Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Lật lại hồ sơ cũ, xử lý nhiều trường hợp vi phạm về trật tự xây dựng

    “Lật” hồ sơ cũ, xử lý hàng loạt công trình không phép

    Điểm đáng chú ý trong cách xử lý của UBND P.Hòa Hiệp lần này là không lấy thời điểm sáp nhập làm ranh giới để bỏ lại những tồn tại của chính quyền cũ. Qua kiểm tra thực tế, chính quyền P.Hòa Hiệp, Đắk Lắk ghi nhận tại thửa số 280, tờ bản đồ số 32 (thuộc KP.Phú Hòa) có 11 căn nhà không được cấp phép xây dựng. Điều đáng chú ý là kết quả rà soát thời điểm hình thành các công trình cho thấy, 10/11 căn nhà đã được xây dựng trước ngày 01/7/2025, chỉ 01 trường hợp được xác định xây dựng sau thời điểm chính quyền địa phương mới đi vào hoạt động.

    Trong số các vi phạm, UBND P.Hòa Hiệp Trung, Đông Hòa, Phú Yên (cũ) từng phát hiện và xử lý một số trường hợp vào các năm 2022 và 2024. Tuy nhiên, việc khắc phục hậu quả lại chưa được thực hiện đầy đủ. Một số hộ dân thừa nhận, họ lợi dụng thời điểm trước và sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, bộ máy chính quyền đang trong quá trình chuyển tiếp để xây dựng không phép nhằm giải quyết nhu cầu nhà ở. Quá trình này, việc kiểm tra, phát hiện và ngăn chặn cũng chưa kịp thời, do chưa được người dân phản ánh.

    Ông Huỳnh Nguyễn Ngọc Giang – Chủ tịch UBND P.Hòa Hiệp (người đứng) đối thoại với các hộ dân có công trình xây dựng không phép

    Nắm được tình hình đó, lãnh đạo UBND P.Hòa Hiệp đã chỉ đạo các bộ phận chức năng rà soát ngược toàn bộ hồ sơ được lưu trữ tại UBND P.Hòa Hiệp Trung (cũ), xác minh nguồn gốc đất, thời điểm xây dựng và quá trình xử lý đối với từng hộ dân. Từng trang hồ sơ về trật tự đô thị ở giai đoạn cũ được “lật” lại để xác định trường hợp nào đã xử phạt, trường hợp nào còn bỏ sót. Kết quả, có 08 trường hợp vi phạm về trật tự xây dựng (TTXD) chưa được xử lý vi phạm hành chính.

    Đến ngày 02/10, UBND P.Hòa Hiệp đã ban hành 08 quyết định xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời áp dụng biện pháp buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm. Đối với hai trường hợp đã bị P.Hòa Hiệp Trung (cũ) xử phạt nhưng chưa thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, UBND P.Hòa Hiệp tiếp tục yêu cầu thực hiện trước ngày 07/10/2026, nếu không chấp hành sẽ tiến hành thủ tục cưỡng chế. Như vậy, những vi phạm tồn tại qua nhiều năm, nay đã được chính quyền mới đưa ra xử lý đồng loạt, thay vì tiếp tục để kéo dài.

    Không để vi phạm thành “sự đã rồi”

    Việc xử lý không chỉ dừng lại ở các hộ dân có công trình vi phạm. Theo ông Huỳnh Nguyễn Ngọc Giang – Chủ tịch UBND P.Hòa Hiệp, quan điểm của Đảng ủy, UBND phường Hòa Hiệp là phải đồng thời kiểm tra, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác quản lý nhà nước để xảy ra tình trạng vi phạm kéo dài, kể cả đối với những tổ chức, cá nhân thuộc bộ máy chính quyền trong giai đoạn trước thời điểm sáp nhập. “Trường hợp thuộc thẩm quyền của phường, chúng tôi sẽ kiểm tra, xem xét và xử lý theo quy định; trường hợp vượt thẩm quyền sẽ tổng hợp, tham mưu cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý” – ông Giang nói.

    Chính quyền địa phương đặt biển thông báo khu vực đất cấm xây dựng, giao dịch và chuyển nhượng trái phép

    Theo ghi nhận, từ cuối năm 2025 đến nay, UBND P.Hòa Hiệp đã thực hiện xử dứt điểm các trường hợp vi phạm về TTXD, thực hiện tháo dỡ và trả lại hiện trạng đất ban đầu như trường hợp xây nhà trong phạm vi đất dành cho đường bộ vị trí cầu Bi (thuộc Khu phố Phú Hiệp 2) của bà Trần Thị Phượng, gây bức xúc cho bà con Nhân dân sinh sống tại khu vực lân cận. Hay như trường hợp vi phạm của bà Trần Thị Rung và bà Trần Thị Liễu, có hành vi xây dựng công trình trái phép trên đất trồng cây hàng năm khác, đất thuộc Nhà nước quản lý và đất thuộc hành lang giao thông đường bộ tại Quốc Lộ 29, đoạn thuộc KP.Phước Lâm, P.Hòa Hiệp, kéo dài từ năm 2020 đến nay. Cách làm này cho thấy, mục tiêu không chỉ là xử phạt 11 căn nhà đang tồn tại, mà còn ngăn tình trạng một căn nhà trái phép mọc lên rồi kéo theo những căn nhà khác, đặt chính quyền trước áp lực phải giải quyết “sự đã rồi”.

    Nhưng lập lại kỷ cương trật tự xây dựng cũng phải tính đến sinh kế, chỗ ở của những gia đình thực sự khó khăn. Đó luôn là một bài toán vô cùng nan giải! Qua làm việc, nhiều hộ dân biết là sai, nhưng vì điều kiện kinh tế khó khăn, không đủ khả năng mua đất ở có pháp lý đầy đủ nên tìm những thửa đất giá thấp, vay mượn tiền để dựng nhà cấp 4. Khi chính quyền phát hiện và xử lý, các hộ cho biết họ chấp nhận việc bị xử phạt nhưng mong được xem xét hoàn cảnh thực tế.

    Hầu hết các hộ dân có công trình vi phạm trật tự xây dựng trên thực tế không còn nơi ở nào khác

    Thực tế, hồ sơ địa chính và quy hoạch tại khu vực này cũng có những thay đổi qua các thời kỳ. Bản đồ năm 1995 thể hiện đây là đất trồng rừng. Tuy nhiên, đến bản đồ đo đạc năm 2010, khu đất được ghi nhận là đất trồng cây hàng năm khác. Kết quả làm việc với Hạt Kiểm lâm khu vực Tây Hòa xác định, từ hồ sơ theo dõi diễn biến rừng từ năm 2007 đến nay, vị trí này hiện không có rừng. Khu đất cũng đã được đưa ra khỏi quy hoạch ba loại rừng từ năm 2017 và trong các quy hoạch hiện hành có các chức năng đất ở, giao thông, cây xanh.

    Nhưng quy hoạch có đất ở không đồng nghĩa rằng người dân đương nhiên được quyền tự chuyển mục đích sử dụng đất hoặc xây dựng nhà khi chưa được cấp phép. Đây cũng là yếu tố đòi hỏi chính quyền phải đồng thời thực hiện cả hai yêu cầu: không thể vì hoàn cảnh khó khăn mà bỏ qua vi phạm, nhưng việc tổ chức khắc phục hậu quả cũng cần gắn với vận động, giải thích và xem xét những vấn đề an sinh chính đáng của người dân trong khuôn khổ pháp luật.

    Song song với việc xử lý các trường hợp vi phạm, ngày 01/10/2026, UBND P.Hòa Hiệp Trung đã ban hành thông báo cấm xây dựng công trình, nhà ở trái phép, không phép và cấm thực hiện các giao dịch mua bán bằng giấy viết tay, chuyển nhượng không đúng quy định tại khu vực này; đồng thời cắm 3 biển thông báo tại khu vực vi phạm, đề nghị ngành điện rà soát việc cấp điện cho các hộ liên quan và tuyên truyền rộng rãi trên hệ thống truyền thanh, trang thông tin điện tử của địa phương. UBND P.Hòa Hiệp cũng ra thông báo yêu cầu trưởng các khu phố thường xuyên nắm địa bàn, kịp thời báo cáo khi phát hiện xây dựng trái phép, lấn chiếm đất hoặc giao dịch chuyển nhượng không đúng quy định. Chính quyền công khai cả đầu mối để người dân cung cấp thông tin khi phát hiện vi phạm. Đồng thời, khuyến cáo người dân không tin những lời giới thiệu thiếu căn cứ về việc đất sẽ được chuyển thành đất ở, được phép xây dựng nhà ở hoặc sớm được hợp thức hóa; cần kiểm tra kỹ nguồn gốc, tình trạng pháp lý và quy hoạch trước khi nhận chuyển nhượng, nhất là đối với các giao dịch bằng giấy viết tay.

    Đạt lý nhưng cũng phải thấu tình

    Hầu hết các trường hợp vi phạm nêu trên đều có nguồn gốc là ngư dân từ làng Lò (làng du lịch đang nổi tiếng tại P.Hòa Hiệp) “trôi dạt” về đây. Khi làn sóng đầu tư bất động sản du lịch đổ về, giá đất lên cao, bà con bán hết đất đai. Trong bối cảnh quỹ đất thổ cư đủ điều kiện để xây dựng nhà ở trên địa phương có hạn, họ đã đổ về đây mua đất giấy tay, “nhắm mắt” xây dựng nhà không phép. Đến khi bị chính quyền xử lý thì trên thực tế họ không còn nơi cư trú nào khác. Trả lời chúng tôi về nguyên nhân dẫn đến vi phạm, ông Trà Trọng Hưởng (SN 1986, một chủ công trình vi phạm), thổ lộ rằng hiện ông đang nuôi 2 đứa con học đại học. Trước gánh nặng cơm – áo – gạo – tiền và tương lai của con mình, ông đành phải bấm bụng bán mảnh đất ven biển tại làng Lò (P.Hòa Hiệp) cho nhà đầu tư ở Hà Nội. Nghĩ rằng đất ở đây được quy hoạch lên thổ cư, ông “nhắm mắt” mua đất giấy tay, lợi dụng thời điểm dịch Covid-19 bùng phát vào năm 2020, ông Hưởng lén xây nhà không phép. Tương tự, bà Trần Thị Kim Ca (SN 1986) trần tình: “Mình biết là sai đấy! Nhưng giờ nếu phải đập nhà thì cả gia đình tôi không biết phải dời đi đâu nữa, khi chúng tôi không còn mảnh đất cắm dùi nào khác?”.

