Author: bachdn

  • Khởi đầu ấn tượng trên hành trình kiến tạo

    Toàn cảnh tuyến đường Vành đai 1 đoạn Hoàng Cầu – Voi Phục, một trong những dự án trọng điểm của Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Thái Hùng

    Mở khóa bằng thể chế, kiến tạo không gian tương lai

    Trong hành trình ấy, thể chế chính là điểm mở đầu tiên của Thủ đô. Một đô thị đặc biệt, quy mô lớn, tốc độ phát triển nhanh như Hà Nội không thể đi xa nếu chỉ vận hành bằng những cơ chế chung. Thành phố cần những “chìa khóa” riêng để tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và mở đường cho phát triển.

    Việc Hà Nội chủ động đề xuất và được Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17-3-2026 về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới, cùng với Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua, đã tạo nên một nền tảng thể chế mới, trao thêm dư địa và sự chủ động để Hà Nội tổ chức lại không gian, nguồn lực và động lực phát triển.

    Đáng chú ý, Hà Nội không chỉ có thêm cơ chế, mà tư duy sử dụng cơ chế cũng đang thay đổi. Từ chỗ chờ tháo gỡ từng vấn đề, thành phố chuyển sang chủ động khai thác dư địa chính sách, cụ thể hóa các quy định mới, biến thẩm quyền được trao thành nguồn lực cho phát triển.

    Những chuyển động ấy nhanh chóng được cụ thể hóa bằng hàng loạt nghị quyết của HĐND thành phố, từ cơ chế thu hút nhà đầu tư chiến lược, ưu đãi đầu tư, phát triển khu công nghệ cao, chuyển đổi số đến lựa chọn nhà đầu tư và thúc đẩy các dự án cần triển khai ngay.

    Đồng thời, lãnh đạo thành phố xác định rõ mục tiêu cắt giảm 50% thủ tục hành chính, 50% thời gian và 50% chi phí thực hiện thủ tục. Đây không đơn thuần là những mục tiêu, chỉ tiêu của cải cách hành chính. Sâu xa hơn, đó là yêu cầu đổi mới phương thức vận hành của bộ máy, từng bước xác lập phong cách của một nền hành chính kiến tạo.

    Nếu thể chế mở khóa nguồn lực thì quy hoạch phải chỉ đường cho nguồn lực ấy. Đây cũng là một trong những dấu ấn rõ nét trong bước khởi đầu của kỷ nguyên mới của Thủ đô. Hà Nội không chỉ tìm lời giải cho những vấn đề của một đô thị đang hiện hữu, mà còn hướng tới định hình không gian phát triển cho nhiều thập niên tới, với tầm nhìn xa hơn, thậm chí tới một thế kỷ.

    Quy hoạch, xét đến cùng, không chỉ là những nét mực trên bản đồ. Đó là câu trả lời cho một câu hỏi lớn: Hà Nội muốn trở thành đô thị như thế nào trong tương lai?

    Điểm đột phá không chỉ nằm ở con số “100 năm” trong bản Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, mà còn ở cách thành phố nhìn lại và tổ chức không gian phát triển. Từ một trung tâm đơn nhất đến đô thị đa cực, đa trung tâm; từ phát triển nội đô đến hình thành các cực tăng trưởng; từ nhìn nhận sông Hồng như một giới hạn tự nhiên đến “đánh thức” dòng sông như một trục cảnh quan, sinh thái, văn hóa và phát triển; từ giải bài toán giao thông trong ranh giới thành phố đến kết nối với Vùng Thủ đô và những hành lang kinh tế lớn.

    Đó không đơn thuần là một bản quy hoạch mới, mà là một cách nhìn mới về không gian Hà Nội – rộng hơn, xa hơn và chủ động hơn. Và khi cách nhìn thay đổi, những vấn đề tưởng như tồn tại riêng lẻ cũng bắt đầu được đặt trong một chỉnh thể. Ùn tắc giao thông không chỉ là chuyện thiếu đường; phát triển đô thị không chỉ là chuyện xây thêm nhà; giãn dân không chỉ là chuyện dịch chuyển dân cư. Tất cả phải được giải quyết bằng một cấu trúc không gian hợp lý hơn, trong đó giao thông, đô thị, môi trường, dịch vụ công và các cực tăng trưởng hỗ trợ, bổ trợ cho nhau.

    Hiện thực hóa tầm nhìn bằng năng lực thực thi mới

    Cầu Hồng Hà nằm trên tuyến đường Vành đai 4 – một trong những công trình giao thông trọng điểm, mang tính chiến lược của thành phố Hà Nội. Ảnh: Thái Hùng

    Cuối năm 2025 và trong năm 2026, Hà Nội đồng thời thúc đẩy nhiều dự án quy mô rất lớn, khơi thông những dự án tồn đọng: Vành đai 1; Vành đai 2,5; Vành đai 3; Vành đai 3,5; Vành đai 4 – Vùng Thủ đô Hà Nội; 7 cầu vượt sông Hồng; đường sắt đô thị; Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng; Khu đô thị thể thao Olympic; tuyến kết nối Sân bay Gia Bình với Hà Nội… Hàng loạt dự án quy mô lớn chưa từng có, với cách tiếp cận táo bạo, cũng đã được khởi công, như các dự án đường sắt đô thị; các khu đô thị đa mục tiêu; trục không gian quốc lộ 1A; dự án cải tạo, phát huy giá trị khu vực hồ Tây và tuyến đường cảnh quan ven hồ…

    Điều đáng nói là thành phố không coi mỗi dự án là một công trình độc lập. Một cây cầu không chỉ nối hai bờ sông. Một tuyến đường không chỉ rút ngắn thời gian đi lại. Một tuyến metro không chỉ giải quyết bài toán giao thông. Trong tầm nhìn phát triển mới, mỗi công trình hạ tầng phải trở thành một “đường dẫn”, để dòng vốn, dòng người, dòng tri thức và những cơ hội phát triển được lưu chuyển. Đó chính là ý nghĩa sâu xa của đầu tư hạ tầng chiến lược.

    Đặc biệt, sông Hồng đang được đặt vào một vị trí mới trong tư duy phát triển. Từ một không gian từng gắn với nhiều bài toán khó về đê điều, ngập lụt, đất đai, chỉnh trang đô thị, dòng sông đang được nhìn nhận như một trục cảnh quan, sinh thái, văn hóa và phát triển. Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, với quy mô rất lớn, nếu được triển khai đúng định hướng, không chỉ tạo thêm một tuyến giao thông mà còn có thể mở ra một cấu trúc đô thị mới hai bên sông, tạo thêm không gian công cộng, không gian sinh thái và những động lực phát triển mới.

    Tương tự, Khu đô thị thể thao Olympic không đơn thuần là câu chuyện xây dựng một quần thể thể thao quy mô lớn. Đặt trong tổng thể quy hoạch, đây có thể trở thành một cực phát triển mới, nơi thể thao, đô thị, dịch vụ, văn hóa và kinh tế cùng hội tụ.

    Nhìn từ đó, có thể thấy hạ tầng đang được Hà Nội tiếp cận không chỉ như “phần cứng” của đô thị, mà còn như những đòn bẩy để mở khóa không gian phát triển.

    Nhưng thể chế tốt, quy hoạch lớn và những dự án quy mô chưa đủ để tạo nên một Thủ đô phát triển. Phép thử thực sự nằm ở năng lực thực thi. Hà Nội vẫn còn không ít điểm nghẽn tồn tại nhiều năm. Nhưng bước vào kỷ nguyên mới, thành phố không chỉ nhận diện rõ hơn mà còn tiếp cận với tinh thần quyết liệt hơn. Cùng với việc tập trung tháo gỡ 5 điểm nghẽn lớn, Hà Nội cũng tập trung giải quyết một điểm nghẽn khác nhưng vô cùng quan trọng: Phương thức vận hành. Thành phố đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đi liền với trách nhiệm giải trình; giao việc đi cùng giao quyền; đánh giá cán bộ dựa trên kết quả thực tế.

    Nhìn lại gần 1 năm đầu tiên sau Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII, có thể thấy Hà Nội đang từng bước hình thành một logic phát triển mới: Thể chế mở đường, quy hoạch định hình không gian, hạ tầng tạo động lực, còn thực thi quyết định tốc độ biến khát vọng thành hiện thực.

