kiện toàn tổ chức cấp xã. Theo Nghị quyết số 50/2026/NQ-HĐND, bộ máy chuyên môn và tổ chức hành chính ở cấp xã cũng được bố trí theo khung mới, với yêu cầu tinh gọn, thông suốt, không làm gián đoạn hoạt động quản lý nhà nước và phục vụ người dân.

    Sau sắp xếp, cơ cấu nhân sự ở một thôn, tổ dân phố được thiết kế khá gọn. Mỗi thôn có Trưởng thôn và Phó Trưởng thôn; mỗi tổ dân phố có Tổ trưởng và Phó Tổ trưởng tổ dân phố. Ngoài ra còn có Bí thư chi bộ, Trưởng Ban công tác Mặt trận và các lực lượng tham gia hoạt động cộng đồng theo quy định. Tổng số người hoạt động không chuyên trách ở một thôn, tổ dân phố về nguyên tắc không quá 5 người.

    Đáng chú ý, Nghị quyết quy định nhiệm kỳ của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố là 5 năm. Trường hợp sau khi sắp xếp, tổ chức lại mà chưa thể ngay lập tức tổ chức bầu, UBND cấp xã có thể cử người làm Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng lâm thời nhưng thời gian tối đa không quá 12 tháng. Trong thời gian đó phải chuẩn bị nhân sự và tổ chức bầu khi đủ điều kiện.

    Cách làm này nhằm giải quyết một vấn đề rất thực tế: sáp nhập địa bàn không thể đồng nghĩa với khoảng trống điều hành ở khu dân cư. Những công việc hằng ngày từ vệ sinh môi trường, an ninh trật tự đến phản ánh kiến nghị của người dân vẫn phải có người tổ chức và kết nối.

    Người dân sẽ trực tiếp quyết định nhiều việc

    Một thay đổi đáng chú ý khác là vai trò tự quản của cộng đồng dân cư được quy định cụ thể hơn. Người dân trong thôn, tổ dân phố có thể bàn và quyết định việc đóng góp xây dựng, sửa chữa công trình phục vụ cộng đồng; quyết định việc thu, chi và quản lý các khoản đóng góp tự nguyện; xây dựng, sửa đổi hương ước, quy ước; tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự, tương trợ xã hội và xây dựng đời sống văn hóa.

    Cán bộ tổ dân phố của phường Giảng Võ phát thẻ cử tri cho người dân trước ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp.

    Cộng đồng dân cư cũng trực tiếp tham gia bầu, cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; tham gia ý kiến đối với những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống dân cư khi chính quyền cấp xã lấy ý kiến. Nội dung thu, chi và quản lý tài sản, kinh phí của cộng đồng phải bảo đảm công khai, minh bạch.

    Như vậy, nếu thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết, thôn và tổ dân phố sau sắp xếp không phải nơi “truyền đạt thông báo” một chiều từ chính quyền xuống dân. Đây phải là không gian để người dân thảo luận, quyết định những công việc thuộc cộng đồng mình và phản ánh nguyện vọng ngược trở lại chính quyền.

    Nghị quyết 21 quy định tiêu chí thông thường: thôn từ 500 hộ gia đình trở lên; tổ dân phố từ 700 hộ gia đình trở lên. Tuy nhiên, Hà Nội không áp dụng các con số này một cách cơ học. Những địa bàn miền núi, vùng có điều kiện giao thông khó khăn, khu vực có đặc thù lịch sử, văn hóa, dân cư hoặc địa bàn mới hình thành có thể được xem xét theo điều kiện cụ thể. Việc thành lập, sáp nhập, tổ chức lại phải tính đến địa hình, giao thông, lịch sử cộng đồng, phong tục, khả năng tổ chức sinh hoạt và hiệu quả quản lý.

    Thẩm quyền quyết định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên hoặc đổi tên thôn, tổ dân phố thuộc HĐND cấp xã; UBND cấp xã chịu trách nhiệm xây dựng hồ sơ, lấy ý kiến nhân dân và trình HĐND xem xét.

    Đây là điểm quan trọng, bởi sắp xếp địa bàn dân cư chỉ thực sự có ý nghĩa khi quy mô lớn hơn nhưng khoảng cách giữa chính quyền với người dân không xa hơn.

    Sau cùng, hiệu quả của cuộc sắp xếp sẽ không chỉ được đo bằng số thôn, tổ dân phố giảm được bao nhiêu, hay giảm được bao nhiêu đầu mối. Điều người dân quan tâm thiết thực hơn là sau khi “về chung một tổ”, kiến nghị có được xử lý nhanh hơn, sinh hoạt cộng đồng có thuận lợi hơn và người đứng đầu khu dân cư có thực sự gần dân, hiểu dân hay không.

    Quang Phong

    Nguồn https://baomoi.com/nguoi-hoat-dong-o-thon-to-dan-pho-duoc-huong-chinh-sach-gi-sau-sap-xep-c56199569.epi

  • Lâm Đồng khẩn trương điều chỉnh chỉ tiêu sử dụng đất, tạo dư địa để phát triển

    Quang cảnh buổi làm việc

    Sáng 5/10, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Hồng Hải chủ trì buổi làm việc với các đơn vị liên quan để nghe báo cáo, đề xuất việc rà soát điều chỉnh chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030.

    Trước đó, UBND tỉnh đã phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 2768/QĐ-UBND ngày 6/6/2026. Tuy nhiên, sau khi Trung ương phân bổ lại chỉ tiêu sử dụng đất, một số chỉ tiêu trong phương án điều chỉnh quy hoạch tỉnh có sự chênh lệch, cần được rà soát, cập nhật.

