Author: bachdn

  • Gần 1.700 tỷ đồng nâng cấp đường băng sân bay Đà Nẵng, đón tàu lớn

    Bộ Xây dựng vừa phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng, cải tạo đường cất hạ cánh, đường lăn Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 1.696 tỷ đồng, triển khai trong giai đoạn 2026-2028.

    Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng được quy hoạch cấp sân bay 4E (theo mã tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế – ICAO) có thể khai thác tàu bay B747, B787, A350 và tương đương (ảnh minh họa).

    Dự án nhằm xây dựng, cải tạo đường cất hạ cánh, đường lăn tại Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, bảo đảm khai thác hiệu quả các loại tàu bay Code E như B747, B787, A350 hoặc tương đương. Qua đó, dự án góp phần đáp ứng nhu cầu vận tải hàng không, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh của thành phố Đà Nẵng và khu vực duyên hải miền Trung.

    Đây là dự án nhóm B, có quy mô xây dựng, cải tạo đường cất hạ cánh 17R/35L và hệ thống đường lăn của Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, bảo đảm quy mô cấp sân bay 4E theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO).

    Theo quyết định được phê duyệt, Bộ Xây dựng là cấp quyết định đầu tư; Ban Quản lý dự án Thăng Long được giao làm chủ đầu tư. Thời gian thực hiện dự án từ năm 2026 đến năm 2028.

    Cục Hàng không Việt Nam chịu trách nhiệm toàn diện về đề xuất chủ trương đầu tư cũng như tính chính xác của các thông tin, số liệu trong hồ sơ. Cục Hàng không Việt Nam có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định của Vụ Kế hoạch – Tài chính, hoàn thiện hồ sơ báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư và chuyển giao kết quả nghiên cứu cho Ban Quản lý dự án Thăng Long.

    Cơ quan này cũng cần phối hợp, hỗ trợ chủ đầu tư trong quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi và triển khai dự án, bảo đảm tiến độ; đồng thời thực hiện việc quyết định đưa vào khai thác, ngừng khai thác công trình hàng không theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng.

    Đối với Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM), Bộ Xây dựng yêu cầu chủ động nghiên cứu, triển khai các thủ tục theo quy định để đầu tư các công trình bảo đảm hoạt động bay thuộc phạm vi quản lý, phù hợp với quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng đã được phê duyệt.

    Các công trình bảo đảm hoạt động bay phải được đầu tư đồng bộ, bảo đảm khả năng khai thác cùng các hạng mục của sân bay được xây dựng, cải tạo trong dự án.

    Trước đó, trên cơ sở ý kiến góp ý của các cơ quan, đơn vị liên quan đối với báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, Cục Hàng không Việt Nam đã tiếp thu, giải trình, hoàn thiện hồ sơ và trình Bộ Xây dựng quyết định chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng, cải tạo đường cất hạ cánh, đường lăn Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng.

    Biển Ngọc

    Nguồn https://baomoi.com/gan-1-700-ty-dong-nang-cap-duong-bang-san-bay-da-nang-don-tau-lon-c55901705.epi

  • Đồng Nai: Đặt mục tiêu đón 11,5 triệu lượt khách du lịch và đạt doanh thu 12.000 tỷ vào năm 2030

    Ảnh minh họa. Ảnh: Viện Nghiên cứu Văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam.

    Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Đồng Nai vừa ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mạnh. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa Đồng Nai trở thành địa phương trọng điểm du lịch của vùng Đông Nam Bộ và phía Nam.

    Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển du lịch phù hợp với Quy hoạch hệ thống du lịch Việt Nam thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quy hoạch thành phố Đồng Nai thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và quy hoạch đô thị, nông thôn tại các xã, phường.

    HƯỚNG TỚI 11,5 TRIỆU LƯỢT KHÁCH VÀO NĂM 2030

    Đồng Nai định hướng phát triển du lịch trên cơ sở phát huy tiềm năng tự nhiên, văn hóa, đồng thời giữ gìn cảnh quan, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa địa phương. Thành phố sẽ phát triển đồng thời thị trường khách nội địa và quốc tế, tăng cường liên kết giữa ngành du lịch với các ngành, lĩnh vực và các địa phương trong vùng.

    Các sản phẩm được xác định là chủ đạo gồm: du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng gắn với hệ sinh thái rừng; du lịch văn hóa, trong đó khai thác các di tích lịch sử, kiến trúc, văn hóa bản địa, tín ngưỡng, nghề truyền thống và lễ hội; cùng với du lịch nông nghiệp, nông thôn và du lịch cộng đồng.

    Đồng Nai đặt mục tiêu  trở thành địa phương trọng điểm du lịch của vùng Đông Nam Bộ và phía Nam. Ảnh: Shutterstock.

    Mục tiêu đặt ra là xây dựng Đồng Nai trở thành điểm đến chất lượng, hấp dẫn và bền vững, dựa trên khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa, tự nhiên. Thành phố sẽ tập trung phát triển các sản phẩm có chất lượng, nâng cao tính chuyên nghiệp của dịch vụ, chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong du lịch.

    Đến năm 2030, Đồng Nai phấn đấu đón 11,5 triệu lượt khách, gồm hơn 11,2 triệu lượt khách nội địa và 290.000 lượt khách quốc tế. Tốc độ tăng trưởng bình quân lượt khách dự kiến đạt 18,6%/năm. Doanh thu dịch vụ du lịch mục tiêu đạt 11.950 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 27,5%/năm.

    Đến năm 2035, mục tiêu được nâng lên 20 triệu lượt khách, trong đó 19,4 triệu lượt khách nội địa và 600.000 lượt khách quốc tế. Doanh thu dịch vụ du lịch dự kiến đạt 24.000 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân 15,4%/năm.

    Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Đồng Nai sẽ tăng cường thu hút đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; xây dựng các sản phẩm đặc trưng, khác biệt và đa dạng hóa loại hình du lịch.

    Đáng chú ý, thành phố định hướng phát triển trung tâm hội nghị quốc tế cùng hệ thống khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn 4 – 5 sao, khu thương mại tự do phù hợp với loại hình du lịch MICE và mua sắm tại khu vực đô thị sân bay Long Thành. Đây được xem là hướng để tối ưu hóa thời gian lưu trú, đồng thời gia tăng mức chi tiêu của du khách.

    GỠ ĐIỂM NGHẼN ĐỂ KHAI THÁC TIỀM NĂNG

    Để hiện thực hóa mục tiêu này, Đồng Nai đang đẩy mạnh các hoạt động thu hút du khách, phát triển sản phẩm và xúc tiến đầu tư du lịch. Kết quả 8 tháng năm 2026 cho thấy thị trường đã có những tín hiệu tích cực.