    Đó là lý do không nên chỉ đánh giá “khởi đầu” bằng số lượng công trình đã khởi công hay những con số tăng trưởng. Giá trị lớn hơn nằm ở việc thành phố đang từng bước tháo gỡ những nút thắt về thể chế, quản trị và tổ chức thực hiện – những yếu tố vốn hạn chế khả năng phát triển trong nhiều năm.

    Tất nhiên, hành trình phía trước còn rất dài. Những dự án lớn cần nguồn lực lớn; những cơ chế mới đòi hỏi năng lực thực thi tương xứng; những điểm nghẽn tồn tại nhiều năm không thể được tháo gỡ dứt điểm trong một sớm một chiều. Và chính quy mô của những khát vọng mới cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với kỷ luật, trách nhiệm và năng lực của bộ máy, đối với từng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, cũng như trách nhiệm tham gia, đồng hành của mỗi người dân.

    Nhưng điều quan trọng là hướng đi của Thủ đô đã được định hình rõ: Chủ động kiến tạo thay vì bị động ứng phó; tháo gỡ tận gốc thay vì xử lý tình thế; tạo không gian phát triển mới thay vì chỉ giải quyết những vấn đề cũ; lấy hiệu quả và sự hài lòng của người dân làm thước đo của năng lực quản trị.

    Trong sắc đỏ cờ hoa ngày Quốc khánh 2-9, Hà Nội hôm nay không chỉ mang niềm tự hào về một thành phố nghìn năm văn hiến, anh hùng – nơi đã cùng dân tộc đi qua những mùa thu lịch sử. Hà Nội còn đang đứng trước một mùa thu của những khởi đầu mới.

    Một khởi đầu ấn tượng, đúng hướng có thể tạo đà cho cả một chặng đường dài. Từ những chuyển động hôm nay, có thể tin tưởng Hà Nội sẽ vững bước trên hành trình kiến tạo một Thủ đô văn minh, hiện đại, giàu bản sắc, có sức cạnh tranh cao, xứng đáng với vị thế trung tâm kiến tạo quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.

    Minh Nguyệt

    Nguồn https://baomoi.com/khoi-dau-an-tuong-tren-hanh-trinh-kien-tao-c55969614.epi

  • TP. Đồng Nai: Không để đầu cơ đất cản tiến độ Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh

    Mở trục phát triển chiến lược ven sông

    Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh có điểm đầu tiếp giáp Quốc lộ 51, điểm cuối kết nối cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây. Ảnh: Văn Dũng

    Đồng Nai đang chuyển mạnh tư duy phát triển đô thị, từ chủ yếu dựa trên các tuyến giao thông hiện hữu sang khai thác lợi thế của hệ thống sông và không gian ven sông, trong đó sông Đồng Nai giữ vai trò trung tâm về sinh thái, văn hóa, cảnh quan và phát triển đô thị.

    Định hướng này nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 21/7/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đồng Nai đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2065, với yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, quy hoạch thành phố theo tầm nhìn dài hạn, khai thác hiệu quả hệ thống sông và hệ sinh thái tự nhiên làm trục cảnh quan chủ đạo.

    Trong tổng thể đó, Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh được xác định là một trong những công trình hạ tầng quan trọng, tạo động lực tổ chức lại không gian phát triển dọc sông Đồng Nai.

    Tuyến đường trước đây là Hương lộ 2, có điểm đầu tiếp giáp Quốc lộ 51, điểm cuối kết nối cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây; chiều dài khoảng 15,5km, rộng 60m, đi qua Long Hưng, Tam Phước và An Phước, kết nối qua cầu Vàm Cái Sứt. Trên cơ sở quy mô và ý nghĩa của công trình, HĐND thành phố đã ban hành nghị quyết đổi tên Hương lộ 2 thành Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh.

    Điểm đáng chú ý, dự án không chỉ dừng ở việc xây dựng một tuyến giao thông. Cùng với đầu tư đại lộ, thành phố định hướng tổ chức lại quỹ đất xung quanh, hình thành các khu chức năng đô thị, thương mại, dịch vụ, tài chính; qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tạo thêm nguồn lực tái đầu tư kết cấu hạ tầng.

    Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh có chiều dài khoảng 15,5km, rộng 60m, đi qua Long Hưng, Tam Phước và An Phước, kết nối qua cầu Vàm Cái Sứt. Ảnh: Văn Dũng

    Thực tế cho thấy, những dự án giao thông lớn thường tạo ra giá trị gia tăng đáng kể cho quỹ đất hai bên tuyến. Nếu chỉ giải phóng mặt bằng đủ để làm đường, trong khi khu vực xung quanh tiếp tục phát triển manh mún, phần giá trị tăng thêm từ đầu tư hạ tầng khó được chuyển hóa thành nguồn lực phục vụ phát triển chung.

    Vì vậy, Đồng Nai lựa chọn cách tiếp cận gắn đầu tư hạ tầng với tổ chức lại không gian và quỹ đất, hướng tới đồng thời ba mục tiêu: hoàn thiện mạng lưới giao thông; kiểm soát quy hoạch, kiến trúc đô thị; khai thác hợp lý nguồn lực đất đai để tái đầu tư phát triển.

    Khi hoàn thành, Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh được kỳ vọng tăng khả năng kết nối giữa Quốc lộ 51 với cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, đồng thời mở ra dư địa phát triển đô thị, thương mại, dịch vụ dọc sông Đồng Nai.

    Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phục vụ dự án đã được UBND thành phố phê duyệt tại Quyết định số 1608/QĐ-UBND ngày 22/4/2026. Giá đất nông nghiệp tại Long Hưng, Tam Phước và An Phước được xác định trung bình khoảng 3 tỷ đồng/ha. Những trường hợp đủ điều kiện còn được xem xét hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm và các chính sách khác theo quy định.

    Không để đầu cơ, chờ giá làm chậm dự án

    Hiện nay đang xuất hiện tình trạng đầu cơ đất chờ tăng giá theo quy hoạch tại khu vực triển khai xây dựng Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh. Ảnh: Văn Dũng

    Cùng với những kỳ vọng về hạ tầng, khu vực triển khai Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh cũng xuất hiện tình trạng mua gom đất với kỳ vọng giá bất động sản tăng theo quy hoạch.

    Phần lớn diện tích trong khu vực dự án là đất nông nghiệp, nhưng có những diện tích đã ngừng canh tác, thậm chí bỏ hoang. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải xác định chính xác đối tượng chịu ảnh hưởng khi Nhà nước thu hồi đất, bởi tác động đối với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp khác với người mua đất nhằm đầu tư, chờ tăng giá.

    Đối với hộ trực tiếp sản xuất, thu hồi đất có thể ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập và sinh kế lâu dài. Trong khi đó, với người mua gom đất chờ tăng giá, đất chủ yếu được xem như một khoản đầu tư. Nếu không phân loại đúng đối tượng, chính sách hỗ trợ vốn dành cho người phải chuyển đổi nghề nghiệp, sinh kế có nguy cơ không đến đúng người cần hỗ trợ.

    Do đó, lãnh đạo UBND thành phố yêu cầu các cơ quan chức năng rà soát kỹ nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất và điều kiện thực tế của từng trường hợp.

    Việc hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm phải căn cứ đúng đối tượng, điều kiện theo quy định. Trường hợp không đáp ứng điều kiện hưởng hỗ trợ vẫn được bồi thường và giải quyết đầy đủ các quyền lợi hợp pháp tương ứng theo quy định pháp luật.

    Việc phân loại này nhằm bảo đảm công bằng và đúng mục tiêu chính sách. Những hộ đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp, phụ thuộc vào đất để tạo thu nhập là nhóm chịu tác động trực tiếp, lâu dài khi đất bị thu hồi và cần được ưu tiên hỗ trợ ổn định cuộc sống, chuyển đổi sinh kế.

    Ở chiều ngược lại, tình trạng đầu cơ, mua gom đất với kỳ vọng hưởng chênh lệch từ quy hoạch có thể tạo thêm áp lực cho giải phóng mặt bằng. Tâm lý chờ mức bồi thường cao hơn, kéo dài thời gian bàn giao đất có nguy cơ trở thành điểm nghẽn, ảnh hưởng tiến độ dự án.