    Theo ông Huỳnh Nguyễn Ngọc Giang – Chủ tịch UBND P.Hòa Hiệp, chính quyền đã vào cuộc quyết liệt để giữ nghiêm kỷ cương về TTXD, nhưng cũng cần phải tính đến yếu tố nhân văn trong xử lý vi phạm, bởi các hộ dân có công trình vi phạm hiện nay trên thực tế đều không còn nơi ở nào khác. “Chúng ta cứng rắn với vi phạm nhưng không bỏ mặc người dân, đạt lý nhưng cũng phải thấu tình. Do đó, UBND P.Hòa Hiệp sẽ báo cáo xin ý kiến lãnh đạo UBND tỉnh Đắk Lắk về vấn đề này, để có phương hướng xử lý toàn diện nhất” – ông Huỳnh Nguyễn Ngọc Giang chia sẻ.

    KỲ MINH

    Nguồn https://baomoi.com/lat-lai-ho-so-cu-xu-ly-nhieu-truong-hop-vi-pham-ve-trat-tu-xay-dung-c56256042.epi

  • Cảng hàng không Quảng Trị chuẩn bị chuyến bay kiểm tra an toàn tĩnh không

    Dự án Cảng hàng không Quảng Trị được xây dựng theo phương thức đối tác công tư (PPP), do liên danh Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển hạ tầng giao thông T&T (thành viên T&T Group) và Công ty Cổ phần Tập đoàn CIENCO4 làm chủ đầu tư. 

    Đặt mục tiêu vận hành thương mại vào tháng 3/2027

    Theo Ban Quản lý dự án Cảng hàng không Quảng Trị, ngày 15/10, lãnh đạo tỉnh Quảng Trị cùng đại diện các sở, ban, ngành và chủ đầu tư sẽ kiểm tra, đánh giá các hạng mục khu bay đã hoàn thành. Đồng thời, chủ đầu tư phối hợp với Công ty TNHH một thành viên Trắc địa Bản đồ (SAMCOM) tổ chức chuyến bay kiểm tra tĩnh không và chướng ngại vật tại hai đầu đường cất, hạ cánh. Chuyến bay dự kiến kéo dài khoảng 60 – 90 phút.

    Công nhân thi công mài, cắt tạo rãnh kháng trượt để hoàn thiện đường cất hạ cánh. Ảnh: Anh Chiến

    Theo Công ty CHK Quảng Trị, tổng khối lượng thi công dự án đến nay đạt trên 80%. Trong đó, đường cất hạ cánh, sân đỗ, các hạng mục phụ trợ, sơn kẻ tín hiệu, dải bảo hiểm dọc đường băng và đường lăn đã hoàn thành thi công. Khu vực nhà ga hành khách và đài kiểm soát không lưu đang tiếp tục được hoàn thiện, với khối lượng đạt trên 90%.

    Thời gian tới, các đơn vị thi công sẽ tiếp tục tập trung nguồn lực để hoàn thiện, bàn giao mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm điều kiện lắp đặt các hệ thống thiết bị quản lý, điều hành bay và thiết bị ngoại trường. Sau chuyến bay kiểm tra an toàn tĩnh không, chủ đầu tư sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức các chuyến bay đánh giá phương thức bay và hiệu chuẩn thiết bị.

    Cùng với đó, Càng hàng không (CHK) Quảng Trị đang trao đổi với TCT Cảng hàng không Việt Nam (ACV) về phương án quản lý, vận hành và khai thác sân bay trong giai đoạn 2027-2032; phối hợp với Cục Hàng không Việt Nam và các đơn vị liên quan để hoàn thiện phương thức bay, hệ thống tài liệu, quy trình khai thác và hồ sơ cấp phép theo quy định. Mục tiêu đặt ra là đưa CHK Quảng Trị vào vận hành, khai thác thương mại trong tháng 3/2027, trước dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn (7/4/1907–7/4/2027), đồng thời đón đầu cơ hội từ Năm Du lịch quốc gia 2027 do tỉnh Quảng Trị đăng cai.

    Hạ tầng chiến lược trên vùng đất giàu giá trị lịch sử

    Quảng Trị là vùng đất mang trong mình chiều sâu văn hóa và lịch sử đặc biệt của dân tộc. Từ Thành cổ Quảng Trị, đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải đến Địa đạo Vịnh Mốc, mỗi địa danh đều gắn với những năm tháng chiến tranh khốc liệt, sự hy sinh của các thế hệ cha anh và khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước.

    Ngày nay, những địa chỉ lịch sử ấy tiếp tục trở thành sức hút riêng cho du lịch Quảng Trị. Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Đường 9, đảo Cồn Cỏ, Trung tâm Hành hương Đức Mẹ La Vang cùng hệ thống cảnh quan thiên nhiên và di sản trong khu vực tạo nên tiềm năng phát triển đa dạng các loại hình du lịch lịch sử, tâm linh, sinh thái và trải nghiệm. CHK Quảng Trị khi hoàn thành được kỳ vọng trở thành một mắt xích quan trọng, góp phần rút ngắn khoảng cách địa lý và mở rộng khả năng tiếp cận vùng đất giàu truyền thống này.

    Hạng mục Đài kiểm soát không lưu đã đạt trên 90% khối lượng thi công. Ảnh: Anh Chiến

    Không chỉ có ý nghĩa đối với du lịch, sân bay còn gắn với vị trí địa kinh tế chiến lược của Quảng Trị. Nằm trên trục giao thông Bắc – Nam và hành lang kinh tế Đông – Tây (EWEC), địa phương có điều kiện kết nối với Lào, Thái Lan, Myanmar và các thị trường trong khu vực thông qua hệ thống cửa khẩu quốc tế. Các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, cảng biển cùng Khu kinh tế Đông Nam tạo nền tảng để phát triển thương mại, công nghiệp và logistics. Sự xuất hiện của một cảng hàng không được kỳ vọng sẽ bổ sung phương thức kết nối quan trọng cho mạng lưới hạ tầng này. Khi đi vào hoạt động, sân bay có thể tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc đi lại của người dân, đón khách du lịch, kết nối các hoạt động kinh doanh và vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, qua đó nâng cao sức hấp dẫn của địa phương đối với các nhà đầu tư.

    Kỳ vọng tăng trưởng hành lang kinh tế Đông – Tây và khu vực miền Trung

    Dự án CHK Quảng Trị được xây dựng trên địa bàn xã Gio Linh và Cửa Việt, với quy mô hơn 316 ha, tổng mức đầu tư trên 5.800 tỷ đồng. Theo thông tin từ T&T Group, quy hoạch sân bay đã được điều chỉnh lên cấp 4E vào tháng 7/2026, cho phép tiếp nhận các dòng máy bay thân rộng, hiện đại như Boeing 777, Boeing 787 và Airbus A350. Công suất thiết kế đáp ứng nhu cầu khai thác khoảng 5 triệu lượt hành khách và 25.500 tấn hàng hóa mỗi năm.

    Công nhân lấy dấu sơn kẻ hoàn thiện đường cất hạ cánh. Ảnh: Anh Chiến

    Theo ông Đỗ Quang Hiển, Nhà sáng lập, Chủ tịch Điều hành T&T Group, Tập đoàn dành nhiều tâm huyết cho Quảng Trị, huy động tối đa nguồn lực để hoàn thành sân bay, đưa dự án trở thành động lực phát triển kinh tế địa phương, tăng cường kết nối với các địa phương trong cả nước.

    Đại diện T&T Group cũng cho biết, tập đoàn đang nghiên cứu đầu tư Tổ hợp công nghiệp hàng không – Trung tâm thương mại tự do – Đô thị khoa học đổi mới sáng tạo và đô thị sân bay Quảng Trị, định hướng phát triển theo mô hình tích hợp, lấy sân bay làm hạt nhân, kết nối công nghiệp hàng không, logistics, thương mại tự do, khoa học công nghệ và đô thị. 

    Mô hình Tổ hợp công nghiệp hàng không – Trung tâm thương mại tự do – Đô thị khoa học đổi mới sáng tạo và đô thị sân bay Quảng Trị đang được nghiên cứu. Ảnh minh hoạ. 

    Cùng với các dự án quy mô lớn khác trong lĩnh vực năng lượng, hạ tầng và bất động sản đang triển khai, T&T Group mong muốn tiếp tục đồng hành cùng Quảng Trị, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng địa phương trở thành một cực tăng trưởng quan trọng trên hành lang kinh tế Đông – Tây và khu vực miền Trung.

    (Nguồn: T&T Group) 

    Nguồn https://baomoi.com/cang-hang-khong-quang-tri-chuan-bi-chuyen-bay-kiem-tra-an-toan-tinh-khong-c56255983.epi

  • TS. Nguyễn Thị Thanh Bình: Cải cách phải được đo bằng tiến độ thực tế của dự án

    Trao đổi với TheLEADER nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam, TS. Nguyễn Thị Thanh Bình, đại biểu Quốc hội khóa XVI, Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên nhìn nhận, trong bối cảnh hiện tại với mục tiêu phát triển cao của đất nước, chính sách cần nhất quán, trách nhiệm thực thi phải rõ ràng để doanh nghiệp chủ động đầu tư và triển khai dự án.

    Đo cải cách bằng kết quả thực thi

    Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và cắt giảm điều kiện kinh doanh. Theo bà, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay? Cần dựa vào những tiêu chí nào để đánh giá hiệu quả cải cách một cách thực chất?

    TS. Nguyễn Thị Thanh Bình: Thứ nhất, về những điểm nghẽn lớn nhất, tôi cho rằng ba khâu nêu trên có quan hệ chặt chẽ với nhau. Quy định thiếu rõ ràng tạo ra nhiều cách hiểu; các quy định chồng chéo khiến cơ quan khó xác định căn cứ xử lý; sự thiếu phối hợp trong thực thi kéo dài thời gian giải quyết. Doanh nghiệp phải chịu chi phí cộng dồn của cả quá trình này.

    TS. Nguyễn Thị Thanh Bình, đại biểu Quốc hội khóa XVI. Ảnh: NVCC

    Từ thực tiễn đầu tư, tôi đặc biệt quan tâm đến khoảng cách giữa một quy định đã được ban hành và một dự án có thể triển khai. Doanh nghiệp có thể đáp ứng yêu cầu của từng cơ quan nhưng vẫn chưa hoàn tất thủ tục vì các yêu cầu chưa thống nhất với nhau. Mỗi tháng chờ đợi làm tăng chi phí vốn và có thể khiến phương án đầu tư mất tính khả thi.

    Vì vậy, tôi đề nghị các cơ quan vừa rà soát tính đồng bộ của pháp luật, vừa làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm quyết định. Nhà nước cần bảo đảm cùng một vấn đề được áp dụng nhất quán, để doanh nghiệp có thể dự báo và chủ động lập kế hoạch.

