Author: bachdn

  • Sa Pa: Đưa Kiosk số và Wifi công cộng vào phục vụ người dân, du khách

    Công trình được triển khai nhằm mở rộng khả năng tiếp cận thông tin và các dịch vụ số cho người dân, doanh nghiệp và du khách khi đến Sa Pa. Qua đó, nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu của người dân và du khách, đồng thời xây dựng hình ảnh đô thị du lịch Sa Pa văn minh, hiện đại và thân thiện.

    Đại biểu cắt băng khai trương 3 Kiosk số và điểm Wifi công cộng.

    Để triển khai dự án, Trung tâm Dịch vụ tổng hợp phường Sa Pa phối hợp với Phòng Kinh tế – Hạ tầng, VNPT Lào Cai và các ngân hàng khảo sát, lựa chọn vị trí lắp đặt theo các tiêu chí: Khu vực có mật độ người dân và du khách qua lại lớn; thuận tiện cho việc tiếp cận, sử dụng; bảo đảm điều kiện kết nối điện, hạ tầng viễn thông và an toàn giao thông; đồng thời hạn chế ảnh hưởng đến không gian công cộng và cảnh quan đô thị.

    Lãnh đạo phường Sa Pa trải nghiệm tiện ích, dịch vụ số.

    Sau 15 ngày triển khai, công trình đã hoàn thành với 3 Kiosk số, tích hợp 4 thiết bị tra cứu thông tin thông minh; đồng thời thiết lập 3 điểm Wifi công cộng miễn phí tại các khu vực Nhà thờ đá, Sân Quần và hồ Mắt Ngọc. Hạ tầng mạng được đầu tư đồng bộ, có khả năng phục vụ khoảng 2.000 lượt người truy cập Wifi miễn phí cùng thời điểm. Tổng nguồn lực xã hội hóa thực hiện công trình khoảng 800 triệu đồng.

    Lãnh đạo phường Sa Pa trải nghiệm tiện ích, dịch vụ số.

    Theo kế hoạch, trong giai đoạn 2027-2030, phường Sa Pa sẽ tiếp tục hoàn thiện và mở rộng hệ thống lên 22 Kiosk số, góp phần nâng cao tiện ích công cộng và từng bước xây dựng hình ảnh Sa Pa theo hướng văn minh, hiện đại, thân thiện.

    An Nhiên

    Nguồn https://baomoi.com/sa-pa-dua-kiosk-so-va-wifi-cong-cong-vao-phuc-vu-nguoi-dan-du-khach-c55970181.epi

  • Giải ngân đầu tư công 8 tháng đạt 50,5% kế hoạch cả năm

    Tiến độ giải ngân còn chậm

    Trong tổng số vốn đã giải ngân, vốn đầu tư thực hiện do Trung ương quản lý ước đạt 75.900 tỷ đồng, bằng 48,2% kế hoạch năm; vốn đầu tư thực hiện do địa phương quản lý ước đạt 470.900 tỷ đồng, bằng 50,9% kế hoạch năm. Quy mô và tiến độ giải ngân cho thấy khu vực địa phương đang giữ vai trò chủ lực trong đưa nguồn vốn ngân sách vào nền kinh tế.

    Tính đến hết tháng 8, có 9 bộ, cơ quan trung ương và 20 địa phương có tỷ lệ giải ngân cao hơn mức bình quân chung của cả nước. Trong số đó có nhiều đơn vị vừa đạt tiến độ tốt, vừa giải ngân khối lượng vốn lớn. Hà Nội tiếp tục dẫn đầu về giá trị giải ngân với khoảng 89.900 tỷ đồng; tiếp đến là TP Hồ Chí Minh với khoảng 81.300 tỷ đồng…

    Tuy nhiên, bức tranh giải ngân vẫn chưa đồng đều. Hiện vẫn còn 24 bộ, cơ quan trung ương và 14 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới mức bình quân chung của cả nước. Trong đó, 6 bộ, cơ quan trung ương có tỷ lệ giải ngân dưới 10% hoặc chưa giải ngân.

    Dự án đường Vành đai 1 Hà Nội đoạn Hoàng Cầu – Voi Phục có tổng vốn đầu tư hơn 7.200 tỷ đồng đã thông xe kỹ thuật. Ảnh: Thế Đoàn/Báo Tin tức và Dân tộc

    Theo Bộ Tài chính, một trong những khó khăn lớn đang tác động đến tiến độ giải ngân là tình trạng thiếu hụt và biến động giá nguyên vật liệu xây dựng.

    Nguồn cung đá, cát xây dựng và một số vật liệu khác tại nhiều khu vực vẫn khan hiếm, ảnh hưởng đến khả năng tổ chức thi công của các nhà thầu. Trong khi đó, giá nhiều loại nguyên vật liệu và nhiên liệu tăng so với thời điểm mời thầu khiến một số chủ đầu tư phải điều chỉnh, đàm phán lại hợp đồng, phát sinh thêm thủ tục và kéo dài thời gian thực hiện.

    Bên cạnh đó, giải phóng mặt bằng cũng là một trong những nút thắt lớn. Vướng mắc không chỉ nằm ở việc xác định giá đất và nguồn gốc đất mà còn liên quan đến thay đổi chính sách bồi thường, bố trí tái định cư và sự đồng thuận của người dân.

    Ngoài ra, trong tháng 8, mưa lớn kéo dài tại nhiều địa phương khiến việc thi công, vận chuyển vật liệu và nghiệm thu khối lượng hoàn thành bị gián đoạn. Tại một số địa phương miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên, mưa lũ, sạt lở còn gây chia cắt giao thông, hạn chế khả năng huy động nhân lực và máy móc đến công trường.

    Bên cạnh những yếu tố khách quan, Bộ Tài chính cũng chỉ ra những hạn chế trong công tác chuẩn bị và tổ chức thực hiện dự án. Việc lập kế hoạch của một số bộ, ngành, địa phương chưa sát với khả năng thực hiện; chất lượng chuẩn bị đầu tư chưa cao dẫn đến phải điều chỉnh kế hoạch vốn nhiều lần.

    Một số dự án khởi công mới phải dành nhiều thời gian trong những tháng đầu năm để lập, thẩm định, phê duyệt hồ sơ và lựa chọn nhà thầu. Một số dự án lớn, có tính chất phức tạp cần tham vấn nhiều cấp, nhiều ngành nên chưa thể triển khai ngay.