    Quan điểm của thành phố là bảo đảm đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp của người có đất bị thu hồi, nhưng không để hoạt động đầu cơ hoặc tâm lý chờ giá làm chậm những công trình phục vụ lợi ích chung.

    Với các trường hợp chưa đồng thuận bàn giao mặt bằng, chính quyền tiếp tục tuyên truyền, vận động, đối thoại và giải quyết đầy đủ quyền lợi hợp pháp. Tuy nhiên, sau khi thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục, bảo đảm quyền lợi và tổ chức vận động, đối thoại mà người sử dụng đất vẫn không chấp hành quyết định thu hồi, cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện các biện pháp theo quy định, kể cả cưỡng chế thu hồi đất khi đủ điều kiện pháp luật.

    Yêu cầu đặt ra là hài hòa giữa bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người dân với bảo đảm kỷ cương và tiến độ các công trình trọng điểm.

    Một phần Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh đoạn từ Quốc lộ 51 đi qua phường Long Hưng đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Ảnh: Văn Dũng

    Từ góc độ này, Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh không chỉ là một dự án giao thông mà còn thể hiện cách tiếp cận mới trong tổ chức không gian phát triển của Đồng Nai: lấy hạ tầng chiến lược làm động lực, gắn quy hoạch với tái thiết đô thị và khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai.

    Chủ động quỹ đất, giải quyết thỏa đáng quyền lợi của người dân, nhất là người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, đồng thời tách bạch với hoạt động mua gom, đầu cơ chờ tăng giá sẽ là điều kiện quan trọng để Đồng Nai đẩy nhanh tái thiết không gian ven sông.

    Qua đó, thành phố hướng tới tổ chức không gian phát triển mở, đa trung tâm, đa cực, đa tầng; gắn kết đồng bộ quy hoạch, hạ tầng chiến lược với nguồn lực đất đai, tạo nguồn tái đầu tư và từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành cực tăng trưởng mới có sức cạnh tranh, lan tỏa đối với vùng và cả nước.

    Văn Dũng

    Nguồn https://baomoi.com/tp-dong-nai-khong-de-dau-co-dat-can-tien-do-dai-lo-nguyen-huu-canh-c55969681.epi

  • Bộ Nội vụ: Báo cáo rà soát người nghỉ việc hưởng chế độ Nghị định 178 trước ngày 15/9

    Các cơ quan, tổ chức phải làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị liên quan trong việc xác định đối tượng và tuân thủ quy trình giải quyết chế độ nghỉ việc đối với từng trường hợp cụ thể theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, Nghị định số 67/2025/NĐ-CP cùng các văn bản hướng dẫn hành chính của Bộ Nội vụ. (Ảnh: PV/Vietnam+)

    Bộ Nội vụ vừa có Công văn số 9624/BNV-TCBC gửi các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc thực hiện ý kiến của Kiểm toán Nhà nước về giải quyết chính sách, chế độ theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP.

    Công văn của Bộ Nội vụ được ban hành dựa trên ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà tại Văn bản số 8183/VPCP-TCCV ngày 14/8/2026 của Văn phòng Chính phủ. Theo đó, Bộ Nội vụ đề nghị các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tiến hành rà soát tổng thể toàn bộ các trường hợp đã được quyết định cho nghỉ việc giải quyết chính sách theo quy định tại Nghị định số 178/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 67/2025/NĐ-CP).

    Các cơ quan, địa phương phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả rà soát này, bảo đảm việc giải quyết chính sách được thực hiện đúng đối tượng, đúng trình tự và thủ tục pháp lý quy định, đồng thời, các đơn vị có trách nhiệm nghiêm túc thực hiện các nhiệm vụ được giao tại khoản 1 và khoản 2 của Văn bản số 8183/VPCP-TCCV.

    Đối với các Bộ, ngành và địa phương thuộc diện rà soát theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Nội vụ yêu cầu phải cung cấp thông tin chi tiết về các kiến nghị, kết luận của Kiểm toán Nhà nước liên quan đến đơn vị mình.

    Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức phải làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị liên quan trong việc xác định đối tượng và tuân thủ quy trình giải quyết chế độ nghỉ việc đối với từng trường hợp cụ thể theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, Nghị định số 67/2025/NĐ-CP cùng các văn bản hướng dẫn hành chính của Bộ Nội vụ. Căn cứ theo thẩm quyền quyết định, các đơn vị có trách nhiệm đưa ra ý kiến phản hồi cụ thể đối với từng trường hợp sai sót hoặc vi phạm được chỉ ra tại Báo cáo số 1212/BC-KTNN của Kiểm toán Nhà nước.

    Bộ Nội vụ đặc biệt lưu ý, trong quá trình thực hiện tổng rà soát, thanh tra và kiểm tra, nếu phát hiện có sai sót, các cơ quan và địa phương phải báo cáo chi tiết và lập ngay phương án khắc phục kịp thời theo đúng quy định của pháp luật. Đối với các vướng mắc phát sinh vượt thẩm quyền xử lý, các đơn vị cần báo cáo rõ ràng bằng văn bản để Bộ Nội vụ tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền xem xét và quyết định.

    Báo cáo kết quả tổng rà soát của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương phải được gửi về Bộ Nội vụ trước ngày 15/9 để kịp thời tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét và quyết định./.

    (Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/bo-noi-vu-bao-cao-ra-soat-nguoi-nghi-viec-huong-che-do-nghi-dinh-178-truoc-ngay-15-9-c55969617.epi

  • Giữ đà tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công

    Tăng tốc trong tháng 8

    Theo báo cáo từ Bộ Tài chính, đến hết ngày 31/8/2026, cả nước đã giải ngân 509.557,5 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 49,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. So với cùng kỳ năm 2025, tỷ lệ giải ngân cao hơn 3,5 điểm phần trăm, tương ứng số vốn giải ngân tăng hơn 100.383 tỷ đồng.

    Nếu không tính 5% kế hoạch vốn đầu tư công ngân sách địa phương thực hiện tiết kiệm để dự kiến đầu tư dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và phần kế hoạch vốn được giao bổ sung trong tháng 8, tỷ lệ giải ngân của cả nước đạt 51,9%.

    Đáng chú ý, sau khi có dấu hiệu chậm lại trong tháng 7 so với nhịp tăng mạnh của tháng 6, tốc độ giải ngân trong tháng 8 đã được cải thiện. Theo Bộ Tài chính, tốc độ giải ngân trong tháng 8 bằng 1,23 lần tốc độ giải ngân trong tháng 7, tiếp tục duy trì xu hướng tích cực so với những tháng đầu năm.

    Tuyến cao tốc Hữu Nghị Chi Lăng đang được hoàn thiện. Ảnh: Hà Minh

    Trong tổng số vốn đã giải ngân, vốn ngân sách trung ương đạt 140.497,6 tỷ đồng, tương đương 37,7% kế hoạch; vốn ngân sách địa phương đạt 369.059,9 tỷ đồng, tương đương 55,5% kế hoạch. Chênh lệch này cho thấy giải ngân ở địa phương tiếp tục là động lực quan trọng của kết quả chung, trong khi nhiều dự án sử dụng vốn ngân sách trung ương vẫn cần được thúc đẩy mạnh hơn trong chặng cuối năm.

    Tính đến hết tháng 8, có 9 bộ, cơ quan trung ương và 20 địa phương có tỷ lệ giải ngân cao hơn mức bình quân chung của cả nước. Trong số đó có nhiều đơn vị vừa đạt tiến độ tốt, vừa giải ngân khối lượng vốn lớn.

    Cụ thể, Bộ Quốc phòng đã giải ngân khoảng 31,7 nghìn tỷ đồng; Bộ Công an giải ngân khoảng 29,8 nghìn tỷ đồng. Ở địa phương, Hà Nội tiếp tục dẫn đầu về giá trị giải ngân với khoảng 91,3 nghìn tỷ đồng; tiếp đến là TP. Hồ Chí Minh với khoảng 77,4 nghìn tỷ đồng. Một số địa phương khác cũng giải ngân khối lượng lớn như Hải Phòng 21,9 nghìn tỷ đồng; Hưng Yên 19,3 nghìn tỷ đồng, Tây Ninh 18,4 nghìn tỷ đồng và Đồng Nai 16,7 nghìn tỷ đồng.