    Theo rà soát, chỉ tiêu đất nông nghiệp quốc gia phân bổ cho Lâm Đồng cao hơn 8.828,4 ha so với chỉ tiêu đã được UBND tỉnh phê duyệt; trong đó đất rừng đặc dụng cao hơn 2.346 ha, đất rừng phòng hộ cao hơn 12.356 ha. Chỉ tiêu đất trồng lúa và đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên giữ nguyên so với quy hoạch tỉnh. Trong khi đó, chỉ tiêu đất phi nông nghiệp quốc gia phân bổ thấp hơn 19.158,3 ha, gồm: đất quốc phòng thấp hơn 569,7 ha và đất an ninh thấp hơn 125,7 ha.

    Phó Giám đốc Sở Xây dựng Lâm Đồng Bùi Trường Sơn nêu ý kiến tại cuộc họp

    Để bảo đảm thống nhất giữa Quy hoạch tỉnh và chỉ tiêu sử dụng đất quốc gia, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ động phối hợp với Sở Tài chính và các cơ quan, địa phương, đơn vị liên quan để tham mưu UBND tỉnh việc phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất đến năm 2030 cho cấp xã theo quy định.

    Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, các cơ quan chuyên môn đã xác định rõ những nội dung cần điều chỉnh, cập nhật, nhất là các chỉ tiêu sử dụng đất theo phân bổ của Trung ương và yêu cầu thực tế của địa phương. Một số chỉ tiêu liên quan đất quốc phòng, an ninh cũng đang được các cơ quan chuyên ngành rà soát, điều chỉnh để bảo đảm phù hợp yêu cầu nhiệm vụ.

    Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Bùi Thanh Hà phát biểu tại cuộc họp

    Đáng chú ý, công tác phối hợp giữa các sở, ngành đã được triển khai; trong đó Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Công an tỉnh chủ động làm việc với cơ quan chuyên môn của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an để rà soát, đề xuất bổ sung chỉ tiêu đất quốc phòng, an ninh phù hợp nhu cầu thực tế.

    Tại buổi làm việc, các sở, ngành đã tập trung thảo luận, làm rõ hơn về các chỉ tiêu sử dụng đất theo Công văn số 9150/BNNMT-QLĐĐ; đồng thời tính toán phương án để bảo đảm dư địa phát triển của địa phương, cũng như thống nhất trong cách làm.

    Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Hồng Hải kết luận buổi làm việc

    Kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Hồng Hải yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường tập trung hoàn thành việc rà soát, làm rõ các chỉ tiêu tăng, giảm, nhất là những chỉ tiêu lớn để làm cơ sở phân bổ cho các địa phương.

    Việc điều chỉnh phải bám sát chỉ tiêu Trung ương giao, đồng thời tính toán phù hợp với nhu cầu sử dụng đất và định hướng phát triển của từng khu vực.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Hồng Hải

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Hồng Hải cũng đề nghị Sở Tài chính chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan rà soát, điều chỉnh chỉ tiêu ở cấp tỉnh sao cho phù hợp với chỉ tiêu theo Công văn số 9150/BNNMT-QLDĐ; trong đó lưu ý các dự án đã có trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và các dự án đang chuẩn bị triển khai, bảo đảm quỹ đất phù hợp, tránh phát sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện.

    Đối với các nội dung liên quan đến điều chỉnh ranh giới, diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan liên quan phối hợp nghiên cứu, tính toán phương án phù hợp và thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định.

    Trên cơ sở kết quả rà soát, Sở Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục tham mưu UBND tỉnh điều chỉnh, phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất đến năm 2030, bảo đảm đồng bộ với các loại quy hoạch, đồng thời tạo dư địa phát triển cho địa phương.

    Diễm Thương – Hữu Tri

    Nguồn https://baomoi.com/lam-dong-khan-truong-dieu-chinh-chi-tieu-su-dung-dat-tao-du-dia-de-phat-trien-c56199501.epi

  • Quảng Trị: Gỡ vướng mắc, hoàn trả tiền sử dụng đất cho người dân

    Từ tháng 3-9/2026, phường Đồng Sơn đã tiếp nhận gần 570 hồ sơ xin tính, tính lại tiền sử dụng đất. (Ảnh: Thanh Thuy/TTXVN)

    Thực hiện chính sách mới về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, trong đó cho phép tính, tính lại tiền sử dụng đất đối với một số trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở, đến cuối tháng 9/2026, Thuế Quảng Trị đã giải quyết hoàn trả tiền cho hơn 900 trường hợp với tổng số tiền trên 100 tỷ đồng. Việc triển khai nhanh chóng chính sách mới đã góp phần giảm nghĩa vụ tài chính và bảo đảm quyền lợi của người dân thuộc diện được áp dụng.

    Chính sách mới về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành quy định về tiền sử dụng đất đã giúp nhiều hộ gia đình, cá nhân giảm đáng kể nghĩa vụ tài chính khi chuyển mục đích sử dụng đất.

    Gia đình chị Thế Thị Thùy An và anh Nguyễn Văn Thảo ở Tổ dân phố Nam Hào, phường Đông Hà là một trong những trường hợp được hoàn trả số tiền đã nộp cao hơn nghĩa vụ tài chính được xác định lại theo quy định mới.

    Gia đình chị An có thửa đất số 383, tờ bản đồ số 81, tại khu phố 9, xã Cam Lộ, với tổng diện tích 241m2; trong đó, đất ở chỉ có 50m2. Tháng 7/2025, gia đình chị làm hồ sơ đề nghị chuyển mục đích sử dụng 70m2 đất trồng cây hằng năm khác sang đất ở tại nông thôn. Đến tháng 8/2025, gia đình đã nộp gần 37 triệu đồng tiền sử dụng đất theo thông báo của cơ quan có thẩm quyền.

    Sau khi chính sách mới được triển khai, gia đình chị được cơ quan Thuế hướng dẫn thực hiện hồ sơ tính lại tiền sử dụng đất. Trên cơ sở rà soát, xác định lại nghĩa vụ tài chính theo quy định, cuối tháng 9/2026, gia đình chị đã được giải quyết hoàn trả gần 26 triệu đồng. Đây là khoản chênh lệch giữa số tiền đã nộp và số tiền sử dụng đất phải nộp sau khi được tính lại.

