Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lương Tuấn Hùng kiểm tra, khảo sát các dự án và quy hoạch cửa khẩu tại xã Trà Lĩnh

    Cùng đi có lãnh đạo Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh; lãnh đạo Đảng ủy, UBND xã Trà Lĩnh.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lương Tuấn Hùng kiểm tra dự án hạ tầng cửa khẩu Trà Lĩnh.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh kiểm tra thực tế dự án trung tâm thương mại cửa khẩu Trà Lĩnh của Công ty cổ phần Damac Logistics; dự án hạ tầng cửa khẩu Trà Lĩnh, giai đoạn 2, hạng mục tiếp nối tuyến giao thông. Hạng mục thu hồi hơn 33.450 m² đất của 66 hộ gia đình và 1 cộng đồng dân cư, đến nay, 100% hộ đã nhận tiền bồi thường, 65 hộ đã bàn giao mặt bằng. Một số nội dung hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh và 1 trường hợp còn vướng mắc đang được tiếp tục giải quyết.

    Về công tác quy hoạch cửa khẩu, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh đang phối hợp rà soát chức năng các lô đất để hoàn thiện hồ sơ Đồ án quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/200 khu vực cửa khẩu Trà Lĩnh. Quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 tại khu vực cửa khẩu Pò Peo, lối mở Đình Phong đã hoàn thành niêm yết, lấy ý kiến cộng đồng dân cư.

    Tiếp đó, đoàn công tác kiểm tra hiện trạng trụ sở UBND xã Trà Lĩnh và nghe báo cáo phương án sắp xếp, xử lý tài sản công nhà, đất dôi dư; kiểm tra thực địa khu tái định cư phục vụ công tác giải phóng mặt bằng dự án cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) – Trà Lĩnh (Cao Bằng) tại xóm Cao Chương; một số vị trí, mặt bằng, đánh giá hiện trạng, khả năng khai thác quỹ đất và phương án kết nối hạ tầng trong thời gian tới.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lương Tuấn Hùng kiểm tra hiện trạng trụ sở UBND xã Trà Lĩnh.

    Qua kiểm tra, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lương Tuấn Hùng yêu cầu các đơn vị rà soát tổng thể tiến độ các dự án triển khai tại khu vực cửa khẩu Trà Lĩnh; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án hạ tầng cửa khẩu Trà Lĩnh. Các đơn vị liên quan tiếp tục phối hợp, chủ động rà soát các dự án chưa triển khai đầu tư, đầu tư kém hiệu quả tại khu vực cửa khẩu Trà Lĩnh, đề xuất hướng xử lý phù hợp. Tăng cường nắm bắt nhu cầu, kế hoạch sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu để có giải pháp hỗ trợ, thu hút thêm doanh nghiệp, dòng hàng qua cửa khẩu, tạo động lực phát triển kinh tế cửa khẩu trong thời gian tới.

    Đối với trụ sở nhà, đất dôi dư, cần đánh giá kỹ hiện trạng, pháp lý và nhu cầu sử dụng để có phương án quản lý, khai thác hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực đất đai. Việc rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện quy hoạch phải gắn với yêu cầu phát triển hạ tầng cửa khẩu, khu tái định cư, giao thông kết nối và các công trình phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và tầm nhìn lâu dài.

    La Ngà – Kim Dung

    Nguồn https://baomoi.com/pho-chu-tich-thuong-truc-ubnd-tinh-luong-tuan-hung-kiem-tra-khao-sat-cac-du-an-va-quy-hoach-cua-khau-tai-xa-tra-linh-c56210140.epi

  • Đà Nẵng thúc tiến độ các dự án tồn đọng kéo dài, nguy cơ lãng phí

    Đà Nẵng yêu cầu các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm

    Theo đó, TP Đà Nẵng yêu cầu các chủ đầu tư khẩn trương rà soát, báo cáo đầy đủ tình hình thực hiện các dự án, trong đó làm rõ những khó khăn, vướng mắc, kết quả xử lý và tiến độ thực hiện trước ngày 9-10.

    Đối với các dự án còn vướng mắc, TP Đà Nẵng yêu cầu chủ đầu tư, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố và các địa phương liên quan tập trung nguồn lực, xử lý dứt điểm, nhất là các vấn đề về bồi thường, giải phóng mặt bằng thuộc trách nhiệm, thẩm quyền. Từng nội dung phải xác định rõ tiến độ và thời hạn hoàn thành, không để tình trạng tồn đọng kéo dài.

    Những dự án đã xác định phương án xử lý, các đơn vị được yêu cầu khẩn trương hoàn tất thủ tục liên quan như điều chỉnh chủ trương đầu tư, điều chỉnh dự án, thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu; đồng thời đẩy nhanh thi công, sớm đưa công trình vào sử dụng.

    Đối với 31 dự án thuộc danh mục theo dõi của Ban Nội chính Thành ủy, các Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng phụ trách được yêu cầu khẩn trương rà soát, chỉ đạo, đôn đốc và kiểm tra việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; phấn đấu hoàn thành, bàn giao công trình theo đúng tiến độ cam kết.

    XUÂN QUỲNH

    Nguồn https://baomoi.com/da-nang-thuc-tien-do-cac-du-an-ton-dong-keo-dai-nguy-co-lang-phi-c56210294.epi

  • Chuẩn bị cưỡng chế chế kiểm đếm bắt buộc thực hiện Dự án Khu đô thị mới Tây Nam tại phường Việt Trì

    Quang cảnh buổi họp báo.

    Tại buổi họp báo, UBND phường Việt Trì công bố quyết định cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc và kế hoạch tổ chức cưỡng chế đã được phê duyệt. Đồng thời, thông tin nhanh về dự án Khu đô thị mới Tây Nam, thành phố Việt Trì (giai đoạn 1), nay thuộc phường Việt Trì.

    Theo đó, dự án có tổng diện tích phải thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất 31,21ha, với khoảng 1.102 hộ dân bị ảnh hưởng. Đến nay, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đã đạt kết quả tích cực.

    Diện tích đã giải phóng mặt bằng đạt 294.408,5 m2, tương đương 29,44/31,21 ha, với 1.071 hộ đã nhận tiền, bàn giao mặt bằng, trong đó có 12 hộ đã thực hiện cưỡng chế thu hồi đất. Khoảng 25,21 ha đã được chuyển mục đích và bàn giao cho chủ đầu tư.

    Hiện nay còn 1,77 ha chưa hoàn thành giải phóng mặt bằng, liên quan đến 31 hộ, 117 thửa đất. Trong đó có 4 hộ chưa chấp hành kiểm đếm bắt buộc, UBND phường Việt Trì đã tổ chức 3 lần tuyên truyền, vận động và đối thoại nhưng các hộ vẫn không thực hiện kiểm kê, kiểm đếm.