    Tuy nhiên, bức tranh giải ngân vẫn chưa đồng đều. Hiện vẫn còn 24 bộ, cơ quan trung ương và 14 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới mức bình quân chung của cả nước. Trong đó, 6 bộ, cơ quan trung ương có tỷ lệ giải ngân dưới 10% hoặc chưa giải ngân.

    Điểm nghẽn vẫn chưa được tháo gỡ

    Theo Bộ Tài chính, khó khăn lớn đang tác động đến tiến độ giải ngân là tình trạng thiếu hụt và biến động giá nguyên vật liệu xây dựng.

    Nguồn cung đá, cát xây dựng và một số vật liệu khác tại nhiều khu vực vẫn khan hiếm, ảnh hưởng đến khả năng tổ chức thi công của các nhà thầu. Trong khi đó, giá nhiều loại nguyên vật liệu và nhiên liệu tăng so với thời điểm mời thầu khiến một số chủ đầu tư phải điều chỉnh, đàm phán lại hợp đồng, phát sinh thêm thủ tục và kéo dài thời gian thực hiện.

    Việc giá đầu vào tăng trong khi giá trị hợp đồng chưa được điều chỉnh kịp thời cũng tạo áp lực lên năng lực tài chính của nhà thầu. Một số trường hợp phải thi công cầm chừng do chi phí tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng thực hiện và tiến độ giải ngân.

    Chấm điểm giải ngân từ tháng 10/2026

    Bên cạnh các biện pháp thúc đẩy tiến độ, công tác giám sát giải ngân vốn đầu tư công sẽ có thêm công cụ mới là cơ chế chấm điểm theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

    Theo Bộ Tài chính, việc chấm điểm giải ngân sẽ chính thức được thực hiện từ kỳ báo cáo tháng 10/2026. Trước đó, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương được yêu cầu rà soát, cập nhật đầy đủ dữ liệu đầu vào trên hệ thống công nghệ thông tin để bảo đảm kết quả đánh giá chính xác, khách quan và thống nhất.

    Kết quả chấm điểm không chỉ phản ánh tỷ lệ giải ngân mà còn là công cụ giúp các đơn vị nhận diện tiến độ thực hiện, những tồn tại và nguyên nhân chậm giải ngân. Trên cơ sở đó, người đứng đầu các bộ, ngành và địa phương có thêm căn cứ để kịp thời điều chỉnh, nâng cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện và thúc đẩy tiến độ trong các kỳ tiếp theo.

    Giải phóng mặt bằng tiếp tục là một trong những nút thắt lớn nhất. Vướng mắc không chỉ nằm ở việc xác định giá đất và nguồn gốc đất mà còn liên quan đến thay đổi chính sách bồi thường, bố trí tái định cư và sự đồng thuận của người dân.

    Nhiều dự án phải điều chỉnh phạm vi thu hồi đất, kiểm kê lại hoặc kiểm kê bổ sung. Một số khu tái định cư chưa hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội khiến người dân chưa thể di dời. Trong khi đó, lực lượng thực hiện công tác giải phóng mặt bằng tại một số địa phương còn mỏng nhưng phải triển khai đồng thời nhiều dự án.

    Yếu tố thời tiết cũng tác động đáng kể đến tiến độ trong tháng 8. Mưa lớn kéo dài tại nhiều địa phương khiến thi công, vận chuyển vật liệu và nghiệm thu khối lượng hoàn thành bị gián đoạn. Tại một số địa phương miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên, mưa lũ, sạt lở còn gây chia cắt giao thông, hạn chế khả năng huy động nhân lực và máy móc đến công trường.

    Bên cạnh những yếu tố khách quan, Bộ Tài chính cũng chỉ ra những hạn chế trong công tác chuẩn bị và tổ chức thực hiện dự án. Việc lập kế hoạch của một số bộ, ngành, địa phương chưa sát với khả năng thực hiện; chất lượng chuẩn bị đầu tư chưa cao dẫn đến phải điều chỉnh kế hoạch vốn nhiều lần.

    Một số dự án khởi công mới phải dành nhiều thời gian trong những tháng đầu năm để lập, thẩm định, phê duyệt hồ sơ và lựa chọn nhà thầu. Một số dự án lớn, có tính chất phức tạp cần tham vấn nhiều cấp, nhiều ngành nên chưa thể triển khai ngay.

    Đối với các dự án ODA, quy trình giải ngân và đấu thầu theo yêu cầu của nhà tài trợ vẫn là một trở ngại. Một số dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cũng gặp khó do sử dụng công nghệ chuyên sâu, thiết bị đặc thù hoặc công nghệ trong nước chưa làm chủ được.

    Tháo điểm nghẽn để về đích

    Kết quả 8 tháng cho thấy tiến độ giải ngân vốn đầu tư công đang đi đúng hướng, tạo nền tảng tích cực cho chặng cuối năm. Tuy nhiên, khoảng cách từ mức gần 50% hiện nay đến mục tiêu giải ngân toàn bộ kế hoạch vẫn còn lớn. Vì vậy, kết quả của 4 tháng cuối năm sẽ phụ thuộc không chỉ vào tốc độ thi công trên công trường mà còn vào khả năng tháo gỡ nhanh những điểm nghẽn đã được nhận diện.

    Trước yêu cầu này, Bộ Tài chính kiến nghị các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn được giao.

    Trước hết, Bộ Tài chính đề nghị các địa phương có mỏ vật liệu rà soát, nâng công suất khai thác các mỏ đang hoạt động, đồng thời tháo gỡ thủ tục để cấp phép mỏ mới và gia hạn các mỏ còn trữ lượng. Các địa phương cần ưu tiên nguồn vật liệu cho các công trình trọng điểm quốc gia, nhất là các dự án tại khu vực phía Nam.

    Về phía Bộ Xây dựng cần theo dõi sát diễn biến thị trường, tăng cường quản lý giá vật liệu, nghiên cứu cơ chế điều phối nguồn vật liệu giữa các địa phương và các giải pháp sử dụng vật liệu thay thế nhằm giảm áp lực lên những nguồn tài nguyên đang thiếu hụt.

    Đối với công tác giải phóng mặt bằng, Bộ Tài chính đề nghị chính quyền địa phương tiếp tục tăng cường tuyên truyền, vận động, giải thích rõ chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Các địa phương cũng cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu tái định cư, tạo điều kiện để người dân ổn định cuộc sống và bàn giao mặt bằng cho dự án.

    Bộ Tài chính đồng thời đề nghị các bộ, cơ quan trung ương và địa phương khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư đối với số vốn mới được giao bổ sung và số vốn chưa phân bổ chi tiết, bảo đảm đủ điều kiện để phân bổ vốn cho từng nhiệm vụ, dự án.

    Cùng với đó, Bộ Tài chính yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tăng cường kỷ luật trong xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện. Các cơ quan cần bố trí vốn sát hơn với khả năng triển khai, giải ngân; đồng thời rà soát những dự án không có khả năng giải ngân hoặc giải ngân chậm để kịp thời điều chuyển vốn sang các dự án có tiến độ tốt và có nhu cầu vốn.

    Bộ Tài chính cũng đề nghị các bộ, ngành và địa phương tăng cường kiểm tra hiện trường, yêu cầu chủ đầu tư và nhà thầu huy động đầy đủ nhân lực, máy móc, thiết bị. Trước diễn biến thời tiết phức tạp, các đơn vị cần chủ động điều chỉnh kế hoạch thi công, tranh thủ tổ chức thi công bù khi điều kiện thời tiết thuận lợi.

    Đặc biệt, Bộ Tài chính đề nghị các chủ đầu tư không để khâu thanh toán trở thành điểm nghẽn làm chậm tiến độ chung. Chủ đầu tư cần lập hồ sơ thanh toán ngay khi có khối lượng hoàn thành được nghiệm thu, tránh tình trạng dồn hồ sơ vào cuối tháng hoặc những tháng cuối năm.

    Vân Hà

    Nguồn https://baomoi.com/giu-da-tang-toc-giai-ngan-von-dau-tu-cong-c55969485.epi

  • Quy định riêng về công trình biên giới trong trường hợp khẩn cấp

    Ảnh minh họa: Thanh Xuân

    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 340/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 quy định chi tiết một số điều của Luật Biên giới quốc gia. Nghị định tập trung làm rõ những nhóm công trình biên giới, trình tự đầu tư, xây dựng và quy định cách xử lý đối với trường hợp đặc thù.