    Chị An chia sẻ, gia đình rất phấn khởi khi được cơ quan Thuế hướng dẫn và giải quyết hoàn trả số tiền chênh lệch sau khi tính lại tiền sử dụng đất, giúp giảm bớt gánh nặng về tài chính. Khi làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và nộp tiền theo quy định trước đây, gia đình không biết sau này chính sách sẽ được điều chỉnh theo hướng giảm nghĩa vụ tài chính đối với một số trường hợp. Khi được cơ quan Thuế thông tin, hướng dẫn cụ thể về chính sách mới, gia đình đã chủ động hoàn thiện hồ sơ để được xem xét, giải quyết theo quy định.

    Diện tích đất của anh Trần Hiếu Trung (con trai bà Lê Thị Mỹ Lệ, trái), phường Đồng Sơn, tỉnh Quảng Trị được chuyển đổi sang đất ở. (Ảnh: Thanh Thủy/TTXVN)

    Tương tự, bà Lê Thị Mỹ Lệ ở Tổ dân phố Thuận Ninh, phường Đồng Sơn đã thực hiện thủ tục đề nghị tính lại tiền sử dụng đất theo chính sách mới với thửa đất số 101, tờ bản đồ số 8. Tháng 8/2025, gia đình làm hồ sơ đề nghị chuyển mục đích sử dụng 50m2 đất nông nghiệp sang đất ở. Sau khi được hướng dẫn thông tin, gia đình đã làm hồ sơ đề nghị được tính lại tiền sử dụng đất theo quy định. Hiện, hồ sơ đang được Thuế Quảng Trị tiếp nhận, rà soát và giải quyết theo quy định.

    Bà Lệ cho biết, gia đình đã được cán bộ Phòng Kinh tế hạ tầng và đô thị phường Đồng Sơn hướng dẫn cụ thể về quy trình chuẩn bị hồ sơ, thủ tục, giấy tờ có liên quan để gửi đến cơ quan Thuế đề nghị xem xét, giải quyết tính lại tiền sử dụng đất. Chính sách mới đã kịp thời tháo gỡ khó khăn, giảm nghĩa vụ tài chính về đất đai cho người dân. Bà Lệ mong hồ sơ của gia đình sớm được cơ quan chức năng xem xét, giúp người dân thực hiện các thủ tục về đất đai thuận lợi hơn.

    Từ ngày 11/12/2025, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 254/2025/QH15 quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Để triển khai thực hiện Nghị quyết, ngày 31/01/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 50/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Qua đó, góp phần tháo gỡ khó khăn, giảm nghĩa vụ tài chính cho một số trường hợp người dân đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

    Ông Trần Văn Hoan, Phó Phòng Kinh tế hạ tầng và đô thị phường Đồng Sơn cho biết, để giải quyết các bất cập trong Luật Đất đai và hỗ trợ người dân trong việc hoàn trả tiền sử dụng đất, tính lại tiền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân theo Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 50/2026/NĐ-CP, địa phương đã chủ động hướng dẫn cán bộ tại Trung tâm Một cửa liên thông tiếp nhận, hướng dẫn người dân làm hồ sơ kê khai.

    Ngay sau khi tiếp nhận hồ sơ, Phòng đã chỉ đạo cán bộ chuyên môn tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhanh chóng chuyển thông tin nghĩa vụ tài chính liên quan đến các thửa đất sang Thuế cơ sở 1 tỉnh Quảng Trị. Qua đó, cơ quan Thuế sớm ban hành thông báo điều chỉnh nghĩa vụ tài chính và thực hiện hoàn trả tiền sử dụng đất cho người dân theo đúng quy định, bảo đảm quyền lợi chính đáng của các hộ gia đình và cá nhân trên địa bàn. Chỉ tính riêng từ tháng 3 đến tháng 9/2026, địa phương đã tiếp nhận gần 570 hồ sơ.

    Ngay sau khi các quy định mới được ban hành, cơ quan Thuế tỉnh Quảng Trị đã khẩn trương triển khai thực hiện, ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể với mục tiêu bảo đảm chính sách đến đúng đối tượng, đúng quy định và quyền lợi hợp pháp của người dân được giải quyết kịp thời; trong đó, tập trung tuyên truyền, phổ biến các quy định mới về tính, tính lại tiền sử dụng đất bằng nhiều hình thức, giúp người dân hiểu rõ mình có thuộc trường hợp được áp dụng chính sách hay không, hồ sơ cần chuẩn bị và trình tự thực hiện.

    Đối với hộ gia đình, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở sang đất ở, cơ quan Thuế chú trọng hướng dẫn cụ thể để người dân có thể tiếp cận và thụ hưởng chính sách theo đúng quy định. Theo Thuế Quảng Trị, tính đến cuối tháng 9/2026, đơn vị đã hoàn thuế cho hơn 900 trường hợp với tổng số tiền trên 100 tỷ đồng.

    Theo Thuế Quảng Trị, tính đến cuối tháng 9/2026, đơn vị đã hoàn thuế cho hơn 900 trường hợp với tổng số tiền trên 100 tỷ đồng. (Ảnh: Thanh Thủy/TTXVN)

    Ông Ngô Văn Thuận, Phó Trưởng Thuế Quảng Trị thông tin, thời gian tới, đơn vị tiếp tục rà soát các trường hợp thuộc diện được tính, tính lại tiền sử dụng đất. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Ủy ban cấp xã, phường và các cơ quan có liên quan để bảo đảm việc xác định thông tin đất đai, hạn mức và các căn cứ tính tiền được chính xác; tiếp nhận và giải quyết kịp thời hồ sơ của người dân, không để người dân gặp khó khăn do chưa nắm rõ quy định hoặc trình tự, thủ tục thực hiện.