    Ngày 21/8 vừa qua, ông Lê Trường Sơn, Phó Chủ tịch UBND thành phố, Phó Trưởng ban Chỉ đạo phát triển du lịch thành phố Đồng Nai (Ban Chỉ đạo) đã chủ trì buổi làm việc với các thành viên Ban Chỉ đạo nhằm đánh giá kết quả hoạt động 8 tháng năm 2026 và triển khai phương hướng những tháng cuối năm.

    Ông Lê Trường Sơn nhận định việc triển khai Nghị quyết 10-NQ/TU phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành và địa phương, nhằm bảo đảm các nhiệm vụ, giải pháp được thực hiện hiệu quả, từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mạnh của Đồng Nai.

    Tại buổi làm việc, bà Lê Thị Ngọc Loan Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố  Đồng Nai, cho biết trong 8 tháng năm 2026, Đồng Nai đón hơn 4 triệu lượt khách tham quan, lưu trú, đạt 69% chỉ tiêu kế hoạch năm. Trong đó, khách du lịch quốc tế đạt trên 105.000 lượt, khách nội địa gần 3,9 triệu lượt. Doanh thu du lịch đạt hơn 3.000 tỷ đồng, đạt 67,3% chỉ tiêu kế hoạch năm.

    Đến năm 2030, Đồng Nai phấn đấu đón 11,5 triệu lượt khách. Ảnh: Traveloka.

    Theo bà Loan, trong 8 tháng qua, các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch được tổ chức rộng khắp trên địa bàn thành phố. Nổi bật có Lễ hội chùa Ông; các lễ hội trái cây tại các phường Hàng Gòn, Bình Lộc, Long Khánh; Lễ hội Quả điều vàng 2026 với chủ đề “Khơi nguồn giá trị – Nâng tầm hạt điều Việt”; Giải chạy Cát Tiên Jungle Path; Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân; Giải Vô địch Muay trẻ quốc gia.

    Đặc biệt, thành phố lần đầu phối hợp với Cục Thể dục thể thao Việt Nam tổ chức Giải Vô địch Pencak Silat Châu Á. Các hoạt động này đã thu hút đông đảo du khách, vận động viên tham gia, qua đó góp phần quảng bá hình ảnh và tăng sức hút du lịch.

    Cũng tại buổi làm việc, Ban Chỉ đạo phát triển du lịch thành phố thông tin về tiến độ một số dự án du lịch trọng điểm, trong đó có Dự án khu du lịch nghỉ dưỡng, giải trí núi Chứa Chan; việc lập quy hoạch chung tỷ lệ 1/10.000 Khu du lịch quốc gia hồ Trị An và Dự án Khu đô thị, dịch vụ và du lịch sinh thái núi Bà Rá quy mô 1.200 ha trên địa bàn phường Phước Long.

    Chùa Ông là lễ hội thường niên ở Đồng Nai thu hút đông đảo người dân, du khách tham gia mỗi dịp đầu xuân năm mới. Ảnh: Viện Nghiên cứu Văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam.

    Tuy nhiên, Ban Chỉ đạo phát triển du lịch thành phố đánh giá tiến độ một số dự án đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch còn chậm. Nguyên nhân chủ yếu liên quan đến khó khăn về nguồn vốn, hiệu quả đầu tư chưa cao, vướng quy hoạch sử dụng đất và khó khăn trong thương lượng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi giá đất tăng.

    Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, hạ tầng du lịch cũng chưa đồng bộ, trong khi số lượng các khu du lịch quy mô lớn, chất lượng cao còn hạn chế. Những khu vực có nhiều tiềm năng như hồ Trị An, không gian ven sông Đồng Nai, khu vực Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Khu Bảo tồn thiên nhiên – văn hóa Đồng Nai cùng các khu du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng vẫn đang trong quá trình rà soát, hoàn thiện quy hoạch. Điều này khiến địa phương chưa có đủ cơ sở để lựa chọn nhà đầu tư và triển khai các dự án.

    Nghị quyết 10-NQ/TU đặt mục tiêu phát triển du lịch Đồng Nai tương xứng với tiềm năng, lợi thế mới, trở thành địa phương phát triển nhanh về du lịch, đóng góp vào phát triển kinh tế – xã hội theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và Chương trình hành động số 02-CTr/TU ngày 23/10/2025.

    Nghị quyết nêu rõ 7 quan điểm phát triển du lịch của thành phố gồm: phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mạnh, mang tính tổng hợp, hướng đến chất lượng cao, đẳng cấp, có trọng tâm, trọng điểm dựa vào tiềm năng, lợi thế riêng, là một trong 5 trụ cột phát triển kinh tế của thành phố, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, của toàn xã hội.

    Mộc Đình

    Nguồn https://baomoi.com/dong-nai-dat-muc-tieu-don-11-5-trieu-luot-khach-du-lich-va-dat-doanh-thu-12-000-ty-vao-nam-2030-c55901897.epi

  • Đà Nẵng kêu gọi đầu tư vào khu đất 276ha tại Khu thương mại tự do

    Bản đồ các vị trí dự kiến (màu đỏ) thuộc Khu thương mại tự do Đà Nẵng. Ảnh chụp lại từ DSEZA

    Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng (DSEZA) đã công bố thông tin chi tiết về dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng tại khu chức năng này.

    Địa điểm Dự án được thực hiện tại xã Hòa Vang, với mục tiêu xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu chức năng thuộc Khu thương mại tự do Đà Nẵng. Đây là một phần quan trọng trong định hướng phát triển của khu vực, phù hợp với các quy hoạch cấp quốc gia và địa phương đã được phê duyệt.

    Theo đó, Dự án có diện tích đất sử dụng lên tới 276 ha, với thời hạn hoạt động không quá 70 năm kể từ ngày được Nhà nước quyết định cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất. Hiện trạng khu đất này chưa thực hiện giải phóng mặt bằng, tạo cơ hội cho các nhà đầu tư tham gia từ giai đoạn đầu.

    Về vị trí địa lý, khu đất này có ranh giới phía Bắc giáp khu dân cư hiện trạng thôn Hòa Phú và hồ Hố Cau, phía Nam giáp đường ven sông Túy Loan, phía Đông giáp đường Vành đai phía Tây, và phía Tây giáp đồi núi thôn Phú Túc.