    Thứ hai, liên quan đến tiêu chí đánh giá hiệu quả cải cách, tôi đề xuất lấy kết quả doanh nghiệp thực sự nhận được làm thước đo: tổng thời gian hoàn tất thủ tục, tổng chi phí tuân thủ và khả năng dự báo tiến độ. Các cơ quan cần theo dõi cả thời gian chờ giữa các khâu, số lần bổ sung hồ sơ và tỷ lệ giải quyết đúng hạn.

    Cơ quan quản lý cũng cần kiểm tra liệu dự án đủ điều kiện đã có thể triển khai hay chưa. Nếu một thủ tục được rút ngắn nhưng dự án vẫn tắc ở bước tiếp theo, doanh nghiệp chưa hưởng lợi trọn vẹn. Tôi mong cải cách giúp doanh nghiệp chuyển nguồn lực từ chờ đợi và xử lý thủ tục sang đầu tư, đổi mới và tạo giá trị cho nền kinh tế.

    Một dự án đầu tư quy mô lớn thường liên quan đến nhiều thủ tục về quy hoạch, đất đai, xây dựng và môi trường. Theo bà, cần thay đổi gì trong cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý, phân định trách nhiệm và thời hạn xử lý hồ sơ để hạn chế tình trạng dự án phải chờ đợi kéo dài?

    TS. Nguyễn Thị Thanh Bình: Về cơ chế phối hợp liên ngành, tôi đề xuất cơ quan có thẩm quyền giao một đầu mối điều phối toàn bộ quá trình xử lý thủ tục của dự án. Các cơ quan cần thống nhất quy trình ngay từ đầu, xác định nội dung có thể làm song song và dùng chung dữ liệu. Doanh nghiệp không thể tự giải quyết sự thiếu thống nhất giữa các cơ quan mà mình không có quyền điều hành.

    TS. Nguyễn Thị Thanh Bình cho rằng, khi nhiều dự án cùng vướng ở một khâu, các cơ quan cần xác định nguyên nhân chung và sửa đúng quy định hoặc cách thực thi đang gây ách tắc. Ảnh: NVCC

    Về phân định trách nhiệm, đầu mối điều phối phải theo dõi tiến độ, tổng hợp yêu cầu bổ sung và đưa bất đồng lên cấp có thẩm quyền giải quyết. Từng cơ quan chuyên môn vẫn chịu trách nhiệm về quyết định thuộc thẩm quyền của mình. Doanh nghiệp cần biết rõ ai xử lý, ai quyết định và ai giải quyết khi hồ sơ bị ách tắc.

    Về thời hạn xử lý, các cơ quan cần cam kết một tiến độ chung, bao gồm cả thời gian lấy ý kiến và xử lý bất đồng. Khi hồ sơ quá hạn, cơ quan phụ trách phải giải trình nguyên nhân và xác định thời điểm hoàn thành. Tôi cho rằng Nhà nước cần đánh giá hiệu quả phối hợp bằng tiến độ toàn bộ dự án; từng cơ quan hoàn thành phần việc của mình vẫn chưa đủ nếu doanh nghiệp tiếp tục phải chờ.

    Với những dự án hạ tầng và năng lượng cần nguồn vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài, Nhà nước cần hoàn thiện những cơ chế nào về phân chia rủi ro, hợp đồng và bảo đảm tính ổn định của chính sách để khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư dài hạn, đồng thời bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực?

    TS. Nguyễn Thị Thanh Bình: Về phân chia rủi ro, tôi đề xuất giao rủi ro cho bên có khả năng kiểm soát tốt nhất. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm về năng lực tài chính, công nghệ, thi công và vận hành. Nhà nước cần làm rõ cơ chế xử lý rủi ro do thay đổi chính sách hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ của cơ quan công quyền. Các bên phải biết trước trách nhiệm và giới hạn chia sẻ rủi ro để tính toán hiệu quả đầu tư.

    Về hợp đồng, các bên cần quy định rõ nghĩa vụ thanh toán, điều kiện điều chỉnh và cách giải quyết tranh chấp để ngân hàng có thể đánh giá dòng tiền và khả năng trả nợ. Trong ngành năng lượng, các đơn vị liên quan phải gắn tiến độ nguồn điện với lưới điện và cơ chế tiêu thụ điện. Nhà đầu tư khó bảo đảm hiệu quả nếu nhà máy hoàn thành nhưng chưa thể giải tỏa công suất.

    Về tính ổn định của chính sách, tôi cho rằng muốn thu hút vốn dài hạn, Nhà nước phải tạo được khả năng dự báo. Khi điều chỉnh chính sách, Nhà nước cần tham vấn, có lộ trình và cơ chế chuyển tiếp phù hợp cho các quyết định đầu tư hợp pháp. Sự rõ ràng này giúp giảm chi phí vốn và thu hút nhà đầu tư có năng lực. Chúng ta cần hướng dòng vốn vào những dự án tạo ra hạ tầng tốt, nâng năng suất và đóng góp bền vững cho nền kinh tế.

    Khơi thông nguồn lực, bảo đảm kỷ cương pháp luật

    Ở góc độ đại biểu Quốc hội, theo bà, làm thế nào để chuyển những vướng mắc của doanh nghiệp thành giải pháp chính sách có tính hệ thống? Với các dự án ách tắc do vướng mắc pháp lý, cần tuân thủ những nguyên tắc nào để khơi thông nguồn lực và bảo đảm kỷ cương pháp luật?

    TS. Nguyễn Thị Thanh Bình: Thứ nhất, tôi xem phản ánh của doanh nghiệp là nguồn thông tin quan trọng để đánh giá chất lượng chính sách. Khi nhiều dự án cùng vướng ở một khâu, các cơ quan cần xác định nguyên nhân chung và sửa đúng quy định hoặc cách thực thi đang gây ách tắc.

    Tôi đề xuất các hiệp hội tổng hợp vướng mắc theo nhóm, phối hợp với chuyên gia và cơ quan quản lý để làm rõ căn cứ pháp lý, giải pháp và thẩm quyền xử lý. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội cần chú trọng giám sát hiệu quả thực thi chính sách, việc khắc phục những bất cập của pháp luật và tác động đối với môi trường đầu tư, kinh doanh. Kết quả giám sát phải góp phần hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy phát triển kinh tế.

    Thứ hai, về nguyên tắc tháo gỡ các dự án ách tắc, tôi cho rằng cơ quan có thẩm quyền phải phân loại nguyên nhân, xác định trách nhiệm từng bên và công khai điều kiện xử lý. Đồng thời, Nhà nước cần áp dụng cơ chế chung cho các trường hợp tương tự, bảo đảm đúng thẩm quyền và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.

    Bên cạnh đó, cơ quan chức năng phải xử lý sai phạm theo pháp luật; việc xem xét cho dự án tiếp tục phải có căn cứ pháp lý và đáp ứng điều kiện khắc phục. Tôi mong mỗi đợt tháo gỡ vừa khơi thông nguồn lực, vừa giúp hoàn thiện thể chế để ngăn vướng mắc tái diễn. Mọi nhà đầu tư cần được tiếp cận giải pháp một cách công bằng.

    Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, nếu lựa chọn những cải cách có tác động trực tiếp nhất đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp trong giai đoạn tới, bà sẽ đề xuất những vấn đề nào? Những thay đổi cụ thể nào sẽ cho thấy cải cách đã thực sự đi vào thực tiễn?

    TS. Nguyễn Thị Thanh Bình: Tôi chọn hai ưu tiên cải cách.

    Thứ nhất, bảo đảm tính nhất quán và khả năng dự báo của chính sách. Thứ hai, làm rõ trách nhiệm của cơ quan thực thi đối với thời hạn và kết quả xử lý.

    Đại biểu quốc hội Nguyễn Thị Thanh Bình. Ảnh: NVCC

    Theo đó, các cơ quan cần tập trung xử lý tình trạng chồng chéo giữa các quy định về đầu tư, quy hoạch, đất đai, xây dựng và môi trường, đi kèm hướng dẫn thống nhất và quy định chuyển tiếp rõ ràng. Đồng thời, cơ quan có thẩm quyền cần giao đầu mối điều phối, công khai tiến độ và xử lý kịp thời hồ sơ quá hạn. Doanh nghiệp cần biết mình được làm gì và khi nào có thể bắt đầu.

    Doanh nghiệp sẽ cảm nhận cải cách khi họ ít phải đi lại, ít bổ sung hồ sơ, giảm chi phí chờ đợi và triển khai dự án đúng kế hoạch. Các cơ quan cần công bố mức cải thiện so với trước cải cách, theo từng nhóm thủ tục và địa phương. Doanh nghiệp cần thấy cam kết rút ngắn thời gian được thực hiện bằng kết quả cụ thể.

    Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam, tôi tin cộng đồng doanh nhân Việt Nam luôn sẵn sàng đồng hành với công cuộc cải cách, đổi mới và phát triển đất nước. Chúng tôi mong muốn có một môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và thuận lợi hơn; đồng thời, chúng tôi xác định trách nhiệm của mình là chủ động nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ và chuẩn bị nguồn lực cho những kế hoạch đầu tư dài hạn.

    Doanh nghiệp cần tham gia xây dựng chính sách bằng những đề xuất thực chất và hiện thực hóa cơ hội từ cải cách bằng các dự án hiệu quả, việc làm có chất lượng và năng suất cao hơn. Tôi tin rằng khi Nhà nước thực hiện nhất quán các cam kết và doanh nghiệp chủ động đổi mới, chúng ta sẽ tạo được động lực tăng trưởng bền vững.

    Chúng tôi sẵn sàng đóng góp nguồn lực và năng lực của mình để cùng hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của đất nước.

    Xin cảm ơn bà!

    Nguyễn Cảnh

    Nguồn https://baomoi.com/ts-nguyen-thi-thanh-binh-cai-cach-phai-duoc-do-bang-tien-do-thuc-te-cua-du-an-c56256053.epi

  • Bản lĩnh cán bộ trước yêu cầu hành động (kỳ 2) – Việc dân không thể chờ: khi sự an toàn cá nhân trở thành lực cản công vụ

    Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, đặt vấn đề sợ sai, đùn đẩy vào đúng mối quan hệ giữa quyền hạn và trách nhiệm. Khắc phục tình trạng này đòi hỏi cả bản lĩnh cán bộ lẫn một môi trường thể chế rõ ràng, nơi người được giao việc có đủ quyền để quyết định, được hỗ trợ khi gặp việc khó và phải chịu trách nhiệm đối với sự trì hoãn thiếu căn cứ.

    Công an xã Thanh Thịnh tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân vùng sâu, vùng xa thực hiện định danh điện tử. Ảnh: Ngọc Ánh

    Giữa thận trọng và né tránh là ranh giới của trách nhiệm

    Ở một bộ phận hành chính, một ngày chậm có thể chỉ là con số trên hệ thống. Với người dân, đó có thể là thêm một ngày nghỉ việc để đi lại, một khoản chi phí phát sinh hoặc một kế hoạch phải lùi lại.