    Đối với các dự án ODA, quy trình giải ngân và đấu thầu theo yêu cầu của nhà tài trợ vẫn là một trở ngại. Một số dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cũng gặp khó do sử dụng công nghệ chuyên sâu, thiết bị đặc thù hoặc công nghệ trong nước chưa làm chủ được…

    Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn

    Để hoàn thành giải ngân 100% số vốn được giao, tạo động lực quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026, Bộ Tài chính đề nghị các địa phương có mỏ vật liệu rà soát, nâng công suất khai thác các mỏ đang hoạt động, đồng thời tháo gỡ thủ tục để cấp phép mỏ mới và gia hạn các mỏ còn trữ lượng. Các địa phương cần ưu tiên nguồn vật liệu cho các công trình trọng điểm quốc gia, nhất là các dự án tại khu vực phía Nam.

    Về phía Bộ Xây dựng cần theo dõi sát diễn biến thị trường, tăng cường quản lý giá vật liệu, nghiên cứu cơ chế điều phối nguồn vật liệu giữa các địa phương và các giải pháp sử dụng vật liệu thay thế nhằm giảm áp lực lên những nguồn tài nguyên đang thiếu hụt.

    Đối với công tác giải phóng mặt bằng, Bộ Tài chính đề nghị chính quyền địa phương tiếp tục tăng cường tuyên truyền, vận động, giải thích rõ chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Các địa phương cũng cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu tái định cư, tạo điều kiện để người dân ổn định cuộc sống và bàn giao mặt bằng cho dự án.

    Dự án đường Vành đai 2,5 Hà Nội đoạn qua Cầu Giấy tăng tốc về đích trong quý IV/2026. Ảnh: Thế Đoàn/Báo Tin tức và Dân tộc

    Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư đối với số vốn mới được giao bổ sung và số vốn chưa phân bổ chi tiết, bảo đảm đủ điều kiện để phân bổ vốn cho từng nhiệm vụ, dự án.

    Cùng với đó, Bộ Tài chính đề nghị các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tăng cường kỷ luật trong xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện. Các cơ quan cần bố trí vốn sát hơn với khả năng triển khai, giải ngân; đồng thời rà soát những dự án không có khả năng giải ngân hoặc giải ngân chậm để kịp thời điều chuyển vốn sang các dự án có tiến độ tốt và có nhu cầu vốn.

    Các cơ quan tăng cường kiểm tra hiện trường, yêu cầu chủ đầu tư và nhà thầu huy động đầy đủ nhân lực, máy móc, thiết bị thi công các dự án trọng điểm. Trước diễn biến thời tiết phức tạp, các đơn vị cần chủ động điều chỉnh kế hoạch thi công, tranh thủ tổ chức thi công bù khi điều kiện thời tiết thuận lợi.

    Đặc biệt, Bộ Tài chính đề nghị các chủ đầu tư không để khâu thanh toán trở thành điểm nghẽn làm chậm tiến độ chung. Chủ đầu tư cần lập hồ sơ thanh toán ngay khi có khối lượng hoàn thành được nghiệm thu, tránh tình trạng dồn hồ sơ vào cuối tháng hoặc những tháng cuối năm.

    Thế Đoàn/Báo Tin tức và Dân tộc

    Nguồn https://baomoi.com/giai-ngan-dau-tu-cong-8-thang-dat-50-5-ke-hoach-ca-nam-c55970167.epi

  • Rạch Xuyên Tâm ‘lột xác’, 1,4 km đường ven rạch đầu tiên thông xe

    Trong ảnh là tuyến đường ven rạch Xuyên Tâm (bên phải) đoạn qua Đại học Văn Lang (phường An Nhơn). Đây là đoạn đường đầu tiên thuộc dự án cải tạo rạch Xuyên Tâm được đưa vào sử dụng.

    Hướng tuyến 1,4 km đoạn đường ven rạch Xuyên Tâm vừa được thông xe hôm 2/9. Đồ họa: Quỳnh Danh.

    Khu vực trước đây dày đặc nhà lụp xụp ven rạch, môi trường ô nhiễm. Sau chỉnh trang, tuyến đường rộng hai làn xe, bờ kè được xây mới, giúp người dân xung quanh di chuyển an toàn và thuận lợi hơn.

    Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị TP.HCM cho biết đoạn đường thuộc gói thầu xây lắp số 3, một trong ba gói chính của dự án cải tạo rạch Xuyên Tâm.

    Gói thầu khởi công tháng 5/2025. Đến thời điểm hiện tại, hạng mục bờ kè và thu gom nước thải đạt khoảng 90-97%.

    Các hạng mục còn lại gồm nạo vét, cây xanh, chiếu sáng, hào kỹ thuật, lan can và tuyến đường phía bờ phải, dự kiến hoàn thành trong tháng 11/2026.

    Toàn bộ gói thầu dự kiến đưa vào khai thác trong năm nay.

    Dự án nạo vét, cải tạo môi trường và xây dựng hạ tầng rạch Xuyên Tâm dài hơn 8,8 km. Trong đó, tuyến chính dài gần 6,7 km, từ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè đến sông Vàm Thuật; ba nhánh cầu Sơn, Bình Triệu và Bình Lợi dài tổng cộng hơn 2,2 km. Đây là công trình trọng điểm của TP.HCM giúp giảm ô nhiễm, nâng cao chất lượng sống cho người dân cũng như tạo diện mạo mới cho khu vực nội đô.

    Lòng rạch được nạo vét sâu khoảng 3,5 m, rộng 20-30 m, kết hợp xây hệ thống thu gom nước thải, nước mưa.

    Hai bên rạch sẽ có đường rộng hai làn xe mỗi bên, cùng vỉa hè, công viên và hệ thống chiếu sáng.

    Dự án có tổng mức đầu tư hơn 17.230 tỷ đồng từ ngân sách, phần lớn dành cho giải phóng mặt bằng, là một trong những công trình chỉnh trang đô thị và môi trường quy mô lớn của TP.HCM. Ban đầu, dự án dự kiến hoàn thành năm 2028. Chủ đầu tư đang xây dựng phương án rút ngắn tiến độ, đặt mục tiêu hoàn thành toàn bộ công trình vào cuối năm 2027.

    Quỳnh Danh

    Nguồn https://baomoi.com/rach-xuyen-tam-lot-xac-1-4-km-duong-ven-rach-dau-tien-thong-xe-c55969864.epi

  • Hà Nội yêu cầu tăng cường đảm bảo an ninh, an toàn hành lang lưới điện truyền tải

    Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu vừa ký ban hành Công văn số 4463/UBND-KT về việc đảm bảo an ninh, an toàn hành lang lưới điện, bảo vệ công trình điện lực trên địa bàn Thành phố.

