Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Phó Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Thế Phước kiểm tra tiến độ giải phóng mặt bằng Khu công nghiệp Trấn Yên

    Tham gia Đoàn công tác có đồng chí Nguyễn Thành Sinh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo các sở, ngành và phường Âu Lâu.

    Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Nguyễn Thế Phước cùng Đoàn công tác kiểm tra tiến độ giải phóng mặt bằng Khu công nghiệp Trấn Yên.

    Dự án Khu công nghiệp Trấn Yên (giai đoạn I) có tổng diện tích 254,6 ha, ảnh hưởng đến 425 hộ gia đình, cá nhân và tổ chức. Công tác giải phóng mặt bằng được triển khai thành 2 đợt, gồm khu phía Tây và khu phía Đông.

    Dự án Khu công nghiệp Trấn Yên (giai đoạn I) có tổng diện tích 254,6 ha.

    Đối với khu phía Tây, tổng diện tích thu hồi là 109 ha, ảnh hưởng đến 165 hộ gia đình, cá nhân và tổ chức. Đến nay, địa phương đã hoàn thành kiểm kê, công khai phương án đối với 165/165 hộ; phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ với tổng số tiền hơn 212 tỷ đồng; hoàn thành di chuyển 156/156 ngôi mộ.

    Đến ngày 18/5/2026, diện tích đã giải phóng mặt bằng đạt hơn 108,4/109 ha, tương đương 99,4%.

    Đối với khu phía Đông, diện tích thu hồi là 145,6 ha, ảnh hưởng đến 260 hộ gia đình, cá nhân và tổ chức. Đến nay, 260/260 hộ đã được kiểm kê; 150 hộ được xác nhận nguồn gốc đất. Phường đã công khai phương án qua 5 đợt đối với 39 hộ, diện tích 26,5 ha, tổng giá trị 51,1 tỷ đồng; phê duyệt 2 đợt đối với 16 hộ, với diện tích 7,1 ha, tổng giá trị 10,8 tỷ đồng.

    Hồ sơ của 3 đợt, liên quan đến 23 hộ và diện tích 19,4 ha, đang được hoàn thiện để trình thẩm định, dự kiến hoàn thành trước ngày 15/10.

    Các đơn vị thi công tập trung nhân lực, máy móc, đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án Khu công nghiệp Trấn Yên (giai đoạn I).

    Để đẩy nhanh tiến độ, phường Âu Lâu đã huy động cả hệ thống chính trị tham gia; phân công cán bộ phụ trách từng khu vực, nhóm hộ; tổ chức hơn 18 hội nghị đối thoại trực tiếp với người dân và 168 cuộc họp chuyên đề để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

    Cùng với đó, phường phát động chương trình “30 ngày đêm đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng”, phấn đấu hoàn thành lập phương án giải phóng mặt bằng đối với 40 ha trong năm nay.

    Sau khi kiểm tra thực tế và nghe báo cáo của các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan, đồng chí Nguyễn Thế Phước – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, yêu cầu phường Âu Lâu tập trung cao độ cho công tác giải phóng mặt bằng, phấn đấu hoàn thành toàn bộ phần diện tích còn lại trong năm 2026.

    Khối lượng kiểm đếm đã cơ bản hoàn thành, vì vậy nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là khẩn trương xác định nguồn gốc đất, tài sản trên đất; lập, thẩm định, công khai và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ theo đúng quy định.

    Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Nguyễn Thế Phước yêu cầu đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng theo phương châm “làm việc gì dứt điểm việc đấy, vướng ở đâu tháo gỡ ở đó”.

    Đồng chí nhấn mạnh, quá trình thực hiện phải theo phương châm “làm việc gì dứt điểm việc đấy, vướng ở đâu tháo gỡ ở đó”. Phường Âu Lâu cần rà soát cụ thể từng trường hợp, xác định rõ khó khăn thuộc khâu nào, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị nào; những vấn đề vượt thẩm quyền phải kịp thời tổng hợp, đề xuất phương án để cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết, không để vướng mắc kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ chung.

    Để đáp ứng khối lượng công việc lớn, đồng chí yêu cầu tăng cường cán bộ có chuyên môn về đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng cho phường Âu Lâu; nghiên cứu thành lập tổ công tác gồm cán bộ biệt phái từ các sở, ngành, đơn vị, địa phương để trực tiếp hỗ trợ.

    Phường Âu Lâu phối hợp chặt chẽ với Viglacera, huy động thêm nhân lực có năng lực, kinh nghiệm tham gia hỗ trợ lập phương án giải phóng mặt bằng.

    Đối với quá trình lập và thẩm định phương án, các cơ quan chuyên môn phải phối hợp ngay từ đầu, thực hiện các phần việc song song, bảo đảm hồ sơ trước khi công khai đã được các bên cùng rà soát, thống nhất về căn cứ và phương án xử lý. Việc thẩm định, phê duyệt và công khai phải chặt chẽ, đúng trình tự, đúng quy định của pháp luật, hạn chế tình trạng hồ sơ phải điều chỉnh nhiều lần.

    Đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Nguyễn Thế Phước cũng yêu cầu gắn tiến độ với trách nhiệm của người đứng đầu. Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND phường Âu Lâu trực tiếp chỉ đạo, phân công rõ người, rõ việc, rõ tiến độ đối với từng nhóm nhiệm vụ; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc kết quả thực hiện.

    Các sở, ngành, chủ đầu tư và địa phương phải tăng cường phối hợp, thống nhất trong chỉ đạo, xử lý công việc, quyết tâm hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng Dự án Khu công nghiệp Trấn Yên (giai đoạn I) trong năm 2026.

