Nguồn https://baomoi.com/danh-gia-toan-dien-hieu-qua-cao-toc-bac-nam-sau-dau-tu-c55979656.epi
Author: bachdn
-
Đề xuất cấp giấy chứng nhận đất đai điện tử, thí điểm trước khi áp dụng
Kết nối cơ sở dữ liệu đất đai. (Ảnh: TTXVN)
Thông tin từ đơn vị chuyên môn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết Cục Quản lý đất đai đang nghiên cứu, đánh giá khả năng áp dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất dạng điện tử (giấy chứng nhận đất đai điện tử), đồng thời đề xuất sửa đổi quy định pháp luật và giải pháp kỹ thuật phục vụ việc cấp loại giấy chứng nhận này.
Khắc phục 3 khoảng trống để triển khai đồng bộ
Vừa qua, Cục Quản lý đất đai đã thành lập Tổ công tác nghiên cứu, đánh giá khả năng áp dụng giấy chứng nhận điện tử và đề xuất sửa đổi quy định pháp luật, giải pháp kỹ thuật phục vụ việc cấp giấy chứng nhận điện tử. Tổ công tác có sự tham gia của các đơn vị chuyên môn thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an cùng các đơn vị chuyên môn về dữ liệu, đo đạc, đăng ký đất đai và hệ thống thông tin đất đai.
Theo báo cáo của Tổ công tác nghiên cứu, đánh giá khả năng áp dụng giấy chứng nhận điện tử, việc xây dựng mô hình giấy chứng nhận đất đai điện tử được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu toàn diện các căn cứ pháp lý, cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm xác lập mô hình giấy chứng nhận dạng điện tử.
Về khía cạnh pháp lý, Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định số 101/2024/NĐ-CP đã bước đầu ghi nhận giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận đất đai điện tử tương đương bản giấy. Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cũng tạo tiền đề cho việc xác nhận bản gốc dữ liệu, ký số và bảo đảm an ninh mạng.
Kết quả nghiên cứu của tổ công tác trên cho thấy mô hình kỹ thuật của giấy chứng nhận đất đai điện tử theo hướng “bản gốc dữ liệu” gồm hai lớp: PDF/A để hiển thị và XML dữ liệu nhúng. Việc xác thực được thực hiện bằng mã định danh UUID, mã QR thời gian thực và chữ ký số HSM.
Mô hình trên đã được thử nghiệm tại Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Hà Nội trên hệ thống ViLIS 2024 – GCNĐT, nền tảng HaNoiLIS. Qua thử nghiệm, kết quả được báo cáo đánh giá là chứng minh tính khả thi, độ ổn định và hiệu quả kinh tế-xã hội của giấy chứng nhận điện tử.
Tuy nhiên, để triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn quốc, theo tổ công tác, hiện nay vẫn tồn tại 3 khoảng trống pháp lý lớn. Đầu tiên là pháp luật đất đai hiện hành chưa có khái niệm chính thức ở cấp luật về “Giấy chứng nhận điện tử” như một hình thức thể hiện độc lập, có giá trị pháp lý bản gốc ngang với bản giấy truyền thống trong toàn bộ hệ thống pháp luật
Khoảng trống thứ hai được cơ quan quản lý nhận diện là chưa có khung chính sách bắt buộc liên thông giá trị pháp lý giữa các ngành.
Trên thực tế, dù pháp luật đất đai công nhận giấy chứng nhận điện tử, nhưng chưa có cơ chế buộc các cơ quan, tổ chức như thuế, ngân hàng, công chứng, tòa án, thi hành án phải tiếp nhận, công nhận và sử dụng giấy chứng nhận điện tử trong giao dịch dân sự, đăng ký thế chấp, cấp tín dụng hoặc tố tụng. Vì vậy, các giao dịch vẫn có thể phải sử dụng bản giấy.
Khoảng trống đáng chú ý tiếp theo là chưa có hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, nghiệp vụ đồng bộ ở cấp Bộ về cấu trúc dữ liệu, mã định danh duy nhất, dấu thời gian, quy trình phát hành, cấp đổi, cấp lại, cập nhật biến động, hủy bỏ và lưu trữ điện tử lâu dài với giấy chứng nhận điện tử.