    Theo đó, UBND Thành phố yêu cầu các sở, ban, ngành Thành phố, UBND cấp xã, các đơn vị điện lực quản lý vận hành lưới điện trên địa bàn Thành phố cần quán triệt, nghiêm túc triển khai các nhiệm vụ được UBND Thành phố giao về công tác bảo vệ an toàn công trình điện lực tại Quyết định số 83/2025/QĐ-UBND ngày 23/12/2025. Các cơ quan, đơn vị cần nêu cao trách nhiệm chỉ đạo, lãnh đạo thực hiện của người đứng đầu và của cán bộ được giao thực hiện nhiệm vụ về an toàn điện và bảo vệ công trình điện lực.

    Nhân viên Truyền tải điện Hà Nội (Công ty Truyền tải điện 1) kiểm tra tuyến đường dây 220kV Hòa Bình – Hà Đông

    Với phương châm lấy phòng ngừa làm chủ đạo, UBND Thành phố yêu cầu các đơn vị quản lý vận hành lưới điện chịu trách nhiệm xây dựng nội dung, hình thức tuyên truyền về bảo vệ an toàn công trình điện lực; UBND cấp xã, các Sở, ngành Thành phố có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, chủ động tổ chức hoạt động tuyên truyền đảm bảo hiệu quả của công tác tuyên truyền.

    UBND Thành phố giao Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia, Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội, các đơn vị điện lực quản lý vận hành lưới điện chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra lưới điện nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn không để tái diễn hoặc phát sinh mới vi phạm hành lang bảo vệ an toàn lưới điện. Chủ động phối hợp chính quyền cơ sở ngăn chặn ngay từ đầu các hành vi có nguy cơ gây sự cố lưới điện như thả diều, câu cá, lắp biển quảng cáo, tập kết vật liệu xây dựng, cẩu, đào, xúc tại các công trình, dự án; lập hồ sơ và chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý nghiêm các vi phạm bảo vệ an toàn lưới điện.

    Sở Xây dựng, UBND các xã, phường nâng cao trách nhiệm phối hợp, triển khai hiệu quả nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng trong hoạt động quản lý cấp phép thi công xây dựng, quản lý trật tự xây dựng, giám sát chặt chẽ hoạt động thi công của các chủ đầu tư đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật về hành lang bảo vệ an toàn công trình điện lực và công tác xử lý vi phạm theo quy định.

    UBND Thành phố giao Sở Công Thương – cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo phát triển điện lực Thành phố là đầu mối trong công tác đảm bảo an toàn công trình điện lực, có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, phối hợp xử lý vi phạm; đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị được UBND Thành phố giao; định kỳ hoặc đột xuất báo cáo kết quả công tác bảo vệ an toàn công trình điện lực trên địa bàn, đề xuất với UBND Thành phố khen thưởng đối với đơn vị có thành tích và kiểm điểm các đơn vị không hoặc chậm triển khai công tác được giao.

    Vũ Chang

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-yeu-cau-tang-cuong-dam-bao-an-ninh-an-toan-hanh-lang-luoi-dien-truyen-tai-c55969756.epi

  • Bộ Nội vụ yêu cầu rà soát toàn bộ trường hợp nghỉ việc theo Nghị định 178

    Bộ Nội vụ vừa có Văn bản số 9624/BNV-TCBC gửi các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư, yêu cầu rà soát toàn diện việc giải quyết chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động nghỉ việc theo Nghị định 178.

    Giải quyết thủ tục hành chính tại Hà Nội.

    Theo Bộ Nội vụ, các bộ, cơ quan và địa phương phải rà soát tổng thể, đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả giải quyết chính sách đối với các trường hợp đã được quyết định cho nghỉ việc theo Nghị định 178, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 67/2025/NĐ-CP

    Việc rà soát phải bảo đảm đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Các cơ quan, địa phương cũng phải thực hiện các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Phó thủ tướng.

    Đối với các bộ, cơ quan, địa phương được nêu tại văn bản của Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ yêu cầu cung cấp thông tin về các kiến nghị, kết luận của Kiểm toán Nhà nước liên quan đến việc thực hiện chính sách.

    Đồng thời, các đơn vị phải làm rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc xác định đối tượng và tuân thủ trình tự, thủ tục giải quyết chính sách nghỉ việc đối với từng trường hợp.

    Bộ Nội vụ cũng đề nghị các bộ, cơ quan, địa phương căn cứ thẩm quyền quyết định và giải quyết chính sách nghỉ việc theo Nghị định 178 và Nghị định 67 để có ý kiến cụ thể đối với từng trường hợp được nêu tại báo cáo của Kiểm toán Nhà nước.

    Ngoài ra, các bộ, cơ quan và địa phương, trong quá trình thanh tra, kiểm tra, nếu phát hiện sai sót phải báo cáo cụ thể và có phương án khắc phục kịp thời, đúng quy định của Nghị định 178, Nghị định 67 và các văn bản hướng dẫn của Bộ Nội vụ.

    Trường hợp phát sinh vướng mắc, các đơn vị phải báo cáo rõ để Bộ Nội vụ tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý.

    Báo cáo kết quả rà soát phải được gửi về Bộ Nội vụ trước ngày 15/9. Trên cơ sở báo cáo của các bộ, ngành, địa phương, Bộ Nội vụ sẽ tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

    XM/Báo Tin tức và Dân tộc

    Nguồn https://baomoi.com/bo-noi-vu-yeu-cau-ra-soat-toan-bo-truong-hop-nghi-viec-theo-nghi-dinh-178-c55969816.epi

  • SẮP XẾP CƠ QUAN QUÂN SỰ ĐỊA PHƯƠNG: Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung 6 Nghị định về quốc phòng

    Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến, thẩm định Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của 06 Nghị định trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng khi sắp xếp cơ quan quân sự địa phương. 

    Dự thảo Nghị định tập trung sửa đổi, bổ sung các nội dung chịu sự ảnh bởi kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và kịp thời thể chế hóa các chủ trương, định hướng lớn của Đảng, xử lý các vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn. Trong đó, thể chế hóa các chủ trương về tiếp tục sắp xếp tổ chức quân sự địa phương “tinh, gọn, mạnh” đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

    Theo đó, xây dựng Ban chỉ huy quân sự cấp xã chính quy, có cơ cấu tổ chức cân đối; giải thể Ban chỉ huy phòng thủ khu vực để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác quân sự địa phương, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Tiếp tục rà soát, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền tối đa, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính.