    Nguyễn Thị Thu Trang

    Nguồn https://baomoi.com/pho-bi-thu-tinh-uy-nguyen-the-phuoc-kiem-tra-tien-do-giai-phong-mat-bang-khu-cong-nghiep-tran-yen-c56213731.epi

  • Chấp thuận chủ trương đầu tư dự án Khu thương mại, dịch vụ hơn 12,7 tỷ đồng tại An Nhơn Đông

    Theo quyết định, dự án được thực hiện tại số 274-276 đường Trường Chinh, phường An Nhơn Đông, trên diện tích đất khoảng 1.765,55 m². Hình thức lựa chọn nhà đầu tư là đấu giá quyền sử dụng đất.

    Dự án được thực hiện tại số 274-276 đường Trường Chinh, phường An Nhơn Đông với tổng vốn đầu tư hơn 12,7 tỷ đồng. Ảnh: Dũng Nhân

    Dự án nhằm đầu tư khu thương mại, dịch vụ và hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ; trong đó có siêu thị quy mô vừa và nhỏ, cửa hàng tiện lợi, bán lẻ hoặc khu vực trưng bày, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ ăn uống, chăm sóc sức khỏe và khu vui chơi giải trí trong nhà.

    Công trình có mật độ xây dựng không quá 64,8%, chiều cao từ 1-5 tầng và khoảng lùi 6 m so với chỉ giới đường đỏ.

    Tổng vốn đầu tư dự án hơn 12,718 tỷ đồng. Thời gian hoàn thành toàn bộ dự án không quá 24 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất.

    Trong đó, nhà đầu tư có 4 tháng để hoàn thành các thủ tục cần thiết trước khi khởi công; thời gian thi công các hạng mục công trình không quá 20 tháng. Thời hạn hoạt động của dự án là 50 năm kể từ ngày có quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất.

    UBND tỉnh giao UBND phường An Nhơn Đông rà soát, kiểm kê và lập phương án xử lý tài sản công, bảo đảm điều kiện trước khi tổ chức đấu giá. Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh có trách nhiệm lập phương án, xác định giá trị còn lại của nhà, tài sản gắn liền với đất làm cơ sở xác định giá khởi điểm và tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định.

    Các sở, ngành liên quan và UBND phường An Nhơn Đông có trách nhiệm theo dõi, giám sát quá trình thực hiện, bảo đảm dự án được triển khai đúng quy định và kết nối đồng bộ với hệ thống hạ tầng kỹ thuật khu vực.

    QUANG TẤN

    Nguồn https://baomoi.com/chap-thuan-chu-truong-dau-tu-du-an-khu-thuong-mai-dich-vu-hon-12-7-ty-dong-tai-an-nhon-dong-c56213750.epi

  • Ninh Bình: Chấp thuận dự án nhà máy thuốc đạt chuẩn GMP gần 1.200 tỷ đồng

    Theo quyết định, dự án được điều chỉnh tên thành “Dự án đầu tư xây dựng nhà máy đạt GMP sản xuất thực phẩm chức năng và thuốc” do Công ty Cổ phần EMJ Hà Nam làm nhà đầu tư. Dự án hướng tới sản xuất thuốc dùng cho người, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm và thiết bị y tế.

    Hơn 1.171 tỷ đồng đầu tư nhà máy sản xuất thuốc đạt chuẩn GMP.

    Tổng vốn đầu tư dự án là 1.171.599.602.000 đồng, trong đó vốn góp của nhà đầu tư hơn 421 tỷ đồng, chiếm khoảng 36%; khoảng 750 tỷ đồng còn lại được huy động từ các tổ chức tín dụng tại Việt Nam.

    Theo quy mô được phê duyệt, nhà máy dự kiến sản xuất khoảng 1,25 triệu hộp thuốc tân dược và 700.000 hộp thực phẩm chức năng mỗi năm. Sản phẩm mỹ phẩm có công suất từ 850.000 – 1,1 triệu hộp/năm; thiết bị y tế tiêu hao và vật tư y tế cơ bản khoảng 250.000 – 500.000 hộp/năm.

    Dự án được triển khai trong 60 tháng, từ tháng 10/2026 – 9/2031. Trong 24 tháng đầu, nhà đầu tư xây dựng xưởng sản xuất, trạm xử lý nước thải và các hạng mục hạ tầng kỹ thuật. Từ tháng thứ 25 đến tháng thứ 35, tổ chức sản xuất, kinh doanh đối với các hạng mục đã hoàn thành và đủ điều kiện hoạt động. Giai đoạn 2, từ tháng thứ 36 đến tháng thứ 60, tiếp tục hoàn thiện các hạng mục còn lại và đưa toàn bộ dự án vào vận hành.

    UBND tỉnh Ninh Bình yêu cầu nhà đầu tư tuân thủ các quy định về đầu tư, xây dựng, đất đai, phòng cháy chữa cháy, an toàn lao động và bảo vệ môi trường.

    Đáng chú ý, hệ thống thu gom, xử lý nước thải phải bảo đảm toàn bộ nước thải đạt cột A của QCVN 40:2025/BTNMT trước khi xả ra môi trường. Sở Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm phối hợp kiểm tra, giám sát việc thực hiện.

    Trường hợp vi phạm quy định về xả thải, nhà đầu tư phải dừng hoạt động, chịu chi phí khắc phục và bồi thường thiệt hại theo quy định. Việc điều chỉnh chủ trương đầu tư là cơ sở để dự án được triển khai theo quy mô, tiến độ và các yêu cầu đã được phê duyệt.