    Hiện, Đà Nẵng đang tập trung hoàn thành Đề án điều chỉnh, mở rộng ranh giới Khu thương mại tự do, đồng thời khai thác hiệu quả các lợi thế của khu vực này gắn với cảng biển Liên Chiểu, Khu kinh tế mở Chu Lai, sân bay Chu Lai và các đô thị động lực phía Nam thành phố. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ, Đà Nẵng đang mở ra nhiều cơ hội đầu tư hấp dẫn cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

    Khu thương mại tự do Đà Nẵng là khu kinh tế đặc biệt đầu tiên của Việt Nam, quy mô khoảng 1.881 ha chia thành 7 vị trí không liền kề. Mô hình này tập trung vào sản xuất, logistics, thương mại dịch vụ, công nghệ số và đổi mới sáng tạo, gắn kết chặt chẽ với cảng nước sâu Liên Chiểu. Các khu vực chính gồm Trung tâm logistics và hậu cần kho bãi thông minh phục vụ cảng Liên Chiểu; Khu vực sản xuất, thương mại – dịch vụ; Khu công nghiệp công nghệ số, công nghệ thông tin và đổi mới sáng tạo.

    Tính đến thời điểm hiện tại, thành phố Đà Nẵng đã chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 4 trên tổng số 7 vị trí (phân khu) của Khu thương mại tự do (FTZ) Đà Nẵng.

    Cụ thể, các vị trí đã có nhà đầu tư chính thức bao gồm: Vị trí số 2 (Quy mô 75ha): Được Ủy ban Nhân dân (UBND) thành phố chấp thuận cho Công ty CP Đầu tư Sài Gòn – Đà Nẵng làm nhà đầu tư dự án hạ tầng khu chức năng (tập trung vào logistics, kho bãi, nhà xưởng dịch vụ). Dự kiến vị trí này sẽ chính thức khởi công vào dịp Lễ Quốc khánh 2/9/2026.

    Vị trí số 3 (Quy mô khoảng 500ha): Công ty CP Đầu tư Phương Trang được lựa chọn làm nhà đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu chức năng, với tổng vốn đầu tư hơn 8.119 tỷ đồng.

    Vị trí số 4 (Quy mô 335ha): Công ty CP Thanh Bình Phú Mỹ được chấp thuận đầu tư dự án Khu công nghiệp FTZ Phú Mỹ 3 Đà Nẵng, tổng vốn đầu tư 5.338 tỷ đồng.

    Nghi thức khởi công vị trí số 5, Khu thương mại tự do Đà Nẵng, vào ngày 27/8/2025. Ảnh Ngô Anh Văn

    Vị trí số 5 (Quy mô khoảng 90ha): Đây là vị trí được khởi động sớm nhất từ tháng 8/2025, do Công ty CP Dịch vụ Cáp treo Bà Nà (thuộc Tập đoàn Sun Group) làm nhà đầu tư với tổng vốn dự kiến hơn 808 tỷ đồng.

    Các vị trí còn lại gồm: Số 1, số 6 và số 7 đang được thành phố xúc tiến, kêu gọi đầu tư.

    Khu thương mại tự do Đà Nẵng hứa hẹn sẽ trở thành một điểm đến đầu tư lý tưởng của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững cho thành phố và khu vực miền Trung.

    Ngô Anh Văn

    Nguồn https://baomoi.com/da-nang-keu-goi-dau-tu-vao-khu-dat-276ha-tai-khu-thuong-mai-tu-do-c55901785.epi

  • Bắc Ninh chấp thuận đầu tư khu nhà ở xã hội hơn 1.000 căn hộ tại phường Bồng Lai

    Dự án do Công ty cổ phần Badeco làm chủ đầu tư, được triển khai trên diện tích đất khoảng 4,45 ha, quy mô dân số khoảng 3.609 người, nhằm cụ thể hóa chủ trương phát triển nhà ở xã hội, đáp ứng nhu cầu nhà ở cho các đối tượng đủ điều kiện hưởng chính sách nhà ở xã hội theo quy định.

    Ảnh minh họa.

    Theo Quyết định, dự án gồm 2 tòa nhà ở xã hội được xây dựng trên khu đất khoảng 17.997m², cao 19 tầng nổi, không có tầng hầm. Tổng diện tích sàn xây dựng khoảng 103.474m², trong đó diện tích sàn nhà ở khoảng 69.437m², dự kiến cung cấp khoảng 1.021 căn hộ, diện tích từ 45 – 77 m²/căn, đáp ứng chỗ ở cho khoảng 3.472 người. Ngoài ra, các hạng mục chỗ để xe, không gian sinh hoạt cộng đồng, nhà trẻ, không gian công cộng và khu sinh hoạt chung được bố trí trong các tòa nhà.

    Bên cạnh quỹ nhà ở xã hội, dự án dự kiến xây dựng khoảng 38 căn nhà ở thương mại liền kề, xây thô, hoàn thiện mặt ngoài trên khu đất khoảng 3.502 m², cao 5 tầng và 1 tum, đáp ứng chỗ ở cho khoảng 137 người.

    Hệ thống hạ tầng kỹ thuật của dự án được đầu tư đồng bộ, gồm giao thông, cấp nước, thoát nước, cấp điện, phòng cháy, chữa cháy, xử lý nước thải, thu gom rác thải, công viên, cây xanh, bãi đỗ xe… bảo đảm kết nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật chung của khu vực và tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành.

    Tổng vốn đầu tư sơ bộ của dự án khoảng 1.541,17 tỷ đồng, chưa bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định. Dự án có thời hạn hoạt động 50 năm kể từ ngày được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư. Tiến độ thực hiện dự kiến 48 tháng, trong đó khoảng 12 tháng dành cho lập quy hoạch chi tiết, giải phóng mặt bằng, thực hiện các thủ tục về đất đai và khởi công; khoảng 33 tháng thi công hạ tầng kỹ thuật và toàn bộ công trình; 3 tháng nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng.

    Chủ đầu tư được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và hỗ trợ lãi suất theo quy định của pháp luật về nhà ở xã hội và các quy định có liên quan, với điều kiện đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định.

    Việc triển khai dự án góp phần cụ thể hóa Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đồng thời, góp phần đáp ứng nhu cầu nhà ở cho các đối tượng đủ điều kiện hưởng chính sách nhà ở xã hội theo quy định, đảm bảo an sinh xã hội và phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

    TS

    Nguồn https://baomoi.com/bac-ninh-chap-thuan-dau-tu-khu-nha-o-xa-hoi-hon-1-000-can-ho-tai-phuong-bong-lai-c55901648.epi

  • Quốc hội ‘chốt’ phương án đầu tư, xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô

    Mở không gian phát triển mới cho Vùng Thủ đô và cả nước

    Sáng 24/8, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội với đa số đại biểu Quốc hội có mặt tán thành.

    Với 463/470 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã chính thức thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội.

    Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội.

    Trước khi Quốc hội biểu quyết, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đã trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội.

    Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết, thực hiện chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Xây dựng đã khẩn trương nghiên cứu tổng thể phương án đầu tư toàn tuyến Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội, xác định đây không chỉ là một tuyến đường đơn lẻ mà là trục kết nối liên vùng, công trình hạ tầng chiến lược nhằm mở rộng không gian phát triển mới của Vùng Thủ đô.

    Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Chính phủ đã cân nhắc nhiều phương án đầu tư phù hợp với khả năng cân đối vốn, đồng thời đề xuất Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư một lần đối với toàn tuyến để tạo cơ sở pháp lý cho Bộ Xây dựng và các địa phương triển khai thống nhất, đồng bộ, tránh tình trạng cắt khúc, chắp vá. Bộ trưởng Bộ Xây dựng cho rằng, cách làm này vừa bảo đảm thận trọng, khả thi, vừa giữ được tầm nhìn dài hạn.

    Trên cơ sở đó, Chính phủ đề nghị Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua chủ trương đầu tư để tuyến đường sớm được hình thành, qua đó mở ra không gian và động lực phát triển mới cho Vùng Thủ đô Hà Nội và cả nước.

    Đi qua 7 tỉnh, thành phố với tổng mức đầu tư 288.268 tỷ đồng

    Theo Nghị quyết được Quốc hội thông qua, đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội dài khoảng 349km thuộc địa phận 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ và được đầu tư bằng hình thức đầu tư công, chia thành các dự án thành phần.

    Sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án là 288.268 tỷ đồng. Nguồn vốn ngân sách nhà nước bố trí trong các kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn và nguồn vốn hợp pháp khác. Trong đó, dự kiến bố trí khoảng 61.394 tỷ đồng nguồn vốn ngân sách trung ương giai đoạn 2026 – 2030 để đầu tư tuyến chính cao tốc, dự kiến khoảng 116 km thuộc địa phận 4 tỉnh, thành phố: Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh.

    Dự án áp dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại, bảo đảm yêu cầu về an toàn, đồng bộ, chất lượng và hiệu quả. Khuyến khích ứng dụng công nghệ cao trong khảo sát, thiết kế, thi công, thích ứng với biến đổi khí hậu. Thực hiện hình thức thu phí điện tử không dừng trong khai thác, vận hành. Về tiến độ thực hiện, chuẩn bị đầu tư Dự án từ năm 2026; thực hiện dự án từ năm 2027; phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.

    Dự án được áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt như: trong thời gian Quốc hội không họp, Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án (trừ các trường hợp sau: trường hợp tăng phần vốn ngân sách trung ương bố trí cho Dự án, trình Quốc hội xem xét, quyết định; trường hợp tăng phần vốn ngân sách địa phương bố trí cho Dự án do địa phương xem xét, quyết định). Dự án không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn theo quy định của Luật Đầu tư công.

    Về công tác bồi thường, tái định cư: UBND cấp tỉnh có Dự án đi qua chủ động bố trí, xây dựng khu tái định cư trên cơ sở hồ sơ thiết kế sơ bộ trong Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư.

    Nghị quyết của Quốc hội cũng cho phép UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu vực bãi đổ chất thải xây dựng trong Hồ sơ khảo sát Dự án và bàn giao mặt bằng cho nhà thầu để đổ chất thải xây dựng của Dự án; tổ chức quản lý bãi đổ chất thải xây dựng của Dự án theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về môi trường và quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Với các cơ chế, chính sách đặc thù đã được Quốc hội thông qua, Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội được kỳ vọng sớm hình thành, tạo tuyến đường bộ cao tốc kết nối Thủ đô Hà Nội với các địa phương trong vùng, nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải bền vững, tạo động lực lan tỏa, mở ra không gian phát triển kinh tế mới.

    Đồng thời kỳ vọng, dự án tạo tiền đề phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; phân luồng giao thông từ xa, góp phần giảm ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường; hoàn thiện đồng bộ hệ thống đường vành đai Thủ đô Hà Nội và thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và các Nghị quyết của Đảng.

    Cũng trong sáng ngày 24/8, với 467/470 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.  Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng; khắc phục khó khăn, vướng mắc; phù hợp mô hình chính quyền địa phương hai cấp; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số; đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về kiến trúc.

    Hoàng Hòa

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-chot-phuong-an-dau-tu-xay-dung-duong-vanh-dai-5-vung-thu-do-c55901663.epi

  • Quốc hội thông qua luật sửa đổi 4 luật về công nghệ và viễn thông

    Kết quả biểu quyết bằng hình thức bấm nút điện tử cho thấy, có 477/477 đại biểu Quốc hội (ĐBQH) có mặt tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 95,4% trên tổng số ĐBQH, thông qua dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ (dự án Luật).

    100% đại biểu Quốc hội có mặt biểu quyết tán thành thông qua dự án Luật.

    Trước đó, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ đã trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.

    Dự thảo Luật đã được tiếp thu, chỉnh lý một số nội dung chủ yếu. Trong đó, thống nhất tên gọi các cơ quan, tổ chức tại tất cả các điều, khoản của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ. Bổ sung quy định về hiệu lực thi hành sớm đối với 2 nội dung; bổ sung điều khoản chuyển tiếp; bổ sung việc công chứng chỉ vô tuyến điện viên.

    Sửa đổi điều kiện cấp giấy phép sử dụng tần số và quỹ đạo vệ tinh. Bổ sung quy định về chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông để thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Làm rõ cơ chế xây dựng, ban hành chương trình để phát triển thị trường khoa học và công nghệ quốc gia; vai trò và cơ chế phối hợp của Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan trong việc xây dựng, ban hành chương trình, đề án, chính sách.

    Đồng thời, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Quốc phòng, Công an, Xây dựng rà soát kỹ thuật lập pháp đối với toàn bộ dự thảo Luật.

    Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật.

    Dự thảo Luật đã được chỉnh lý về kỹ thuật lập pháp và đã bổ sung quy định sửa đổi điểm c khoản 1 Điều 46 về trách nhiệm của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trong việc cấp, công nhận, thu hồi chứng chỉ vô tuyến điện viên để đồng bộ, thống nhất với Điều 32. Các nội dung tiếp thu, giải trình đã được thể hiện thống nhất, nhất quán trong dự thảo Luật sau chỉnh lý.

    Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đề nghị quán triệt nguyên tắc việc cắt giảm thủ tục hành chính, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện để khơi thông nguồn lực nhưng không buông lỏng quản lý nhà nước. Khẩn trương ban hành văn bản quy định chi tiết để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của Luật, không tạo thêm thủ tục, điều kiện kinh doanh trái thẩm quyền, không để phát sinh khoảng trống pháp lý.