    Với những hồ sơ chưa đầy đủ, cơ quan thuế sẽ hướng dẫn cụ thể để người dân hoàn thiện theo quy định. Trường hợp sau khi tính lại mà số tiền sử dụng đất phải nộp thấp hơn số tiền người dân đã nộp, cơ quan thuế sẽ thực hiện xử lý số tiền chênh lệch theo đúng quy định, bằng cách bù trừ vào các nghĩa vụ tài chính còn phải nộp hoặc hoàn trả bằng tiền trong trường hợp đủ điều kiện.

    Bên cạnh đó, tiếp tục tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn và giải đáp vướng mắc để người dân biết, hiểu và chủ động thực hiện quyền của mình; đồng thời, công khai, minh bạch trong quá trình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ./.

    (TTXVN/Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/quang-tri-go-vuong-mac-hoan-tra-tien-su-dung-dat-cho-nguoi-dan-c56199510.epi

  • Ninh Bình quy định mức chi tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

    Khu tái định cư dành cho các hộ dân trong diện thu hồi đất phục vụ Dự án cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng thuộc địa bàn xã Yên Mô.

    Quyết định này quy định mức chi bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Bình theo khoản 8 Điều 27 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP

    Theo đó, đối với tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, mức chi tổ chức họp với người có đất, chủ sở hữu tài sản trong khu vực thu hồi để phổ biến, tuyên truyền chính sách, pháp luật; tiếp nhận ý kiến và tổ chức vận động thực hiện quyết định thu hồi đất là 200.000 đồng/người/ngày.

    Mức chi phát tờ khai, hướng dẫn người có đất, chủ sở hữu tài sản kê khai cũng là 200.000 đồng/người/ngày. Các công việc đo đạc xác định diện tích thực tế thửa đất trong trường hợp phải đo đạc lại; kiểm kê nhà, công trình, cây trồng, vật nuôi và tài sản khác bị thiệt hại; kiểm tra, đối chiếu tờ khai với kết quả kiểm kê, xác định mức độ thiệt hại và tính toán giá trị thiệt hại cũng áp dụng mức 200.000 đồng/người/ngày.

    Đối với lập, thẩm định, phê duyệt, công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, từ khâu tính toán, xác định mức bồi thường, hỗ trợ đến phê duyệt và thông báo công khai phương án, mức chi là 200.000 đồng/người/ngày.

    Mức chi tổ chức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và mức chi phục vụ hướng dẫn thực hiện, giải quyết những vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện phương án cũng được quy định ở mức 200.000 đồng/người/ngày.

    Đối với thuê nhân công thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, mức chi được tính theo mức tiền lương tối thiểu vùng tính cao nhất theo ngày do Nhà nước quy định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

    Các khoản chi như trích đo địa chính tại nơi chưa có bản đồ địa chính; thuê nhà làm việc; thuê, mua sắm máy móc, thiết bị; in ấn, phô tô tài liệu, văn phòng phẩm, thông tin liên lạc, xăng xe; đăng báo, phát sóng trên đài phát thanh hoặc truyền hình và các khoản chi trực tiếp khác thực hiện theo định mức, tiêu chuẩn, đơn giá hiện hành nếu đã được cơ quan có thẩm quyền quy định. Trường hợp chưa có định mức, tiêu chuẩn, đơn giá và chưa được quy định tại Quyết định này thì đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ lập dự toán theo thực tế, phù hợp đặc điểm từng dự án và thực tiễn địa phương, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí ngân sách và thanh, quyết toán theo hóa đơn, chứng từ hợp pháp, hợp lệ.

    Mức chi cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất

    Đối với tổ chức thực hiện cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất, mức chi thông báo, tuyên truyền, vận động các đối tượng thực hiện quyết định cưỡng chế và mức chi phục vụ công tác tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế là 250.000 đồng/người/ngày.

    Chi phí niêm phong, phá, tháo dỡ, vận chuyển tài sản; di chuyển người bị cưỡng chế và người có liên quan ra khỏi khu đất cưỡng chế trong trường hợp chủ sở hữu tài sản không thanh toán được quy định ở mức 250.000 đồng/người/ngày.

    Đối với thuê nhân công, mức chi được tính theo mức tiền lương tối thiểu vùng tính cao nhất theo ngày do Nhà nước quy định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Chi thuê địa điểm, phương tiện bảo quản tài sản và các khoản chi phí thực tế hợp pháp khác phục vụ trực tiếp việc bảo quản tài sản được lập dự toán theo thực tế, phù hợp từng dự án và thực tiễn địa phương.

    Chi phí bảo vệ, chống tái chiếm đất sau khi tổ chức cưỡng chế thu hồi đất đến thời điểm hoàn thành giải phóng mặt bằng được quy định ở mức 250.000 đồng/người/ngày.

    Các khoản chi mua nguyên liệu, nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng chống cháy nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác; chi quay phim, chụp ảnh và các nội dung chi trực tiếp khác thực hiện theo định mức, tiêu chuẩn, đơn giá hiện hành nếu đã được quy định. Trường hợp chưa có quy định thì đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ lập dự toán theo thực tế, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả và thanh, quyết toán theo hóa đơn, chứng từ hợp pháp, hợp lệ.

    Các địa phương trên địa bàn tỉnh đang đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng phục vụ thi công các công trình, dự án giao thông, đô thị, phục vụ phát triển KT-XH của tỉnh.

    Chi phí tổ chức thực hiện không quá 3%, riêng công trình theo tuyến tối đa 4%

    Quyết định quy định tổng kinh phí chi cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chưa bao gồm kinh phí tổ chức thực hiện cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất, tối đa không quá 3% tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án.

    Đối với các dự án, công trình xây dựng theo tuyến, như công trình giao thông, công trình đường dây tải điện…, mức chi này tối đa không quá 4% tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án.

    Trường hợp dự toán mức trích bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vượt tỷ lệ nêu trên, UBND cấp xã có trách nhiệm báo cáo UBND tỉnh xem xét, quyết định trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án.

    Quyết định cũng quy định tiền lương, các khoản đóng góp theo tiền lương và các khoản phụ cấp lương theo chế độ của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện theo khoản 6 Điều 27 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP.