    Tiến Anh

    Hải Nguyên

    Nguồn https://baomoi.com/ninh-binh-chap-thuan-du-an-nha-may-thuoc-dat-chuan-gmp-gan-1-200-ty-dong-c56213546.epi

  • ‘Đại công trường’ đóng tàu vẫn hoạt động sau chỉ đạo xử lý của UBND tỉnh Ninh Bình

    Trước tình trạng các cơ sở đóng, sửa chữa tàu thuyền hoạt động trên hành lang bảo vệ đê Trường Yên và hành lang thoát lũ sông Hoàng Long, ngày 13/8, UBND tỉnh Ninh Bình ban hành Văn bản số 5816, yêu cầu UBND phường Tây Hoa Lư và Sở Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương xử lý.

    Theo chỉ đạo, UBND phường Tây Hoa Lư phải kiểm tra, xử lý dứt điểm các vi phạm liên quan Công ty CP Gạch ngói Sông Chanh và Công ty CP Thương mại Sản xuất Đức Phát Hà Nội; đồng thời ngăn chặn vi phạm mới, không để tái vi phạm và xây dựng kế hoạch xử lý các tồn tại trên địa bàn. Địa phương cũng được yêu cầu rà soát việc quản lý, sử dụng bãi sông, lòng sông, bảo đảm tuân thủ Luật Đê điều, quy hoạch phòng, chống lũ và bảo vệ không gian thoát lũ.

    UBND tỉnh yêu cầu phường Tây Hoa Lư báo cáo kết quả xử lý về Sở Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 25/8. Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao kiểm tra, giám sát việc tháo dỡ, giải tỏa các hạng mục vi phạm và báo cáo UBND tỉnh trước ngày 30/8. Đáng chú ý, UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường và UBND phường Tây Hoa Lư chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh và trước pháp luật nếu thiếu kiên quyết trong xử lý vi phạm về đê điều, thoát lũ.

    Thế nhưng, ghi nhận của phóng viên Tiền Phong ngày 2/10, sau thời hạn tỉnh yêu cầu báo cáo, hoạt động tại khu vực này vẫn diễn ra nhộn nhịp. Hàng loạt nhà xưởng, máy móc và công nhân tiếp tục làm việc, tạo thành một đại công trường ngay khu vực ven đê.

    Ngày 6/10, trao đổi với phóng viên Tiền Phong, ông Nguyễn Quốc Hưng, Chủ tịch UBND phường Tây Hoa Lư, cho biết UBND tỉnh đã thành lập đoàn kiểm tra và địa phương đang triển khai phương án xử lý. “Vừa qua đoàn của tỉnh mới đi kiểm tra, đã có phương án xử lý. Cưỡng chế thì phải theo lộ trình, bởi đây là khối tài sản lớn, phải có thời gian. Phường sẽ có báo cáo UBND tỉnh và sau đó triển khai”, ông Hưng nói.

    Như vậy, dù UBND tỉnh Ninh Bình đã yêu cầu xử lý dứt điểm, đồng thời đặt thời hạn báo cáo kết quả vào cuối tháng 8/2026, đến đầu tháng 10/2026, việc xử lý trên thực địa vẫn đang được triển khai.

    Ở diễn biến khác, đại diện Chi cục Thủy lợi thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình cho biết cơ quan chuyên môn và Hạt Quản lý đê điều đã nhiều lần kiến nghị UBND phường Tây Hoa Lư xử lý dứt điểm các vi phạm, nhưng đến nay chưa được giải quyết triệt để. Hoạt động đóng, sửa chữa tàu thuyền tại khu vực đê Trường Yên đã tồn tại trong thời gian dài và có xu hướng mở rộng, ảnh hưởng đến an toàn đê điều và không gian thoát lũ.

    Đại diện Chi cục Thủy lợi cho rằng ngừng cung cấp điện có thể là một trong những giải pháp hỗ trợ xử lý các cơ sở vi phạm, bởi hoạt động đóng, sửa chữa tàu thuyền phụ thuộc lớn vào nguồn điện. Không chỉ liên quan đến hành lang đê điều và thoát lũ, khu vực này còn đặt ra vấn đề về an toàn hành lang lưới điện.

    Theo ghi nhận của phóng viên, các cơ sở đóng, sửa chữa tàu sử dụng máy hàn, máy cắt tại khu vực bên dưới đường dây 110kV. Gần chân cột điện xuất hiện dây dẫn điện, dây dẫn khí đấu nối tạm thời; nhiều bình oxy, bình khí nén và bình gas được đặt xen lẫn với vật liệu, thiết bị phục vụ sản xuất.

    Minh Đức

    Nguồn https://baomoi.com/dai-cong-truong-dong-tau-van-hoat-dong-sau-chi-dao-xu-ly-cua-ubnd-tinh-ninh-binh-c56213597.epi

  • Huy động sức mạnh cộng đồng trong bảo vệ môi trường

    Cán bộ, Nhân dân phường Nam Sầm Sơn tham gia dọn vệ sinh môi trường bãi biển.

    Trong những năm qua, công tác BVMT trên địa bàn tỉnh luôn được các cấp, ngành, địa phương quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện; nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng dân cư và người dân về BVMT từng bước được nâng lên. Nhiều phong trào, hoạt động BVMT, giữ gìn vệ sinh, chỉnh trang cảnh quan tại khu dân cư được triển khai, duy trì, góp phần cải thiện chất lượng môi trường sống, xây dựng khu dân cư xanh – sạch – đẹp.

    Tuy nhiên, tại một số địa bàn, khu dân cư vẫn còn phát sinh tình trạng đổ chất thải không đúng nơi quy định, xả nước thải, ô nhiễm từ hoạt động chăn nuôi, sản xuất, kinh doanh và các vấn đề về vệ sinh môi trường… Để giải quyết vấn đề này, bên cạnh trách nhiệm quản lý của cơ quan Nhà nước, cần phát huy vai trò, trách nhiệm, tính chủ động và khả năng tự quản của cộng đồng dân cư.