    Về cắt giảm thủ tục hành chính, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, dự thảo Luật đã được rà soát, chỉnh lý để cắt giảm thủ tục hành chính, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, tạo thuận lợi cho tổ chức, doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước.

    Đối với Luật Tần số vô tuyến điện, việc phân định lại thẩm quyền quản lý hoạt động đào tạo, cấp chứng chỉ cho người khai thác thiết bị vô tuyến điện thuộc nghiệp vụ di động hàng hải từ Bộ Khoa học và Công nghệ sang Bộ Xây dựng đã tạo cơ sở để bãi bỏ ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện “Đào tạo, cấp chứng chỉ vô tuyến điện viên” tại Luật Đầu tư.

    “Việc điều chỉnh này góp phần thực hiện chủ trương cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đồng thời bảo đảm một đầu mối quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo, sát hạch, cấp chứng chỉ và quản lý người khai thác thiết bị vô tuyến điện trong lĩnh vực hàng hải, qua đó tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân và tránh chồng chéo trong thực hiện thủ tục hành chính. Việc điều chỉnh này cũng phù hợp với vai trò đại diện Việt Nam tại Tổ chức Hàng hải quốc tế của Bộ Xây dựng”, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nói.

    Đối với Luật Viễn thông, việc cắt giảm điều kiện hoạt động đối với tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền được thực hiện đồng thời với việc thiết lập cơ chế quản lý theo hướng hậu kiểm nhằm bảo đảm việc cắt giảm điều kiện kinh doanh không tạo khoảng trống trong công tác quản lý nhà nước.

    Theo đó, công tác quản lý được thực hiện trên cơ sở ứng dụng công nghệ, dữ liệu số kết hợp cơ chế báo cáo, giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Các nội dung về công cụ quản lý, trách nhiệm quản lý, nguồn dữ liệu quản lý, chế tài xử lý vi phạm bao gồm đình chỉ hoặc chấm dứt hoạt động cung cấp dịch vụ đã được quy định tại các văn bản đang có hiệu lực thi hành và sẽ được tiếp tục rà soát, hoàn thiện trong quá trình sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật năm 2026.

    Đối với Luật Giao dịch điện tử, việc cắt giảm thủ tục hành chính gia hạn giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy, thay đổi nội dung giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm chi phí tuân thủ khi bãi bỏ các thủ tục hành chính không còn cần thiết. Đồng thời, việc cắt giảm các thủ tục này được triển khai trên cơ sở sử dụng tối đa dữ liệu có sẵn trong cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối liên thông. Doanh nghiệp chỉ phải thực hiện thông báo, cập nhật một lần duy nhất tại cơ quan quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp.

    Công tác quản lý nhà nước được chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian gia hạn giấy phép bằng cơ chế báo cáo, chia sẻ thông tin trực tiếp trên môi trường điện tử giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, hậu kiểm trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp sau cấp phép.

    Về yêu cầu ban hành kịp thời, đồng bộ văn bản quy định chi tiết, không phát sinh khoảng trống pháp lý, thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trái thẩm quyền

    Tiếp thu ý kiến của UBTVQH, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát, xác định cụ thể các nội dung cần quy định chi tiết để khẩn trương xây dựng, ban hành hoặc trình ban hành, bảo đảm có hiệu lực đồng thời với Luật, không làm gián đoạn việc thực hiện các quy định của Luật sau khi được thông qua.

    Chính phủ sẽ chỉ đạo các cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thiện, ban hành, trình ban hành các văn bản liên quan, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với Luật, không tạo thêm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh không cần thiết và không để phát sinh khoảng trống pháp lý.

    Minh Thu

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-thong-qua-luat-sua-doi-4-luat-ve-cong-nghe-va-vien-thong-c55901643.epi

  • Rà soát, nâng cao hiệu quả hoạt động nhà văn hóa thôn, tổ dân phố

    Sở đề nghị UBND các xã, phường tổ chức rà soát toàn bộ nhà văn hóa trên địa bàn, đánh giá cụ thể hiện trạng đất đai, cơ sở vật chất, diện tích, quy mô, công năng, chất lượng công trình, trang thiết bị, mức độ khai thác và nhu cầu sử dụng. Trên cơ sở đó, xây dựng phương án quản lý, khai thác đối với từng công trình, bảo đảm phù hợp quy mô dân số, điều kiện địa bàn, khoảng cách đi lại và nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng.

    Nhà văn hóa thôn Hoài Thượng, xã Liên Bão.

    Việc sắp xếp phải ưu tiên khai thác tối đa cơ sở vật chất hiện có, hạn chế xây dựng mới khi công trình vẫn có khả năng sử dụng, cải tạo hoặc nâng cấp; không để tài sản công bị bỏ không, xuống cấp hoặc sử dụng sai mục đích. Các nhà văn hóa được lựa chọn làm nơi sinh hoạt chung cần bảo đảm điều kiện về vị trí, diện tích, hội trường, khuôn viên, cơ sở vật chất và trang thiết bị. Những công trình chưa đáp ứng yêu cầu được xây dựng lộ trình cải tạo, sửa chữa, nâng cấp theo hướng thiết yếu, đồng bộ, tiết kiệm, tránh đầu tư dàn trải.

    Đối với các nhà văn hóa không được lựa chọn làm địa điểm sinh hoạt chung, địa phương có thể bố trí làm điểm sinh hoạt cụm dân cư, nơi hoạt động của các câu lạc bộ, điểm đọc sách, không gian học tập cộng đồng, tuyên truyền pháp luật, chuyển đổi số, giáo dục truyền thống và tổ chức các hoạt động văn hóa, xã hội, khuyến học, khuyến tài.

    Tin, ảnh: Thanh Lâm

    Nguồn https://baomoi.com/ra-soat-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-nha-van-hoa-thon-to-dan-pho-c55901641.epi

  • Đảo bếp càng lớn càng sang? Sự thật khiến nhiều gia đình phải nghĩ lại trước khi xuống tiền

    Những mặt hạn chế của đảo bếp cần cân nhắc

    Đảo bếp càng lớn, không gian càng bị thu hẹp

    Sai lầm phổ biến khi thiết kế đảo bếp là chỉ tính kích thước của đảo mà quên mất khoảng trống xung quanh.

    Một căn bếp rộng chưa chắc đã phù hợp với đảo bếp khổng lồ nếu còn phải bố trí hệ tủ, tủ lạnh, bếp, máy rửa bát và bàn ăn. Chỉ cần đảo lớn thêm một chút, lối đi giữa đảo và tủ bếp có thể trở nên chật chội.

    Bất tiện thường chỉ xuất hiện sau khi gia đình bắt đầu sử dụng: mở máy rửa bát thì người khác khó đi qua, mở tủ lạnh dễ va vào người đang ngồi ở đảo, hai người cùng nấu ăn cũng khó xoay xở.