Hoàn thiện thể chế theo mô hình “3 cấp”
Để khắc phục những khoảng trống trên, báo cáo nghiên cứu đề xuất hoàn thiện thể chế theo mô hình “3 cấp” gồm Luật, Nghị định và Thông tư.
Cụ thể, ở cấp Luật, cần tham mưu Quốc hội bổ sung, luật hóa chính thức khái niệm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất dạng điện tử vào Luật Đất đai. Theo đề xuất, giấy chứng nhận điện tử là một hình thức thể hiện chính thức, độc lập của giấy chứng nhận, có giá trị pháp lý bản gốc và hiệu lực thi hành đầy đủ như bản giấy truyền thống.
Ở cấp Nghị định của Chính phủ, cần quy định cụ thể về giá trị pháp lý, cơ chế công nhận, sử dụng, chuyển đổi và quản lý giấy chứng nhận điện tử.
Tăng tốc hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Đặc biệt, cần xác lập khung chính sách bắt buộc liên thông giá trị pháp lý giữa các bộ, ngành; quy định rõ trách nhiệm của cơ quan thuế, công chứng, ngân hàng, tòa án, thi hành án trong việc công nhận, sử dụng giấy chứng nhận điện tử mà không yêu cầu người dân, doanh nghiệp xuất trình bản giấy.
Với Thông tư, theo báo cáo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được đề xuất ban hành hướng dẫn chuyên ngành về toàn bộ quy trình và tiêu chuẩn kỹ thuật. Trong đó có mẫu giao diện hiển thị, cấu trúc tệp dữ liệu, mã UUID, mã QR xác thực, dữ liệu XML, tiêu chuẩn ký số phần cứng HSM, dấu thời gian và quy trình cấp mới, cấp đổi, cập nhật biến động, hủy bỏ, lưu trữ điện tử lâu dài.
Song song hoàn thiện thể chế, báo cáo nghiên cứu cũng đề xuất chuẩn hóa khung tiêu chuẩn dữ liệu quốc gia về giấy chứng nhận điện tử, bao gồm chuẩn XML, PDF/A, UUID và mã QR xác thực, bảo đảm các phần mềm quản lý đất đai tại địa phương có khả năng khởi tạo và truy xuất dữ liệu đồng bộ.
Ngoài ra, hạ tầng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia (MPLIS) cũng cần tiếp tục được đầu tư, hoàn thiện; nâng cấp hạ tầng ký số tập trung sử dụng thiết bị HSM dung lượng cao, kết hợp các giải pháp an toàn thông tin chuyên sâu, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn hệ thống thông tin cấp độ 4. Đồng thời mở rộng kết nối qua trục kết nối, chia sẻ dữ liệu quốc gia, tích hợp sâu với Hệ thống định danh và xác thực điện tử VNeID, qua đó hỗ trợ người dân tra cứu, quản lý và sử dụng giấy chứng nhận điện tử thuận tiện trên thiết bị di động.
Về lộ trình, báo cáo nghiên cứu đề xuất hai kịch bản nhằm bảo đảm việc chuyển đổi không làm gián đoạn các giao dịch đất đai hiện hành.
Trong đó, đối với các địa phương đã hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai, có thể triển khai ngay việc cấp giấy chứng nhận điện tử đồng bộ, kết nối toàn trình với Cổng dịch vụ công và các cơ quan thuế, ngân hàng, công chứng. Với các địa phương chưa hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, triển khai theo mô hình cuốn chiếu, vừa số hóa, chuẩn hóa dữ liệu địa chính, vừa từng bước áp dụng giấy chứng nhận điện tử đối với hồ sơ đăng ký mới và đăng ký biến động.
Tuy vậy, trước khi áp dụng, báo cáo nghiên cứu của Tổ công tác nghiên cứu, đánh giá khả năng áp dụng giấy chứng nhận điện tử đề nghị mở rộng thí điểm giấy chứng nhận điện tử tại một số tỉnh, thành phố, để đánh giá toàn diện, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ và tạo sự đồng thuận trong xã hội./.
-
Giữ nguyên 168 xã, phường, đặc khu ở TP.HCM để tập trung cho tăng trưởng kinh tế
Theo Tờ trình của UBND TP.HCM về kết quả thực hiện chỉ đạo của Ban Thường vụ Thành ủy trong việc tiếp tục nghiên cứu phương án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, qua rà soát 168 xã, phường, đặc khu, có 165 địa phương đề xuất giữ nguyên hiện trạng.