    Đại diện cơ quan chuyên môn thông tin về kế hoạch triển khai cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc thực hiện Dự án Khu đô thị mới Tây Nam, thành phố Việt Trì (giai đoạn 1), nay là phường Việt Trì.

    Theo Chi nhánh Trung tâm Phát triển quỹ đất khu vực Việt Trì, quá trình kiểm kê, lập và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện theo các quy định hiện hành của pháp luật đất đai. Các phương án được xây dựng theo hướng đúng, đủ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

    Trên cơ sở các quyết định cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc đã được ban hành, Ban Cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc phường Việt Trì xây dựng kế hoạch tổ chức cưỡng chế. Thời gian bắt đầu từ 7 giờ 30 phút ngày 8/10/2026, tại các thửa đất thuộc chỉ giới thu hồi của dự án, thực hiện đến khi hoàn thành. Lực lượng dự kiến tham gia khoảng 250 người.

    Đại diện các cơ quan báo chí, truyền thông khai thác thông tin tại buổi họp báo.

    Tại buổi họp báo, đại diện các cơ quan chuyên môn đã trao đổi, giải đáp thông tin liên quan đến việc tổ chức cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc để thực hiện dự án. Qua thực hiện nhằm hoàn tất công tác kiểm kê, xác định đầy đủ hiện trạng đất đai, tài sản của các hộ còn lại, tạo cơ sở tiếp tục thực hiện các bước bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, bảo đảm tiến độ triển khai dự án Khu đô thị mới Tây Nam, thành phố Việt Trì (giai đoạn 1), nay là phường Việt Trì.

    Đức Anh

    Nguồn https://baomoi.com/chuan-bi-cuong-che-che-kiem-dem-bat-buoc-thuc-hien-du-an-khu-do-thi-moi-tay-nam-tai-phuong-viet-tri-c56210480.epi

  • Tập trung hoàn thiện thủ tục đầu tư các dự án y tế tại khu vực Vĩnh Phúc

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Khắc Hiếu kiểm tra cơ sở vật chất của Trung tâm Y tế khu vực Tam Dương.

    Đây là 2 trong 16 dự án ngành Y tế đề xuất thực hiện theo Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2026 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.

    Dự án Đầu tư xây dựng, nâng cấp Trung tâm Y tế khu vực Tam Dương thuộc nhóm B, tổng mức đầu tư 379 tỷ đồng, quy mô 250 giường bệnh. Dự án gồm các hạng mục chính: Nhà khám bệnh đa khoa, điều trị ngoại trú, kỹ thuật nghiệp vụ, hành chính; nhà điều trị nội trú; nhà kiểm soát nhiễm khuẩn và các hạng mục phụ trợ.

    Đến nay, dự án đã được trình thẩm định chủ trương đầu tư, đang tiếp thu ý kiến của Hội đồng thẩm định để hoàn thiện hồ sơ báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, trình UBND tỉnh phê duyệt.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Khắc Hiếu nghe báo cáo về dự án Cải tạo, nâng cấp xây dựng cơ sở vật chất Trung tâm Y tế khu vực Vĩnh Tường.

    Dự án Cải tạo, nâng cấp xây dựng cơ sở vật chất Trung tâm Y tế khu vực Vĩnh Tường đã được UBND tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư, đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 với tổng mức đầu tư 272 tỷ đồng. Chủ đầu tư đang triển khai lập dự toán và xây dựng kế hoạch lựa chọn nhà thầu.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Khắc Hiếu chỉ đạo tại buổi làm việc với các đơn vị liên quan.

    Phát biểu tại buổi kiểm tra, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Khắc Hiếu nhấn mạnh, việc đầu tư xây dựng, nâng cấp 2 trung tâm y tế khu vực là bước cụ thể hóa Nghị quyết số 23-NQ/TU ngày 30/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển sự nghiệp y tế tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045. Qua đó, từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị, nâng cao năng lực khám, chữa bệnh, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe Nhân dân.

    Để bảo đảm tiến độ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Khắc Hiếu yêu cầu đơn vị tư vấn phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành liên quan, khẩn trương hoàn thiện các thủ tục đầu tư. Sở Tài chính, Sở Xây dựng tăng cường hướng dẫn, giải quyết thủ tục hành chính đối với các dự án thuộc lĩnh vực y tế theo cơ chế “luồng xanh”.

    Sở Y tế chủ động đôn đốc, kiểm soát tiến độ từng dự án, bảo đảm các mục tiêu đề ra. Các chủ đầu tư phối hợp với đơn vị tư vấn nghiên cứu kỹ phương án xây dựng, bảo đảm công năng, hiệu quả sử dụng công trình sau khi hoàn thành.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh lưu ý, trong quá trình triển khai cần quan tâm các yếu tố về kiến trúc, cảnh quan, môi trường; đồng thời tính toán phương án tổ chức phù hợp, bảo đảm hoạt động khám, chữa bệnh được duy trì hiệu quả trong quá trình đầu tư và khi các công trình đưa vào sử dụng.

    Thúy Hường

    Nguồn https://baomoi.com/tap-trung-hoan-thien-thu-tuc-dau-tu-cac-du-an-y-te-tai-khu-vuc-vinh-phuc-c56210433.epi

  • Đà Nẵng tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, tạo dư địa tăng trưởng

    Gỡ điểm nghẽn từ đất đai, đầu tư

    Ngày 6/10/2026, HĐND TP. Đà Nẵng khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031 khai mạc Kỳ họp thứ 6 – kỳ họp chuyên đề, xem xét, quyết định nhiều nội dung quan trọng thuộc thẩm quyền.

    Phát biểu khai mạc, Chủ tịch HĐND TP. Đà Nẵng Nguyễn Đức Dũng cho biết, sau 9 tháng, kinh tế Đà Nẵng tiếp tục phục hồi và có nhiều chuyển biến tích cực. GRDP ước tăng 10,3%, riêng quý III tăng 11,83%; thu ngân sách nhà nước đã vượt dự toán, trong khi giải ngân vốn đầu tư công thuộc nhóm địa phương có kết quả khá cao trong cả nước.

    Một trong những nội dung đáng chú ý tại kỳ họp lần này là việc sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 28/2026/NQ-HĐND về giá đất và bảng giá các loại đất (Ảnh: PV)

    “Đây là kết quả rất đáng ghi nhận, thể hiện nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân thành phố”, ông Dũng nhấn mạnh.

    Tuy vậy, thời gian còn lại của năm 2026 không nhiều, trong khi các mục tiêu tăng trưởng đặt ra yêu cầu cao. Vì vậy, theo ông Dũng, trọng tâm lúc này không chỉ là duy trì đà tăng trưởng mà phải nhanh chóng xử lý những vấn đề đang gây trở ngại cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở.