    Các mức chi quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Quyết định được áp dụng theo ngày làm việc. Nếu thực hiện công việc trong thời gian nửa ngày (1/2 ngày) thì mức chi bằng 1/2 mức chi quy định.

    Các mức chi 200.000 đồng/người/ngày và 250.000 đồng/người/ngày tại những nội dung được Quyết định quy định cụ thể áp dụng cho cá nhân không hưởng lương, phụ cấp và các khoản đóng góp theo lương từ nguồn kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất của dự án.

    Về điều khoản chuyển tiếp, đối với các dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt dự toán chi phí bảo đảm tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Quyết định có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo quyết định đã được phê duyệt.

    Đối với các dự án đang thực hiện nhưng đến thời điểm Quyết định có hiệu lực chưa được phê duyệt dự toán chi phí bảo đảm tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì áp dụng theo quy định tại Quyết định số 121/2026/QĐ-UBND.

    Quyết định số 121/2026/QĐ-UBND ngày 30/9/2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2026.

    Nguồn https://baomoi.com/ninh-binh-quy-dinh-muc-chi-to-chuc-thuc-hien-boi-thuong-ho-tro-tai-dinh-cu-c56199485.epi

  • UBND tỉnh Nghệ An cho ý kiến về các dự thảo quy định quản lý ngân sách, tài sản công

    Cuộc họp diễn ra sáng 5/10, đồng chí Bùi Thanh An – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh chủ trì.

    Các đại biểu tham gia cuộc họp, góp ý dự thảo Quyết định quy định về lập, chấp hành, quyết toán và chế độ báo cáo công khai ngân sách đối với các đơn vị dự toán ngân sách và UBND các xã, phường. Nội dung dự thảo quy định cụ thể về thời gian lập, gửi dự toán; báo cáo kế hoạch thu, chi tài chính; căn cứ phân bổ, giao dự toán; chế độ báo cáo và công khai ngân sách.

    Giám đốc Sở Tài chính Trịnh Thanh Hải trình bày các dự thảo Quyết định. Ảnh: Thái Dương

    Các đại biểu cũng cho ý kiến về dự thảo Quyết định quy định danh mục tài sản cố định đặc thù; danh mục, thời gian sử dụng để tính hao mòn và tỷ lệ hao mòn tài sản cố định vô hình thuộc phạm vi quản lý của UBND tỉnh.

    Đối với dự thảo Quyết định quy định danh mục tài sản công cho thuê, tiêu chí, mức hỗ trợ, hình thức hỗ trợ, trình tự, thủ tục cho thuê nhà, đất là tài sản công trên địa bàn, trong đó có quy định đối tượng hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh, các ý kiến đề nghị cần nghiên cứu rút ngắn, đơn giản hóa trình tự, thủ tục cho thuê, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, nhưng vẫn phải bảo đảm đúng quy định của pháp luật.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bùi Thanh An kết luận cuộc họp. Ảnh: Thái Dương

    Kết luận cuộc họp, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bùi Thanh An yêu cầu các cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, hoàn thiện các dự thảo theo hướng cụ thể, dễ thực hiện và phù hợp với các quy định hiện hành.

    Đối với việc lập, chấp hành, quyết toán và công khai ngân sách, đồng chí Bùi Thanh An lưu ý các quy định phải bảo đảm đầy đủ về thời gian lập, gửi dự toán; căn cứ phân bổ, giao dự toán; chế độ báo cáo, công khai ngân sách và các nội dung liên quan. Việc thực hiện phải tuân thủ Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.

    Đối với việc cho thuê nhà, đất là tài sản công, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh yêu cầu tiếp tục bổ sung, làm rõ đối tượng áp dụng, tiêu chí, mức và hình thức hỗ trợ, cũng như trình tự, thủ tục cho thuê trên cơ sở các quy định tại Nghị định số 20/2026 của Chính phủ.

    Toàn cảnh cuộc họp. Ảnh: Thái Dương

    Đồng chí Bùi Thanh An đồng thời lưu ý phải xác định mức giá cho thuê phù hợp đối với nhà, đất là tài sản công, nhất là những tài sản có vị trí thuận lợi, giá trị thương mại cao; qua đó vừa tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp, vừa bảo đảm khai thác hiệu quả, tránh thất thoát tài sản Nhà nước.

    Thái Dương

    Nguồn https://baomoi.com/ubnd-tinh-nghe-an-cho-y-kien-ve-cac-du-thao-quy-dinh-quan-ly-ngan-sach-tai-san-cong-c56199540.epi

  • Nơi lưu trú, nhà hàng, khách sạn Khu du lịch Xuân Thành xuống cấp

    Đơn vị thi công kè biển bảo vệ các căn villa phía trong tại Khu du lịch Xuân Thành.

    Ghi nhận tại Khu du lịch Xuân Thành (xã Tiên Điền, Hà Tĩnh) cho thấy nhiều khách sạn, nhà nghỉ ở đây trong tình trạng “cửa đóng then cài”. Nhiều tòa nhà cao 2 đến 3 tầng xuống cấp, hư hỏng, khuôn viên cỏ dại mọc um tùm, cơ sở hạ tầng xuống cấp. Bộ mặt của điểm du lịch lý tưởng nhếch nhác, hoang tàn.

    Nhà nghỉ của một ngân hàng thương mại nằm trên trục đường chính mặt tiền rất lý tưởng được đầu tư quy mô 3 tầng với 24 phòng vào năm 2003, nhưng dự án này gần như không hoạt động nên hạ tầng đã xuống cấp theo thời gian.

    Cách đó không xa, một dự án nhà nghỉ có quy mô 3 tầng cũng trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, tường gạch bị bong tróc, tường ẩm mốc, các cánh cửa bị hư hỏng, mái nhà bị tốc mái.

    Dạo quanh trung tâm Khu du lịch Xuân Thành, rất dễ nhận thấy các dự án nhà nghỉ, khách sạn, khu lưu trú bị bỏ hoang, mái nhà bị tốc do mưa bão, khuôn viên mọc đầy cỏ dại, làm mất mỹ quan, lãng phí quỹ “đất vàng” ven biển.