    Với doanh nghiệp, một tháng chậm phê duyệt có thể khiến vốn tiếp tục nằm im, máy móc chưa thể vận hành, lao động chưa được tuyển.

    Với một dự án giao thông, vài tháng trì hoãn có thể làm tăng chi phí và khiến hàng nghìn người tiếp tục đi trên một tuyến đường quá tải, với những bất ổn, rủi ro khôn lường.

    Thời gian trong hoạt động công vụ vì thế không phải đại lượng vô cảm; phía sau mỗi sự chậm trễ luôn có một phần chi phí, thậm chí là nỗi đau mà xã hội đang gánh chịu.

    Công việc của Nhà nước phải được tiến hành thận trọng. Một quyết định liên quan đất đai có thể ảnh hưởng quyền lợi của nhiều người; một quyết định đầu tư sử dụng tiền ngân sách; một biện pháp hành chính có thể tác động trực tiếp đến cuộc sống của công dân.

    Người cán bộ kiểm tra thông tin, cân nhắc pháp lý và lắng nghe ý kiến chuyên môn trước khi quyết định là người có trách nhiệm. Nhưng thận trọng và né tránh có bản chất khác nhau. Người thận trọng tìm thêm căn cứ để quyết định chính xác hơn; người né tránh thường tìm thêm lý do để trì hoãn việc ra quyết định.

    Khu công nghiệp Điềm Thụy là một trong những khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh Thái Nguyên, nổi bật với không gian xanh sạch, an ninh tốt và thu hút nhiều doanh nghiệp lớn. Ảnh Lăng Khoa

    Nghị quyết số 24-NQ/TW đã nhận diện khá trực diện tình trạng cán bộ làm việc cầm chừng, e ngại rủi ro, sợ sai, né tránh và đùn đẩy trách nhiệm. Chỉ thị số 07 -CT/TW, ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới” cũng chỉ ra rằng biểu hiện né tránh, đùn đẩy, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung ở một bộ phận cán bộ chậm được khắc phục (6).

    Những nhận định trên đã cho thấy thực trạng này đã trở thành vấn đề liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của bộ máy.

    Tuy nhiên, sẽ thiếu công bằng khi quy mọi biểu hiện chậm trễ cho sự yếu kém về bản lĩnh cá nhân. Có cán bộ thực sự e ngại trách nhiệm, nhưng cũng có người đứng trước những quy định chưa đồng bộ, thẩm quyền chưa thật rõ hoặc một công việc phải xin ý kiến qua nhiều cơ quan.

    Có lĩnh vực mà mỗi quyết định liên quan đồng thời đến đất đai, tài chính, môi trường, quy hoạch và pháp luật chuyên ngành. Trong những tình huống như vậy, sự do dự có thể bắt nguồn từ chính cách tổ chức công việc.

    Bởi lẽ, con người hành động trong những điều kiện xã hội cụ thể; muốn thay đổi hành vi phải đồng thời xem xét môi trường đã tạo ra hành vi ấy.

    Vì thế, chỉ kêu gọi cán bộ mạnh dạn hơn chưa thể giải quyết tận gốc vấn đề. Người được giao việc cần biết rõ thẩm quyền của mình, có nơi tham vấn khi gặp vấn đề phức tạp, được tiếp cận thông tin đầy đủ và hiểu tiêu chí mà tổ chức sẽ dùng để đánh giá quyết định.

    Nghị quyết số 24-NQ/TW yêu cầu đề xuất đổi mới phải xác định sự cần thiết, điểm nghẽn, giải pháp, nguồn lực, phạm vi, tính khả thi và những tác động có thể phát sinh. Quá trình chuẩn bị như vậy vừa đặt trách nhiệm cao hơn lên người đề xuất, vừa tạo thêm điểm tựa cho người hành động nghiêm túc.

    Cũng cần nhìn nhận đúng mối quan hệ giữa tinh thần dám làm với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Phòng, chống tham nhũng bảo vệ kỷ cương, tài sản công và chính những cán bộ làm việc ngay thẳng.

    Nới lỏng kỷ luật để cán bộ “yên tâm làm” sẽ tạo ra một nghịch lý nguy hiểm. Điều cần thiết là phân biệt được rủi ro khách quan trong quá trình đổi mới vì lợi ích chung với hành vi cố tình vi phạm để trục lợi.

    Càng phân định chính xác, người liêm chính càng bớt e ngại và người vụ lợi càng khó lợi dụng chủ trương bảo vệ cán bộ.

    Từ góc độ quản trị, cũng cần mở rộng cách hiểu về trách nhiệm. Người ta thường dễ nhận diện trách nhiệm khi cán bộ đưa ra một quyết định sai, bởi quyết định ấy có văn bản, có chữ ký và thường có hậu quả trực tiếp.

    Trách nhiệm của việc không quyết định khó nhìn thấy hơn. Hồ sơ tiếp tục nằm lại, dự án tiếp tục chậm, công việc tiếp tục được chuyển lên cấp trên; từng hành vi riêng lẻ dường như chưa có gì sai nghiêm trọng, nhưng tổng thể lại làm nguồn lực bị trì trệ. Chính vì vậy, trách nhiệm công vụ cần bao hàm cả trách nhiệm của sự trì hoãn thiếu căn cứ.

    Cái giá của việc “ra quyết định”

    Tại Thái Nguyên, sự chủ động, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành được thể hiện rõ qua việc tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ triển khai các khu công nghiệp Phú Bình và Thượng Đình.

    Không chỉ ban hành văn bản xác định cụ thể các mốc tiến độ giải phóng mặt bằng, lãnh đạo UBND tỉnh còn trực tiếp kiểm tra thực địa, làm việc với các sở, ngành, địa phương và nhà đầu tư để nhận diện, xử lý những vướng mắc phát sinh.

    Tỉnh yêu cầu chính quyền cơ sở chịu trách nhiệm trực tiếp về tiến độ, Trung tâm Phát triển quỹ đất chủ trì xây dựng kế hoạch thực hiện, các sở chuyên môn tăng cường hướng dẫn, đôn đốc công tác tái định cư; đồng thời chú trọng đối thoại, vận động, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân.

    Thi công cao tốc Chợ Mới – Bắc Kạn, góp phần từng bước hoàn thiện hạ tầng giao thông, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội địa phương. Ảnh: Hà Lượng

    Đáng chú ý, cách điều hành ấy đã chuyển yêu cầu chung thành những phần việc có chủ thể chịu trách nhiệm, có thời hạn và cơ chế phối hợp cụ thể. Từ góc độ quản trị công, đây chính là sự chuyển biến từ quản lý theo quy trình sang quản trị theo kết quả, trong đó hiệu lực của quyết định không chỉ được xác định ở tính đúng đắn về pháp lý, mà còn ở khả năng tổ chức thực hiện, khơi thông nguồn lực và tạo ra giá trị phát triển.

    Bản lĩnh cán bộ vì thế được thể hiện qua cả quyết tâm hành động lẫn năng lực đưa chủ trương vào cuộc sống.

    Những trường hợp trên cho thấy “sợ sai” không thể được giải quyết chỉ từ phía cá nhân. Tổ chức phải biết nhận diện việc khó, bố trí cán bộ có năng lực, giao đủ quyền và tạo cơ chế hỗ trợ.

    Một cán bộ phụ trách đất đai tại địa bàn phức tạp không thể chỉ được yêu cầu “dám làm” mà thiếu cơ sở dữ liệu, thiếu cán bộ chuyên môn hoặc không có nơi tham vấn pháp lý khi xuất hiện vấn đề mới.

    Trách nhiệm phải đi cùng điều kiện thực hiện trách nhiệm. Đó cũng là cách tránh biến tinh thần dám làm thành một yêu cầu mang tính khẩu hiệu.

    Một nguyên nhân sâu khác của tâm lý phòng thủ nằm ở cách đánh giá cán bộ. Người nhận nhiều việc khó tự nhiên có khả năng gặp rủi ro lớn hơn người chỉ chọn những việc quen thuộc.

    Khi hệ thống chủ yếu ghi nhận sai sót mà ít nhìn thấy những vấn đề khó đã được tháo gỡ, một nghịch lý có thể hình thành là người làm ít cảm thấy an toàn hơn người làm nhiều.

    Lâu dần, cách đánh giá ấy khuyến khích cán bộ bảo vệ mình trước khi nghĩ đến hiệu quả chung. Vì vậy, đánh giá công bằng phải nhìn cả sản phẩm, bối cảnh, quy mô nhiệm vụ và chất lượng giải quyết công việc.

    Vai trò của người đứng đầu cũng có ý nghĩa quyết định. Cấp dưới khó mạnh dạn đề xuất khi họ cảm thấy mọi rủi ro cuối cùng đều do cá nhân gánh chịu, trong khi thành công lại thuộc về tập thể.

    Người đứng đầu cần tạo không gian trao đổi thẳng thắn, chấp nhận ý kiến khác biệt có căn cứ, hướng dẫn khi cấp dưới vướng mắc và đứng trong chuỗi trách nhiệm đối với chủ trương mình đã phê duyệt.

    Đồng thời, người đứng đầu phải đủ bản lĩnh để bác bỏ đề xuất chủ quan, thiếu căn cứ hoặc có dấu hiệu lợi ích nhóm. Sự đồng hành ấy không làm nhẹ trách nhiệm cá nhân mà làm trách nhiệm trở nên công bằng hơn.

    Từ phía cán bộ, vẫn có một phần trách nhiệm không thể chuyển cho cơ chế. Đó là thái độ với phần việc mình được giao. Trong cùng một quy định chưa thật hoàn thiện, có người chủ động nghiên cứu để tìm phương án phù hợp, có người chủ yếu tìm lý do để chờ thêm.

    Trong cùng một vụ việc khó, có người xuống tận cơ sở gặp dân, nghe nhiều phía rồi quyết định; có người liên tục chuyển hồ sơ lên trên dù vấn đề thuộc thẩm quyền. Mỗi lựa chọn như vậy tưởng nhỏ nhưng lâu dần tạo nên văn hóa của một cơ quan.

    Tôi đặc biệt trân trọng những người không chọn việc dễ, không đùn đẩy khi gặp khó khăn, sẵn sàng xuống cơ sở để giải quyết những điều dân đang cần. Tôi cũng mong các cơ quan quan tâm bảo vệ những cán bộ ngay thẳng, có năng lực, thật sự làm việc vì lợi ích chung. Kỷ luật phải nghiêm minh, nhưng đánh giá cũng phải công bằng. Có như vậy, người tốt mới yên tâm cống hiến và tinh thần trách nhiệm mới được lan tỏa bền vững.