    Một trong những nội dung đáng chú ý tại kỳ họp lần này là việc sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 28/2026/NQ-HĐND về giá đất và bảng giá các loại đất.

    Đáng chú ý, dù nghị quyết mới được ban hành, qua rà soát đã có 37/94 xã, phường đề xuất sửa đổi, bổ sung bảng giá đất. Con số này cho thấy nhu cầu điều chỉnh chính sách từ thực tiễn đang rất rõ, đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng rà soát ngay từ cơ sở.

    Chủ tịch HĐND thành phố lưu ý, việc sửa đổi phải được xem xét kỹ lưỡng, tránh tình trạng chính sách vừa ban hành đã phát sinh thêm những bất cập, vướng mắc.

    Bên cạnh giá đất, HĐND thành phố sẽ xem xét các nội dung liên quan đến tỷ lệ tính đơn giá thuê đất, thuê đất công trình ngầm, đất có mặt nước; bổ sung danh mục dự án cần thu hồi đất năm 2026 tại các xã, phường và quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng đối với một số dự án.

    Chủ tịch HĐND TP. Đà Nẵng Nguyễn Đức Dũng phát biểu khai mạc Kỳ họp (Ảnh: PV)

    Các nội dung này có tác động trực tiếp đến tiến độ triển khai dự án, khả năng khai thác nguồn lực đất đai cũng như môi trường đầu tư của thành phố. Do đó, yêu cầu được đặt ra là vừa tháo gỡ vướng mắc, vừa bảo đảm chặt chẽ về pháp lý, môi trường, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

    “Phải bảo đảm chặt chẽ căn cứ pháp lý, phạm vi áp dụng, ranh giới, hiện trạng, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trách nhiệm trồng rừng thay thế, bảo vệ môi trường và quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp”, ông Dũng yêu cầu.

    Quan tâm an sinh và sinh kế bền vững

    Cùng với đất đai, bài toán phân bổ và sử dụng nguồn lực cũng được đặt ra tại kỳ họp. HĐND thành phố sẽ xem xét điều chỉnh, bổ sung kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; một số nội dung hỗ trợ ngân sách đầu tư trụ sở Viện Kiểm sát nhân dân thành phố, dự án chuyển đổi số và xây dựng Tòa án điện tử.

    Theo Chủ tịch HĐND thành phố, trong điều kiện nguồn lực luôn có giới hạn, việc bố trí ngân sách cần được cân nhắc trên cơ sở khả năng cân đối, thứ tự ưu tiên, tính pháp lý và hiệu quả đầu tư. Mục tiêu là để nguồn lực được sử dụng đúng trọng tâm, đồng thời kịp thời xử lý những vướng mắc đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư và vận hành của các cơ quan, đơn vị, địa phương.

    Đây cũng là yêu cầu quan trọng trong bối cảnh Đà Nẵng đang vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đòi hỏi hệ thống chính sách và nguồn lực phải được điều chỉnh phù hợp để bộ máy hoạt động thông suốt, hiệu quả hơn.

    Quảng cảnh khai mạc HĐND TP. Đà Nẵng khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031 – Kỳ họp thứ 6 (Ảnh: PV)

    Không chỉ tập trung vào các động lực tăng trưởng, kỳ họp lần này dành sự quan tâm đáng kể cho các vấn đề văn hóa – xã hội, y tế cơ sở, an sinh và phòng, chống thiên tai. HĐND thành phố dự kiến xem xét các chính sách hỗ trợ hơn 3.200 cộng tác viên dân số, 118 nhân viên y tế thôn bản và giải quyết chế độ chuyển tiếp đối với y tế tổ dân phố.

    Đặc biệt, Đề án sắp xếp, ổn định dân cư miền núi, vùng thiên tai giai đoạn 2026-2030 được đưa ra xem xét được đánh giá là một quyết sách có ý nghĩa lâu dài. Mục tiêu không chỉ là di dời người dân khỏi khu vực có nguy cơ sạt lở, lũ quét mà còn phải tạo dựng điều kiện sống và sinh kế ổn định sau sắp xếp.

    Chủ tịch HĐND TP. Đà Nẵng nhấn mạnh, đây là “một quyết sách căn cơ nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản và kiến tạo sinh kế lâu dài, bền vững cho nhân dân” tại các khu vực có nguy cơ cao về thiên tai.

    Từ những nội dung được đặt lên bàn nghị sự, có thể thấy Kỳ họp thứ 6 của HĐND TP. Đà Nẵng không chỉ tập trung giải quyết các vấn đề trước mắt mà còn hướng tới hoàn thiện hành lang pháp lý, khơi thông nguồn lực và nâng cao hiệu quả quản trị. Chủ tịch HĐND thành phố cũng đề nghị các đại biểu nghiên cứu thấu đáo, thảo luận dân chủ, bảo đảm các nghị quyết được ban hành “có thể triển khai thực chất ngay sau kỳ họp”.

    Đây được xem là yêu cầu quan trọng để Đà Nẵng tận dụng tốt nền tảng tăng trưởng 9 tháng, đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn còn tồn tại, tạo thêm dư địa cho phát triển trong những tháng cuối năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

    Công Thái

    Nguồn https://baomoi.com/da-nang-tap-trung-thao-go-diem-nghen-tao-du-dia-tang-truong-c56210145.epi

  • Đề xuất thuế 0,2% với đất bỏ hoang, chậm đưa vào sử dụng

    Thông tin được ông Trương Bá Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính), cho biết tại họp báo thường kỳ quý III/2026 của Bộ Tài chính chiều 6/10.

    Theo ông Trương Bá Tuấn, Bộ Tài chính đã trình Bộ Tư pháp thẩm định hồ sơ dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế; trong đó có thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

    Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí Trương Bá Tuấn trả lời câu hỏi của phóng viên tại Họp báo. Ảnh: Phạm Hậu – TTXVN

    Đối với đất bỏ hoang, đất chậm hoặc không đưa vào sử dụng, dự thảo đề xuất mức thuế 0,2% và không quy định hạn mức. Theo đó, toàn bộ diện tích thuộc diện này sẽ chịu thuế suất 0,2%, không áp dụng mức thuế thấp hơn đối với phần diện tích trong hạn mức.

    Theo đó, mức thuế suất này tương đương mức đang áp dụng đối với đất lấn, chiếm và cao hơn các mức thuế suất khác trong Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Hiện đất ở trong hạn mức chịu thuế suất 0,03%; phần diện tích vượt không quá 3 lần hạn mức chịu 0,07%; phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức chịu 0,15%. Mức 0,15% cũng được áp dụng đối với đất sử dụng không đúng mục đích.