    Xuất phát từ thực tiễn đó, mới đây, UBND tỉnh đã ban hành văn bản chỉ đạo việc triển khai mô hình “Tổ tự quản BVMT” tại các xã, phường trên địa bàn tỉnh. Yêu cầu đặt ra là mỗi thôn, tổ dân phố phải có ít nhất 1 tổ hoặc có mô hình được giao thực hiện nhiệm vụ tự quản về BVMT. Đối với địa bàn có quy mô dân số lớn, diện tích rộng hoặc có nhiều khu vực tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường, có thể thành lập nhiều tổ tự quản hoặc phân công thành viên phụ trách từng khu vực cụ thể. Đối với địa bàn có quy mô nhỏ, liền kề hoặc có điều kiện khó khăn, có thể thành lập tổ tự quản liên thôn, liên xóm hoặc phân công một tổ tự quản phụ trách nhiều thôn, tổ dân phố, khu dân cư; bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế và hiệu quả hoạt động.

    Nhiệm vụ cốt lõi của các tổ tự quản không dừng lại ở việc dọn dẹp vệ sinh chung mà là đầu mối trực tiếp tuyên truyền, vận động Nhân dân chấp hành quy định pháp luật về BVMT, thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt ngay tại nguồn. Đặc biệt, tổ còn đảm nhận vai trò theo dõi, giám sát, phát hiện, ghi nhận và kịp thời phản ánh, kiến nghị các vấn đề về môi trường, hành vi có nguy cơ gây ô nhiễm hoặc vi phạm quy định về BVMT đến UBND cấp xã hoặc cơ quan có thẩm quyền.

    Nhằm cụ thể hóa chủ trương, ngay khi văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh được ban hành, UBND phường Nam Sầm Sơn đã nhanh chóng thành lập 11 “Tổ tự quản BVMT” trên địa bàn phường. Trưởng phòng Kinh tế hạ tầng và Đô thị, phường Nam Sầm Sơn Bùi Ngọc Thành cho biết: “Mục tiêu cốt lõi của việc thành lập các “Tổ tự quản BVMT” là đưa công tác giữ gìn vệ sinh môi trường đi vào nếp sống hằng ngày của từng hộ gia đình và khu dân cư. Đây cũng chính là “cánh tay nối dài” của chính quyền địa phương trong tiến trình nâng cao ý thức cộng đồng, xây dựng đô thị văn minh và bảo đảm môi trường sống xanh – sạch – đẹp bền vững”.

    Ngay sau khi ra mắt, các tổ tự quản đã triển khai các hoạt động thiết thực như, tuyên truyền, vận động Nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về BVMT; thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; không xả rác, nước thải bừa bãi và cùng giữ gìn vệ sinh chung, cảnh quan môi trường tại khu dân cư.

    Ông Đỗ Xuân Nam, Tổ trưởng tổ dân phố Minh Trường, phường Nam Sầm Sơn cho biết: “Từ khi được thành lập đầu tháng 9/2026 đến nay, “Tổ tự quản BVMT” đã 4 lần tổ chức cho hội viên và bà con Nhân dân trong phố ra quân làm vệ sinh các tuyến đường trong khu dân cư theo phương châm “đường sạch, ngõ đẹp”; đồng thời cử các hội viên “đi từng ngõ, gõ từng nhà” tuyên truyền, vận động người dân thực hiện tốt các quy định BVMT. Nhờ sự đồng lòng của bà con Nhân dân, các hoạt động của Tổ tự quản BVMT của phố bước đầu đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Không chỉ cảnh quan, môi trường khu dân cư ngày càng sạch đẹp hơn, mà ý thức trách nhiệm của mỗi người dân trong BVMT cũng được nâng lên rõ rệt”.

    Bà Nguyễn Thị Nhuần, Chi hội trưởng Chi hội nông dân phố Kiều Đại, phường Hạc Thành cho biết: “Tổ tự quản BVMT do chi hội quản lý được thành lập từ tháng 10/2025. Cùng với việc đảm nhận tự quản về vệ sinh môi trường trên 2 tuyến đường Lê Thần Tông và Trịnh Khả thuộc khu phố, thời gian qua Tổ tự quản BVMT của chi hội đã phát động và triển khai nhiều hoạt động thiết thực thu hút sự tham gia, hưởng ứng của đông đảo người dân, như: Không xả rác bừa bãi, phân loại rác tại nguồn, tổ chức tổng vệ sinh định kỳ và trồng, chăm sóc cây xanh, đường hoa tại các tuyến đường, khu dân cư”.

    Thực tế cho thấy, việc triển khai mô hình “Tổ tự quản BVMT” không chỉ giúp giải quyết hiệu quả bài toán rác thải sinh hoạt tại cơ sở mà còn phát huy tối đa vai trò chủ thể của Nhân dân trong việc bảo vệ không gian sống. Khi mỗi người dân đều ý thức được trách nhiệm và mỗi khu dân cư trở thành một điểm sáng về vệ sinh môi trường đó sẽ là nền tảng cho mục tiêu phát triển bền vững.

    Bài và ảnh: Phong Sắc

    Nguồn https://baomoi.com/huy-dong-suc-manh-cong-dong-trong-bao-ve-moi-truong-c56213507.epi

  • Người dân băn khoăn, chính quyền lắng nghe, ‘gỡ khó’

    Người dân quan tâm từng thửa đất

    Trao đổi với phóng viên, Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư – hạ tầng xã Tiến Thắng Nguyễn Khắc Hài cho biết, địa phương vừa triển khai hàng loạt hội nghị nhằm trao đổi thông tin với người dân liên quan đến dự án Khu công nghiệp Tiến Thắng. Theo ông Nguyễn Khắc Hài, đa phần người dân tại các thôn Bạch Trữ, Phú Mỹ, Văn Lôi, Cư An, Phú Hữu (khu vực ảnh hưởng trực tiếp) đều đồng thuận với chủ trương triển khai dự án có ý nghĩa vô cùng to lớn này.