    Dự thảo Nghị định Sửa đổi, bổ sung một số điều của 6 Nghị định lĩnh vực quốc phòng sau sắp xếp

    Dự thảo Nghị định được thiết kế gồm 07 Chương, 36 Điều:

    Chương I. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 13/2016/NĐ-CP ngày 19/02/2016 của Chính phủ quy định trình tự, thủ tục đăng ký và chế độ, chính sách của công dân trong thời gian đăng ký, khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự; gồm: 08 Điều.

    Chương II. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2016/NĐCP ngày 15/3/2016 của Chính phủ quy định ngành, nghề chuyên môn phù hợp yêu cầu của Quân đội nhân dân đối với công dân nữ trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự; công dân thuộc diện miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến và việc huấn luyện binh sĩ dự bị hạng hai; gồm 04 Điều.

    Chương III. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 168/2018/NĐCP ngày 28/12/2018 của Chính phủ về công tác quốc phòng ở Bộ ngành trung ương, địa phương; gồm: 02 Điều.

    Chương IV. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 21/2019/NĐCP ngày 22/12/2019 của Chính phủ về khu vực Phòng thủ; gồm 12 Điều.

    Chương V. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2020/NĐCP ngày 30/6/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dân quân tự vệ về tổ chức xây dựng lực lượng và chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ; gồm: 07 Điều.

    Chương VI. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2025/NĐCP ngày 08/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng không nhân dân; gồm 2 Điều.

    Chương VII. Điều khoản thi hành, gồm 2 Điều.

    4 nội dung sửa đổi cơ bản lĩnh vực quốc phòng, quân sự sau sắp xếp cơ quan quân sự địa phương

    Một là, tổ chức lại Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực, sửa đổi các điều khoản liên quan đến thẩm quyền của Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực.

    Hai là, sửa đổi quy định về phòng thủ khu vực để phù hợp với việc giải thể Ban chỉ huy phòng thủ khu vực, đồng thời xác định bổ sung phạm vi điều chỉnh; một số nhiệm vụ của cấp ủy, Ban Chỉ huy quân sự, Hội đồng cung cấp, cấp xã.

    Ba là, sửa đổi, bổ sung quy định về Ban chỉ huy quân sự cấp xã liên quan đến Nghị quyết 66.12/2026/NQ-CP sẽ hết hiệu lực ngày 01/3/2027 (không để khoảng trống pháp lý sau khi Nghị quyết hết hiệu lực).

    Bốn là, các điều khoản cắt giảm nội dung liên quan đến thành phần hồ sơ tại điểm b khoản 2 Điều 4 (Bản chụp căn cước công dân hoặc thẻ căn cước công dân) và tại điểm a khoản 1 Điều 7 (Giấy xác nhận thông tin về cư trú do cơ quan công an cấp xã cấp) tại Nghị định số 13/2016/NĐ-CP ngày 19/02/2016 của Chính phủ.

    Trình tự, thủ tục đăng ký; chế độ, chính sách công dân trong kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự

    Quy định trình tự, thủ tục đăng ký và chế độ, chính sách của công dân trong thời gian đăng ký, khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự

    – Thẩm quyền nhận báo cáo chuyển từ Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực lên Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh (cấp xã trực tiếp báo cáo kết quả lên cấp tỉnh là phù hợp); được quy định tại điểm d khoản 3 Điều 4; điểm c khoản 2 Điều 6; điểm khoản 1 Điều 7; điểm b khoản 2 Điều 7; điểm c khoản 2 Điều 8; điểm b khoản 2 Điều 9;

    – Sau khi giải thể Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực thì tập trung quản lý hồ sơ tại Ban Chỉ huy quân sự cấp xã (hồ sơ đăng ký nghĩa vụ quân sự, đăng ký quân nhân dự bị).

    – Để cụ thể hóa các quy định tại Điều 40 và Điều 49 Luật Nghĩa vụ quân sự số 78/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 48/2019/QH14, Luật số 98/2025/QH15 và Luật sửa đổi, bổ sung 09 luật về quân sự, quốc phòng thay thế cụm từ “khám, kiểm tra sức khỏe” bằng cụm từ “sơ tuyển, khám, kiểm tra sức khỏe” tại tên Nghị định, tên Chương III và Điều 1, Điều 2; Điều 12; Điều 13; Điều 14; Điều 16; Điều 18; Điều 20 và Điều 21.

    – Theo quy định tại Nghị quyết số 66.7/NQ-CP ngày 15/11/2025 của Chính phủ về quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (có hiệu lực đến ngày 01/3/2027); tập trung rà soát số lượng, chi tiết văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung, thay thế để thực thi các phương án cắt giảm thủ tục hành chính không cần thiết, không hợp lý. 

    Cụ thể: Qua rà soát trình tự, thủ tục đăng ký và chế độ, chính sách của công dân trong thời gian đăng ký, khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự được quy định tại Nghị định số 13/2016/NĐ-CP, một số thành phần hồ sơ không còn cần thiết như: “Bản chụp căn cước công dân hoặc thẻ căn cước công dân; Giấy xác nhận thông tin về cư trú do cơ quan công an cấp xã cấp”. 

    Do vậy, cần tiếp tục nghiên cứu cắt giảm, sửa đổi để hoàn thiện, phù hợp với tình hình thực tế và các quy định pháp luật có liên quan. Nghị định số 13/2016/NĐ-CP có 02 nội dung cần sửa đổi, bổ sung: bãi bỏ Bản chụp căn cước công dân hoặc thẻ căn cước tại khoản 2 Điều 4; bãi bỏ Giấy xác nhận thông tin về cư trú do cơ quan công an cấp xã cấp tại điểm a khoản 1 Điều 7./.

    TOÀN VĂN: Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của 06 Nghị định trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng khi sắp xếp cơ quan quân sự địa phương

    Nguồn https://baomoi.com/sap-xep-co-quan-quan-su-dia-phuong-du-thao-nghi-dinh-sua-doi-bo-sung-6-nghi-dinh-ve-quoc-phong-c55969336.epi

  • Hơn 30 năm sống trên đất được cấp, 13 hộ dân ở Tuyên Quang vẫn mòn mỏi chờ ‘sổ đỏ’

    Đất ở trước năm 1993

    Ông Ma Văn Khỏe, một trong 13 hộ dân ở thôn Phúc Sơn cho biết, từ năm 1979 đến khoảng năm 2000, ông là công nhân Xí nghiệp mỏ Mangan MEMICO. Theo ông Khỏe, trước năm 1993, đơn vị đã bố trí cho nhiều hộ cán bộ, công nhân, mỗi hộ một lô đất rộng khoảng 15 m, dài hơn 30 m để làm nhà ở. Sau khi được bố trí đất, các gia đình xây dựng nhà cửa, sinh sống ổn định cho đến nay. “Gia đình tôi ở đây hơn 30 năm, từ khi được mỏ bố trí đất đến nay không có tranh chấp với ai”, ông Khỏe nói.