TP.HCM đang tập trung ổn định tổ chức bộ máy, tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
Ba địa phương đề xuất phương án sắp xếp gồm phường Khánh Hội, phường Xóm Chiếu và xã Long Sơn.
Trong đó, phường Xóm Chiếu đề xuất sáp nhập 3 phường Khánh Hội, Vĩnh Hội và Xóm Chiếu thành một đơn vị mới. Phường Khánh Hội cũng đề xuất phương án tương tự hoặc sáp nhập với một phường giáp ranh để mở rộng không gian phát triển.
Tuy nhiên, UBND TP.HCM cho rằng, nếu sáp nhập 3 phường Khánh Hội, Vĩnh Hội và Xóm Chiếu, đơn vị mới có diện tích khoảng 4,18km², thấp hơn tiêu chuẩn 5,5km². Hồ sơ của hai phường cũng chưa thể hiện việc lấy ý kiến, trao đổi với các địa phương giáp ranh.
Thành phố cho rằng việc nghiên cứu điều chỉnh địa giới khu vực này nên được thực hiện sau khi Quy hoạch tổng thể TP.HCM thời kỳ 2025-2050, tầm nhìn 100 năm được thông qua.
Đối với xã Long Sơn, địa phương từng nghiên cứu 3 phương án, trong đó có phương án sáp nhập với phường Tân Hải. Tuy nhiên, phường Tân Hải mong muốn giữ ổn định đơn vị hành chính hiện tại. Do các bên chưa thống nhất, chưa có phương án hoàn chỉnh và chưa chứng minh được tính cấp thiết, UBND TP.HCM đề nghị trước mắt chưa điều chỉnh.
TP.HCM đề xuất trước mắt giữ nguyên 168 xã, phường, đặc khu trên địa bàn.
Theo UBND TP.HCM, thành phố hiện có quy mô dân số hơn 16 triệu người, diện tích tự nhiên 6.772,65 km², gồm 168 xã, phường, đặc khu. Đây là địa phương có số lượng đơn vị hành chính cấp xã cao nhất cả nước.
Theo Nghị quyết 112/2025/UBTVQH15, có 114/168 đơn vị bảo đảm tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên và quy mô dân số; 54 đơn vị chưa bảo đảm một trong hai tiêu chuẩn.
Tuy nhiên, qua rà soát sau một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, UBND TP.HCM cho biết các địa phương này chưa phát sinh bất hợp lý đáng kể. Một số địa bàn có tính chất đặc thù như Côn Đảo cũng được xem xét theo quy định riêng.
Thành phố đồng thời dẫn quy định chuyển tiếp tại Nghị quyết 112/2025, theo đó các đơn vị hành chính được thành lập trước ngày 1/1/2026 không phải đánh giá lại tiêu chuẩn.
Việc giữ ổn định địa giới được kỳ vọng không làm gián đoạn hoạt động của người dân, doanh nghiệp và các dự án trọng điểm.
Theo UBND TP.HCM, việc giữ nguyên hiện trạng trong giai đoạn trước mắt sẽ giúp tránh xáo trộn tổ chức bộ máy, dữ liệu hành chính, tài chính – ngân sách, tài sản công và địa chỉ của người dân, doanh nghiệp.
Việc này cũng nhằm bảo đảm tiến độ các nhiệm vụ, dự án đang triển khai, nhất là quy hoạch, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, cấp phép xây dựng, phát triển metro, đường sắt và các công trình trọng điểm.
Đáng chú ý, thành phố cho rằng ổn định địa giới là điều kiện để tập trung thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội những tháng cuối năm 2026, trọng tâm là mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 10%.
Sau một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, hoạt động tại các xã, phường, đặc khu cơ bản ổn định, liên tục và thông suốt. Từ ngày 1/7/2025 đến nay, thành phố đã phân cấp, ủy quyền khoảng 1.008 nhiệm vụ trên 9 lĩnh vực thông qua 87 quyết định.
Việc đẩy mạnh chuyển đổi số, sử dụng văn bản điện tử, chữ ký số và dịch vụ công trực tuyến cũng góp phần rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí và thời gian đi lại cho người dân, doanh nghiệp.