    LÀM RÕ CÁC NHÓM CÔNG TRÌNH BIÊN GIỚI 

    Các quy định pháp luật liên quan đến quản lý, đầu tư và xây dựng công trình đang từng bước được rà soát, hoàn thiện, nhằm làm rõ phạm vi điều chỉnh và trách nhiệm của các cơ quan trong quá trình tổ chức thực hiện.

    Nghị định số 340/2026/NĐ-CP đã bổ sung Điều 8a vào sau Điều 8 Nghị định số 140/2004/NĐ-CP quy định về công trình biên giới. Theo quy định mới, công trình cố định đường biên giới quốc gia là các công trình xây dựng, bao gồm: Kè gia cố, bảo vệ mốc quốc giới, cọc dấu biên giới, vật đánh dấu, dấu hiệu nhận biết đường biên giới; kè gia cố, bảo vệ bờ sông, suối biên giới, sống núi biên giới; công trình khác nhằm đảm bảo tính nguyên trạng, sự ổn định của đường biên giới quốc gia.

    Bên cạnh đó, công trình phục vụ hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia là các công trình được xây dựng hoàn toàn, hoặc có một phần nằm trong khu vực biên giới, cửa khẩu, gồm: Hàng rào, tường rào biên giới; công trình đường bộ, cầu, đường sắt, đường tuần tra biên giới, đường ra các mốc quốc giới, đài quan sát biên giới, cầu cảng, bến cảng, bãi đỗ phương tiện phục vụ hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; công trình phòng thủ biên giới, công trình phòng, chống dịch bệnh, khắc phục thiên tai, cứu hộ, cứu nạn khẩn cấp và các công trình khác nhằm phục vụ hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

    Các quy định này nhằm đảm bảo tính nguyên trạng, sự ổn định của đường biên giới và hệ thống mốc quốc giới để phù hợp với các điều ước, thỏa thuận quốc tế về biên giới, mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thống nhất, đồng bộ với hệ thống văn bản pháp luật liên quan và đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới.

    Cùng với việc làm rõ nhóm công trình biên giới, Nghị định số 340/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 9 Nghị định số140/2004/NĐ-CP về đầu tư, xây dựng công trình biên giới theo hướng quy định cụ thể quy trình thẩm định kế hoạch trước khi trình Chính phủ xem xét, quyết định đầu tư, triển khai xây dựng các công trình đường biên giới, cơ quan chủ trì thẩm định kế hoạch.

    Theo đó, Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh nơi có biên giới quốc gia có dự án đầu tư, xây dựng công trình biên giới (cơ quan chủ quản) có trách nhiệm đề nghị cơ quan có thẩm quyền tổ chức đánh giá sự cần thiết xây dựng công trình.

    Cụ thể, Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và bộ, ngành liên quan tổ chức khảo sát thực địa để đánh giá sự cần thiết xây dựng công trình cố định đường biên giới quốc gia.

    Cơ quan chủ quản chủ trì lấy ý kiến Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành liên quan để đánh giá sự cần thiết xây dựng công trình phục vụ hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Trên cơ sở kết quả đánh giá, cơ quan chủ quản lập kế hoạch xây dựng công trình biên giới theo quy định tại Điều 26 Luật Biên giới quốc gia số 06/2003/QH11, và lấy ý kiến bằng văn bản của cơ quan khác có liên quan trước khi trình Chính phủ quyết định, trong đó phải lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan được lấy ý kiến phải có văn bản trả lời cơ quan gửi lấy ý kiến.

    Căn cứ Nghị quyết của Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch xây dựng công trình biên giới, cơ quan chủ quản triển khai trình tự, thủ tục đầu tư, xây dựng công trình biên giới theo quy định của pháp luật hiện hành.

     TĂNG CƯỜNG PHỐI HỢP ĐỐI VỚI DỰ ÁN TRONG VÀNH ĐAI BIÊN GIỚI 

    Ngoài nội dung trên, Nghị định số 340/2026/NĐ-CP còn quy định một số vấn đề liên quan đến đầu tư, xây dựng công trình. Nghị định đã bổ sung Điều 9a, Điều 9b vào sau Điều 9 Nghị định số 140/2004/NĐ-CP.

    Trong đó, Điều 9a quy định về đầu tư, xây dựng công trình biên giới trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách, đặc biệt. Cụ thể, dự án đầu tư, xây dựng công trình biên giới trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách, đặc biệt được thực hiện theo pháp luật về đầu tư công và pháp luật về xây dựng.

    Việc đánh giá tính cấp bách, đối với công trình cố định đường biên giới quốc gia do Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và bộ, ngành liên quan thực hiện; đối với công trình phục vụ hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia do cơ quan chủ quản chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và bộ, ngành liên quan thực hiện.

    Tại Điều 9b quy định về xây dựng các dự án, công trình trong vành đai biên giới nhưng không phải công trình biên giới, thì Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh có dự án, công trình trong vành đai biên giới nhưng không phải công trình biên giới, phải lấy ý kiến bằng văn bản của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan được lấy ý kiến phải có văn bản trả lời cơ quan gửi lấy ý kiến.

    Khi triển khai thực hiện dự án, công trình, chủ đầu tư cần thông báo bằng văn bản về ngày triển khai dự án, khởi công xây dựng cho Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Công an cấp tỉnh và chính quyền địa phương sở tại trước thời điểm triển khai dự án hoặc khởi công xây dựng công trình ít nhất 3 ngày làm việc.

    Về thời điểm áp dụng, Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 16/10/2026. Việc xây dựng các dự án, công trình trong vành đai biên giới, cửa khẩu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước ngày Nghị định số 340/2026/NĐ-CP có hiệu lực, sẽ tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 34/2014/NĐ-CP.

    Thanh Xuân

    Nguồn https://baomoi.com/quy-dinh-rieng-ve-cong-trinh-bien-gioi-trong-truong-hop-khan-cap-c55969409.epi

  • Khi nào kiểm soát, minh bạch nhà đất của từng người?

    Minh bạch trong giao dịch và quản lý

    Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Mai Văn Phấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đất đai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, toàn bộ nỗ lực xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai không chỉ nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước, mà đích đến cuối cùng là người dân và doanh nghiệp. Khi dữ liệu đất đai đã “đúng – đủ – sạch – sống”, người dân sẽ được hưởng nhiều tiện ích thiết thực.

    Trước hết, thực hiện thủ tục đất đai trực tuyến, người dân không phải đi lại nhiều lần, không phải nộp lại giấy tờ đã có trong cơ sở dữ liệu. Ngoài ra, người dân ở tỉnh này có thể thực hiện thủ tục đối với thửa đất ở tỉnh khác theo mô hình giải quyết hồ sơ đất đai “phi địa giới hành chính” mà không phải về tận nơi như trước.

    Ông Mai Văn Phấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đất đai.

    Theo ông Phấn, khi cơ sở dữ liệu đất đai đã chuẩn hóa và kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, những thông tin Nhà nước đã có thì người dân không phải kê khai, không phải nộp lại. Hồ sơ được cắt giảm, thời gian giải quyết được rút ngắn, thủ tục đủ điều kiện được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình – người dân có thể ngồi tại nhà nộp hồ sơ, theo dõi tiến độ và nhận kết quả.

    Một tiện ích khác là người dân có thể tra cứu thông tin về thửa đất của mình qua VNeID. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang phối hợp với Bộ Công an đưa các trường thông tin về thửa đất lên ứng dụng này.

    “Chỉ với một chiếc điện thoại, người dân có thể xem thông tin về thửa đất, Giấy chứng nhận của mình một cách công khai, minh bạch và chính chủ”, ông Phấn nói.

    Theo ông, đây cũng là “tấm khiên” bảo vệ người dân trước nguy cơ giả mạo giấy tờ, lừa đảo trong giao dịch đất đai. Thông tin trên hệ thống có thể được đối chiếu với dữ liệu gốc đã được xác thực, định danh.

    Cũng theo ông Phấn, khi dữ liệu đất đai được kết nối, việc chia sẻ thông tin giữa các cơ sở dữ liệu và các cơ quan trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương sẽ giúp các giao dịch liên quan đến đất đai nhanh chóng, an toàn hơn.