    Vì vậy, đừng chỉ hỏi “Bếp nhà mình đặt được đảo dài bao nhiêu?” mà hãy hỏi: “Sau khi đặt đảo, mọi người còn đi lại và thao tác thoải mái không?”.

    Đảo bếp càng lớn, không gian càng bị thu hẹp

    Mặt bàn càng rộng chưa chắc càng hữu ích

    Một đảo bếp lớn đồng nghĩa với rất nhiều diện tích mặt bàn. Nhưng gia đình có thực sự sử dụng hết số diện tích đó?.

    Ban đầu, một phần để sơ chế, một phần đặt máy pha cà phê, phần còn lại có vẻ rất tiện. Nhưng sau một thời gian, mặt bàn rộng có thể nhanh chóng biến thành nơi đặt túi xách, hóa đơn, bình nước, hộp đồ ăn, đồ chơi của trẻ…

    Đây là lý do các thiết kế căn bếp hiện nay ngày càng chú trọng lưu trữ kín và hệ ngăn kéo thông minh. Một đảo bếp vừa phải nhưng được chia ngăn hợp lý đôi khi hữu ích hơn một khối đảo khổng lồ chỉ có thêm diện tích để bày đồ.

    Đảo bếp lớn có thể “nuốt” mất bàn ăn

    Một xu hướng phổ biến là biến đảo bếp thành nơi ăn uống, đặc biệt với những gia đình muốn tối ưu diện tích.

    Cách này phù hợp cho bữa sáng nhanh hoặc một tách cà phê. Nhưng nếu dùng đảo thay hoàn toàn cho bàn ăn, sự bất tiện có thể xuất hiện.

    Ghế bar không phải lúc nào cũng thoải mái cho một bữa tối kéo dài. Trẻ nhỏ, người lớn tuổi cũng có thể phù hợp hơn với bàn ghế tiêu chuẩn. Quan trọng hơn, bàn ăn cho phép các thành viên ngồi đối diện, trò chuyện với nhau dễ dàng.

    Một hàng ghế bar rất đẹp trong ảnh chưa chắc tạo ra trải nghiệm ăn uống tốt nhất cho cả gia đình.

    Đảo bếp quá sâu cũng có thể trở thành “điểm mù”

    Có một nghịch lý: đảo bếp càng rộng thì mặt bàn càng nhiều, nhưng không phải vị trí nào cũng dễ sử dụng.

    Một mặt đảo quá sâu có thể khiến việc với tới phần giữa trở nên khó khăn. Lau chùi cũng mất công hơn, đặc biệt khi gia đình phải vệ sinh mặt bàn mỗi ngày.

    Trên bản thiết kế 3D, một khối đá lớn trông rất sang. Nhưng trong đời thực, gia chủ mới là người phải lau toàn bộ diện tích đó.

    Do đó, thay vì chạy theo kích thước, nên ưu tiên chiều sâu và chiều dài vừa đủ cho các thao tác thực tế.

    Đảo bếp càng lớn, chi phí càng không đơn giản

    Chi phí của một đảo bếp không chỉ nằm ở phần tủ. Kích thước lớn hơn đồng nghĩa với nhiều vật liệu hơn, mặt đá lớn hơn, nhiều ngăn kéo, phụ kiện, ổ cắm, đèn và ghế hơn.

    Nếu tích hợp bếp từ, bồn rửa hoặc máy rửa bát, hệ thống điện, cấp thoát nước cũng có thể khiến chi phí tăng thêm.

    Vì vậy, nếu phần diện tích tăng thêm không tạo ra công năng rõ ràng, gia chủ có thể cân nhắc chuyển ngân sách sang những thứ hữu ích hơn như hệ lưu trữ tốt, máy hút mùi, chiếu sáng, phụ kiện tủ hoặc một pantry riêng.

    Đảo bếp càng lớn, chi phí càng không đơn giản

    Đảo bếp “đúng nhu cầu” mới là lựa chọn đúng

    Đảo bếp lớn không phải lựa chọn sai. Một gia đình đông người, thường xuyên nấu ăn, thích tụ tập và có không gian rộng hoàn toàn có thể hưởng lợi từ một chiếc đảo lớn. Nhưng với căn hộ vừa phải, gia đình ít người hoặc những người không thường xuyên nấu nướng, một đảo nhỏ gọn có thể hợp lý hơn rất nhiều.

    Điều quan trọng không phải đảo bếp lớn đến đâu, mà nó giải quyết được bao nhiêu nhu cầu thực tế.

    Trước khi quyết định kích thước, hãy thử trả lời vài câu hỏi: Gia đình có bao nhiêu người thường xuyên dùng bếp? Có cần ăn tại đảo không? Đã có bàn ăn riêng chưa? Khi mở tủ lạnh, máy rửa bát, mọi người có còn đi lại thoải mái? Toàn bộ mặt bàn có thực sự được sử dụng?.

    Nếu một chiếc đảo nhỏ hơn giúp căn bếp rộng đường đi, dễ vệ sinh, tiết kiệm chi phí mà vẫn đáp ứng đủ nhu cầu.

    Kỳ Anh

    Nguồn https://baomoi.com/dao-bep-cang-lon-cang-sang-su-that-khien-nhieu-gia-dinh-phai-nghi-lai-truoc-khi-xuong-tien-c55901713.epi

  • Bộ Xây dựng đề xuất ‘một chính sách, nhiều dự án’ để thúc tiến độ cao tốc

    Cần cơ chế chung để tăng tốc từ khâu chuẩn bị đầu tư

    Bộ Xây dựng vừa báo cáo Chính phủ về cơ chế đặc thù cho dự án đường Vành đai-Vùng Thủ đô Hà Nội và các tuyến cao tốc giai đoạn 2026-2030 thuộc các dự án đầu tư công.

    Việc nghiên cứu một số chính sách đặc biệt để bảo đảm tiến độ các dự án đường bộ giai đoạn 2026 – 2030 được đánh giá là cần thiết (Ảnh minh hoạ).

    Thống kê của Bộ Xây dựng cho thấy, đến nay, Quốc hội đã ban hành 12 nghị quyết liên quan đến cơ chế, chính sách đặc biệt đối với các dự án đường bộ cao tốc, gồm 2 nghị quyết áp dụng chung cho các dự án và 10 nghị quyết riêng cho 10 dự án quan trọng quốc gia.