    Theo Bộ Tài chính, đề xuất trên nhằm thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng, trong đó có Nghị quyết số 21 của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về định hướng sửa đổi, bổ sung các chính sách liên quan đến đất đai.

    Một trong những nội dung được tập trung làm rõ trong quá trình xây dựng chính sách là tiêu chí xác định thế nào là đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng hoặc không đưa vào sử dụng. Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành chưa quy định mức thuế suất đối với loại đất này.

    Lãnh đạo Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu, làm rõ các tiêu chí, khái niệm để xác định đất bỏ hoang, đất chậm hoặc không đưa vào sử dụng trong các văn bản pháp luật về đất đai, làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách thuế.

    Liên quan đến tình trạng nhiều người dân bỗng nhiên nợ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, dù đã hoàn thành nộp hoặc đã bán đất nhiều năm tại họp báo, ông Lê Long, Phó Cục trưởng Cục Thuế, cho biết đây là sắc thuế có phạm vi áp dụng rộng, số thu hằng năm khoảng 1.300-1.400 tỷ đồng. Mặc dù số thuế của từng hộ gia đình, cá nhân không lớn, việc quản lý và thu nộp đòi hỏi sự phối hợp giữa người nộp thuế, doanh nghiệp và cơ quan thuế.

    Theo ông Lê Long, một trong những khó khăn hiện nay là dữ liệu giữa các cơ quan chưa được liên thông đầy đủ. Khi đất đai chuyển nhượng nhưng thủ tục chưa hoàn tất, thông tin chưa chuyển sang cơ quan thuế, dẫn đến việc cơ quan thuế vẫn gửi thông báo nộp thuế cho chủ cũ. Ông Lê Long cho rằng, nếu dữ liệu được liên thông tốt, tình trạng này sẽ không còn.

    Bên cạnh đó, việc cập nhật, chuẩn hóa dữ liệu về nghĩa vụ thuế còn chậm. Có trường hợp người dân đã nộp thuế trong năm nhưng do dữ liệu trên hệ thống chưa được cập nhật kịp thời nên vẫn nhận thông báo nộp thuế, dẫn đến tình trạng thông báo trùng.

    Cơ quan thuế đề nghị người dân phản ánh các trường hợp này thông qua Cổng thông tin dịch vụ của cơ quan thuế, Bộ Tài chính hoặc ứng dụng eTax Mobile để được tiếp nhận, xử lý. Cơ quan thuế sẽ chỉ đạo cơ quan thuế địa phương rà soát, giải quyết các trường hợp cụ thể.

    Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho rằng, trường hợp người dân đã thực hiện chuyển nhượng đất đúng quy định nhưng cơ quan thuế vẫn căn cứ dữ liệu cũ để thông báo nghĩa vụ thuế thì trách nhiệm thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước trong việc cập nhật dữ liệu.

    Theo Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi, các cơ sở dữ liệu về nhà ở, đất đai và thuế cần bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống” và được kết nối, liên thông. Cơ quan thuế đã chủ động đề xuất việc này, song cần sự phối hợp của chính quyền địa phương, cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường cùng các đơn vị liên quan để hạn chế tình trạng tài sản đã chuyển nhượng nhưng thông báo thuế vẫn gửi cho chủ cũ./. 

    Thùy Dương/Bnews/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/de-xuat-thue-0-2-voi-dat-bo-hoang-cham-dua-vao-su-dung-c56210136.epi

  • Bảo tồn Phật viện Đồng Dương trong không gian di sản sống

    Sau hơn 1.000 năm tồn tại với nhiều biến động, phần lớn công trình kiến trúc Phật viện Đồng Dương đã bị hư hoại, hiện chỉ còn lại nền móng và tháp Sáng nghiêng đổ

    Việc hoàn nguyên hai pháp khí đóa sen và con ốc cho tượng Bồ tát Tara vào tháng 11.2025 sau khi hai hiện vật được chuyển giao về Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng gợi một suy nghĩ cho Đồng Dương: mỗi phần di sản trở về đúng mối liên hệ của nó đều giúp chúng ta hiểu thêm một chỉnh thể đã bị chia cắt.

    Hội thảo khoa học quốc gia về Phật viện Đồng Dương diễn ra vào giữa tháng 5.2026 tiếp tục đặt ra yêu cầu nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di tích trên cơ sở khoa học. Hướng hợp tác bảo tồn với Ấn Độ cũng mở thêm khả năng huy động chuyên môn. Trước cơ hội này, Đồng Dương cần một chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị toàn diện, thay vì những giải pháp chắp vá ngắn hạn.

    Đặt phế tích trong cảnh quan rộng hơn

    Kiến trúc sư, Nhà nghiên cứu Lê Trí Công đề xuất mô hình Công viên Khảo cổ quốc gia Đồng Dương với ba vùng: lõi bảo vệ khoảng 12ha, hành lang kết nối các di tích vệ tinh và vùng đệm sinh thái khoảng 500ha. Quy mô 500ha thuộc đề xuất vùng đệm; việc xác lập ranh giới cụ thể cần tiếp tục dựa vào khảo sát và hồ sơ quy hoạch.

    Mô hình đề xuất Công viên Khảo cổ quốc gia Đồng Dương với cấu trúc quản lý theo ba phân vùng chiến lược. Trong đó vùng 1 lõi bảo vệ tuyệt đối (12ha); vùng 2 hành lang vệ tinh và vùng 3 vùng đệm sinh thái (500ha). Ảnh: KTS. Lê Trí Công

    Cách tiếp cận này đặt Phật viện trong quan hệ với các gò di tích, đường tiếp cận và mạng lưới nước. Theo đề xuất, vùng đệm cần tính đến sông Ly Ly, núi Trà Cai cùng hệ thống suối quanh Đồng Dương. Đó là tầm nhìn quản lý một cảnh quan rộng, trong đó mỗi khu vực có yêu cầu bảo vệ và sử dụng khác nhau, không đồng nghĩa toàn bộ diện tích đều phải giải tỏa hoặc cấm mọi hoạt động của cư dân.

    Đồng thời đặt vấn đề về sự tiếp biến không gian tại Đồng Dương, đặc biệt là cách trục tiếp cận và các lớp kiến trúc tổ chức hành trình vào trung tâm thiêng. Cách đọc này gợi một yêu cầu thiết thực: bảo tồn phải giữ được khả năng nhận biết quan hệ giữa cổng, sân, đền thờ và cảnh quan.

    Các diễn giải về nguồn gốc Hindu giáo, maṇḍala bảo hộ hay ý nghĩa vương quyền cần tiếp tục được kiểm chứng qua đối chiếu kiến trúc, khảo cổ và văn khắc.