    Dữ liệu được xác thực cũng góp phần giảm những rủi ro pháp lý, hạn chế tranh chấp phát sinh từ thông tin không minh bạch.

    Đặc biệt, mỗi thửa đất trong cơ sở dữ liệu đều gắn với chủ sử dụng đã được xác thực với dữ liệu dân cư – con người thật, định danh thật. Đây là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền của người sử dụng đất, hạn chế tối đa tình trạng tranh chấp, khiếu kiện kéo dài do hồ sơ giấy thất lạc, thông tin sai lệch qua nhiều thời kỳ…

    Về lâu dài, dữ liệu đất đai còn được kỳ vọng trở thành nền tảng cho một nền quản trị đất đai hiện đại, minh bạch. Đây là nguồn dữ liệu quan trọng phục vụ công tác quy hoạch, quản lý và điều tiết thị trường bất động sản; là đầu vào quan trọng cho chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế số…

    Sẽ kiểm soát được ai có bao nhiêu nhà đất

    Không chỉ mang lại tiện ích cho người dân, dữ liệu đất đai khi được hoàn thiện còn được kỳ vọng tạo ra thay đổi lớn trong công tác quản lý tài sản, phòng chống tham nhũng.

    Dữ liệu đất đai hoàn thiện sẽ kiểm soát được ai có bao nhiêu nhà đất?. Ảnh minh hoạ.

    Trước câu hỏi liệu khi hoàn thiện hệ thống, Nhà nước có thể kiểm soát được một cá nhân đang có bao nhiêu nhà đất hay không, ông Mai Văn Phấn khẳng định hoàn toàn có thể kiểm soát được tài sản đất đai của từng người khi các dữ liệu được kết nối, chia sẻ theo quy định.

    Theo ông Phấn, cơ sở dữ liệu đất đai sẽ được chia sẻ với một số bộ, ngành phục vụ công tác quản lý. Trong đó, cơ quan thanh tra có thể khai thác dữ liệu để phục vụ việc kiểm soát tài sản.

    Tuy nhiên, ông Phấn lưu ý việc chia sẻ và khai thác dữ liệu phải tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin và hạ tầng truyền dẫn – phía Bộ Công an giữ vai trò chủ trì việc chia sẻ dữ liệu.

    Tính đến ngày 30/7, cả nước đã đồng bộ lên hệ thống dữ liệu đất đai quốc gia hơn 73,1 triệu thửa đất, trên tổng số hơn 100,6 triệu thửa. Trong số này, gần 38,6 triệu thửa đã đáp ứng các tiêu chí “đúng – đủ – sạch – sống”, sẵn sàng phục vụ giải quyết thủ tục hành chính. Khoảng 34,5 triệu thửa còn lại đang tiếp tục được làm giàu, làm sạch, đối khớp và bổ sung thông tin để hoàn thiện dữ liệu.

    Phan Thiên

    Nguồn https://baomoi.com/khi-nao-kiem-soat-minh-bach-nha-dat-cua-tung-nguoi-c55969337.epi

  • Phú Thọ: Tăng tốc hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai ‘đúng – đủ – sạch – sống’

    Hơn 926.000 thửa đất được đồng bộ 3 khối dữ liệu

    Chiến dịch 180 ngày cao điểm xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai được Phú Thọ triển khai trong bối cảnh khối lượng dữ liệu đất đai cần rà soát, cập nhật rất lớn, nhất là sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính. Tỉnh xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đất đai, phục vụ giải quyết thủ tục hành chính và tạo nền tảng cho chuyển đổi số trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường.

    Phú Thọ tăng tốc hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai.

    Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Phú Thọ, toàn tỉnh hiện có 1.348.538 thửa đất trong cơ sở dữ liệu đất đai. Đến ngày 21/8, đã hoàn thành chuẩn hóa, đồng bộ đầy đủ 3 khối thông tin, gồm dữ liệu không gian, dữ liệu thuộc tính và hồ sơ quét đối với 926.308 thửa, đạt 68,69%.

    Trong 926.308 thửa đã đồng bộ đầy đủ 3 khối thông tin, có 738.472 thửa đáp ứng tiêu chí “đúng – đủ – sạch – sống”. Như vậy, còn 187.836 thửa đã đủ 3 khối thông tin nhưng chưa hoàn thành đối soát dữ liệu dân cư, cần tiếp tục hoàn thiện.

    Bên cạnh đó, 422.230 thửa chưa hoàn thành đồng bộ đầy đủ 3 khối thông tin. Cộng hai nhóm này, toàn tỉnh còn 610.066 thửa chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chí “đúng – đủ – sạch – sống”.

    Như vậy, trong tổng số hơn 1,348 triệu thửa đất đang có trong cơ sở dữ liệu, hơn 926.000 thửa đã hoàn thành phần dữ liệu không gian, thuộc tính và hồ sơ quét. 

    Tuy nhiên, để đạt trạng thái hoàn chỉnh, một bộ phận còn phải tiếp tục đối soát dân cư. Đây là khối lượng công việc lớn tỉnh Phú Thọ phải tập trung xử lý trong thời gian còn lại của chiến dịch.

    Theo kế hoạch, các nhiệm vụ được triển khai theo tiến trình cuốn chiếu, áp dụng nguyên tắc “6 rõ”, từ thu thập hồ sơ trong tháng 7, đo đạc, quét LiDAR trong tháng 8 đến đối khớp chéo dữ liệu trong các tháng 9-11. Mục tiêu là hoàn thành Chiến dịch 180 ngày vào ngày 31/12/2026.

    Bên cạnh kết quả đạt được, quá trình triển khai còn gặp một số khó khăn như thiếu nhân lực chuyên môn, khối lượng hồ sơ phát sinh lớn tại các địa bàn sau sáp nhập và lỗi kỹ thuật trong quá trình đồng bộ hệ thống. UBND tỉnh đang tiếp tục chỉ đạo tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, đôn đốc xác nhận bản đồ địa chính và yêu cầu các địa phương tăng tốc thực hiện.

    Trưởng phòng Kinh tế xã Hợp Lý Nguyễn Văn Huy trực tiếp hướng dẫn chuyên viên tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện.

    Nhiều điểm sáng từ cơ sở

    Trong số các địa phương triển khai hiệu quả, xã Nguyệt Đức là điểm sáng với tỷ lệ làm sạch dữ liệu đất đai đạt hơn 90%. Tổng số thửa đất cần làm giàu, làm sạch, đối khớp liên ngành là 7.577 thửa. Đến nay, xã đã hoàn thành làm sạch 6.837 thửa, đạt 90,8%; còn 369 thửa đang tiếp tục được rà soát, bổ sung thông tin.

    Đối với hơn 620 thửa đất do Văn phòng Đăng ký đất đai Yên Lạc chuyển danh sách phối hợp thực hiện, xã đã hoàn thiện 570 thửa, còn 50 thửa tiếp tục thu thập dữ liệu. 

    Kết quả này có được nhờ địa phương thành lập Ban chỉ đạo, Tổ công tác và các Tổ hỗ trợ cộng đồng tại các thôn, phân công nhiệm vụ cụ thể và huy động người dân phối hợp cung cấp hồ sơ.

    Tại xã Tiên Lữ, địa phương đã hoàn thành rà soát, thống nhất một bộ tài liệu, dữ liệu dùng chung với Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Lập Thạch, gồm bản đồ, sổ mục kê, sổ địa chính, sổ cấp giấy chứng nhận và dữ liệu trên phần mềm VNPT iLIS.

    Toàn xã có 117.805 thửa đất cần làm giàu, làm sạch và xây dựng cơ sở dữ liệu. Trong đó, 5.762 thửa đã có trong cơ sở dữ liệu. Đến ngày 29/7, xã đã chuẩn hóa, đồng bộ đầy đủ dữ liệu đối với 4.661 thửa, đạt 80,89%, đáp ứng tiêu chí “đúng – đủ – sạch – sống”.

    Đáng chú ý, 112.043 thửa thuộc nhóm cần xây dựng mới cơ sở dữ liệu đang được xã rà soát, kê khai, đăng ký, tập trung vào quỹ đất do UBND xã quản lý, đất tổ chức, đất giao thông, thủy lợi, trụ sở và đất chưa sử dụng.