    Các nghị quyết này quy định khoảng 9 nhóm cơ chế, chính sách đặc biệt, liên quan đến: phân cấp thẩm quyền quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội; không phải thẩm định khả năng cân đối vốn; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phân cấp đầu tư; khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường; chuyển đổi hình thức đầu tư từ PPP sang đầu tư công; bãi đổ chất thải rắn xây dựng; thi tuyển phương án kiến trúc công trình thuộc dự án và chỉ định thầu.

    Qua thực tiễn triển khai, 2/9 nhóm cơ chế, chính sách đã được luật hóa, gồm phân cấp đầu tư và khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường theo quy định của Luật Đường bộ, Luật Địa chất và Khoáng sản cùng các quy định pháp luật có liên quan.

    Đối với Dự án đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội, đây là dự án có quy mô và nhu cầu nguồn lực rất lớn; đồng thời mang tính chất đường vành đai đô thị, gắn với hệ thống đường song hành, phát triển đô thị, công nghiệp, dịch vụ, logistics dọc tuyến. Dự án đi qua 7 địa phương, với điều kiện địa hình đa dạng từ đồng bằng đến đồi núi.

    Dự án đề xuất áp dụng 9 nhóm cơ chế, chính sách đặc thù, trong đó có 8 chính sách từng được Quốc hội cho phép áp dụng tại một số dự án khác, gồm: thẩm quyền quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư; thẩm định khả năng cân đối vốn; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; bãi đổ chất thải rắn xây dựng; chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác; chỉ định thầu; điều chỉnh các quy hoạch có liên quan; khai thác giá trị tăng thêm từ khu vực dọc tuyến. Một chính sách mới được đề xuất là cho phép chuyển đổi hình thức đầu tư.

    Qua rà soát, Bộ Xây dựng nhận thấy nhiều cơ chế, chính sách đặc biệt đã được Quốc hội cho phép áp dụng lặp lại tại các dự án có tính chất tương đồng.

    Theo Bộ Xây dựng, việc mỗi dự án phải trình Quốc hội ban hành một nghị quyết riêng để áp dụng những cơ chế, chính sách cơ bản giống nhau không chỉ kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư mà còn có thể dẫn đến cách xử lý thiếu thống nhất giữa các dự án có tính chất tương đồng.

    4 nhóm chính sách có thể nghiên cứu áp dụng chung

    Về khả năng áp dụng các chính sách đặc biệt đang dự kiến đề xuất cho dự án đường Vành đai 5 cho các dự án đường bộ cao tốc khác, Bộ Xây dựng cho rằng, 5 nhóm chính sách đề nghị không áp dụng chung cho các dự án khác.

    Cụ thể là chính sách phân cấp cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư do chính sách này chỉ áp dụng cho dự án quan trọng quốc gia khi trình Quốc hội nên không xem xét áp dụng chung cho tất cả nhóm dự án khác.

    Các chính sách không thẩm định nguồn vốn, khả năng cân đối vốn do dự án Vành đai 5 có quy mô lớn (chiều dài tổng thể 349km), khả năng cân đối giai đoạn 2026-2030 chỉ đáp ứng khoảng gần 28% sơ bộ tổng mức đầu tư nên cần cơ chế này để Quốc hội xem xét, thông qua chủ trương một lần, trước mắt triển khai các đoạn phù hợp với khả năng cân đối vốn; các đoạn còn lại sẽ triển khai trong thời gian tiếp theo. Cơ chế này đã xin ý kiến Bộ Chính trị.

    Các dự án khác có quy mô nhỏ hơn Vành đai 5 nên phải đánh giá khả năng cân đối vốn, tránh việc quyết định đầu tư đồng loạt khi chưa xác định được nguồn vốn, dẫn đến công trình dở dang, gây thất thoát, lãng phí, tuân thủ quy định của Ban Chỉ đạo Trung ương.

    Đối với chính sách điều chỉnh các quy hoạch có liên quan chỉ áp dụng cho dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng liên quan TOD và dự án đường Vành đai 5 liên quan đến quy mô quy hoạch đường song hành theo các quy hoạch của địa phương, không áp dụng rộng rãi nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống quy hoạch hiện hành.

    Ngoài ra, chính sách khai thác giá trị đất tăng thêm dọc tuyến cũng chưa có đánh giá, tổng kết về kết quả thực hiện.

    Chuyển đổi hình thức đầu tư cũng là chính sách được Bộ Xây dựng đề xuất áp dụng với dự án Vành đai 5 Vùng Thủ đô Hà Nội, không áp dung chung cho các dự án.

    Nguyên nhân do dự án đường Vành đai 5 Vùng Thủ đô Hà Nội được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư công, cần xin phân cấp điều chỉnh hình thức đầu tư. Các dự án khác (không phải dự án quan trọng quốc gia) cấp có thẩm quyền là Bộ trưởng/Chủ tịch UBND cấp tỉnh thực hiện theo quy định hiện hành, không phải đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù.

    Căn cứ thực tiễn nghiên cứu và triển khai, theo Bộ Xây dựng, có 4 nhóm chính sách sơ bộ có thể xem xét, nghiên cứu để áp dụng chung: chính sách chỉ định thầu; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; chuyển đổi mục đích sử dụng rừng; bãi đổ thải.

    Để đẩy nhanh tiến độ triển khai, huy động nguồn lực và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền các dự án đường bộ cao tốc, Bộ Xây dựng kiến nghị Chính phủ có ý kiến thống nhất áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc biệt của dự án đường Vành đai 5 để áp dụng chung cho các dự án đường bộ cao tốc triển khai đầu tư công trong giai đoạn 2026-2030.

    Bộ Xây dựng đồng thời kiến nghị Chính phủ giao Bộ Tư pháp hướng dẫn trình tự, thủ tục xây dựng, trình Quốc hội; thẩm định đề xuất chính sách đặc thù áp dụng chung cho các dự án đường bộ cao tốc bảo đảm phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.

    Theo quy hoạch, hệ thống đường cao tốc bao gồm 46 tuyến, tổng chiều dài 10.106 km. Đến nay, có 3.345km đã đưa vào khai thác và thông xe kỹ thuật 3.345km, đang thi công xây dựng 1.252km.

    Trường hợp các dự án đang thi công triển khai đúng tiến độ yêu cầu, đến năm 2027 cả nước có khoảng 4.597km đường bộ cao tốc. Như vậy, giai đoạn 2026 – 2030 chỉ cần hoàn thành thêm khoảng 403km là đạt mục tiêu “đến năm 2030, đưa vào sử dụng trên 5.000km đường bộ cao tốc”.

    Trong giai đoạn 2026 – 2030, dự kiến có khoảng 1.758km đường bộ cao tốc đang được chuẩn bị đầu tư, gồm: khoảng 1.217km dự án thuộc Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; khoảng 166km dự án đã được dự kiến cân đối, bố trí vốn; khoảng 375km dự án chưa được dự kiến cân đối, bố trí vốn.