    Thiếu tướng Triệu Văn Ngô, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bắc Kạn

    Chỉ thị số 07-CT/TW năm 2026 yêu cầu việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh phải gắn với gần dân, trọng dân, hiểu dân, kịp thời giải quyết những bức xúc và kiến nghị chính đáng; cán bộ phải làm việc khoa học, có kết quả và sản phẩm cụ thể (7).

    Đặt trong tinh thần ấy, né tránh trách nhiệm không còn là chuyện riêng của một cán bộ. Phía sau một quyết định bị trì hoãn thường có một người dân đang chờ, một doanh nghiệp đang chờ hoặc một công trình đang chờ.

    Sự an toàn của cá nhân, trong một số trường hợp, được trả bằng thời gian của rất nhiều người khác. Đây là điểm cần được nhìn thẳng nhưng cũng cần nhìn với thái độ công bằng.

    Không ai buộc cán bộ phải quyết định vội vã trong những việc chưa đủ căn cứ. Điều xã hội có quyền đòi hỏi là công việc phải có người chịu trách nhiệm, vướng mắc phải được báo cáo đúng nơi và quá trình xử lý phải tiếp tục vận động chứ không được dừng lại bằng một câu “chưa có hướng dẫn”.

    Người dân có thể cảm thông với một việc thật sự khó. Họ cũng có thể chờ khi được giải thích rõ nguyên nhân, tiến độ và người chịu trách nhiệm. Điều làm niềm tin suy giảm nhiều khi không phải việc chưa giải quyết được ngay, mà là cảm giác không biết ai đang giải quyết và bao giờ công việc kết thúc.

    Một nền công vụ có trách nhiệm vì thế trước hết phải cho người dân thấy rằng việc của họ có người nhận, có người làm và có người chịu trách nhiệm đến cùng.

    (Còn nữa)

    (6), (7) Bộ Chính trị, 2026, Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”.

    TS Lê Hoàng Việt Lâm  (Trường Đại học An ninh nhân dân) và Hồng Hạnh

    Nguồn https://baomoi.com/ban-linh-can-bo-truoc-yeu-cau-hanh-dong-ky-2-viec-dan-khong-the-cho-khi-su-an-toan-ca-nhan-tro-thanh-luc-can-cong-vu-c56255856.epi

  • Tăng cường thu hút đầu tư lĩnh vực du lịch

    Đoàn công tác của tỉnh kiểm tra công tác quy hoạch du lịch tại xã Quỳnh Nhai.

    Giai đoạn 2020-2025, Sơn La tập trung cao cho công tác quy hoạch. Trên cơ sở Quy hoạch tỉnh Sơn La thời kỳ 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, năm 2025, UBND tỉnh đã ban hành quyết định về kế hoạch thực hiện quy hoạch, phủ kín 40 đồ án quy hoạch trọng điểm, cùng với rà soát đồng bộ hạ tầng giao thông, tạo cơ sở cho phát triển du lịch, “mở đường” cho việc thu hút đầu tư. Trong đó, quy hoạch du lịch đã phân vùng phát triển rõ ràng, định hướng các nhóm sản phẩm đặc trưng tại mỗi địa phương, như: Dịch vụ nghỉ dưỡng cao cấp, nông nghiệp sinh thái và vui chơi giải trí tại Khu du lịch quốc gia Mộc Châu; du lịch khám phá, săn mây tại Tà Xùa; du lịch trải nghiệm tại vùng lòng hồ sông Đà…

    Bà Hoàng Thị Đôi, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, khẳng định: Quy hoạch bài bản là cơ sở quan trọng để tỉnh khắc phục tình trạng đầu tư manh mún, tự phát trong phát triển du lịch. Việc phân vùng rõ ràng cho phép mỗi địa phương phát triển các nhóm sản phẩm đặc trưng, từng bước hình thành không gian du lịch đồng bộ, tăng cường liên kết giữa các vùng, phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương và tạo sức hấp dẫn cho du lịch Sơn La.

    Cầu kính Bạch Long tại Khu du lịch Mộc Châu Island.      Ảnh: PV

    Những năm gần đây, Sơn La đã thu hút nhiều dự án đầu tư cho lĩnh vực du lịch. Giai đoạn 2021-2025, toàn tỉnh đã cấp mới 120 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 46.500 tỷ đồng, gấp 1,8 lần so với giai đoạn 2016-2020. Trong đó, riêng lĩnh vực du lịch dịch vụ, nông nghiệp du lịch và thương mại có 14 dự án, với tổng vốn đăng ký hơn 14.500 tỷ đồng. Trọng điểm là Khu du lịch quốc gia Mộc Châu thu hút 5 dự án lớn, tổng trị giá hơn 1.330 tỷ đồng, như Nhà máy sữa công nghệ cao Mocchaumilk; Khu nghỉ dưỡng Rừng thông bản Áng; Khu du lịch Mộc Châu Island… Cùng với 18 dự án du lịch – dịch vụ, với tổng vốn trên 3.761 tỷ đồng; Phù Yên huy động trên 19,8 tỷ đồng tu bổ Đền thờ Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đình Chu; Sông Mã hoàn thành dự án tu bổ Đền thờ Hai Bà Trưng, với tổng vốn 5,4 tỷ đồng…

    Tạo điều kiện cho nhà đầu tư tiếp cận các điểm đến, tỉnh cũng thực hiện nhất quán phương châm “đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”. Trong giai đoạn 2021-2025, nguồn vốn đầu tư công phân bổ hơn 4.372 tỷ đồng cho 15 dự án hạ tầng du lịch. Đặc biệt, tuyến cao tốc Hòa Bình – Mộc Châu đang triển khai, là dự án trọng điểm về hạ tầng kết nối liên vùng. Cùng với đó, tỉnh đã tập trung rà soát, quy hoạch đường bộ, đường thủy, đường hàng không, trong đó, đã bổ sung quy hoạch nâng cấp 6 đường tỉnh/288km thành quốc lộ và đề nghị giữ nguyên Cảng hàng không Nà Sản trong quy hoạch phát triển hàng không quốc gia giai đoạn 2021-2030. Đặc biệt, tỉnh đã ban hành Đề án “Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông tỉnh Sơn La theo hướng đồng bộ giai đoạn 2026-2030”, ưu tiên luồng vốn cho các tuyến đường huyết mạch kết nối.

    Khu du lịch văn hóa tâm linh Quỳnh Nhai đang được đầu tư hoàn thiện.

    Ông Trần Dân Khôi, Bí thư Đảng ủy phường Thảo Nguyên, nói: Theo định hướng, phường đang tập trung hoàn thiện quy hoạch, đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật và giao thông kết nối với tuyến cao tốc và các đô thị trong vùng, tăng cường phối hợp quản lý môi trường, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Đồng thời, phường tập trung khai thác hiệu quả các tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, trải nghiệm nông nghiệp; đẩy mạnh liên kết vùng trong phát triển du lịch, nông nghiệp và hạ tầng đô thị, góp phần xây dựng Thảo Nguyên trở thành hạt nhân dịch vụ – đô thị – du lịch của Khu du lịch quốc gia Mộc Châu.

     5 năm qua, du lịch Sơn La đã gặt hái thành quả ấn tượng khi đón trên 18,97 triệu lượt khách, tổng doanh thu đạt hơn 20.670 tỷ đồng, duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định 13%/năm. Tuy nhiên, du lịch Sơn La vẫn đối mặt với không ít rào cản, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; cơ chế, chính sách về đất đai và trật tự xây dựng còn bất cập; hạ tầng ở vùng sâu còn thiếu; chưa thu hút được các nhà đầu tư chiến lược với các dự án tầm cỡ; nguồn nhân lực và công tác xúc tiến du lịch nước ngoài còn hạn chế…

    Khu du lịch Mộc Châu Island.

    Đưa du lịch phát triển bứt phá trong giai đoạn mới, tỉnh ta tiếp tục huy động và lồng ghép các nguồn vốn đầu tư công để hoàn thiện hạ tầng giao thông, y tế, viễn thông tại các khu, điểm du lịch trọng điểm. Tập trung rà soát, công khai danh mục dự án ưu tiên, chủ động tiếp cận các tập đoàn lớn để thu hút các tổ hợp du lịch quy mô lớn, dịch vụ cao cấp. Cùng với đó, tích cực cải thiện môi trường kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp và hợp tác xã tiếp cận nguồn đất đai, vốn đầu tư và chính sách ưu đãi; chú trọng phát triển nguồn lực và chuyển đổi số, bảo tồn nguyên vẹn tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hóa các dân tộc, tạo động lực cho phát triển du lịch.

    Với định hướng chiến lược, cùng sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền, doanh nghiệp và người dân, Sơn La đang từng bước khẳng định vị thế trọng điểm du lịch vùng Tây Bắc.

    Thanh Đào

    Nguồn https://baomoi.com/tang-cuong-thu-hut-dau-tu-linh-vuc-du-lich-c56255894.epi

  • Hiện trạng ‘như tổ ong’ 12 dự án liên quan đến ông Lê Thanh Thản

    TP Hà Nội đang lấy ý kiến về dự thảo nghị quyết xử lý những tồn tại, vi phạm về đất đai, trật tự xây dựng tại 12 dự án liên quan đến các doanh nghiệp do ông Lê Thanh Thản đại diện, quản lý, sở hữu, góp vốn hoặc hợp tác đầu tư.

    Trong 12 dự án vi phạm trật tự xây dựng, dãy 12 tòa nhà HH tại bán đảo Linh Đàm được cho là vi phạm nghiêm trọng nhất. Tổ hợp chung cư HH Linh Đàm được đưa vào sử dụng từ năm 2015, từ đó đến nay, hàng loạt vấn đề liên quan đến hạ tầng phát sinh tại khu vực.

    12 tòa nhà tại HH Linh Đàm hiện nay có hàng vạn dân sinh sống, cùng với đó là kéo theo tình trạng quá tải về hạ tầng kỹ thuật, y tế, trường học cho khu vực.

    Tổ hợp chung cư Đại Thanh cũng bị xây vượt nhiều tầng so với quy hoạch.

    Dãy 6 tòa nhà Đại Thanh cao vượt trội so với các tòa nhà trong khu vực.

    Trong bán đảo Linh Đàm hiện có 3 tòa nhà do công ty liên quan đến ông Lê Thanh Thản xây dựng, gồm VP3, VP5, VP6, đều vượt tầng so với quy hoạch.

    Tòa nhà VP6 nằm ven hồ Linh Đàm và đường Vành đai 3, được đưa vào sử dụng từ năm 2015. Tòa nhà này vượt quy hoạch khoảng 10 tầng, mỗi tầng hiện có gần 20 căn hộ.

    12 dự án gồm CT6 Kiến Hưng, Đại Thanh, CT5 Tân Triều, Khu nhà ở Xa La, CT11 và CT12 thuộc Khu đô thị Kim Văn – Kim Lũ; các tòa VP3, VP5, VP6 và tổ hợp HH1, HH2, HH3, HH4 tại khu vực Linh Đàm.