    Xã Tam Dương thành lập các tổ hỗ trợ cộng đồng tại 48 thôn, đồng thời thống nhất với Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Tam Dương về một bộ dữ liệu dùng chung để cập nhật, chuẩn hóa.

    Tại xã Tam Dương, UBND xã đã thành lập các tổ hỗ trợ cộng đồng tại 48 thôn, đồng thời thống nhất với Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Tam Dương về một bộ dữ liệu dùng chung để cập nhật, chuẩn hóa.

    Toàn xã có 83.936 thửa đất, trong đó 13.385 thửa đã được xây dựng trong cơ sở dữ liệu, đạt 15,5%; 11.496 thửa đáp ứng yêu cầu “đúng – đủ – sạch – sống”. 

    Từ ngày 15/7, xã đã nhập dữ liệu 1.448 thửa lên hệ thống iLIS và thu thập thông tin của khoảng 6.500 hộ sử dụng đất.

    Tại phường Vĩnh Phúc, địa phương đã thành lập Ban chỉ đạo, Tổ công tác giúp việc và phối hợp với Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Vĩnh Yên thu thập giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn cước công dân để cập nhật, bổ sung dữ liệu.

    Trong tổng số 89.606 thửa đất cần cấp giấy chứng nhận, phường đã có dữ liệu đối với 21.994 thửa. Trong số này, 12.416 thửa đã được làm sạch, còn 9.578 thửa cần tiếp tục làm sạch và 67.612 thửa cần bổ sung dữ liệu.

    Tại xã Hợp Lý, theo số liệu báo cáo, toàn xã có 3.525 thửa đất và đã thực hiện rà soát, thu thập dữ liệu khoảng 3.000 thửa. Địa phương đang tiếp tục phối hợp với cơ quan chuyên môn để kiểm tra, đối soát thông tin, bổ sung các trường hợp còn thiếu, từng bước chuẩn hóa dữ liệu trên hệ thống. Xã xác định việc hoàn thiện dữ liệu đất đai là nhiệm vụ trọng tâm, tập trung huy động cán bộ cơ sở và tuyên truyền, vận động người dân cung cấp hồ sơ, giấy tờ liên quan.

    Từ thực tế triển khai tại cơ sở, yêu cầu đặt ra hiện nay là tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn về hồ sơ địa chính, nhân lực và kỹ thuật. Đồng thời, các địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân phối hợp cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn cước công dân và các giấy tờ liên quan.

    Với mục tiêu hoàn thành Chiến dịch 180 ngày cao điểm xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai vào ngày 31/12/2026, Phú Thọ đang yêu cầu các sở, ngành, xã, phường bám sát tiến độ, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, chủ động xử lý từng nhóm dữ liệu. 

    Việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai không chỉ phục vụ quản lý nhà nước mà còn góp phần rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, hạn chế sai lệch thông tin và tạo nền tảng quan trọng cho xây dựng chính quyền số.

    Bích Huệ

    Nguồn https://baomoi.com/phu-tho-tang-toc-hoan-thien-co-so-du-lieu-dat-dai-dung-du-sach-song-c55969239.epi

  • Loay hoay chờ giá chung cư giảm để đổi nhà

    Cuối năm ngoái, anh Nguyễn Hữu Khải (Hoàng Liệt, Hà Nội) lên kế hoạch chuyển từ căn hộ tại chung cư Linh Đàm sang một dự án khác trong cùng khu vực. Thời điểm đó, một số căn hộ phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính của gia đình anh được chủ nhà chào bán từ 95-100 triệu đồng/m2.

    Theo tính toán, nếu bán căn hộ đang sinh sống, anh Khải có thể thu về khoảng 3 tỷ đồng và phải vay thêm gần 2 tỷ đồng để mua căn hộ mới. Nhận thấy khoản vay quá lớn so với khả năng tài chính, anh quyết định tạm dừng kế hoạch, chờ thị trường hạ nhiệt.

    Đến nay, giá những căn hộ anh Khải từng tìm hiểu đã giảm xuống còn khoảng 85 triệu đồng/m2. Tuy nhiên, giá căn hộ mà gia đình anh đang sở hữu còn giảm mạnh hơn.

    Nếu bán căn hộ ở thời điểm hiện tại, số tiền thu về chỉ còn hơn 2 tỷ đồng. Nguyên nhân do dự án chưa có sổ đỏ và từng xuất hiện thông tin liên quan đến việc thu hồi. Vì vậy, khoản tiền phải bù thêm để đổi nhà gần như không được thu hẹp.

    “Tôi vẫn đang mắc kẹt, chưa thể chuyển sang căn hộ mới. Giá nhà đã giảm nhưng tài sản của mình cũng giảm theo. Hiện lãi suất vay bất động sản tăng mạnh nên tôi không dám liều vay ngân hàng”, anh Khải cho biết. Nếu vay thêm gần 2 tỷ đồng như dự tính trước đây, áp lực trả nợ sẽ rất lớn.

    Giá chung cư giảm so với cuối năm ngoái. Ảnh: Thạch Thảo

    Tương tự, anh Lưu Quang Anh (Hà Đông, Hà Nội) cũng chưa mua được căn hộ mặc dù đã lên kế hoạch từ giữa năm ngoái.

    Giá chung cư tuy giảm nhưng mảnh đất ở quê anh không thể bán được. Giá mảnh đất này đã giảm xuống còn khoảng 40 triệu đồng/m2 vẫn chưa có khách hỏi mua. Việc bán đất tại quê hiện khá khó khăn, nhất là ở những khu vực không phải trung tâm hành chính mới.

    Anh Quang Anh nhận xét, dù thị trường chung cư không còn nóng như năm ngoái nhưng giá bán vẫn khá cao. Một số dự án mới được chào bán ở mức khoảng 100 triệu đồng/m2, trong khi vị trí khá xa trung tâm.

    Ở khu vực trung tâm, một số chung cư cũ đã giảm giá nhưng cũng khó xuống thấp như trước đây. Điều này khiến người mua có nguồn tiền từ việc bán tài sản khác tiếp tục phải cân nhắc.

    Vắng bóng dự án bình dân

    Theo Cushman & Wakefield, nguồn cung và nhu cầu căn hộ đều chững lại trong bối cảnh khoảng cách giữa sản phẩm hiện có và nhu cầu thực của người mua ngày càng gia tăng.

    Nguồn cung mới vẫn chủ yếu thuộc phân khúc cao cấp và hạng sang, nhà ở giá phải chăng gần như vắng bóng trên thị trường, tiếp tục tạo áp lực lên mặt bằng giá và khả năng chi trả của người dân. Trong bối cảnh lãi suất cho vay tăng, người mua có xu hướng thận trọng và trì hoãn quyết định xuống tiền.

    Bà Phạm Thu Trang, chuyên viên tư vấn tài chính, cho rằng người mua nhà không nên chỉ nhìn vào mức giảm giá của bất động sản mà cần đánh giá lại toàn bộ khả năng tài chính của gia đình. Yếu tố quan trọng là nguồn vốn tự có, giá trị tài sản đang nắm giữ, khả năng thanh khoản của tài sản và chi phí vay nếu phải sử dụng đòn bẩy.

    Người mua không nên cố bán tài sản bằng mọi giá chỉ để tranh thủ một mức giá bất động sản thấp hơn. Nếu khoản vay mới tạo áp lực lớn lên dòng tiền hàng tháng, việc mua nhà có thể khiến tình hình tài chính trở nên căng thẳng hơn.

    Hiện người có nhu cầu ở thực có thể dành thời gian khảo sát, so sánh nhiều dự án và chọn căn hộ phù hợp với khả năng tài chính. Thời điểm tốt để xuống tiền không chỉ là khi giá nhà giảm, mà là khi giá tài sản phù hợp với khả năng tài chính và dòng tiền của người mua.

    Duy Anh

    Nguồn https://baomoi.com/loay-hoay-cho-gia-chung-cu-giam-de-doi-nha-c55967582.epi

  • Ngôi nhà 110m2 cất giữ nhiều món đồ trăm năm tuổi của cụ ông U100 ở Hà Nội

    Giữa những con đường nhỏ ở làng Tu Hoàng, hay còn gọi là làng Nhổn, phường Xuân Phương, Hà Nội có một căn nhà nổi bật với chiếc cổng gỗ lớn, trang trí tỉ mỉ bằng nhiều chiếc đĩa sứ.