    Ngoài ra, một số tuyến cao tốc đang được các địa phương nghiên cứu, huy động nguồn lực để đầu tư.

    Nam Khánh

    Nguồn https://baomoi.com/bo-xay-dung-de-xuat-mot-chinh-sach-nhieu-du-an-de-thuc-tien-do-cao-toc-c55901694.epi

  • Quốc hội thông qua cơ chế đặc thù tháo gỡ vướng mắc cho các dự án APEC 2027 tại Phú Quốc

    Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày tóm tắt Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội. Ảnh: Quốc hội

    Sáng 24/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, với 464/476 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, bằng 92,8% tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết quy định cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.

    Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2026.

    Trước khi Quốc hội biểu quyết, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết.

    Theo Bộ trưởng, thực hiện Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo rà soát, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, trong đó làm rõ phạm vi các dự án, công trình được áp dụng cơ chế đặc thù; cơ chế kiểm tra, giám sát, hậu kiểm; cũng như trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành và tỉnh An Giang trong quá trình tổ chức thực hiện.

    CƠ CHẾ ĐẶC THÙ CHỈ ÁP DỤNG ĐÚNG PHẠM VI, KHÔNG TẠO TIỀN LỆ

    Một trong những nội dung quan trọng được làm rõ là phạm vi áp dụng Nghị quyết. Theo đó, cơ chế, chính sách đặc thù được áp dụng đối với những công trình, dự án đã được tổ chức triển khai, thi công xây dựng trong khoảng thời gian từ tháng 3/2025 đến trước ngày 18/5/2026.

    Phạm vi này bao gồm các dự án thuộc danh mục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 948; các công trình, hạng mục thuộc dự án đối ứng thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT Trung tâm Hội nghị APEC; cùng các hoạt động khai thác, thu hồi khoáng sản, đổ và tiếp nhận chất thải phục vụ các công trình, dự án nói trên.

    Tỷ lệ đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết. Ảnh: Quốc hội.

    Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, quy định này nhằm xác định cụ thể, đầy đủ phạm vi dự án, công trình được áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù và xử lý vướng mắc theo ý kiến chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. Vì vậy, Chính phủ đề nghị không ban hành riêng danh mục dự án kèm theo Nghị quyết.

    Tuy nhiên, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo rà soát đầy đủ các dự án, công trình thuộc phạm vi áp dụng và báo cáo Quốc hội tại Báo cáo số 622.

    Trên cơ sở đó, Chính phủ, các bộ, ngành và UBND tỉnh An Giang có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, thanh tra quá trình thực hiện, bảo đảm Nghị quyết chỉ được áp dụng đối với các dự án, công trình thuộc phạm vi đã được cấp có thẩm quyền cho chủ trương.

    Bộ trưởng Bộ Tài chính nhấn mạnh yêu cầu tuyệt đối không mở rộng phạm vi áp dụng hoặc tạo tiền lệ trong xử lý các trường hợp tương tự. Việc tổ chức thực hiện phải gắn với chủ trương phân cấp, phân quyền và tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

    CHUYỂN TỪ TIỀN KIỂM SANG HẬU KIỂM, NHƯNG KHÔNG BUÔNG LỎNG QUẢN LÝ

    Một nội dung khác được các đại biểu Quốc hội quan tâm là cơ chế kiểm tra, giám sát và hậu kiểm đối với các dự án, công trình được hưởng cơ chế đặc thù.

    Tiếp thu ý kiến này, Chính phủ đã chỉnh lý dự thảo theo hướng bổ sung cơ chế kiểm soát và phối hợp giữa tỉnh An Giang với các bộ, ngành trong xử lý việc đổ thải, tiếp nhận chất thải phát sinh trong quá trình xây dựng; thu hồi, khai thác khoáng sản; tổ chức thẩm định, nghiệm thu các công trình, dự án.

    Các đại biểu Quốc hội sau khi biểu quyết thông qua Nghị quyết. Ảnh: Quốc hội

    Mục tiêu là bảo đảm an toàn về môi trường, phòng cháy, chữa cháy, an toàn lao động và lợi ích của Nhà nước trong quá trình triển khai các dự án phục vụ APEC 2027.

    Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, việc áp dụng cơ chế đặc thù để miễn, giảm một số thủ tục thực chất là chuyển từ phương thức tiền kiểm sang hậu kiểm, chứ không đồng nghĩa với bỏ qua hoặc buông lỏng quản lý.

    Các cơ chế này chỉ được áp dụng khi đáp ứng đầy đủ những điều kiện, tiêu chí chặt chẽ và không làm thay đổi hoặc miễn trừ nghĩa vụ của chủ đầu tư, nhà đầu tư, nhà thầu theo quy định pháp luật hiện hành.

    Dự thảo Nghị quyết cũng được chỉnh lý để làm rõ trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành và UBND tỉnh An Giang trong tổ chức thực hiện.

    Việc phân định trách nhiệm phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của từng cơ quan theo Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương; đồng thời thể hiện rõ trách nhiệm của Chính phủ và các cơ quan Trung ương trong phối hợp, đồng hành với tỉnh An Giang, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai các dự án phục vụ APEC 2027.

    Liên quan đến kiến nghị bổ sung cơ chế xử lý vướng mắc về định mức, đơn giá xây dựng, Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết trong quá trình hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, UBND tỉnh An Giang và các nhà đầu tư đã báo cáo Quốc hội, Chính phủ về một số khó khăn trong việc áp dụng định mức, đơn giá xây dựng đối với các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027.

    Tuy nhiên, Chính phủ nhận thấy đây là những vấn đề mới phát sinh, trước đó chưa được UBND tỉnh An Giang báo cáo trong quá trình xây dựng Nghị quyết. Vì vậy, đến thời điểm hiện nay chưa có đủ cơ sở để đánh giá toàn diện và báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét chủ trương xử lý.

    Theo Chính phủ, sau khi Nghị quyết được ban hành, căn cứ khoản 3 Điều 11, Chính phủ sẽ chỉ đạo UBND tỉnh An Giang và các cơ quan liên quan rà soát, đánh giá đầy đủ những vướng mắc về định mức, đơn giá xây dựng, trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý phù hợp theo đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định.

    Việc Quốc hội thông qua Nghị quyết tạo cơ sở pháp lý để xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Phú Quốc, đồng thời đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt chẽ phạm vi áp dụng, tăng cường hậu kiểm và xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình thực hiện.

    Hà Lê

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-thong-qua-co-che-dac-thu-thao-go-vuong-mac-cho-cac-du-an-apec-2027-tai-phu-quoc-c55901640.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!