Từ các kết quả trên, UBND TP.HCM kiến nghị trước mắt giữ nguyên hiện trạng 168 xã, phường, đặc khu. Giai đoạn 2026-2030, thành phố sẽ tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, cải cách hành chính, chuyển đổi số và cơ cấu đội ngũ cán bộ theo khối lượng công việc thực tế.
-
Khẩn trương điều chỉnh quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc phục vụ APEC 2027
Nhà ga hành khách T2 Cảng Hàng không quốc tế Phú Quốc được thiết kế lấy cảm hứng từ hình tượng chim Phượng Hoàng lửa. (Ảnh: Cục Hàng không Việt Nam)
Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của thành phố Phú Quốc nói riêng và tỉnh An Giang nói chung. Theo Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Bộ Xây dựng phê duyệt, đây là cảng hàng không dùng chung dân dụng và quân sự, với quy mô đất sử dụng dự tính khoảng 1.050,1ha.
Trước yêu cầu đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị và triển khai các dự án hạ tầng phục vụ Hội nghị Cấp cao APEC 2027, thực hiện chủ trương của Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thường trực Chính phủ, việc nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc được xác định là nhiệm vụ cần triển khai khẩn trương.
Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang được giao là cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục liên quan việc kêu gọi, lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp. Việc điều chỉnh quy hoạch không chỉ nhằm bảo đảm năng lực khai thác, phục vụ tốt các hoạt động đối ngoại quan trọng của đất nước, mà còn phải tính toán yêu cầu phát triển lâu dài, đồng bộ với định hướng phát triển bền vững của Phú Quốc.
Theo Hội đồng thẩm định, phương án điều chỉnh cần được nghiên cứu trên cơ sở rà soát tổng thể quy hoạch đã được phê duyệt, dự báo nhu cầu khai thác và khả năng tăng trưởng hành khách, hàng hóa; đồng thời cập nhật tiến độ đầu tư các công trình để bảo đảm tính khả thi trong quá trình triển khai.
Một trong những nội dung được Hội đồng thẩm định lưu ý là việc rà soát, nghiên cứu bố trí lại vị trí và bổ sung một số hạng mục công trình nhằm đáp ứng yêu cầu khai thác trước mắt cũng như nhu cầu phát triển trong tương lai.
Đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, phương án điều chỉnh quy hoạch cần tính toán đầy đủ nhu cầu sử dụng năng lượng, nhất là trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi sang các phương tiện giao thông xanh. Các công trình cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, chất thải rắn cần được xác định quy mô phù hợp với cả nhu cầu ngắn hạn và dài hạn.
Đặc biệt, phương án quy hoạch phải tính đến khả năng hành khách tăng cao trong những thời điểm đặc biệt, nhất là thời gian diễn ra Hội nghị Cấp cao APEC 2027. Việc tổ chức, đấu nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật cũng cần được nghiên cứu đồng bộ, bảo đảm khả năng đáp ứng khi lưu lượng khai thác tăng đột biến.
Hội đồng thẩm định đồng thời yêu cầu rà soát hiện trạng hệ thống thoát nước trong và ngoài ranh giới Cảng; đánh giá tính khả thi của phương án điều chỉnh hệ thống thoát nước và các hồ điều hòa, qua đó hạn chế nguy cơ quá tải, ngập úng và bảo đảm yêu cầu vận hành ổn định của cảng hàng không.
Về giao thông kết nối, cần nghiên cứu phương án tổ chức giao thông hợp lý, tối ưu trên tuyến đường trục kết nối với nhà ga hành khách, nhất là trong các thời điểm lưu lượng phương tiện tăng cao. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm hạn chế ùn tắc, bảo đảm giao thông thông suốt trong thời gian diễn ra các sự kiện lớn.
Cùng với đó, Hội đồng thẩm định đề nghị nghiên cứu phương án kết nối hợp lý giữa khu vực khách sạn và nhà ga hành khách, đáp ứng nhu cầu lưu trú ngắn hạn; rà soát các chỉ tiêu, quy mô sử dụng đất đối với khu vực lưu trú; đồng thời kiểm soát độ cao công trình, bảo đảm tĩnh không và an toàn hoạt động bay.
Để bảo đảm cơ sở pháp lý và tính khả thi của phương án, Hội đồng thẩm định đề nghị các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp tục rà soát, cập nhật đầy đủ các quy định pháp luật hiện hành; bổ sung, hoàn thiện thuyết minh, số liệu về hiện trạng hạ tầng và tiến độ đầu tư xây dựng các công trình tại Cảng.