    Phía ngoài bãi biển – địa điểm lý tưởng để phục vụ khách, các container thiết kế để lưu trú và hạ tầng cây xanh trơ trọi, tan hoang do các cơn bão năm ngoái tàn phá đến nay vẫn chưa khắc phục xong.

    Khu du lịch Xuân Thành sở hữu bãi biển dài, kết nối với các di tích lịch sử – văn hóa quốc gia được nhắc đến là bờ biển đẹp, hoang sơ. Tuy nhiên, trái với tiềm năng vốn có, cảnh quan nơi đây tồn tại những dãy nhà nghỉ, khách sạn hoang phế, xuống cấp trầm trọng.

    Theo thống kê có 73 dự án và cơ sở sử dụng đất kinh doanh dịch vụ, khách sạn, nhà nghỉ tại Khu du lịch Xuân Thành đang trong tình trạng chậm tiến độ, hoạt động kém hiệu quả hoặc bị bỏ hoang.

    Trong số này, nhiều cơ sở nhà, đất như nhà điều dưỡng của Nhà máy đóng tàu Bến Thủy và nhà nghỉ của Ngân hàng Vietcombank và cơ sở kinh doanh tư nhân, hộ gia đình được giao đất, thuê đất nhưng không đầu tư hoàn chỉnh, để công trình hư hỏng trầm trọng.

    Hiện tại tỉnh Hà Tĩnh chỉ đạo các đơn vị liên quan việc xử lý dứt điểm các vấn đề nảy sinh các dự án do cơ sở pháp lý chưa chặt chẽ, hoặc nhà đầu tư quản lý tài sản chưa như kỳ vọng. Thanh tra tỉnh phối hợp với Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Môi trường, UBND xã Tiên Điền rà soát toàn diện, tham mưu phương án xử lý tổng thể.

    Bên cạnh đó là quy hoạch lại không gian hạ tầng du lịch theo hướng đa chức năng, hiện đại, sớm gỡ bỏ các vướng mắc tại Khu du lịch Xuân Thành không chỉ dừng lại ở bài toán xử lý vi phạm đất đai, mà còn là cam kết của chính quyền tỉnh Hà Tĩnh trong việc cải thiện môi trường đầu tư, kiến tạo không gian phát triển mới.

    Bài và ảnh: Công Tường/TTXVN

    Nguồn https://baomoi.com/noi-luu-tru-nha-hang-khach-san-khu-du-lich-xuan-thanh-xuong-cap-c56199625.epi

  • Thông xe Vành đai 2,5 đoạn qua Xuân Đỉnh: ‘Hợp nhất’ hai đại đô thị thành khu vực đáng sống bậc nhất

    Cuối tháng 9 vừa qua, đoạn tuyến Vành đai 2,5 dài 582m đi qua phường Xuân Đỉnh đã cơ bản hoàn tất công tác thảm nhựa và chính thức thông xe kỹ thuật. Đây được đánh giá là mảnh ghép hạ tầng then chốt giúp kết nối thông suốt hai khu đô thị quy mô và đắt đỏ bậc nhất Hà Nội hiện nay là Khu đô thị Tây Hồ Tây (Starlake) và Khu đô thị Nam Thăng Long (Ciputra).

    Tuyến đường mới rút ngắn thời gian di chuyển giữa hai đại đô thị xuống chỉ còn 3–5 phút, góp phần hợp nhất Ciputra và Starlake thành một hệ sinh thái đô thị kép bổ trợ hoàn hảo cho nhau, tạo nên đòn bẩy bứt phá mạnh mẽ về cả giá trị sống lẫn tiềm năng bất động sản.

    Ciputra với vị thế của một khu đô thị thượng lưu có lịch sử gần ba thập kỷ, đóng vai trò như lá phổi xanh và tâm điểm sinh thái của toàn khu vực. Sở hữu công viên trung tâm rộng 65ha, mật độ cây xanh vượt trội lên tới 20m2/người cùng không gian riêng tư an tĩnh, Ciputra mang đến môi trường sống sinh thái chuẩn mực. Bên cạnh đó, hệ thống giáo dục quốc tế lâu đời và cộng đồng cư dân đến từ hơn 80 quốc gia tại đây chính là nền tảng vững chắc đáp ứng nhu cầu sống và học tập chất lượng cao cho giới tinh hoa.

    Trong khi đó, Starlake tọa lạc tại trung tâm hành chính mới của Thủ đô – khu vực quy tụ trụ sở của các Bộ ngành, khu Ngoại giao đoàn, các công trình văn hóa quốc gia cùng chuỗi cao ốc văn phòng, khách sạn 5 sao và trung tâm thương mại sầm uất. Sự xuất hiện của Starlake mang đến nhịp sống năng động, mở ra không gian giao thương, làm việc và giải trí đẳng cấp ngay kế bên Ciputra.

    Sự cộng hưởng này tạo nên một mô hình hoàn hảo, nơi cư dân Starlake chỉ mất vài phút để tiếp cận không gian xanh mát và môi trường giáo dục chuẩn quốc tế tại Ciputra. Ngược lại, cư dân Ciputra dễ dàng tận hưởng sự nhộn nhịp, tiện nghi thương mại và giải quyết các thủ tục hành chính ngay tại Starlake. Không dừng lại ở khía cạnh tiện ích, hạ tầng kết nối còn hợp nhất hai cộng đồng cư dân thượng lưu, nâng tầm vị thế toàn khu vực và kích hoạt làn sóng gia tăng giá trị bất động sản bền vững cho một khu vực đáng sống bậc nhất Thủ đô.