    Tổng số căn hộ tại 12 dự án liên quan đến ông Lê Thanh Thản theo quy hoạch hoặc giấy phép tại các dự án trên là 6.759 căn, trong khi số căn hộ hiện có lên tới 24.943 căn, tăng 18.184 căn.

    Quang Phong

    Nguồn https://baomoi.com/hien-trang-nhu-to-ong-12-du-an-lien-quan-den-ong-le-thanh-than-c56256309.epi

  • Người mua chật vật tìm kiếm, giá nhà mới chỉ… giảm trên mạng?

    Sau gần 9 tháng khảo sát tại Hà Nội, từ các tin rao trên mạng đến những cuộc trao đổi trực tiếp với chủ nhà, anh Khoa nhận thấy áp lực lãi suất và tâm lý thận trọng của người mua chưa đủ để người bán phải điều chỉnh giá thực chất hơn.

    Khó “săn” nhà giảm giá

    “Nhiều người bán thông báo sẵn sàng giảm 20-30% mức giá kỳ vọng, nhưng mức giá sau điều chỉnh chỉ thấp so với thời đỉnh sốt khi giá đã được đẩy lên nhiều lần, còn thực tế vẫn quá cao, và vượt xa khả năng tài chính của tôi”, anh Khoa chia sẻ.

    Theo anh Khoa, khi giá đã bị đẩy lên quá cao, việc giảm 20-30% trên mức giá kỳ vọng chưa đồng nghĩa với việc căn hộ trở nên hợp lý.

    Có những căn hộ đã qua tay nhiều nhà đầu tư, mỗi lần giao dịch lại cộng thêm một phần lợi nhuận, khiến giá bán ngày càng xa giá trị mà người mua ở thực có thể chấp nhận.

    Người mua nhà không dễ tìm được căn hộ giảm giá thực.

    Những quan sát của anh Khoa phần nào được phản ánh qua diễn biến thị trường căn hộ Hà Nội. Theo dữ liệu PropertyGuru Vietnam, giá bán căn hộ phổ biến tại Thủ đô giảm từ khoảng 88 triệu đồng/m² trong tháng 2 xuống còn 85 triệu đồng/m² vào cuối quý II/2026.

    Mức giảm khoảng 3 triệu đồng/m², tương đương gần 3,4%, cho thấy đà tăng kéo dài trước đó đã xuất hiện những dấu hiệu đảo chiều. Một số dự án ghi nhận giá điều chỉnh 4-9% so với đầu năm, trong đó các sản phẩm từng tăng nóng chịu áp lực lớn hơn.

    Tuy nhiên, giảm giá trên thị trường không đồng nghĩa với việc người mua có thể dễ dàng tiếp cận nhà ở. Ông Đức, đại diện một văn phòng môi giới tại Gia Lâm (Hà Nội) cho rằng, trước hết, cần phân biệt giá rao bán, giá giao dịch thực tế và giá căn hộ mở bán mới.

    “Muốn đánh giá chính xác, cần so sánh giá giao dịch thực tế giữa các căn hộ tương đồng, tính đến diện tích, pháp lý, chất lượng công trình, vị trí và thời điểm giao dịch. Nếu giá được giảm từ một mức neo quá cao, phần điều chỉnh có thể vẫn chưa đủ tạo ra sức mua thực chất”, ông Đức phân tích.

    Các số liệu nghiên cứu thị trường cũng cho thấy mặt bằng giá sau điều chỉnh vẫn rất cao so với thu nhập của phần đông hộ gia đình, đặc biệt là những người mua căn nhà đầu tiên bằng tiền tích lũy kết hợp vốn vay.

    Theo báo cáo quý I/2026 của Bộ Xây dựng, giá căn hộ sơ cấp trung bình tại Hà Nội đạt khoảng 128 triệu đồng/m², cao hơn mức khoảng 112 triệu đồng/m² tại TP.HCM. Khoảng cách lớn giữa giá sơ cấp và giá thứ cấp cho thấy thị trường đang phân hóa rõ rệt.

    Trong khi một số chủ sở hữu phải điều chỉnh kỳ vọng để tìm thanh khoản, các dự án mở bán mới vẫn duy trì mức giá cao do chi phí đất đai, vật liệu và tài chính gia tăng.

    Điều này tạo ra một nghịch lý, thị trường có thêm những thông tin giảm giá, nhưng người mua nhà lần đầu vẫn khó tìm được sản phẩm phù hợp. Nếu chọn căn hộ mới, họ phải đối mặt với mức giá cao, trong khi tìm căn hộ cũ có giá mềm hơn lại khó như “mò trăng đáy bể”.

    Chung cư cũ vẫn có giá vài tỷ đồng

    Thực tế tại khu vực Mỹ Đình (Hà Nội) cho thấy giá căn hộ cũ vẫn rất cao, bất chấp các thông tin về giá và thanh khoản ì ạch.

    Điển hình, được hình thành từ đầu những năm 2000, nhiều khu chung cư Mỹ Đình 1 và Mỹ Đình 2 đã trải qua hàng chục năm sử dụng. Theo khảo sát, giá rao căn hộ tại Mỹ Đình 1 hiện phổ biến khoảng 50-85 triệu đồng/m². Những căn hai phòng ngủ, diện tích 60-88m², được chào bán từ 5 tỷ đến 6,8 tỷ đồng; căn ba phòng ngủ có thể đạt 6,5-8,5 tỷ đồng. Tại Mỹ Đình 2, một số căn hộ được rao bán tới 90 triệu đồng/m². Căn hai phòng ngủ diện tích 70-75m² có giá khoảng 5-6 tỷ đồng, trong khi căn ba phòng ngủ phổ biến 5,8-7,5 tỷ đồng.

    Đặt cạnh lịch sử giá, mức tăng càng đáng chú ý. Năm 2005, căn hộ Mỹ Đình được giao dịch ở khoảng 8-12 triệu đồng/m²; đến năm 2008, giá tại Mỹ Đình 1 khoảng 17,5 triệu đồng/m², còn Mỹ Đình 2 khoảng 19-20 triệu đồng/m².

    Đáng nói, những căn hộ này còn phải cạnh tranh với nguồn cung mới tại Tây Mỗ, Đại Mỗ và An Khánh, nơi người mua có thêm lựa chọn về thiết kế, diện tích và tiện ích. Thực tế này cho thấy, dự án mới không mặc nhiên rẻ hơn, còn căn hộ cũ cũng không nhất thiết có giá trị thấp hơn nếu sở hữu vị trí thuận lợi và cộng đồng cư dân ổn định.

    Ở góc độ thị trường, các chuyên gia cho rằng điều chỉnh giá là cần thiết để thu hẹp khoảng cách giữa kỳ vọng của người bán và khả năng chi trả của người mua. Tuy nhiên, không thể coi mức giảm 20-30% mà một số chủ nhà công bố là bằng chứng cho thấy bất động sản đã rẻ.

    Trong bối cảnh đó, việc gia tăng nguồn cung nhà ở xã hội và phát triển các dự án phù hợp với nhu cầu ở thực có ý nghĩa quan trọng hơn những đợt giảm giá mang tính cục bộ. Khi người mua có thêm lựa chọn với mức giá tương xứng thu nhập, thị trường sẽ chịu sức ép điều chỉnh lành mạnh hơn. Cùng với đó, minh bạch dữ liệu giao dịch và kiểm soát tình trạng thổi giá sẽ giúp người dân phân biệt giá trị thực với kỳ vọng đầu cơ.

    Tóm lại, khi giá bán vẫn vượt xa sức mua, thị trường dù có điều chỉnh cũng chưa thể xem là đã giải quyết được bài toán nhà ở. Chỉ khi mức giá phản ánh sát hơn giá trị sử dụng và thu nhập của người dân, cơ hội sở hữu căn hộ mới thực sự mở rộng.

    Hưng Nguyên

    Nguồn https://baomoi.com/nguoi-mua-chat-vat-tim-kiem-gia-nha-moi-chi-giam-tren-mang-c56255836.epi

  • Cán bộ trẻ bám địa bàn, sát việc ở cơ sở

    Anh Nguyễn Thanh Hải (bên trái), Bí thư Chi bộ thôn Hòa Hiệp, xã Lãnh Ngọc vận động người dân hiến đất, vật kiến trúc trên đất để nâng cấp các tuyến đường trên địa bàn thôn trước mùa mưa bão. Ảnh: PHAN VINH

    Kiên trì và nhiệt huyết

    Để mở rộng tuyến đường từ quốc lộ 40B đi dốc Đẻn (thôn Hòa Hiệp, xã Lãnh Ngọc), người dân có đất 2 bên đường từng được vận động giải phóng mặt bằng nhưng sau thời gian dài, một số hộ vẫn chưa đồng thuận.

    Sau khi thôn Hòa Hiệp được sắp xếp lại, anh Nguyễn Thanh Hải (sinh năm 1999, Bí thư Chi bộ thôn) cùng cán bộ địa phương đến từng hộ để lắng nghe những chia sẻ, băn khoăn, sau đó giải thích việc mở rộng đường sẽ thuận lợi cho đi lại, vận chuyển nông lâm sản và kết nối quốc lộ 40B với tuyến ĐT615B. Qua nhiều lần kiên trì trao đổi, mỗi hộ dân áp dụng cách giải thích khác nhau, đến nay tất cả các gia đình đã đồng thuận và mặt bằng được bàn giao cho đơn vị thi công.

    Câu chuyện về tuyến đường đi dốc Đẻn chỉ là một trong rất nhiều vấn đề ở cơ sở cho thấy nhiệt huyết của cán bộ trẻ ở địa bàn vừa sắp xếp. Anh Hải dành nhiều thời gian đến nhà dân, bám từng việc đến khi có kết quả, đồng thời dựa vào trưởng thôn, cán bộ Mặt trận và những đảng viên hiểu địa bàn để cùng vận động.

    Hòa Hiệp hiện có 497 hộ (2.224 nhân khẩu), chi bộ có 25 đảng viên, được hình thành từ toàn bộ thôn 5 và một phần thôn 4 cũ.

    “Điều tôi thấy quan trọng là cán bộ, đảng viên phải cùng làm với dân. Khi mình trực tiếp xuống từng hộ, nghe bà con nói, giải thích rõ cái được và cùng tìm cách tháo gỡ những điều họ còn băn khoăn, bà con sẽ dễ chia sẻ hơn. Ngoài ra, trong chi bộ có nhiều đảng viên lớn tuổi, giàu kinh nghiệm, nếu chưa rõ thì tôi hỏi, nội dung nào còn nhiều ý kiến thì cùng trao đổi. Sức trẻ giúp mình đi cơ sở nhiều hơn, tiếp cận công nghệ nhanh hơn. Kinh nghiệm người đi trước giúp hiểu địa bàn và xử lý công việc chắc hơn”, anh Hải nói.