    Tuyến tham quan, đường dịch vụ và công trình phụ trợ vì thế phải được thiết kế trên cơ sở khảo sát tổng thể. Một đường cắt ngang thuận tiện cho vận hành có thể làm mất khả năng đọc không gian lịch sử. Những vùng đất chưa khai quật cũng cần được bảo vệ để các thế hệ sau còn cơ hội bổ sung hoặc điều chỉnh cách hiểu hôm nay.

    Cứu tháp Sáng bằng hiểu biết về chính công trình

    Theo KTS. Lê Trí Công, ưu tiên trước mắt là đánh giá an toàn và ổn định phần kiến trúc còn lại của Tháp Sáng. Hồ sơ bảo tồn cần ghi nhận biến dạng, vết nứt, tình trạng nền móng và hệ chống đỡ; đồng thời theo dõi nước mưa, độ ẩm, hiện tượng bong tróc và tác động của thực vật.

    Việc cứu nguy cần thiết phải được triển khai kịp thời, song mỗi can thiệp đều cần có hồ sơ để kiểm tra hiệu quả về sau.

    KTS. Lê Trí Công nhấn mạnh, công tác bảo tồn Tháp Sáng cùng các nền móng kiến trúc còn lại đòi hỏi một phương pháp tiếp cận nghiêm ngặt, trên nền tảng khoa học vật liệu cổ đại và công nghệ di sản số, dựa vào sự thấu hiểu đặc tính cơ lý của vật liệu nguyên bản và nguyên tắc tôn trọng tính chân xác lịch sử

    Nguy cơ kết tinh muối là một nội dung phải khảo sát. Trong vật liệu rỗng, nước có thể vận chuyển muối hòa tan; khi điều kiện ẩm thay đổi, quá trình kết tinh có thể gây tổn thương. Nhưng mức độ rỗng, tốc độ hút nước, khả năng khô và hàm lượng muối của gạch Đồng Dương phải được xác định bằng mẫu và phép đo phù hợp. Không thể lấy một mô tả chung về gạch Champa làm chẩn đoán riêng cho Tháp Sáng.

    Dầu rái, bời lời hay kỹ thuật xây mài chập là những hướng nghiên cứu đáng quan tâm, cần đối chiếu với dấu vết vật liệu và kỹ thuật tại di tích. Việc lựa chọn chất kết dính, gạch bổ sung hoặc giải pháp gia cố phải qua thử nghiệm tương thích. Tiêu chí quyết định là tác động lên khối xây cổ, khả năng theo dõi và bảo trì, chứ không chỉ nguồn gốc truyền thống hay hiện đại của vật liệu.

    Bảo tồn phế tích cũng cần phân biệt việc gia cố và lắp lại cấu kiện gốc có đủ căn cứ với việc dựng mới một hình dáng còn nhiều suy đoán. Phần bổ sung cần thiết phải hạn chế, nhận biết được và được lập hồ sơ. Khả năng tháo bỏ nên được ưu tiên khi khả thi; với xử lý không thể đảo ngược hoàn toàn, phải đánh giá tác động lâu dài và tránh cản trở những lần bảo tồn tiếp theo.

    Nhiều kết cấu, hoa văn xuống cấp phải chống đỡ lần 2 bằng hệ thống sắt thép

    Quét laser và chụp ảnh đo đạc có thể ghi nhận hiện trạng, hỗ trợ theo dõi biến đổi và liên kết cấu kiện với hồ sơ khảo cổ. Trên nền dữ liệu ấy, mô hình số và thực tế tăng cường giúp người xem hình dung kiến trúc đã mất. Mỗi phần tái hiện cần cho biết căn cứ của nó: còn dấu tích tại chỗ, được ghi trong tư liệu cũ hay mới là giả thuyết đối chiếu.

    Khi tồn tại nhiều cách giải thích, mô hình số có thể cho phép người xem chuyển giữa các phương án. Cách làm này đặc biệt hữu ích đối với những vấn đề còn đang nghiên cứu như hình thái mái, chức năng từng khu và vị trí các tượng thờ.

    Rêu phủ mờ hoa văn trên gạch nơi chân tháp

    Các thiết bị diễn giải, kể cả trình chiếu ánh sáng, vẫn cần đánh giá vị trí lắp đặt, cấp điện và tác động của hoạt động tham quan. Công trình phụ trợ nên nằm tại nơi ít nhạy cảm, có quy mô phù hợp và kết cấu dễ tháo dỡ. Gỗ hay tre cũng cần điểm tựa, neo giữ và đường thi công; thiết kế nhẹ chỉ có ý nghĩa bảo tồn khi những tác động xuống nền đất đã được kiểm soát.

    Bảo vệ di tích cùng quyền lợi của cư dân

    Đất ở, đất sản xuất và ký ức gia đình của cư dân hiện diện ngay trong không gian khảo cổ. Quy hoạch vì thế cần xác định rõ khu vực phải bảo vệ nghiêm ngặt, khu vực có thể duy trì sinh hoạt và nơi phù hợp để bố trí dịch vụ. Phân vùng phải theo phân bố di tích và điều kiện thực địa, không áp đặt những vòng đồng tâm lên một cảnh quan phức tạp.

    Với từng hộ bị ảnh hưởng, cần làm rõ hạn chế sử dụng đất, phương án hỗ trợ và cơ hội sinh kế. Ưu tiên hạn chế di dời; trường hợp thật sự cần thiết phải có phương án phù hợp với quyền lợi hợp pháp và điều kiện sống của người dân. Cam kết hưởng lợi từ du lịch trong tương lai không thể thay thế những nghĩa vụ phải thực hiện ngay khi quyền sử dụng đất hoặc sinh kế bị tác động.

    Vùng phế tích xung quanh Phật viện Đồng Dương rất rộng, như rừng Thành cách Phật viện 2km về phía Đông

    Hai công cụ được KTS. Lê Trí Công gợi mở là chuyển quyền phát triển (TDR), và mô hình quản lý đất vì lợi ích cộng đồng (Quỹ đất Di sản Cộng đồng-CLT). Đây là những hướng đáng nghiên cứu, nhưng cần làm rõ điều kiện áp dụng.

    TDR đòi hỏi cơ chế xác lập và giao dịch quyền phát triển, nơi tiếp nhận phù hợp với hạ tầng và cách giám sát lợi ích bảo tồn. Không nên mặc định cơ chế này sẽ tự bù đủ chi phí hoặc loại bỏ áp lực xây dựng.

    Với mô hình CLT, trọng tâm là cơ chế quản lý đất phục vụ lợi ích cộng đồng lâu dài. Khi tham khảo cho Đồng Dương, cần xác định rõ tổ chức quản lý, quyền của các bên và cách bảo đảm mục tiêu chung ấy. Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, mọi phương án liên quan quyền sử dụng đất đều phải được rà soát pháp lý trước khi triển khai.