    Phía sau cánh cổng là khoảng sân rộng hơn 400m2 rợp bóng cây, thoang thoảng mùi nguyệt quế. Những chậu hoa sứ, mai vàng, mai tứ quý, hoa trà… được chăm chút kỹ lưỡng, tạo dáng đẹp mắt, xen giữa hòn non bộ, tiểu cảnh sinh động. 

    Cuối khoảng sân là căn nhà gỗ 2 tầng, mang những nét kiến trúc đặc trưng của nhà truyền thống Bắc Bộ, kết hợp một phần kiến trúc nhà ở Huế. Đây là nơi cụ Vương Đình Quế (thường gọi là cụ Bốn, 92 tuổi) cùng vợ là cụ Nguyễn Thị Cảnh sinh sống và lưu giữ nhiều món đồ trăm năm – “kho báu” do cụ Quế sưu tầm suốt 7 thập kỷ.

    Căn nhà rộng khoảng 110m² chứa nhiều bộ sập, trường kỷ, hoành phi, câu đối cùng các đồ gỗ, sứ có tuổi đời trăm năm. Với cụ Quế, mỗi món đồ đều có câu chuyện riêng về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật. 

    Ngôi nhà kết hợp giữa kiến trúc nhà truyền thống Bắc Bộ (tầng 2 kết cấu 5 gian, 2 dĩ) và kết cấu nhà lầu hiện đại

    Đam mê đồ cổ từ khi 20 tuổi

    Cụ Quế cho biết, cụ bắt đầu yêu thích những món đồ cổ như tủ chè, sập gụ… từ năm 20 tuổi. Ngày đó, cụ có nhiều năm làm nghề đạp xe thồ chở hàng, rong ruổi qua các ngõ phố, làng quê ở Hà Nội và các tỉnh lân cận.

    “Khi thấy gia đình nào có nhà cổ lâu năm, tôi thường xin vào thăm, hỏi chuyện. Nếu gia chủ có đồ gỗ nào đẹp mà không còn nhu cầu sử dụng, tôi mạnh dạn mua lại, mang về nhà sử dụng, giữ gìn. Các món đồ không phải quá đắt đỏ, thậm chí nhiều thứ là đồ gia chủ muốn bỏ đi cho đỡ chật nhà”, cụ Quế kể.

    Cụ Quế yêu thích sưu tầm đồ gỗ từ năm 20 tuổi

    Có khi nghe người quen mách tin, ở nơi xa 80-90km có chiếc tủ gỗ, sập gụ đẹp, cụ Quế cũng đạp xe tìm tới tận nơi.

    “Ban đầu, tôi chỉ mua những món đồ nhỏ, giá rẻ. Sau này, khi việc làm ăn khấm khá hơn, tôi có điều kiện sưu tầm những món đồ giá trị hơn.

    Nhưng với tôi, sưu tầm đồ cổ không chỉ nhìn vào vẻ ngoài hay giá trị của món đồ. Điều quan trọng và thú vị nhất là tôi tìm hiểu được nguồn gốc, chất liệu, kiểu dáng và ý nghĩa, câu chuyện riêng của chúng”, cụ Quế chia sẻ.

    Năm 2005, gia đình cụ Quế phá dỡ căn nhà cũ để xây dựng ngôi nhà hiện tại. Cụ chia sẻ, ý tưởng về căn nhà hiện nay được bắt đầu từ chuyến đi Huế. Cụ tới thăm một ngôi nhà truyền thống rất đẹp nên chụp ảnh lại để tham khảo.

    Tuy nhiên, căn nhà của cụ không sao chép hoàn toàn kiến trúc Huế. Phần bên ngoài mang ảnh hưởng từ kiến trúc nhà ở Huế, trong khi kiến trúc tầng hai và nhiều chi tiết nội thất được thực hiện theo phong cách nhà truyền thống đồng bằng Bắc Bộ.

    Ngôi nhà được thiết kế 2 tầng, tầng 2 có kết cấu 5 gian 2 dĩ, với những thành phần kiến trúc, cấu kiện đặc trưng của nhà gỗ truyền thống đồng bằng Bắc Bộ: chồng rường, xà đùi, kẻ ngồi, cửa bức bàn… Không gian chủ yếu sử dụng các loại gỗ như lim, dổi và trắc.

    Tầng một là nơi sinh hoạt của hai cụ, gồm phòng khách và phòng ngủ. Tầng hai là không gian thờ tự gia tiên trang trọng, hai bên được bố trí thành các gian buồng để lưu giữ các món đồ trăm năm.

    Dịp lễ, Tết hay ngày giỗ chạp, căn nhà là nơi gia đình 6 người con quy tụ, sum vầy. “Khi xây dựng ngôi nhà, tôi cũng mong mỏi, các cháu, chắt về đây có thể biết về kiến trúc truyền thống, có không gian để nghỉ ngơi, ngắm hoa, cây cảnh”, cụ Quế nói.

    Vợ chồng cụ Quế vẫn có sức khoẻ tốt, minh mẫn ở độ tuổi ngoài 90

    Mỗi món đồ là một câu chuyện

    Không gian ngôi nhà của cụ Quế gần như đặt kín các món đồ gỗ cổ. Cụ cho biết gia đình có 7 bộ sập, bên cạnh đó là trường kỷ, tủ chè, salon, lộc bình, hoành phi và nhiều đôi câu đối.

    Trong số đó, bộ trường kỷ con tiện bằng gỗ trắc là món đồ cụ đặc biệt yêu thích. Theo ước tính của cụ, bộ trường kỷ có tuổi đời khoảng 155 năm và được cụ mua lại từ một gia đình khá giả trước đây. Thời điểm mua, giá món đồ chỉ khoảng vài trăm đồng.

    Một món đồ khác được cụ Quế giữ gìn là sập Ngũ Phúc bằng gỗ dổi, được sơn son thếp vàng. Phần quây sập có chạm khắc họa tiết 5 con dơi, tượng trưng cho 5 điều phúc lớn trong quan niệm Á Đông là Phúc – Lộc – Thọ – Khang – Ninh.

    Trong nhà có nhiều sập gỗ trăm năm, được cụ Quế giữ gìn rất sạch sẽ

    Chữ Phúc và Thọ xuất hiện ở nhiều món đồ trong nhà. Cụ giải thích, đó là ước mong về phúc lành, sự trường thọ, con cháu khỏe mạnh và gia đình vui vẻ.

    Trên tầng hai, cụ Quế đặt bức cuốn thư “Đức Hậu Lưu Quang” ở vị trí trang trọng, như lời nhắc về việc gìn giữ và lưu truyền những giá trị đạo đức tốt đẹp của gia đình.

    Trong nhà còn có khoảng chục đôi câu đối, chứa đựng những lời răn dạy mà cụ muốn con cháu ghi nhớ: làm điều tốt để tâm được an vui, biết suy nghĩ kỹ trước khi nói, tự rèn luyện nhân phẩm.

    Không gian tầng 2

    “Việc sưu tầm những món đồ cổ lâu năm giúp tôi học hỏi được nhiều điều đáng quý. Đặc biệt, tôi thấy rằng, với con cháu, việc làm gương là quan trọng nhất. Tới nay, tôi vẫn duy trì những thói quen tốt như tập thể dục, lối sống ngăn nắp, yêu đọc sách, yêu lao động.

    Mỗi ngày tôi dậy từ 5h30 để đi bộ rồi về nhà ăn sáng, quét dọn, chăm sóc từ nhà ra vườn. Tôi vẫn chơi cờ, làm thơ để đầu óc minh mẫn. Khi con cháu về thăm, tôi vẫn muốn giới thiệu về những món đồ trong nhà để chúng hiểu hơn về lịch sử, văn hoá…”, cụ Quế tâm sự.

    Mỗi ngày, cụ ông 92 tuổi tự tay dọn dẹp, chăm sóc ngôi nhà

    Ảnh: Huy Nguyễn

    Linh Trang

    Nguyễn Huy

    Nguồn https://baomoi.com/ngoi-nha-110m2-cat-giu-nhieu-mon-do-tram-nam-tuoi-cua-cu-ong-u100-o-ha-noi-c55969219.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!