    Sơ đồ tổ chức không gian cảnh quan quy hoạch phân khu Khu công nghiệp Tiến Thắng. Ảnh: Ban Quản lý dự án đầu tư – hạ tầng xã Tiến Thắng

    Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư – hạ tầng xã Tiến Thắng cũng thừa nhận, vẫn còn một số ý kiến băn khoăn, tâm tư của người dân.

    Theo tìm hiểu của phóng viên, trong quá trình triển khai các thủ tục giải phóng mặt bằng (GPMB) dự án Khu công nghiệp Tiến Thắng, tại các hội nghị có sự góp mặt của lãnh đạo UBND xã Tiến Thắng, người dân đã trực tiếp nêu ý kiến, đề nghị làm rõ về nguồn gốc và diện tích thực tế thu hồi, nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất bị thu hồi.

    Lãnh đạo xã Tiến Thắng trao đổi với người dân liên quan đến công tác GPMB cho dự án Khu công nghiệp Tiến Thắng – giai đoạn 1. Ảnh: Mạnh Thắng

    Bên cạnh vấn đề đất đai; vấn đề tài sản và công trình đã đầu tư trên đất cũng được người dân quan tâm sâu sắc. Thực tế, trong khu vực GPMB dự án Khu công nghiệp Tiến Thắng, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đã và đang tồn tại không ít công trình có dấu hiệu sử dụng đất sai mục đích nhằm xây dựng trang trại phục vụ chăn nuôi, sinh hoạt. Những chủ sở hữu công trình loại này đề nghị làm rõ các khoản đầu tư, chi phí di dời có được xem xét trong phương án bồi thường, hỗ trợ hay không.

    Một nhóm vấn đề khác cũng được người dân quan tâm là môi trường và trách nhiệm của chủ đầu tư. Một vài ý kiến đề nghị chính quyền và các đơn vị liên quan quan tâm đến quá trình tham vấn cộng đồng về đánh giá tác động môi trường, giải pháp xử lý chất thải, nước thải của dự án.

    Người dân nêu ý kiến liên quan đến chính sách bồi thường, GPMB phục vụ dự án Khu công nghiệp Tiến Thắng – giai đoạn 1. Ảnh: Mạnh Thắng

    Quan tâm, lắng nghe ý kiến người dân

    Theo kế hoạch, dự án dự kiến khởi công ngày 10-10-2026, nhân dịp kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô. Vì vậy, công tác chuẩn bị mặt bằng đang được xã Tiến Thắng tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ.

    Trao đổi về những vấn đề người dân quan tâm, Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư – hạ tầng xã Tiến Thắng Nguyễn Khắc Hài cho biết, quá trình GPMB sẽ phải rà soát cụ thể từng trường hợp, nhất là diện tích, nguồn gốc đất, tài sản và công trình trên đất. Những nội dung thuộc thẩm quyền được tập trung giải thích, làm rõ; những vấn đề cần cơ quan chuyên môn hoặc cấp có thẩm quyền xem xét được tổng hợp để xử lý theo quy định.

    Đối với các công trình, tài sản liên quan đến việc sử dụng đất không đúng mục đích hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất chưa đúng quy định, việc kiểm tra, xác định hiện trạng và căn cứ pháp lý là cơ sở để xem xét phương án xử lý.

    Theo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng – hạ tầng xã Tiến Thắng, đa số người dân bày tỏ sự đồng thuận đối với chủ trương triển khai dự án Khu công nghiệp Tiến Thắng – giai đoạn 1. Ảnh: Mạnh Thắng

    Chủ tịch UBND xã Tiến Thắng Nguyễn Minh Hải nhấn mạnh, Khu công nghiệp Tiến Thắng có ý nghĩa quan trọng đối với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Xã tiếp tục tuyên truyền, công khai chính sách, lắng nghe và tiếp nhận các kiến nghị của người dân; đồng thời đề nghị các hộ phối hợp trong quá trình kiểm kê, xác định nguồn gốc đất, tài sản trên đất và thực hiện các bước GPMB.

    “Những vấn đề thuộc thẩm quyền được xã tập trung giải quyết; những nội dung cần cơ quan chức năng xem xét được tổng hợp, chuyển đến cơ quan có thẩm quyền. Mục tiêu là bảo đảm quá trình GPMB được thực hiện công khai, minh bạch, đúng quy định, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết để Khu công nghiệp Tiến Thắng triển khai theo kế hoạch”, đồng chí Nguyễn Minh Hải cho hay.

    Khu công nghiệp Tiến Thắng – giai đoạn 1 do Công ty TNHH Đầu tư Khu công nghiệp Tiến Thắng thực hiện, có quy mô sử dụng đất 230,03ha, tổng vốn đầu tư 4.455,624 tỷ đồng. Dự án được xác định là khu công nghiệp công nghệ cao, đáp ứng các tiêu chí sinh thái. Theo quy hoạch, toàn Khu công nghiệp Tiến Thắng có quy mô sử dụng đất khoảng 449,12ha, trong khu vực nghiên cứu quy hoạch khoảng 482,06ha. Khu công nghiệp được định hướng phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, xanh, sinh thái, thông minh, phát thải thấp; dự kiến tạo việc làm cho khoảng 40.000-54.000 lao động.