    Bia Đồng Dương C.66, bằng tiếng Sanskrit, ghi việc vua Indravarman II lập cơ sở thờ Lakṣmīndralokeśvara và tu viện năm 875. Hiện bia này đang lưu giữ tại Nhà thờ tộc Trà – Đồng Dương. Ảnh: KTS. Lê Trí Công

    Một việc có thể chuẩn bị sớm là cơ chế để cư dân tham gia quản lý dịch vụ, nhận thù lao bảo vệ và giám sát nguồn thu chi dành cho bảo tồn. Việc thành lập tổ chức cộng đồng hay hợp tác xã cần được xem xét theo nhu cầu thực tế và quy định liên quan. Quyền tham gia của người dân phải thể hiện ở thông tin họ được tiếp cận, quyết định họ được góp ý và lợi ích họ thực sự nhận được.

    KTS. Lê Trí Công dẫn chứng, câu chuyện hoàn nguyên hai pháp khí của tượng Tara cho thấy vai trò của người dân trong hành trình bảo vệ hiện vật, đồng thời nhắc đến những vướng mắc từng tồn tại giữa cộng đồng và cơ quan quản lý.

    Ghi nhận đầy đủ lịch sử ấy giúp xây dựng sự tin cậy. Những ký ức về vị trí phát hiện, đường đi, mặt nước hay công trình đã mất cần được ghi chép với sự đồng thuận của người kể và đối chiếu với các nguồn khác.

    Khảo cổ học có sự tham gia của cộng đồng có thể bắt đầu từ những công việc cụ thể: hỗ trợ ghi nhận hiện trạng, báo tin về nguy cơ xâm hại, hướng dẫn khách và tham gia hoạt động giáo dục di sản. Người được đào tạo có thể đảm nhận nhiệm vụ kỹ thuật phù hợp dưới sự hướng dẫn chuyên môn.

    Việc khai quật, xử lý hóa chất hoặc can thiệp trực tiếp vào hiện vật vẫn cần người có năng lực và trách nhiệm rõ ràng.

    Hiện vật con ốc và lá sen của bảo vật quốc gia tượng Bồ tát Tara thời điểm được người dân bàn giao Bảo tàng Quảng Nam (trước đây)

    Du khách chiêm ngưỡng tượng Bồ tát Tara được trưng bày tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng. Ảnh: B.T

    Định hướng du lịch chậm phù hợp với mong muốn tạo một không gian học hỏi và chiêm nghiệm. Tuyến đi cần tránh nền móng yếu, có khoảng lùi an toàn và phân bố điểm dừng hợp lý; số khách nên được điều chỉnh theo sức chịu tải thực tế. Nếu diễn giải nghi thức đi nhiễu thuận chiều kim đồng hồ, cần nói rõ cơ sở tôn giáo và mức độ chứng cứ tại Đồng Dương.

    Lộ trình bảo tồn nên bắt đầu bằng cứu nguy và lập hồ sơ, tiếp đến là khảo sát xác định phạm vi, thử nghiệm giải pháp rồi mới mở rộng hoạt động tham quan. Mỗi bước cần có kinh phí vận hành và kết quả đo được: dấu tích ổn định hơn, dữ liệu đầy đủ hơn, cư dân tham gia thực chất hơn.

    Đồng Dương có thể trở thành một không gian di sản sống khi những phần còn lại được gìn giữ, những điều chưa biết được tiếp tục nghiên cứu và người dân có điều kiện gắn bó lâu dài với nơi mình đang sống.

    Một mô hình di sản sống

    Những đề xuất gợi mở về cách tiếp cận mô hình quy hoạch tổng thể cho Đồng Dương cũng chính là một trong những vấn đề trọng tâm được thảo luận khá sôi nổi tại hội thảo khoa học “Nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá Phật viện Đồng Dương” tổ chức tại thành phố Đà Nẵng vào giữa tháng 5 vừa qua.

    Theo đề xuất của KTS. Lê Trí Công, vùng đệm cần tính đến sông Ly Ly, núi Trà Cai cùng hệ thống suối quanh Đồng Dương. Trong ảnh: Sông Ly Ly chảy bao quanh khu vực Bắc Phật viện

    Tại hội thảo nói trên, nhiều ý kiến của các chuyên gia cũng cho rằng cấp thiết xây dựng quy hoạch tổng thể, lâu dài cho Đồng Dương.

    Đặc biệt nhấn mạnh đến việc cần đặt lại cách tiếp cận khi xây dựng nhiệm vụ lập quy hoạch, cần xác định được không gian và định hướng quy hoạch tổng thể; những giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu số… trong phục dựng, tái hiện Phật viện Đồng Dương để bảo tồn, phát huy di sản văn hóa đặc sắc này trong môi trường số.

    Hồ sen nằm ở vùng 3- vùng đề xuất là vùng đệm sinh thái Phật viện

    Sự hồi sinh của Phật viện Đồng Dương không nằm ở việc cố gắng dựng lại một công trình đồ sộ đã mất, mà là quá trình chữa lành những đứt gãy về vật chất và xã hội.

    Bằng cách hạn chế sự can thiệp “thô bạo” của vật liệu hiện đại, bảo tồn dựa vào những tri thức trên nền tảng khoa học vật liệu cổ đại và công nghệ di sản số, dùng kinh tế không gian để hóa giải mâu thuẫn sinh kế, và dùng công nghệ số để đánh thức các tầng bậc lịch sử mà không cần chạm vào quá khứ, ba nhóm biện pháp như KTS. Lê Trí Công đề xuất cùng hội tụ về một đích đến chung: Một mô hình “Di sản sống đích thực”.

    “Chỉ khi nào từng tảng gạch xốp nhẹ, từng dải đất canh tác và hơi thở của cộng đồng bản địa cùng hòa quyện trong một chiến lược bảo tồn đa ngành, phế tích Đồng Dương mới thực sự bừng sáng trở lại, tiếp tục ngân vang âm thanh của sự sống và Chánh pháp, như tiếng ốc thiêng trên tay Bồ tát Tara từ ngàn xưa vọng về”, KTS. Lê Trí Công chia sẻ.

    KHÁNH CHI

    Nguồn https://baomoi.com/bao-ton-phat-vien-dong-duong-trong-khong-gian-di-san-song-c56210090.epi

  • Tiến độ các dự án phục vụ APEC 2027 chưa đồng đều

    Tổng số dự án phục vụ Hội nghị là 21 dự án, trong đó 10 dự án sử dụng vốn đầu tư công, 11 dự án thực hiện theo phương thức đối tác công tư (PPP) và đầu tư kinh doanh.