    Ông Ma Văn Khỏe (áo kẻ caro ngoài cùng bên trái) cùng các hộ dân chưa được cấp GCNQSDĐ.

    Năm 2013, UBND tỉnh Tuyên Quang ban hành Quyết định số 478/QĐ-UBND thu hồi 14.805 m² đất khu vực mỏ Mangan và giao UBND xã Phúc Sơn (nay là xã Minh Quang) quản lý. Ba năm sau, thực hiện hướng dẫn của chính quyền địa phương, các hộ dân hoàn thiện hồ sơ, kê khai đăng ký để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Theo ông Khỏe, thời điểm đó có khoảng 15-16 hộ chưa được cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên, đến nay, sau gần 10 năm kể từ khi người dân hoàn thiện hồ sơ và hơn 12 năm kể từ khi khu đất được Nhà nước thu hồi, giao địa phương quản lý, vẫn còn 13 hộ chưa được cấp giấy chứng nhận và chưa nhận được phương án giải quyết cụ thể.

    Việc thiếu giấy chứng nhận ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của các gia đình. “Nhà xuống cấp nhưng muốn xây dựng kiên cố cũng rất e ngại vì chưa có giấy chứng nhận. Chúng tôi cũng không thể thế chấp vay vốn ngân hàng để đầu tư sản xuất, phát triển kinh tế gia đình”, ông Khỏe chia sẻ.

    Anh Nguyễn Đức Cường, một hộ dân khác mong muốn vụ việc được giải quyết rõ ràng, đúng quy định. “Khi được cấp giấy chứng nhận, chúng tôi sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế, lệ phí theo quy định. Người dân chỉ mong vụ việc sớm được tháo gỡ”, anh Cường nói.

    Lãnh đạo xã Minh Quang nói gì?

    Liên quan tới sự việc này, ngày 24/8, trao đổi với phóng viên Báo Tiền Phong, ông Lê Văn Dương, Phó Chủ tịch UBND xã Minh Quang cho biết, địa phương đã nhận được hướng dẫn của Chi cục Quản lý đất đai thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang liên quan đến đề nghị của 13 hộ dân. Theo ông Dương, UBND xã đã giao phòng chuyên môn tổ chức đo đạc, khảo sát lại hiện trạng và hoàn thiện các thủ tục pháp lý để thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân.

    “Hiện chúng tôi đã giao cho phòng chuyên môn triển khai đo đạc lại và thực hiện các bước để cấp GCNQSDĐ cho người dân, đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về lộ trình, chúng tôi cố gắng trong năm nay hoàn thiện việc này”, ông Dương cho biết. Phó Chủ tịch UBND xã Minh Quang cũng cho hay, địa phương còn phải chờ quy hoạch được duyệt để làm cơ sở để giải quyết. “Trong thời gian tới, UBND xã rất mong người dân phối hợp, cung cấp đầy đủ thông tin, hồ sơ để cán bộ triển khai được nhanh chóng, kịp thời”, ông Dương nói.

    Vị trí nhà người dân chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

    Sự việc của 13 hộ dân tại khu vực mỏ Mangan không phải mới được đặt ra. Báo cáo kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri trước và sau kỳ họp thứ tám HĐND tỉnh Tuyên Quang khóa XIX vào tháng 12/2024 đã đề cập đến những tồn tại trong quản lý đất đai tại khu vực này. Theo kết quả giám sát, những tồn tại liên quan đến khu vực mỏ Mangan đã kéo dài nhiều năm. Đoàn giám sát đánh giá nguyên nhân chủ yếu là việc thực hiện trách nhiệm theo chỉ đạo của UBND tỉnh đối với cơ quan chuyên môn chưa đầy đủ.

    Đoàn giám sát đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan và chính quyền địa phương khẩn trương giải quyết dứt điểm những tồn tại trong quản lý đất đai tại khu vực mỏ Mangan, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân theo quy định.

    Phú Nguyễn

    Nguồn https://baomoi.com/hon-30-nam-song-tren-dat-duoc-cap-13-ho-dan-o-tuyen-quang-van-mon-moi-cho-so-do-c55969781.epi

  • Xã Mê Linh tổng lực làm sạch dữ liệu đất đai

    Lãnh đạo xã Mê Linh kiểm tra tiến độ làm sạch dữ liệu đất đai trong dịp nghỉ lễ Quốc khánh 2-9. Ảnh: Nhân Công

    Không để dữ liệu “đứng chờ”

    Kỳ nghỉ Quốc khánh năm nay trở thành đợt cao điểm đặc biệt tại xã Mê Linh. Khi nhiều gia đình sum họp, nghỉ ngơi, tại các thôn trên địa bàn, cán bộ cơ sở, giáo viên và các tổ công tác vẫn miệt mài với những tập hồ sơ đất đai.

    Công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, từ đối chiếu căn cước công dân, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, họ tên chủ sử dụng, diện tích, mục đích sử dụng đến xác định vị trí từng thửa trên bản đồ; sau đó chụp, số hóa, nhập dữ liệu và tiếp tục kiểm tra trên hệ thống.

    Theo Phó Chủ tịch UBND xã Mê Linh Trần Nguyễn Ngọc, địa phương bước vào đợt cao điểm trong hoàn cảnh đặc biệt khi tiến độ trước đó đứng thứ 126/126 xã, phường của thành phố. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là huy động lực lượng mà phải thay đổi phương thức tổ chức, tránh để hồ sơ dồn lại ở bất kỳ công đoạn nào.

    UBND xã huy động hơn 200 cán bộ, giáo viên tham gia trong 5 ngày nghỉ lễ, duy trì 18 tổ công tác, phân công cụ thể theo địa bàn, khối lượng và thời hạn. Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã trực tiếp xuống các thôn kiểm tra, đôn đốc hằng ngày, kịp thời tháo gỡ khó khăn phát sinh.