    Vũ Cường

    Nguồn https://baomoi.com/nguoi-dan-ban-khoan-chinh-quyen-lang-nghe-go-kho-c56213514.epi

  • Quảng Trị giao 5 Phó Chủ tịch tỉnh trực tiếp phụ trách các dự án chậm tiến độ

    Thi công kéo dài ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân và mỹ quan đô thị. (Ảnh: Tường Vi/TTXVN)

    Tỉnh Quảng Trị đang tập trung mọi nguồn lực để thực hiện giải ngân vốn đầu tư công kéo dài từ năm 2025 sang năm 2026. Đáng chú ý, cả 5 Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh vừa được phân công trực tiếp phụ trách, tháo gỡ điểm nghẽn, vướng mắc tại những dự án nhiều khó khăn nhất.

    Năm Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh trực tiếp nắm từng nhóm dự án, làm việc với chủ đầu tư và địa phương để kiểm tra tiến độ, xác định rõ khâu đang ách tắc và xử lý ngay những vấn đề thuộc thẩm quyền. Các vấn đề vượt thẩm quyền phải được tổng hợp, báo cáo để kịp thời đề xuất hướng giải quyết.

    Cùng với đó, tỉnh yêu cầu hoàn thành việc kiểm tra, rà soát và xử lý các vấn đề thuộc thẩm quyền trước ngày 8/10, phấn đấu giải ngân 100% nguồn vốn được phép kéo dài từ năm 2025 sang năm 2026 trước ngày 31/12.

    Áp lực giải ngân hiện rất lớn khi đến ngày 1/10, Quảng Trị mới giải ngân hơn 769 tỷ đồng trong tổng số 2.708 tỷ đồng vốn ngân sách Trung ương năm 2025 được phép kéo dài sang năm 2026, đạt gần 30%; còn hơn 1.900 tỷ đồng phải giải ngân trong thời gian chưa đầy ba tháng.

    Do thời hạn thực hiện và giải ngân nguồn vốn này đến hết năm 2026, tỉnh yêu cầu các chủ đầu tư rà soát, cập nhật tiến độ, xác định cụ thể phần việc còn tồn đọng và báo cáo ngay những khó khăn, vướng mắc để các Phó Chủ tịch trực tiếp phụ trách chỉ đạo xử lý.

    Những nội dung khó khăn được tập trung tháo gỡ gồm giải phóng mặt bằng, đất đai, vật liệu, thủ tục đầu tư, lựa chọn nhà thầu, tiến độ thi công, nghiệm thu và thanh toán. Tiến độ từng dự án được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với khâu đang gây ách tắc, thay vì chỉ theo dõi tỷ lệ giải ngân chung.

    Ngay sau khi có chỉ đạo, lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh đã trực tiếp làm việc với một số nhóm dự án được giao theo dõi để nắm tiến độ và tháo gỡ vướng mắc; trong đó, có các dự án thuộc Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật, dự án đường ven biển kết nối hành lang kinh tế Đông Tây và dự án hạ tầng kết nối giao thông từ Trung tâm huyện Quảng Trạch đến Quốc lộ 12A.

    Cùng với việc lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh trực tiếp nắm dự án, trách nhiệm của chủ đầu tư được siết chặt. Tỉnh yêu cầu người đứng đầu đơn vị chủ đầu tư chịu trách nhiệm trước Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh về kết quả thực hiện và giải ngân; trường hợp không giải ngân hết dẫn đến mất hoặc hủy vốn thì phải chịu trách nhiệm. Đối với những dự án chậm trễ thuộc thẩm quyền của sở, ngành, địa phương, trách nhiệm cũng được đặt vào người đứng đầu cơ quan, đơn vị đó.

    Trước đó, ngày 30/9, Ủy ban Nhân dân tỉnh yêu cầu rà soát, báo cáo tỷ lệ giải ngân đến hết tháng 9 để phục vụ đánh giá cán bộ quý III/2026 và giao chỉ tiêu giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm. Việc tiếp tục phân công 5 Phó Chủ tịch trực tiếp phụ trách các nhóm dự án gặp nhiều khó khăn đang tăng cường trách nhiệm chỉ đạo đối với phần vốn và phần việc còn chậm.

    Bên cạnh đó, Sở Tài chính tỉnh Quảng Trị được giao làm đầu mối theo dõi, tổng hợp tiến độ; Kho bạc Nhà nước khu vực XII được tỉnh yêu cầu rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ thanh toán và báo cáo chi tiết tình hình giải ngân hằng tuần. Các chủ đầu tư phải thực hiện đầy đủ chỉ đạo của Phó Chủ tịch trực tiếp phụ trách, kịp thời xử lý những vướng mắc phát sinh để đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu giải ngân 100% vào cuối năm nay./.

    (TTXVN/Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/quang-tri-giao-5-pho-chu-tich-tinh-truc-tiep-phu-trach-cac-du-an-cham-tien-do-c56213462.epi

  • Đề xuất quy định về thu giữ và lưu trữ carbon gắn với hoạt động dầu khí

    Bộ Công Thương đề xuất quy định về hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon gắn với hoạt động dầu khí

    Bộ Công Thương cho biết, hoạt động CCS gắn với hoạt động dầu khí là nội dung mới so với Nghị định số 45/2023/NĐ-CP. Các quy định về CCS trong Nghị định chỉ áp dụng đối với hoạt động CCS gắn với hoạt động dầu khí thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Dầu khí; các nội dung về bảo vệ môi trường, tín chỉ carbon, đo đạc, báo cáo, thẩm định, xác nhận giảm phát thải và các vấn đề chuyên ngành khác thực hiện theo pháp luật chuyên ngành có liên quan. Dự thảo Nghị định đề xuất bổ sung việc đánh giá và lựa chọn thành tạo địa chất lưu trữ CO₂; triển khai hoạt động CCS trong khuôn khổ hợp đồng dầu khí; yêu cầu kỹ thuật và an toàn trong vận hành công trình CCS; thu dọn công trình CCS; chi phí dự án CCS được phép thu hồi; doanh thu từ tín chỉ carbon và cơ chế hạch toán. Cụ thể:

    Đánh giá tiềm năng lưu trữ CO₂

    Dự thảo nêu rõ, báo cáo đánh giá tiềm năng lưu trữ CO₂ bao gồm các nội dung chính sau:

    a) Tổng quan địa chất khu vực, bao gồm lịch sử kiến tạo, cấu trúc địa chất, hệ thống đứt gãy;

    b) Đặc điểm địa chất, địa vật lý của thành tạo địa chất dự kiến lưu trữ CO₂;

    c) Kết quả mô phỏng thủy động lực vỉa chứa ba chiều, bao gồm dự báo trạng thái của CO₂ sau bơm ép trong ngắn hạn và dài hạn;

    d) Tính toán tiềm năng lưu trữ hiệu dụng theo các kịch bản khác nhau;

    đ) Đánh giá rủi ro rò rỉ, bao gồm phân tích tiềm ẩn, xác suất và hậu quả rò rỉ, đề xuất biện pháp giảm thiểu;

    e) Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động bơm ép đến vùng ảnh hưởng áp suất, bao gồm tác động đến các vỉa chứa dầu khí lân cận và hoạt động dầu khí hiện hữu;

    g) Đánh giá các rủi ro đối với con người, môi trường và tài nguyên có liên quan theo quy định của pháp luật;

    h) Tình trạng các giếng khoan hiện hữu xuyên qua thành tạo lưu trữ và phương án xử lý để đảm bảo tính toàn vẹn;

    i) Kết luận và kiến nghị về tính phù hợp của thành tạo địa chất cho mục đích lưu trữ CO₂.

    Báo cáo đánh giá tiềm năng lưu trữ CO₂ là một thành phần của hồ sơ đề xuất triển khai hoạt động CCS và được sử dụng làm cơ sở lập kế hoạch đại cương triển khai hoạt động CCS hoặc kế hoạch triển khai hoạt động CCS theo quy định tại Điều 50 Luật Dầu khí.

    Kết quả điều tra cơ bản về dầu khí, nghiên cứu chung và các nghiên cứu, đánh giá thành tạo địa chất lưu trữ CO₂ đã được cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận và đáp ứng yêu cầu về nội dung, chất lượng và mức độ tin cậy của tài liệu được kế thừa, sử dụng làm cơ sở lập báo cáo đánh giá thành tạo địa chất lưu trữ CO₂ và các kế hoạch triển khai hoạt động CCS theo quy định tại Nghị định này.

    Triển khai hoạt động CCS trong khuôn khổ hợp đồng dầu khí

    Theo dự thảo, nhà thầu đề xuất bổ sung hoạt động CCS vào hợp đồng dầu khí trên cơ sở báo cáo đánh giá tiềm năng lưu trữ CO₂ và kế hoạch triển khai hoạt động CCS theo quy định tại Điều 50 Luật Dầu khí.

    Nhà thầu được tiếp nhận CO₂ phát sinh từ hoạt động dầu khí và từ các hoạt động phát thải khác để thực hiện xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ CO₂ trong khuôn khổ hợp đồng dầu khí. Việc thu giữ CO₂ tại cơ sở phát thải ngoài hoạt động dầu khí được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.

    Việc lập, thẩm định, phê duyệt điều chỉnh nội dung hợp đồng dầu khí và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư điều chỉnh để bổ sung hoạt động CCS vào hợp đồng dầu khí được thực hiện theo quy định tại Điều 18 Luật Dầu khí và Điều 26 Nghị định này.

    Trường hợp thành tạo địa chất lưu trữ CO₂ hoặc vùng ảnh hưởng áp suất vượt ra ngoài diện tích hợp đồng dầu khí hiện hữu sang lô mở liền kề, việc đề xuất, thẩm định, chấp thuận mở rộng diện tích hợp đồng để phục vụ mục đích lưu trữ CO₂ được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 21 Luật Dầu khí và Điều 35 Nghị định này.

    Kế hoạch đại cương triển khai hoạt động CCS và kế hoạch triển khai hoạt động CCS có thể được lập trong kế hoạch đại cương phát triển mỏ dầu khí, kế hoạch phát triển mỏ dầu khí hoặc các kế hoạch điều chỉnh tương ứng hoặc được lập riêng; việc lập, thẩm định, phê duyệt thực hiện theo quy định tương ứng đối với kế hoạch đại cương phát triển mỏ dầu khí và kế hoạch phát triển mỏ dầu khí.

    Kế hoạch thu dọn công trình CCS được lập trong kế hoạch thu dọn công trình dầu khí, kế hoạch điều chỉnh tương ứng hoặc được lập riêng và thực hiện theo quy định về thu dọn công trình dầu khí.

    Việc lập, thẩm định, phê duyệt điều chỉnh kế hoạch phát triển mỏ dầu khí để bổ sung hoạt động CCS được thực hiện theo quy định tại Điều 37 Luật Dầu khí và Điều 54 Nghị định này.

    Thu dọn công trình CCS, giám sát và chuyển giao trách nhiệm quản lý cơ sở lưu trữ CO₂

    Khi kết thúc hoạt động CCS, nhà thầu phải thực hiện thu dọn công trình CCS theo quy định của Nghị định này. Trường hợp hoạt động CCS được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận tiếp tục thực hiện sau khi chấm dứt hoạt động khai thác dầu khí theo hợp đồng dầu khí thì thực hiện theo quy định tại Điều 75 Nghị định này.