    Quang cảnh họp báo. Ảnh: Phạm Hậu – TTXVN

    Trong số các dự án đầu tư công, có 9 dự án được hỗ trợ vốn ngân sách trung ương với tổng kế hoạch vốn năm 2026 hơn 9.930 tỷ đồng. Nguồn vốn này gồm gần 8.295 tỷ đồng ngân sách trung ương và 1.635,5 tỷ đồng ngân sách địa phương.

    Đến ngày 25/9, ngân sách trung ương đã giải ngân hơn 3.638 tỷ đồng, đạt gần 44% kế hoạch; ngân sách địa phương giải ngân hơn 1.250 tỷ đồng, đạt hơn 76%.

    Tuy nhiên, vẫn còn một số dự án có kết quả giải ngân thấp như dự án xây dựng công trình ngầm hóa hạ tầng kỹ thuật khu vực An Thới mới đạt hơn 13%; Nhà máy xử lý nước thải tập trung khu vực An Thới đã được chuyển sang thực hiện bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước từ cuối tháng 8/2026, song đến nay chưa được bố trí vốn ngân sách trung ương để triển khai.

    Riêng 4 dự án tái định cư gồm Khu tái định cư An Thới, Khu tái định cư Hồ Cửa Cạn, Khu tái định cư Hồ Suối Lớn và Khu tái định cư Hàm Ninh được bố trí hơn 2.768 tỷ đồng từ ngân sách địa phương trong kế hoạch vốn năm 2026. Đến ngày 25/9, các dự án này đã giải ngân 1.870 tỷ đồng, tương đương hơn 67% kế hoạch.

    Đối với 11 dự án PPP và đầu tư kinh doanh, Nhà máy xử lý nước thải tập trung khu vực An Thới đã được điều chỉnh sang hình thức đầu tư công; 10 dự án còn lại đang triển khai theo tiến độ.

    Bộ Tài chính đánh giá tiến độ thực hiện các dự án phục vụ APEC 2027 đang được đẩy nhanh, song giữa các dự án vẫn có sự khác biệt. Một số công trình có tiến độ thi công thấp hơn kế hoạch, gồm đường ĐT.975, Đại lộ APEC, công trình ngầm hóa hạ tầng kỹ thuật khu vực An Thới và khu vực Dương Đông.

    Đáng chú ý, nhóm dự án môi trường vẫn còn chậm. Khu xử lý rác Bãi Bổn mới đạt 31% khối lượng thực hiện, trong khi Nhà máy điện rác Bãi Bổn đạt 3%. Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt An Thới và Nhà máy xử lý nước thải tập trung khu vực Dương Đông chưa triển khai xây lắp công trình chính.

    Theo báo cáo, mùa mưa đang ảnh hưởng đến tiến độ thi công một số dự án. Việc di dời hệ thống điện, nước, viễn thông và bố trí bãi đổ thải tại một số khu vực chưa đồng bộ. Nguồn đá xây dựng cơ bản đáp ứng nhu cầu, song việc khai thác, vận chuyển và đưa vật liệu về công trường cần được đẩy nhanh.

    Để bảo đảm các mốc hoàn thành phục vụ Hội nghị APEC 2027, tỉnh An Giang yêu cầu các đơn vị kiểm soát đường găng, nguồn lực và xây dựng kế hoạch bù tiến độ đối với những dự án có độ trễ./. 

    Thùy Dương/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/tien-do-cac-du-an-phuc-vu-apec-2027-chua-dong-deu-c56210018.epi

  • Điện phải đi trước một bước để Hà Nội tăng tốc

    Nhu cầu tăng nhanh, hạ tầng chịu sức ép

    Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu chủ trì buổi làm việc với Bộ Công Thương về tình hình bảo đảm cung cấp điện và phát triển hạ tầng điện trên địa bàn thành phố. Ảnh: Thanh Hiền

    Chiều 6-10, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu chủ trì buổi làm việc với Bộ Công Thương về tình hình bảo đảm cung cấp điện và phát triển hạ tầng điện trên địa bàn thành phố trong quý IV-2026, kế hoạch năm 2027; tình hình triển khai các dự án điện theo Quy hoạch điện VIII và nhu cầu mới theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm.

    Từ yêu cầu bảo đảm điện trước mắt đến định hướng phát triển hạ tầng cho những thập niên tới, các ý kiến tại buổi làm việc cho thấy một vấn đề lớn hơn đang đặt ra: nếu hạ tầng điện không được chuẩn bị đi trước tốc độ phát triển của đô thị và nền kinh tế, chính năng lực cung cấp điện có thể trở thành điểm nghẽn đối với tăng trưởng của Hà Nội.

    Theo báo cáo, giai đoạn 2025-2030, Hà Nội có 68 công trình điện cần triển khai, gồm 6 dự án nguồn, 4 trạm 500kV, 7 đường dây 500kV, 17 trạm 220kV và 34 đường dây 220kV. Đến thời điểm này, 8 công trình đã hoàn thành, 9 công trình đã khởi công, 40 công trình đang thực hiện đầu tư, 6 công trình đang nghiên cứu và 5 công trình chưa triển khai.

    Tại buổi làm việc, khi được đặt vấn đề nếu hoàn thành toàn bộ các trạm 500kV và 220kV trong kế hoạch giai đoạn 2026-2030 thì có đáp ứng được nhu cầu hay không, đại diện ngành điện cho rằng vẫn chưa đủ. Nguyên nhân là các dự án đầu tư mới, các khu vực phát triển mới và những phụ tải lớn đang liên tục xuất hiện.

    Đáng chú ý, nhu cầu điện mới không chỉ đến từ sự gia tăng dân số hay tiêu dùng dân cư. Các khu đô thị mới, hai bên sông Hồng, các dự án sản xuất quy mô lớn, trung tâm dữ liệu và những lĩnh vực sử dụng nhiều điện như các dự án công nghiệp công nghệ cao không thể vận hành nếu nguồn điện không đủ công suất, không bảo đảm độ ổn định cao. Các khu đô thị mới cũng không thể phát triển đúng quy hoạch nếu hạ tầng năng lượng được tính toán sau khi các công trình đã hình thành.

    Theo báo cáo quy hoạch, nhu cầu phụ tải điện của Hà Nội được dự báo ở mức khoảng 43.053MW vào năm 2045 và 49.422MW vào năm 2065; tổng công suất trạm biến áp được tính toán tương ứng khoảng 51.664MVA và 59.306MVA.