    Trong 5 ngày nghỉ lễ, xã Mê Linh huy động hơn 200 cán bộ, giáo viên tham gia làm sạch dữ liệu đất đai. Ảnh: Đức Duy

    Điểm đáng chú ý trong cách làm của Mê Linh là tổ chức quy trình theo hướng liên hoàn. Hồ sơ thu thập được chuyển ngay sang ứng thửa; ứng thửa xong tiếp tục chụp, số hóa; dữ liệu đưa lên hệ thống được kiểm tra, đối soát và xử lý lỗi. Nhờ vậy, các khâu không bị ngắt quãng, hạn chế tình trạng hồ sơ hoàn thành trên giấy nhưng chưa tạo ra dữ liệu thực chất.

    Cô Trần Thị Thu Quyên, giáo viên Trường Mầm non Văn Khê, cho biết những ngày nghỉ lễ, cô cùng các đồng nghiệp nhập dữ liệu đất đai của hộ dân lên máy, đồng thời rà soát số căn cước công dân, tên chủ sử dụng và mục đích sử dụng đất.

    Còn cô Lê Thị Lan Anh, giáo viên Trường THCS Tiền Phong, chia sẻ khi được xã huy động tham gia chiến dịch, các giáo viên xác định đây là nhiệm vụ chung của địa phương nên tích cực phối hợp, nỗ lực hoàn thành phần việc được giao.

    Kết quả sau 5 ngày cao điểm cho thấy hiệu quả của cách làm này. Tỷ lệ dữ liệu đạt trạng thái “đúng, đủ, sạch, sống” của xã Mê Linh tăng từ 21% lên 33,3%; thứ hạng tiến độ từ vị trí 126 lên 98, tăng 28 bậc.

    Con số này không chỉ phản ánh sự cải thiện về thứ hạng. Quan trọng hơn, khối lượng hồ sơ đã được đẩy qua các công đoạn thu thập, ứng thửa, số hóa, cập nhật và kiểm tra trên hệ thống, tạo chuyển biến thực chất trong quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai.

    Bí thư chi bộ và các trưởng thôn tích cực tham gia rà soát danh sách, hồ sơ từng hộ dân. Ảnh: Nhân Công

    Tháo điểm nghẽn, giữ nhịp thường xuyên

    Tuy nhiên, kết quả trong 5 ngày nghỉ lễ mới là bước chuyển ban đầu. Theo báo cáo, toàn xã Mê Linh có 51.339 thửa đất trên bản đồ; đến ngày 2-9 đã xây dựng cơ sở dữ liệu 25.535 thửa, trong đó 17.105 thửa đạt trạng thái “đúng, đủ, sạch, sống”. Khối lượng địa phương còn phải thu thập theo chỉ tiêu hiển thị trên hệ thống là 27.831 thửa, gồm 26.216 thửa thu thập mới và 1.615 thửa thu thập bổ sung.

    Đáng lưu ý, đất nông nghiệp vẫn là một trong những điểm nghẽn. Một giấy chứng nhận có thể liên quan nhiều thửa đất, nhiều xứ đồng; hồ sơ lịch sử có những trường hợp phức tạp, trong khi một số khu vực còn thiếu dữ liệu bản đồ nền. Vì vậy, việc ứng thửa, nhận dạng và khớp nối dữ liệu đòi hỏi cán bộ phải kiểm tra kỹ, không thể làm theo cách máy móc.

    Thực tế tại cơ sở cho thấy sự chênh lệch về tiến độ giữa các địa bàn. Một số thôn như Khê Ngoại 2, Khê Ngoại 3, Hạ Lôi 1, Hạ Lôi 2, Hạ Lôi 3 đã hoàn thành tốt việc thu thập, ứng thửa. Trong khi đó, Yên Nhân, Trung Hậu Đoài, Trung Yên, Do Hạ, Do Thượng vẫn gặp khó khăn do thiếu dữ liệu bản đồ địa chính hai cấp đối với đất nông nghiệp.

    Lãnh đạo xã Mê Linh rà soát từng thửa đất trên bản đồ để chỉ đạo kiểm tra, làm sạch. Ảnh: Đức Duy

    Vì vậy, sau ngày 2-9, xã Mê Linh xác định tiếp tục huy động thêm người, mà phải tập trung đúng vào từng điểm nghẽn. Nơi thiếu hồ sơ cần tiếp tục đến từng hộ dân tuyên truyền, hướng dẫn; hồ sơ đã thu thập phải được số hóa kịp thời; dữ liệu bị trả về phải được phân loại nguyên nhân để xử lý dứt điểm. Trong đó, hoàn thiện 7.176 thửa; đồng thời phải rà soát khoảng 5.000-6.000 thửa thuộc quỹ đất II chưa được thống kê, bóc tách đầy đủ.

    Một yếu tố quan trọng khác là sự phối hợp của người dân. Dữ liệu đất đai gắn với từng hộ gia đình, từng giấy chứng nhận, từng thửa ruộng. Nếu người sử dụng đất không cung cấp, bổ sung hồ sơ hoặc xác nhận thông tin, chính quyền khó có thể hoàn thiện dữ liệu một cách đầy đủ, chính xác. Do vậy, xã Mê Linh tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền qua hệ thống truyền thanh, nhóm Zalo của thôn, tổ dân cư và thông tin trực tiếp tới các hộ dân còn thiếu hồ sơ. Mục tiêu không chỉ hoàn thành khối lượng thành phố giao, mà quan trọng hơn là bảo đảm dữ liệu sau khi hoàn thiện có thể sử dụng ổn định, lâu dài.

    Chủ tịch UBND xã Trần Thanh Hoài nhấn mạnh, dữ liệu đất đai “đúng – đủ – sạch – sống” là nền tảng nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về đất đai. Dữ liệu chính xác sẽ giúp xác định rõ chủ sử dụng, vị trí, diện tích, hiện trạng; đồng thời tạo cơ sở phát hiện, xử lý những sai lệch, chồng lấn trong quá trình quản lý.

    Xã Mê Linh phấn đấu đến ngày 15-9 cơ bản thu thập – ứng thửa, chụp – số hóa, kiểm tra – chuyển dữ liệu đất phi nông nghiệp và đất nông nghiệp trên địa bàn lên hệ thống. Ảnh: Đức Duy

    Từ kết quả của đợt cao điểm, yêu cầu đặt ra với Mê Linh là phải biến cách làm quyết liệt trong 5 ngày nghỉ lễ thành nền nếp thường xuyên. Bởi làm sạch dữ liệu đất đai không thể là công việc theo đợt, càng không thể chỉ chạy theo thứ hạng. Mỗi hồ sơ phải được kiểm tra đến nơi đến chốn, mỗi dữ liệu đưa lên hệ thống phải bảo đảm độ chính xác và khả năng khai thác. Xã Mê Linh đặt mục tiêu đến hết ngày 15-9 hoàn thành thu thập – ứng thửa, chụp – số hóa, kiểm tra – chuyển dữ liệu đất phi nông nghiệp và đất nông nghiệp trên địa bàn lên hệ thống để Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Mê Linh làm sạch dữ liệu trên hệ thống dữ liệu đất đai quốc gia.