    Đáng chú ý, mạch liên kết này tiếp tục được mở rộng khi Vành đai 2,5 giao cắt với trục Hoàng Minh Thảo – đoạn đầu của Đại lộ Tây Thăng Long dẫn vào nội khu Tây Hồ Tây. Khi hệ thống hạ tầng hoàn thiện, cư dân từ Ciputra và Starlake sẽ có thêm tuyến kết nối trực tiếp tới các khu vực phía Tây và Tây Bắc Hà Nội như Đan Phượng, Phúc Thọ, Sơn Tây, với thời gian di chuyển dự kiến chỉ khoảng 15–20 phút. Sự cộng hưởng của các trục giao thông chiến lược vì thế không chỉ hoàn thiện mạng lưới kết nối liên khu vực, mà còn mở rộng dư địa tăng trưởng cũng như sự bứt phá về giá trị cho các dự án bất động sản dọc theo các trục hạ tầng này.

    Điểm danh một số dự án cao cấp đang hiện diện quanh vành đai 2.5 và đại lộ Tây Thăng Long

    Những ngày gần đây, Ciputra đã dỡ bỏ 2 cổng gác kiên cố, giúp cư dân di chuyển thuận tiện và thông suốt tới Starlake và Phú Thượng qua vành đai 2.5. Đây được xem là dấu mốc hạ tầng quan trọng, tạo đòn bẩy thúc đẩy giá trị của các dự án tại Ciputra cùng khu vực lân cận bứt phá mạnh mẽ (Ảnh: Noble Palace Tay Ho).

    Trong ảnh là khu đô thị Noble Palace Tay Ho ngay sát cạnh vành đai 2.5 và gần kề công viên 65ha, với quy mô gần 500 biệt thự và shop villas cao cấp đang sẵn sàng bước vào giai đoạn bàn giao.

    Dự án này nổi tiếng với hệ thống hạ tầng giao thông ngầm hóa hoàn toàn, kết nối trực tiếp tới hầm riêng từng căn biệt thự, đảm bảo riêng tư tuyệt đối trong vận hành và di chuyển (Ảnh: Noble Palace Tay Ho).

    Một dự án khác cũng có vị trí sát cạnh vành đai 2.5 tại Ciputra là tổ hợp căn hộ hàng hiệu Noble Crystal Tay Ho WorldHotels Residences.

    Dự án đã chính thức cất nóc tòa tháp thứ 4 trên tổng 5 tòa cao 40 tầng, đồng thời hoàn thiện nhiều cấu phần quan trọng như tổ hợp biển hồ nhân tạo quy mô 7.200 m2 kéo dài gần 500 m ngay dưới chân 5 tòa tháp (Ảnh: Noble Crystal Tay Ho WorldHotels Residences).

    Cách đó không xa và cũng trong địa phận Ciputra là Tổ hợp căn hộ hàng hiệu NobleX West Lake Ha Noi, tiếp giáp trực tiếp Võ Chí Công, đối diện Lotte Mall, có quy mô 12 toà tháp 40 tầng, vừa được Sunshine Group khởi công đầu năm nay (Ảnh: NobleX West Lake Ha Noi).

    Dự án đang xúc tiến thi công cọc đại trà, các hạng mục tường vây và phần ngầm cũng đang được triển khai đồng bộ (Ảnh: NobleX West Lake Ha Noi).

    Từ Ciputra, chỉ cần di chuyển 3-5 phút là đến Starlake Tây Hồ Tây qua vành đai 2.5.

    Khu đô thị này hiện là tâm điểm thu hút loạt dự án trọng điểm về thương mại, văn phòng, nhà ở cao cấp, trong đó có tổ hợp NobleX West Lake 2 đang chuẩn bị ra mắt.

    Trục Tây Thăng Long hiện cũng đang quy tụ hàng loạt dự án đô thị đáng chú ý. Trong đó, Noble Palace Tay Thang Long WorldHotels Residences với quy mô gần 2.500 căn nhà phố đang tăng tốc bàn giao từ Quý 3 năm nay, đón đầu điểm rơi hoàn thiện của trục giao thông huyết mạch vào năm 2027 và làn sóng dịch chuyển cư dân về trung tâm phía Tây Thủ đô (Ảnh: Noble Palace Tay Thang Long WorldHotels Residences).

    Khánh Huyền

    Nguồn https://baomoi.com/thong-xe-vanh-dai-2-5-doan-qua-xuan-dinh-hop-nhat-hai-dai-do-thi-thanh-khu-vuc-dang-song-bac-nhat-c56199578.epi

  • Sắp xếp tổ dân phố ở Hà Nội: Làm thế nào bảo đảm đúng lộ trình và tạo được đồng thuận, ủng hộ rất lớn của nhân dân?

    Vì vậy, bên cạnh yêu cầu đúng quy định, đúng lộ trình, điều quan trọng là phương án phải sát thực tế, công khai và tạo được sự đồng thuận rộng rãi trong nhân dân.

    Không thể chỉ sắp xếp theo những con số

    Nghị quyết số 21/2026/NQ-HĐND của HĐND TP Hà Nội đã quy định tương đối toàn diện về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố; đồng thời dành riêng một chương cho việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên và đổi tên thôn, tổ dân phố.

    Theo quy định, tiêu chí về quy mô số hộ gia đình là một trong những căn cứ quan trọng khi xem xét tổ chức thôn, tổ dân phố. Tuy nhiên, tinh thần của Nghị quyết cho thấy việc sắp xếp không thể thực hiện theo cách cơ học, chỉ dựa trên việc cộng, chia số hộ dân.

    Hà Nội đưa ra nhiều phương án sắp xếp tổ dân phố để phù hợp với điều kiện thực tế từng địa phương.

    Hà Nội có đặc điểm rất đa dạng. Bên cạnh những khu đô thị, chung cư tập trung đông dân cư là những khu vực ngoại thành, làng cổ, địa bàn có lịch sử hình thành lâu đời, có phong tục, tập quán và thiết chế sinh hoạt cộng đồng riêng. Có những nơi khoảng cách địa lý không lớn nhưng sự gắn kết cộng đồng, lịch sử hình thành và điều kiện sinh hoạt lại rất khác nhau.