    Trong khi đó, Quy hoạch Thủ đô đến năm 2045 đặt ra yêu cầu hình thành 67 trạm 220kV với tổng công suất 52.650MVA, cùng 11 trạm 500kV với tổng công suất 58.500MVA. So với hiện trạng 15 trạm 220kV, tổng công suất 8.750MVA, khoảng cách về quy mô hạ tầng là rất lớn.

    Những con số trên cho thấy đầu tư điện không thể chỉ giải quyết theo từng dự án riêng lẻ. Hà Nội cần một cách tiếp cận tổng thể, trong đó dự báo phụ tải, quy hoạch đất, giao thông và hạ tầng năng lượng phải được tính toán đồng thời.

    Gỡ “nút thắt” chuẩn bị cho tăng trưởng

    Bảo đảm điện không chỉ là đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt, mà còn gắn với an ninh, trật tự xã hội và vị thế của Thủ đô. Ảnh: Thanh Hiền

    Thực tế triển khai các dự án điện trên địa bàn Hà Nội cho thấy, thách thức lớn không chỉ nằm ở nguồn vốn hay năng lực đầu tư. Nhiều dự án còn vướng về vị trí trạm, hướng tuyến, đất đai, giải phóng mặt bằng, quy hoạch và sự phối hợp giữa các địa phương.

    Đặc thù của Hà Nội khiến bài toán này phức tạp hơn nhiều địa bàn khác. Quỹ đất hạn chế, mật độ dân cư cao, yêu cầu bảo vệ cảnh quan và không gian đô thị ngày càng lớn. Một hướng tuyến điện khi đi qua khu vực đô thị có thể liên quan đồng thời đến nhiều quy hoạch khác nhau.

    Đơn cử, một số dự án đường dây 500kV, 220kV phải điều chỉnh hướng tuyến do yêu cầu phát triển địa phương. Một số tuyến vượt sông Hồng phải nghiên cứu chuyển từ phương án đường dây trên không sang cáp ngầm để phù hợp với quy hoạch khu vực. Khi phương án kỹ thuật thay đổi, hồ sơ đầu tư, quy hoạch chi tiết và thỏa thuận tuyến cũng phải thực hiện lại.

    Đây là lý do lãnh đạo thành phố yêu cầu đối với từng dự án phải xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm, nội dung vướng mắc, giải pháp xử lý và thời hạn hoàn thành, thay vì báo cáo chung chung về tình trạng “đang tháo gỡ”.

    Cách làm này có ý nghĩa không chỉ với tiến độ của ngành điện. Một công trình truyền tải chỉ có thể hoàn thành khi hàng loạt thủ tục của thành phố, địa phương và các cơ quan trung ương được giải quyết đồng bộ.

    Theo Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương) Tăng Thế Hùng, trong số khoảng 15 dự án được theo dõi, phần lớn đã cơ bản thống nhất về vị trí, hướng tuyến; chỉ còn một dự án vẫn còn vướng mắc. Cục Điện lực và Sở Công Thương Hà Nội cần phối hợp chặt chẽ hơn để xử lý những vấn đề phát sinh, nhất là đối với các công trình truyền tải có vai trò quan trọng với khu vực phía Bắc và Thủ đô.

    Ở tầm dài hạn, vấn đề quan trọng hơn là đồng bộ giữa Quy hoạch Thủ đô và quy hoạch điện. Quy hoạch Thủ đô có tầm nhìn tới 100 năm, trong khi quy hoạch điện được phân kỳ theo những giai đoạn ngắn hơn. Nếu dự báo phụ tải của Hà Nội thay đổi nhanh mà chưa được cập nhật kịp vào quy hoạch điện, sẽ xuất hiện khoảng cách giữa nhu cầu thực tế và kế hoạch đầu tư.

    Vì vậy, việc nghiên cứu đưa một số dự án dự kiến thực hiện trong giai đoạn 2031-2035 lên sớm hơn là cần thiết. Báo cáo của thành phố cũng đề xuất đẩy một số dự án thuộc giai đoạn 2031-2035 lên giai đoạn 2026-2030, đồng thời cập nhật các dự án mới theo Quy hoạch Thủ đô vào quá trình điều chỉnh Quy hoạch điện VIII.

    Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài nhấn mạnh yêu cầu, phải bảo đảm nguồn điện cho miền Bắc trong bối cảnh nhu cầu tiếp tục tăng, đồng thời đề nghị các công trình truyền tải phải được triển khai theo hướng đi trước nhu cầu. Với Hà Nội, yêu cầu này càng rõ nét bởi đây là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và an ninh của cả nước.

    Một hướng đi đáng chú ý khác là phát triển hạ tầng điện phù hợp với không gian đô thị hiện đại. Với những khu vực mật độ xây dựng cao, việc nghiên cứu ngầm hóa đường dây, trạm điện 220kV cần được đặt ra ngay từ khâu quy hoạch. Cùng với đó, hạ tầng điện cần được tính toán đồng bộ với đường vành đai, đường xuyên tâm, đường sắt đô thị và các công trình giao thông lớn.

    “Nếu làm tốt, một công trình giao thông được xây dựng có thể đồng thời tạo không gian cho hệ thống điện, viễn thông và các hạ tầng kỹ thuật khác, hạn chế tình trạng đào đường nhiều lần trong tương lai”, Thứ trưởng Trương Thanh Hoài khẳng định.

    Đây cũng là bài toán về hiệu quả kinh tế. Chi phí đầu tư công trình ngầm có thể cao hơn phương án trên không, nhưng cần tính đầy đủ giá trị quỹ đất, cảnh quan đô thị, chi phí giải phóng mặt bằng và lợi ích lâu dài của việc sử dụng không gian ngầm.

    Cùng với hệ thống truyền tải, Hà Nội cũng cần nghiên cứu phát triển các nguồn năng lượng tại chỗ, nhất là tại những khu đô thị, khu vực phát triển mới và các phụ tải lớn. Điện mặt trời mái nhà và các giải pháp năng lượng phù hợp có thể góp phần giảm áp lực cho hệ thống, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhà đầu tư về nguồn điện sạch.

    Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu nhấn mạnh, bảo đảm điện không chỉ là đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt, mà còn gắn với an ninh, trật tự xã hội và vị thế của Thủ đô. Vì vậy, thành phố phải chủ động hơn trong chiến lược năng lượng, từ bảo đảm đủ điện, điện ổn định đến phát triển nguồn điện sạch, nhất là tại các khu đô thị và khu vực phát triển mới. Điện phải được tính toán ngay từ khi quy hoạch không gian phát triển, được đầu tư đồng bộ với giao thông và các hạ tầng kỹ thuật, đồng thời bảo đảm ngày càng ổn định, sạch và có khả năng dự phòng.

    Thanh Hiền

    Nguồn https://baomoi.com/dien-phai-di-truoc-mot-buoc-de-ha-noi-tang-toc-c56210029.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!