    Năm ngày nghỉ lễ cho thấy, khi trách nhiệm được cụ thể hóa đến từng người, từng tổ công tác, từng thôn và từng thửa đất, những điểm nghẽn tưởng như kéo dài vẫn có thể được tháo gỡ. Điều quan trọng hơn sau đợt cao điểm là duy trì được tinh thần ấy trong công việc hằng ngày, để từng thửa đất trên bản đồ số thực sự trở thành một dữ liệu tin cậy phục vụ chính quyền và người dân.

    Đức Duy- Nhân Công

    Nguồn https://baomoi.com/xa-me-linh-tong-luc-lam-sach-du-lieu-dat-dai-c55968075.epi

  • Quy định mới về chương trình, dự án tài chính vi mô từ 1/7/2026

    Theo bà Nguyễn Huyền Thương, căn cứ Điều 57 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg không thuộc các trường hợp hết hiệu lực như có thời hạn xác định, bị sửa đổi, thay thế hay bãi bỏ bằng văn bản chính thức nào.

    Đồng thời, văn bản này là quyết định độc lập của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh lĩnh vực mà Luật Các tổ chức tín dụng trước đây không quy định, do đó không phải là văn bản quy định chi tiết của luật đã hết hiệu lực.

    Về nguyên tắc áp dụng pháp luật trong giai đoạn chuyển tiếp, pháp luật hiện hành không cho phép tạm ngừng áp dụng một văn bản đang có hiệu lực chỉ vì đang trong quá trình xây dựng văn bản thay thế.

    Việc không áp dụng Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg khi chưa có văn bản thay thế có thể gây ra khoảng trống pháp lý trong quản lý tài chính vi mô, làm gián đoạn hoạt động hợp pháp và ảnh hưởng đến mục tiêu tiếp cận tài chính toàn diện. 

    Bên cạnh đó, theo nguyên tắc công bằng và nhất quán (Điều 59 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật), các chương trình tài chính vi mô trên cả nước vẫn đang hoạt động bình thường dựa trên Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg, cho thấy văn bản này vẫn đang phù hợp và có hiệu lực thực tế.

    Bà Thương hỏi, Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg hiện có còn hiệu lực thi hành hay không? Trường hợp còn hiệu lực, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận, xem xét và giải quyết hồ sơ theo quy định hiện hành hay không?

    Trường hợp Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg không còn hiệu lực, điều này dựa trên căn cứ pháp lý cụ thể nào? Đồng thời, việc tạm dừng xử lý hồ sơ để chờ đợi một nghị định chưa được ban hành được thực hiện trên cơ sở quy phạm pháp lý nào và có phù hợp với nguyên tắc áp dụng pháp luật hay không?

    Về vấn đề này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý kiến như sau:

    Tại khoản 13 Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 quy định: 

    “13. Chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức phi chính phủ đang thực hiện trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành không phải điều chỉnh tổ chức, hoạt động theo quy định của Luật này mà thực hiện theo quy định của Chính phủ”.

    Điều 1 Nghị định số 175/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức phi chính phủ quy định:

    “Điều 1. Phạm vi điều chỉnh 

    Nghị định này quy định về tổ chức, hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức phi chính phủ đang hoạt động trước ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Giấy chứng nhận đăng ký chương trình, dự án tài chính vi mô được cấp theo quy định tại Quyết định số 20/2017/QĐTTg ngày 12 tháng 6 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định về hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức phi chính phủ”.

    Tại Điều 24 Nghị định số 175/2026/NĐ-CP quy định: 

    “Điều 24. Hiệu lực thi hành

    1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

    2. Quyết định số 20/2017/QĐTTg ngày 12 tháng 6 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định về hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức phi chính phủ hết hiệu lực thi hành”.

    Căn cứ các quy định nêu trên, Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định 175/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2026) và tổ chức, hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức phi chính phủ đang thực hiện trước ngày Luật Các tổ chức tín dụng 2024 có hiệu lực thi hành được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 175/2026/NĐ-CP.

    Ngoài ra, căn cứ Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP (có hiệu lực kể từ ngày 15/4/2026), Ngân hàng Nhà nước đã công bố bãi bỏ các thủ tục hành chính liên quan đến việc cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký đối với các chương trình, dự án tài chính vi mô, do đó không còn thủ tục hành chính để thực hiện.

    Chinhphu.vn

    Nguồn https://baomoi.com/quy-dinh-moi-ve-chuong-trinh-du-an-tai-chinh-vi-mo-tu-1-7-2026-c55970108.epi

  • Giữ biển, giữ nghề, giữ tương lai

    Những nỗ lực ấy không chỉ góp phần cùng cả nước sớm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC), mà còn hướng tới một nghề cá bền vững, để ngư dân yên tâm vươn khơi, bám biển.

    Chung tay giữ vững ngư trường

    Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh hiện có 5.751 tàu cá đăng ký, trong đó 3.140 tàu hoạt động vùng khơi. Hơn 30% đội tàu thường xuyên di chuyển ngư trường; hơn 500 tàu hoạt động, neo đậu tại các tỉnh phía Nam, nhiều tàu cả năm không về địa phương.

    Lực lượng chức năng kiểm tra tàu cá tại Cảng cá Nhơn Lý (phường Quy Nhơn Đông). Ảnh: N.T

    Để quản lý đội tàu đặc thù này, lực lượng kiểm ngư, BĐBP, Công an và chính quyền cơ sở đã bám sát từng địa bàn, phương tiện. Cán bộ xuống cảng, lên tàu, gặp chủ tàu, thuyền trưởng để hướng dẫn vận động hoàn thiện hồ sơ, chấp hành quy định của pháp luật. Tại những địa bàn phức tạp, lực lượng chức năng đến tận nhà tuyên truyền, vận động.

    “Không ít trường hợp phải đi tới đi lui, gặp nhiều lần mới thuyết phục được chủ tàu hoàn thiện giấy tờ, lắp thiết bị và chấp hành quy định trong khai thác thủy sản” – ông Trịnh Minh Bình – Phó Chủ tịch UBND xã Đề Gi – cho biết.