    Tại thôn Nước Oa, xã Trà Tân, Bí thư Chi bộ Hồ Văn Thành (sinh năm 1990) dành nhiều thời gian đi từng tổ, từng nóc. Anh Thành được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng vào năm 2014, làm Bí thư Chi bộ từ năm 2022. Sau sắp xếp, anh tiếp tục được giao nhiệm vụ Bí thư Chi bộ thôn Nước Oa.

    Thôn có 329 hộ với 1.441 nhân khẩu, chi bộ có 45 đảng viên, dân cư sống thưa và phân tán. Địa bàn rộng khiến anh Thành phải dành nhiều thời gian hơn để đến nhà dân. Có chuyện nghe qua báo cáo chưa hết, nhất là việc ở khu dân cư xa trung tâm nên trực tiếp đến cơ sở là điều rất cần thiết. Tại cơ sở, đảng viên lớn tuổi giúp anh hiểu địa bàn và những vấn đề đã có từ trước.

    “Chi bộ có nhiều đồng chí đi trước rất am hiểu địa bàn và tình hình đời sống bà con, nên mình trẻ thì phải biết lắng nghe, tranh thủ kinh nghiệm của các đồng chí. Còn với người dân, nếu chỉ nghe báo cáo thì nhiều việc mình chưa thể hiểu hết. Phải trực tiếp xuống từng tổ, từng nóc, gặp bà con, nghe bà con nói thì mới biết vấn đề nằm ở đâu và cần giải quyết thế nào”, anh Thành chia sẻ.

    Thôn Nước Oa (xã Trà Tân) phối hợp tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri giữa Ủy ban MTTQ Việt Nam xã và người dân. Ảnh: HỒ VĂN THÀNH

    Ứng dụng phương thức mới

    Thôn Phước Viên (xã Nông Sơn) không thay đổi địa bàn sau sắp xếp, nhưng công việc ở khu dân cư vẫn nhiều lên theo yêu cầu mới. Thôn có 367 hộ với hơn 2.100 nhân khẩu, chi bộ có 30 đảng viên và chị Trịnh Thị Thắm (sinh năm 2001) giữ chức Bí thư Chi bộ thôn.

    Khi nhận nhiệm vụ, điều chị Thắm lo nhất là kinh nghiệm còn ít trong khi nhiều đảng viên đã có nhiều năm tuổi đảng, hiểu địa bàn và từng trải qua công việc ở cơ sở. Chị thường hỏi kỹ những người đi trước về từng khu dân cư, những việc từng làm được và những việc còn vướng. Việc đã thống nhất thì cố gắng theo đến cùng, phần nào chưa đạt thì nhận trách nhiệm và điều chỉnh.

    Một việc chị Thắm thấy có thể làm ngay là hỗ trợ đảng viên và người dân sử dụng các nền tảng số. Nhiều đồng chí lớn tuổi còn lúng túng với Sổ tay đảng viên, VNeID hoặc dịch vụ công trực tuyến, có người ngại thao tác vì sợ bấm sai. Chị cùng các đảng viên chọn cách hướng dẫn từng bước, người thành thạo hỗ trợ người chưa quen.

    “Muốn bà con sử dụng được thì phải hướng dẫn thật cụ thể, kiên trì và phù hợp với từng người. Chúng tôi trực tiếp hướng dẫn từng thao tác, phân công những người thành thạo công nghệ hỗ trợ thêm. Tôi nghĩ chuyển đổi số ở cơ sở bắt đầu từ những việc như vậy. Khi mình làm trước, hướng dẫn cụ thể và đồng hành với bà con thì mọi người sẽ dễ hiểu, dễ làm hơn”, chị Thắm nói.

    Bên cạnh đó, các nhóm trao đổi chung của thôn Phước Viên được dùng để chuyển lịch họp, thông tin hoạt động và tiếp nhận phản ánh. Nhưng với những việc liên quan quyền lợi hoặc còn nhiều ý kiến, chị vẫn đến gặp trực tiếp.

    “Người trẻ có thể mang đến những ý tưởng mới, nhưng để làm được việc thì rất cần sự đồng hành và kinh nghiệm của các đồng chí đi trước. Với thanh niên cũng vậy, khi các bạn được tham gia, được lắng nghe và thấy đóng góp của mình có ích thì sẽ có thêm động lực. Tôi mong trong công việc của chi bộ, mỗi người đều có thể góp phần bằng khả năng của mình”, chị Thắm chia sẻ.

    PHAN VINH

    Nguồn https://baomoi.com/can-bo-tre-bam-dia-ban-sat-viec-o-co-so-c56255754.epi

  • Khơi thông nguồn lực đầu tư công

    Dự án Nâng cấp, mở rộng đường liên thôn Phước Thịnh – Bình Hiếu (xã Bình Tân) đang được nhà thầu đẩy nhanh tiến độ. Ảnh: Quang Minh

    Bà Doãn Thị Mai Xuân, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Bình Tân cho biết: Xã lựa chọn danh mục đầu tư dựa trên tính cấp thiết, khả năng kết nối và hiệu quả sau đầu tư. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, xã ưu tiên những công trình xuất phát từ nhu cầu thực tế, tác động trực tiếp đến đời sống người dân, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển.

    Ưu tiên giao thông

    Bình Tân là địa bàn rộng, hệ thống giao thông còn nhiều khó khăn, đặt ra yêu cầu đầu tư nâng cấp các tuyến đường trọng điểm; đồng thời khắc phục những bất cập về mặt đường, thoát nước và sạt lở.

    Theo bà Doãn Thị Mai Xuân, các dự án giao thông trọng điểm năm 2026 gồm: nâng cấp, mở rộng tuyến đường Long Hưng – Long Bình, đoạn từ Km 00+00 đến Km 2+220; nâng cấp, mở rộng đường liên thôn Phước Thịnh – Bình Hiếu và xây mới tuyến đường Long Hà – hồ Bù Ka.

    Trong đó, Dự án Nâng cấp, mở rộng đường liên thôn Phước Thịnh – Bình Hiếu (thôn Bình Tân 4 hiện nay) đang được nhà thầu đẩy nhanh tiến độ, nhận được sự đồng tình của người dân. Tuyến đường dài gần 1,2km, được mở rộng mặt đường từ 3m lên 6m, xây dựng hệ thống thoát nước kiên cố hai bên, với tổng mức đầu tư hơn 10 tỷ đồng.

    Gia đình ông Hồ Thanh Của (ở thôn Bình Tân 4) có 50m mặt tiền dọc tuyến đường. Ông Của cho biết: Trước đây, mặt đường xuống cấp nghiêm trọng, nhiều ổ gà, đá sắc nhọn gây khó khăn cho việc đi lại. Tuyến đường có độ dốc cao nên vào mùa mưa, nước đổ xuống khu vực trũng thấp, cuốn theo đất đá, rác thải tràn vào nhà dân. “Nay tuyến đường được khởi công xây dựng, cả khu dân cư hàng trăm hộ đều vui” – ông Của chia sẻ.

    Sự đồng thuận của người dân là yếu tố quan trọng để dự án sớm được triển khai. Ông Lê Quang Đây, thôn Bình Tân 4 cho biết: Khi địa phương thông báo chủ trương đầu tư đường và vận động hiến đất, người dân đều nhất trí cao. Toàn thôn có 136 hộ bị ảnh hưởng. Phần lớn các hộ tự tháo dỡ trụ cổng, hàng rào, di dời vật kiến trúc vào sâu khoảng 2-3m. Nhiều hộ chịu thiệt hại hàng trăm triệu đồng nhưng vẫn đồng thuận bàn giao mặt bằng. Nhờ đó, công tác giải phóng mặt bằng đạt 100%.

    Ông Trần Tấn Chiến, cán bộ kỹ thuật thi công dự án cho biết: “Nhà thầu ưu tiên xây dựng hệ thống thoát nước trước, sau đó thi công nền đường. Đến nay, tiến độ tổng thể đạt hơn 40%. Điều phấn khởi nhất là người dân ủng hộ, giúp đỡ. Chúng tôi luôn đề cao trách nhiệm, bảo đảm chất lượng công trình, đồng thời thực hiện đầy đủ các biện pháp rào chắn, bảo đảm an toàn giao thông trong quá trình thi công”.

    Ðầu tư trường học

    Cùng với giao thông, xã Bình Tân ưu tiên nguồn vốn đầu tư cơ sở vật chất tại điểm chính và các phân hiệu Trường tiểu học Bình Tân.

    Ông Nguyễn Dương Phòng, Hiệu trưởng Trường tiểu học Bình Tân cho biết: Trường có một điểm chính và 3 phân hiệu, với gần 2 ngàn học sinh. Sau sáp nhập, cơ sở vật chất tại điểm chính và các phân hiệu vẫn còn nhiều khó khăn. Trước thực tế đó, UBND xã đầu tư xây dựng tại các phân hiệu 19 phòng học, một thư viện, 2 phòng hành chính quản trị cùng các công trình phụ trợ, với tổng mức đầu tư gần 20 tỷ đồng.

    Dự án Nâng cấp, mở rộng đường liên thôn Phước Thịnh – Bình Hiếu (xã Bình Tân) đang được nhà thầu đẩy nhanh tiến độ.

    “Sau khi hoàn thành và đưa vào sử dụng, các công trình sẽ đáp ứng nhu cầu về cơ sở vật chất, giúp nhà trường hoàn thiện các tiêu chí để đạt chuẩn quốc gia” – ông Phòng cho biết.

    Tại Phân hiệu 2, việc đầu tư xây dựng mới 9 phòng học, một thư viện, 2 phòng hành chính quản trị và các công trình phụ trợ có ý nghĩa thiết thực, bởi nhiều hạng mục cũ đã xuống cấp nghiêm trọng. Cô Nguyễn Thị Thúy, Phó Hiệu trưởng phụ trách Phân hiệu 2 cho biết: Các phòng học được xây dựng từ hàng chục năm trước, bàn ghế, hệ thống điện và thiết bị phục vụ dạy học đã cũ. Trong đó có 2 phòng không còn đáp ứng yêu cầu sử dụng, phải đóng cửa, rào chắn để bảo đảm an toàn.

    “Được UBND xã đầu tư các công trình, nhà trường rất phấn khởi, mong công trình sớm hoàn thành, đưa vào sử dụng để hoạt động dạy và học ổn định, phát triển” – cô Thúy chia sẻ.