    Vì vậy, khi xây dựng phương án sắp xếp, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét tổng thể vị trí địa lý, điều kiện dân cư, phong tục, tập quán, lịch sử hình thành, cơ sở hạ tầng cũng như sự thuận tiện trong quản lý và đời sống của người dân.

    Đáng chú ý, Nghị quyết cũng dành không gian xử lý cho các trường hợp đặc thù, thay vì áp dụng một tiêu chí cứng cho tất cả các địa bàn. Đây là cơ sở quan trọng để các xã, phường xây dựng phương án phù hợp với thực tiễn, tránh tình trạng “đủ về số lượng nhưng bất tiện trong tổ chức cộng đồng”.

    Mục tiêu cuối cùng của việc sắp xếp vì thế cần được nhìn nhận đầy đủ hơn: không chỉ giảm đầu mối, mà phải tạo ra mô hình tổ chức cơ sở hoạt động hiệu quả hơn, thuận lợi hơn cho người dân và cho chính quyền trong quản lý địa bàn.

    Một trong những yếu tố quyết định mức độ đồng thuận chính là quá trình công khai phương án và lấy ý kiến nhân dân.

    Một trong những yếu tố quyết định thành công việc sắp xếp tổ dân phố là việc công khai phương án và lấy ý kiến nhân dân.

    Theo Nghị quyết, UBND cấp xã có trách nhiệm xây dựng đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố; công khai đề án và tổ chức lấy ý kiến nhân dân. Hồ sơ trình xem xét phải thể hiện kết quả lấy ý kiến, trong đó nêu rõ số hộ được lấy ý kiến, số lượng, tỷ lệ đồng ý, không đồng ý, các ý kiến khác cũng như nội dung tiếp thu, giải trình. Điều này cho thấy việc lấy ý kiến không nên được thực hiện chỉ để hoàn thiện một thủ tục hành chính.

    Người dân cần được cung cấp thông tin đầy đủ: Vì sao phải sắp xếp? Tổ dân phố hiện nay sẽ nhập với địa bàn nào? Tên gọi mới ra sao? Địa điểm sinh hoạt cộng đồng có thay đổi không? Tài sản chung được quản lý như thế nào? Những người hoạt động không chuyên trách sau sắp xếp được bố trí ra sao? Những nội dung này càng công khai sớm, càng giải thích cụ thể thì khả năng tạo đồng thuận càng cao.

    Đặc biệt, với những địa bàn có lịch sử lâu đời, tên làng, tên xóm, nhà văn hóa hay các thiết chế cộng đồng không chỉ là yếu tố hành chính mà còn gắn với ký ức, tình cảm và bản sắc của người dân. Những vấn đề như vậy càng cần được trao đổi thận trọng.

    Nếu người dân chỉ biết phương án khi mọi việc gần như đã hoàn tất thì dễ xuất hiện tâm lý bị động, thậm chí băn khoăn, chưa đồng thuận. Ngược lại, nếu người dân được tham gia ngay từ quá trình xây dựng phương án, được nêu ý kiến và nhận được giải trình thỏa đáng thì chính họ sẽ trở thành chủ thể đồng hành với chính quyền trong quá trình triển khai.

    Vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và Ban công tác Mặt trận tại khu dân cư vì thế rất quan trọng. Đây là những lực lượng gần dân nhất, có khả năng nắm bắt tâm tư, phản ánh kiến nghị và góp phần giải thích chính sách ngay từ cơ sở.

    Sắp xếp phải làm cho người dân thuận lợi hơn

    Một yêu cầu xuyên suốt của Nghị quyết là quá trình sắp xếp phải bảo đảm ổn định hoạt động của cộng đồng dân cư, không làm gián đoạn công tác quản lý cũng như việc giải quyết những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.

    Phương án sắp xếp vì vậy không thể chỉ dừng lại ở việc xác định tổ dân phố nào nhập với tổ nào. Các địa phương còn phải tính toán việc bàn giao tài chính, tài sản, hồ sơ, tài liệu, các nhiệm vụ đang triển khai và phương án bố trí người hoạt động không chuyên trách.

    Phương án sắp xếp tổ dân phố còn căn cứ vào yếu tố lịch sử phát triển, và câu trúc dân cư từng địa bàn.

    Nghị quyết cũng có những quy định chuyển tiếp nhằm xử lý phù hợp với các khu vực dân cư có tính đặc thù. Tại một số khu vực thuộc phường nhưng cộng đồng dân cư vẫn có lịch sử hình thành, phong tục, tập quán và phương thức sinh hoạt theo mô hình thôn, việc tổ chức có thể được duy trì cho đến khi đủ điều kiện sắp xếp theo quy định.

    Đó cũng là cách tiếp cận cần thiết đối với một đô thị có lịch sử phát triển và cấu trúc dân cư đa dạng như Hà Nội.

    Thước đo cuối cùng của việc sắp xếp không phải chỉ là giảm được bao nhiêu tổ dân phố, mà là sau sắp xếp, quản lý có hiệu quả hơn không, người dân có thuận tiện hơn không và cộng đồng dân cư có tiếp tục duy trì được sự gắn kết hay không.

    Muốn bảo đảm đúng lộ trình và nhận được sự ủng hộ lớn của nhân dân, yếu tố quan trọng nhất vẫn là công khai, dân chủ, sát thực tiễn và đặt sự thuận tiện của người dân ở vị trí trung tâm. Khi người dân hiểu rõ mục đích, được tham gia vào quá trình xây dựng phương án và thấy rằng quyền lợi chính đáng của mình được tôn trọng, đồng thuận sẽ trở thành nền tảng để quá trình sắp xếp được triển khai ổn định, hiệu quả và bền vững.

    Quang Phong

    Nguồn https://baomoi.com/sap-xep-to-dan-pho-o-ha-noi-lam-the-nao-bao-dam-dung-lo-trinh-va-tao-duoc-dong-thuan-ung-ho-rat-lon-cua-nhan-dan-c56199570.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!