    Với tàu không đủ điều kiện hoạt động, việc quản lý được thực hiện chặt chẽ bằng các hình thức: Cấm biển, không cho xuất bến, bố trí neo đậu tập trung, phân công cán bộ theo dõi, yêu cầu đưa ngư lưới cụ và thiết bị khai thác lên bờ, cập nhật vị trí và hình ảnh phương tiện cho lực lượng chức năng.

    Tại xã Tuy Phước, 162 tàu cá “3 không” (không đăng ký, không đăng kiểm, không cấp phép) được lập hồ sơ quản lý riêng, cập nhật thông tin chủ tàu, vị trí neo đậu và yêu cầu cam kết không đưa phương tiện vào khai thác. Cán bộ, đảng viên được phân công theo dõi từng tàu; Công an xã phối hợp với các lực lượng chức năng tổ chức tuần tra trên đầm Thị Nại, kiểm tra bến bãi và các khu vực neo đậu.

    Các lực lượng chức năng phối hợp kiểm tra tàu cá chuẩn bị ra khơi tại cửa biển Đề Gi (xã Đề Gi). Ảnh: N.T

    Tại xã Đề Gi, chính quyền phối hợp với các đoàn thể, trưởng thôn tuyên truyền đến từng chủ tàu, tổ chức phát thanh thường xuyên và tuyên truyền lưu động tại bến bãi, tàu thuyền. Đến nay, 100% chủ tàu, thuyền trưởng ký cam kết không vi phạm, không xâm phạm vùng biển nước ngoài trước khi xuất bến.

    Ở phường Hoài Nhơn, vạn Long Thành và vạn Cửu Lợi là những tổ chức cộng đồng nghề cá truyền thống đã nhiều năm duy trì mô hình khai thác đúng pháp luật, không vi phạm vùng biển nước ngoài. Ông Trần Chiến – Vạn trưởng vạn chài Cửu Lợi thường nhắc nhớ ngư dân rằng, giữ nghề cá cũng là giữ biển cho thế hệ sau; mỗi ngư dân phải tự giác, mỗi vạn chài phải chủ động, đoàn kết.

    Theo ông Lê Minh Phương – Phó Trưởng Phòng Kiểm ngư (Chi cục Thủy sản, Sở Nông nghiệp và Môi trường), tình trạng vi phạm đã giảm nhiều so với trước; tàu “3 không”, tàu không đủ điều kiện được kiểm soát chặt, ý thức chấp hành pháp luật của ngư dân được nâng lên.

    Từ đầu năm 2026 đến nay, các cơ quan chức năng phát hiện 70 vụ việc vi phạm trong lĩnh vực thủy sản, xử phạt hành chính 35 vụ, tổng số tiền 542,75 triệu đồng. Từ tháng 6.2024 đến nay, Gia Lai không có tàu cá bị nước ngoài bắt giữ.

    Tạo chính sách cho nghề cá bền vững

    Không chỉ triển khai các quy định bắt buộc, tỉnh còn chủ động đưa ra những giải pháp hỗ trợ, phòng ngừa nguy cơ vi phạm khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) từ sớm.

    Tỉnh đã vận động 100% tàu cá dài dưới 15 m (206 chiếc) làm nghề câu mực lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS), đồng thời hỗ trợ 50% chi phí lắp đặt. Đây là nhóm tàu được xác định có nguy cơ cao vi phạm vùng biển nước ngoài, trong khi theo quy định hiện hành, tàu cá dài dưới 15 m không thuộc diện bắt buộc phải lắp đặt VMS.

    Gia Lai cũng là địa phương đầu tiên triển khai Hệ thống cảnh báo tự động thông minh tàu cá mất kết nối hoặc vượt ranh giới cho phép trên biển từ ngày 24-10-2025, góp phần ngăn chặn vi phạm từ xa.

    Ngư dân tích cực sử dụng nhật ký khai thác điện tử. Ảnh: N.T

    Công tác chuyển đổi số cũng được đẩy mạnh trong thời gian qua. Tỉnh hỗ trợ cước thuê bao VMS và nhật ký khai thác điện tử; đến nay đã cài đặt nhật ký điện tử cho 3.470/3.950 tàu cá từ 12 m trở lên. Từ ngày 1-3-2026, 100% tàu cá xuất, nhập bến thực hiện khai báo trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử eCDT.

    Đối với tàu cũ, hỏng, không còn phù hợp, tỉnh triển khai chính sách giải bản, chuyển đổi nghề theo Nghị quyết số 27/2025/NQ-HĐND. Có 999 tàu đăng ký giải bản, tổng kinh phí hơn 328 tỷ đồng; đến nay đã giải bản hơn 100 tàu với tổng kinh phí hỗ trợ khoảng 38 tỷ đồng.

    Về lâu dài, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 còn khoảng 3.800 tàu cá tham gia khai thác, giảm hơn 1.900 tàu so với hiện nay. Cùng với đó, dự án nâng cấp Cảng cá thông minh Tam Quan (phường Hoài Nhơn Bắc) kết hợp khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng, tổng mức đầu tư khoảng 3.300 tỷ đồng, được định hướng tích hợp quản lý tàu cá, kiểm soát sản lượng, truy xuất nguồn gốc, đấu giá thủy sản, logistics và chuyển đổi số.

    Tại Phiên họp thứ 35 của Ban Chỉ đạo Quốc gia về chống khai thác IUU ngày 28-7-2026, Gia Lai được Chính phủ biểu dương vì những kết quả nổi bật.

    Tuy nhiên, theo ông Cao Thanh Thương – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, phía trước vẫn còn nhiều việc phải làm. Từ nay đến ngày 31-8-2026 là giai đoạn cao điểm xử lý các tồn tại theo 38 khuyến nghị thuộc 5 nhóm vấn đề của Đoàn Thanh tra EC lần thứ 5, hướng tới hoàn thiện báo cáo gửi EC trước ngày 1-10-2026.

    Với Gia Lai, yêu cầu đặt ra là quản lý chính xác 100% dữ liệu đội tàu; duy trì hệ thống VMS hoạt động 24/24 giờ; kiểm soát chặt tàu ra, vào cảng; xử lý dứt điểm tàu hết hạn giấy tờ, tàu mất tích, chìm, cháy, phá dỡ; quản lý những tàu thường xuyên neo đậu ngoài địa phương.

    Tỉnh tiếp tục đẩy nhanh giải bản, chuyển đổi nghề, tạo sinh kế mới cho ngư dân; đồng thời hoàn thiện hạ tầng nghề cá; thúc đẩy truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi số trong lĩnh vực thủy sản.

    NGỌC TÚ

    Nguồn https://baomoi.com/giu-bien-giu-nghe-giu-tuong-lai-c55969524.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!