    Theo đại diện đơn vị thi công tại Phân hiệu 2, dù khởi công vào mùa mưa, nhà thầu vẫn chủ động bố trí công việc phù hợp để đẩy nhanh tiến độ. Đến nay, công trình đã hoàn thành phần tường, đổ bê tông dầm và sàn; đang chuẩn bị tô trát, lát gạch, với khối lượng thực hiện đạt khoảng 60%. Theo cam kết, dự án sẽ hoàn thành trong tháng 3-2027, tuy nhiên, đơn vị thi công phấn đấu hoàn thành sớm hơn kế hoạch.

    Bà Doãn Thị Mai Xuân cho biết thêm: Mặc dù công tác chuẩn bị đầu tư các dự án gặp khó khăn, một số công trình khởi công muộn, đến nay xã đã giải ngân hơn 33 tỷ đồng, đạt hơn 78% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026.

    Lãnh đạo xã chỉ đạo các đơn vị là chủ đầu tư, nhà thầu đẩy nhanh tiến độ, hoàn thiện khối lượng, hồ sơ nghiệm thu theo quy định, phấn đấu đạt kết quả giải ngân cao nhất trong năm 2026.

    “Việc bố trí nguồn vốn đầu tư công có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của xã Bình Tân. Trong quá trình triển khai, xã kiên quyết không đánh đổi chất lượng để chạy theo tiến độ giải ngân. Các công trình hoàn thành phải bảo đảm yêu cầu phát huy hiệu quả đầu tư, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương và phục vụ đời sống nhân dân một cách thiết thực”.

    Bà DOÃN THỊ MAI XUÂN, Phó Bí thư Ðảng ủy, Chủ tịch UBND xã Bình Tân

    Quang Minh

    Nguồn https://baomoi.com/khoi-thong-nguon-luc-dau-tu-cong-c56255714.epi

  • Miễn phí tên miền quốc gia ‘.vn’ trong 3 năm cho một số đối tượng

    Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 149/2026/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư quy định về phí, lệ phí trong lĩnh vực tài nguyên, khoáng sản và Internet. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 23/11/2026.

    Theo Thông tư, tổ chức thu phí phải nộp 100% số tiền phí thu được vào ngân sách nhà nước, bao gồm cả tiền lãi phát sinh (nếu có) trên số dư tài khoản liên quan trong quá trình thu phí. Ngân sách nhà nước bố trí kinh phí trang trải cho hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí trong dự toán của tổ chức thu phí theo chế độ, định mức chi ngân sách nhà nước và quy định pháp luật.

    Quy định mức phí thẩm định, cấp phép khai thác khoáng sản

    Đối với phí thẩm định cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ, Thông tư sửa đổi quy định về người nộp phí, tổ chức thu phí, kê khai, nộp và quyết toán phí; đồng thời thay thế cụm từ “Sở Tài nguyên và Môi trường” bằng “Sở Nông nghiệp và Môi trường” tại khoản 2 Điều 3 Thông tư số 34/2017/TT-BTC ngày 21/4/2017.

    (Ảnh minh họa)

    Đối với phí thẩm định đánh giá trữ lượng khoáng sản và lệ phí cấp giấy phép hoạt động khoáng sản, mức thu được quy định cụ thể theo từng loại khoáng sản và hình thức khai thác.

    Cụ thể, mức thu đối với giấy phép khai thác cát, sỏi lòng suối dưới 5.000 m³/năm là 1 triệu đồng/giấy phép; từ 5.000 đến 10.000 m³/năm là 10 triệu đồng/giấy phép và trên 10.000 m³/năm là 15 triệu đồng/giấy phép.

    Đối với giấy phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, mức phí được xác định theo diện tích và công suất khai thác. Mức thu là 15 triệu đồng/giấy phép đối với trường hợp có diện tích dưới 10 ha và công suất dưới 100.000 m³/năm; 20 triệu đồng/giấy phép đối với trường hợp có diện tích từ 10 ha trở lên và công suất dưới 100.000 m³/năm, hoặc diện tích dưới 10 ha và công suất từ 100.000 m³/năm trở lên; 30 triệu đồng/giấy phép đối với trường hợp có diện tích từ 10 ha trở lên và công suất từ 100.000 m³/năm trở lên.

    Mức thu đối với giấy phép khai thác khoáng sản làm nguyên liệu xi măng; khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp; đá ốp lát; nước khoáng thiên nhiên và nước nóng thiên nhiên là 40 triệu đồng/giấy phép.

    Đối với giấy phép khai thác khoáng sản lộ thiên, mức thu là 40 triệu đồng nếu không sử dụng vật liệu nổ công nghiệp và 50 triệu đồng nếu có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp. Giấy phép khai thác khoáng sản theo phương pháp hầm lò có mức thu 60 triệu đồng/giấy phép; giấy phép khai thác khoáng sản chiến lược đặc biệt, khoáng sản độc hại là 100 triệu đồng/giấy phép. Mức thu đối với giấy phép khai thác tận thu khoáng sản là 5 triệu đồng/giấy phép.

    Trường hợp gia hạn, cấp lại, điều chỉnh giấy phép thăm dò khoáng sản; gia hạn, cấp lại, điều chỉnh, cấp đổi giấy phép khai thác khoáng sản; gia hạn, điều chỉnh giấy phép khai thác tận thu khoáng sản hoặc cấp giấy phép khi chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác và khai thác tận thu khoáng sản, mức thu bằng 50% mức phí tương ứng.

    Đối với thẩm định báo cáo kết quả thăm dò, đánh giá trữ lượng nước dưới đất, mức thu lần lượt là 15,6 triệu đồng, 21,2 triệu đồng, 23,5 triệu đồng và 28,1 triệu đồng/hồ sơ, tương ứng với các mức lưu lượng từ 5.000 m³/ngày đêm đến dưới 10.000 m³/ngày đêm; từ 10.000 m³/ngày đêm đến dưới 20.000 m³/ngày đêm; từ 20.000 m³/ngày đêm đến 30.000 m³/ngày đêm và trên 30.000 m³/ngày đêm.

    Mức phí thẩm định báo cáo hiện trạng khai thác nước dưới đất lần lượt là 14,9 triệu đồng, 20,8 triệu đồng, 27,1 triệu đồng và 34,2 triệu đồng/hồ sơ theo các mức lưu lượng tương ứng.

    Đối với thẩm định đề án khai thác, sử dụng nước mặt, mức thu là 25,2 triệu đồng/hồ sơ đối với các trường hợp thuộc nhóm quy mô quy định tại điểm a và điểm b; 35,4 triệu đồng/hồ sơ đối với nhóm quy mô tại điểm c và 45,6 triệu đồng/hồ sơ đối với nhóm quy mô tại điểm d của biểu phí.

    Mức phí thẩm định đề án khai thác nước biển có lưu lượng từ 1 triệu m³/ngày đêm đến 2 triệu m³/ngày đêm là 45,6 triệu đồng/hồ sơ; trên 2 triệu m³/ngày đêm là 57,7 triệu đồng/hồ sơ.

    Trường hợp đề nghị gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác nước dưới đất, nước mặt, nước biển, mức phí thẩm định đề án, báo cáo bằng 50% mức phí tương ứng. Trường hợp đề nghị gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép thăm dò nước dưới đất, mức phí bằng 30% mức phí thẩm định đề án theo biểu phí.

    Điều chỉnh phí, lệ phí sử dụng tài nguyên Internet

    Đối với phí duy trì sử dụng tài nguyên Internet và lệ phí phân bổ, cấp tài nguyên Internet, Thông tư bổ sung chính sách miễn lệ phí đăng ký sử dụng tên miền quốc gia “.vn” và phí duy trì sử dụng tên miền quốc gia “.vn” trong thời hạn 3 năm kể từ ngày tên miền được cấp, áp dụng từ ngày 1/1/2027 đến hết ngày 31/12/2030.

    Chính sách áp dụng đối với công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi đến đủ 23 tuổi đăng ký sử dụng tên miền dưới “id.vn”; doanh nghiệp có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam hoặc hộ kinh doanh, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ hợp tác có giấy chứng nhận đăng ký tương ứng tại Việt Nam, hiện chưa có tên miền quốc gia “.vn”, đăng ký sử dụng tên miền dưới “biz.vn”.

    Quy định chỉ áp dụng đối với một tên miền đăng ký mới. Thời điểm bắt đầu tính phí là ngày đầu tiên của năm thứ tư kể từ ngày tên miền được cấp.

    Thông tư cũng sửa đổi biểu mức thu lệ phí đăng ký và phí duy trì sử dụng tên miền quốc gia “.vn”.

    Theo đó, lệ phí đăng ký tên miền cấp 2 có một ký tự, hai ký tự và các tên miền cấp 2 khác là 100.000 đồng/lần.

    Lệ phí đăng ký tên miền cấp 3 dưới các tên miền cấp 2 dùng chung như “com.vn”, “net.vn”, “biz.vn”, “ai.vn”, “on.vn” là 100.000 đồng/lần; các tên miền “edu.vn”, “gov.vn”, “org.vn”, “ac.vn”, “health.vn”, “int.vn”, “ad.vn” và tên miền theo địa giới hành chính là 50.000 đồng/lần; các tên miền “info.vn”, “pro.vn”, “id.vn”, “io.vn”, “name.vn”, “ap.vn” là 10.000 đồng/lần. Lệ phí đăng ký tên miền tiếng Việt là 10.000 đồng/lần.

    Đối với phí duy trì sử dụng tên miền quốc gia “.vn”, mức thu hằng năm đối với tên miền cấp 2 có một ký tự là 40 triệu đồng; tên miền cấp 2 có hai ký tự là 10 triệu đồng; tên miền cấp 2 khác là 350.000 đồng.

    Mức phí duy trì tên miền cấp 3 dưới “com.vn”, “net.vn”, “biz.vn”, “ai.vn”, “on.vn” là 250.000 đồng/năm; dưới “edu.vn”, “gov.vn”, “org.vn”, “ac.vn”, “health.vn”, “int.vn”, “ad.vn” và tên miền theo địa giới hành chính là 100.000 đồng/năm; dưới “info.vn”, “pro.vn”, “id.vn” là 50.000 đồng/năm; dưới “io.vn”, “name.vn”, “ap.vn” và tên miền tiếng Việt là 20.000 đồng/năm.

    Thông tư số 149/2026/TT-BTC có hiệu lực thi hành từ ngày 23/11/2026. Đồng thời, Thông tư số 33/2019/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 34/2017/TT-BTC và Thông tư số 196/2016/TT-BTC quy định về phí khai thác, sử dụng thông tin dữ liệu đo đạc và bản đồ bị bãi bỏ.

    Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật được viện dẫn trong Thông tư được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì thực hiện theo văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế đó.

    Bình An

    Nguồn https://baomoi.com/mien-phi-ten-mien-quoc-gia-vn-trong-3-nam-cho-mot-so-doi-tuong-c56256165.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!