    Việc lập, thẩm định, phê duyệt điều chỉnh kế hoạch thu dọn công trình dầu khí để bổ sung nội dung thu dọn công trình CCS được thực hiện theo quy định tại Điều 39 Luật Dầu khí và Điều 55 Nghị định này, như sau:

    Hủy giếng bơm ép theo quy trình kỹ thuật đảm bảo tính toàn vẹn lâu dài, tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn được thừa nhận và áp dụng rộng rãi tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, việc duy trì hoặc hủy giếng quan trắc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định căn cứ vào yêu cầu giám sát sau khi kết thúc dự án.

    Thu dọn công trình CCS trên bề mặt và dưới đáy biển theo quy định tại Điều 39 Luật Dầu khí.

    Lập báo cáo tổng kết thu dọn công trình CCS, bao gồm tình trạng các giếng sau khi hủy, dữ liệu giám sát cuối cùng, đánh giá tính toàn vẹn của cơ sở lưu trữ, trình Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam phê duyệt.

    Nhà thầu có trách nhiệm thực hiện giám sát, quan trắc, bảo đảm an toàn cơ sở lưu trữ CO₂ và khắc phục sự cố rò rỉ, ô nhiễm môi trường (nếu có) với chi phí của nhà thầu trong thời hạn tối thiểu 20 năm sau khi kết thúc hoạt động bơm ép, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu thời hạn dài hơn theo quy định của pháp luật. Nội dung giám sát, quan trắc sau khi thu dọn công trình CCS gồm:

    – Theo dõi tính toàn vẹn của giếng và công trình liên quan đến cơ sở lưu trữ;

    – Theo dõi sự ổn định và sự di chuyển của CO₂ trong thành tạo địa chất lưu trữ;

    – Theo dõi dấu hiệu rò rỉ CO₂ và các tác động bất thường đến môi trường;

    – Các nội dung khác theo kế hoạch giám sát, quan trắc được phê duyệt;

    – Lập báo cáo giám sát định kỳ hằng năm gửi Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam.

    Sau khi hoàn thành thời hạn giám sát theo quy định trên, nhà thầu được đề xuất chuyển giao trách nhiệm quản lý cơ sở lưu trữ CO₂ cho Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam khi đáp ứng đồng thời các điều kiện sau: Không phát hiện rò rỉ CO₂ hoặc di chuyển bất thường của CO₂ trong suốt thời gian giám sát; kết quả giám sát xác nhận CO₂ lưu trữ ở trạng thái ổn định và hành vi phù hợp với mô hình dự báo; tất cả giếng đã được hủy theo quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng và đảm bảo tính toàn vẹn lâu dài; nhà thầu đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ tài chính liên quan đến hoạt động CCS.

    Chi phí dự án CCS trong hoạt động dầu khí được phép thu hồi

    Các chi phí thực hiện dự án CCS thuộc chi phí hoạt động dầu khí được phép thu hồi theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật Dầu khí gồm:

    a) Chi phí đánh giá tiềm năng lưu trữ CO₂;

    b) Chi phí lập kế hoạch đại cương triển khai hoạt động CCS, kế hoạch triển khai hoạt động CCS hoặc kế hoạch đại cương phát triển mỏ dầu khí và kế hoạch phát triển mỏ dầu khí bao gồm hoạt động CCS;

    c) Chi phí thiết kế, mua sắm, chế tạo, xây dựng, lắp đặt hệ thống công trình CCS;

    d) Chi phí khoan, hoàn thiện giếng bơm ép và giếng quan trắc;

    đ) Chi phí vận hành hệ thống thu giữ, xử lý, vận chuyển và bơm ép CO₂;

    e) Chi phí giám sát, đo đạc và kiểm chứng trong quá trình vận hành;

    g) Chi phí bảo hiểm liên quan đến hoạt động CCS;

    h) Chi phí thu dọn công trình CCS và giám sát sau khi kết thúc bơm ép CO₂ trong thời hạn quy định;

    i) Các chi phí hợp lý, hợp lệ khác liên quan trực tiếp đến hoạt động CCS theo quy định của hợp đồng dầu khí.

    Các chi phí quy định trên được thu hồi theo mức thu hồi chi phí của hợp đồng dầu khí hiện hữu quy định tại Điều 23 Luật Dầu khí, cùng với các chi phí hoạt động dầu khí khác.

    Nhà thầu có trách nhiệm hạch toán riêng các chi phí liên quan đến hoạt động CCS để phục vụ công tác kiểm toán, quyết toán chi phí.

    Doanh thu từ tín chỉ carbon và cơ chế hạch toán

    Nhà thầu triển khai hoạt động CCS thực hiện quyền sở hữu, trao đổi, mua bán tín chỉ carbon theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

    Doanh thu từ bán tín chỉ carbon được hạch toán theo quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật Dầu khí như sau:

    Doanh thu từ bán tín chỉ carbon được sử dụng để bù đắp chi phí hoạt động CCS, tính trên phần tăng thêm so với mức thu hồi chi phí đã được xác định trong hợp đồng dầu khí.

    Phần doanh thu từ tín chỉ carbon vượt quá tổng chi phí CCS chưa được thu hồi được phân chia giữa nhà thầu và nước chủ nhà theo tỷ lệ chia dầu khí lãi quy định trong hợp đồng dầu khí.

    Việc xác định khối lượng CO₂ lưu trữ để phát hành tín chỉ carbon phải dựa trên kết quả đo đạc, kiểm chứng thực tế, phù hợp với quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn quốc tế về kiểm chứng lượng CO₂ lưu trữ.

    Nhà thầu có trách nhiệm tổ chức quản lý, lưu trữ và cung cấp số liệu, tài liệu về lượng CO₂ được thu giữ, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ phục vụ việc đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác nhận lượng giảm phát thải theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

    Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây./.

    Nguồn https://baomoi.com/de-xuat-quy-dinh-ve-thu-giu-va-luu-tru-carbon-gan-voi-hoat-dong-dau-khi-c56213421.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!