Trong quá trình hoàn thiện hồ sơ, cần rà soát và cập nhật các quy định chuyển tiếp tại Nghị định số 205/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 của Chính phủ để bảo đảm việc áp dụng phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
Đối với khu vực đề-pô đường sắt đô thị, cần tiếp tục rà soát đồng bộ các quy định của pháp luật về đất đai, đường sắt và hàng không dân dụng, qua đó xác định chính xác nhu cầu sử dụng đất và bảo đảm sự thống nhất giữa các quy hoạch, dự án có liên quan.
Hội đồng thẩm định đề nghị Cục Hàng không Việt Nam và đơn vị tư vấn khẩn trương nghiên cứu, tiếp thu và giải trình đầy đủ các ý kiến của các thành viên Hội đồng; hoàn thiện hồ sơ điều chỉnh quy hoạch để sớm trình Bộ Xây dựng xem xét, phê duyệt theo quy định.
-
Hà Nội xây ‘lý lịch số’ cho từng công trình giao thông
Mỗi công trình một “lý lịch số”
Với tốc độ phát triển nhanh, Hà Nội đang sở hữu hệ thống hạ tầng giao thông ngày càng lớn và phức tạp. Từ đường, cầu, hầm chui, nút giao đến biển báo, đèn tín hiệu, điểm dừng xe buýt… mỗi công trình đều có một “vòng đời” riêng, từ xây dựng, khai thác đến duy tu, sửa chữa.
Từ tuyến đường, cây cầu, hầm chui đến nút giao, mỗi công trình giao thông tại Hà Nội đang từng bước được số hóa thông tin về vị trí, quy mô, hiện trạng, kiểm định, duy tu, sửa chữa và quá trình khai thác.
Trước đây, thông tin về các công trình chủ yếu nằm trong hồ sơ, bản vẽ, báo cáo hoặc được lưu trữ tại nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau. Việc tra cứu hiện trạng, lịch sử sửa chữa hay quá trình khai thác vì thế có thể mất nhiều thời gian.
Theo Sở Xây dựng Hà Nội, việc xây dựng Hệ thống quản lý kết cấu hạ tầng giao thông trên nền bản đồ số đang tạo ra một bước chuyển trong phương thức quản lý. Điểm đáng chú ý là mỗi công trình sẽ từng bước được hình thành một “lý lịch số”, gắn với vị trí trên bản đồ và tích hợp các thông tin về quy mô, thông số kỹ thuật, hiện trạng, kiểm định, duy tu, sửa chữa và những biến động trong quá trình khai thác.
Ông Đàm Quang Bảo, Giám đốc Ban Duy tu các công trình hạ tầng giao thông Hà Nội cho biết, khi dữ liệu được gắn với vị trí địa lý trên nền tảng GIS, cơ quan quản lý có thể nhanh chóng xác định công trình ở đâu, thuộc phạm vi nào, hiện trạng ra sao và những thông tin liên quan.
Quan trọng hơn, “lý lịch số” không phải bộ hồ sơ được tạo ra một lần rồi lưu trữ cố định. Dữ liệu phải được cập nhật cùng với sự thay đổi của công trình ngoài thực tế.
Một tuyến đường sau sửa chữa, cây cầu sau kiểm định hay hầm chui phát sinh vấn đề đều cần được cập nhật. Những lần duy tu, bảo dưỡng cũng được lưu lại. Theo thời gian, “lý lịch số” sẽ trở thành lịch sử về vòng đời của từng công trình.
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thủy, chuyên gia giao thông, cho rằng chuyển đổi số trong quản lý, điều hành giao thông là yêu cầu cần thiết và cấp bách đối với Hà Nội. Với lĩnh vực hạ tầng, lợi ích càng rõ khi dữ liệu đầy đủ giúp cơ quan quản lý xác định công trình cần theo dõi, vị trí có nguy cơ xuống cấp và hạng mục cần ưu tiên xử lý.
Thay vì chờ sự cố trở nên nghiêm trọng mới can thiệp, dữ liệu có thể giúp nhận diện sớm vấn đề, chủ động xây dựng kế hoạch bảo trì và phân bổ nguồn lực.
Tuy nhiên, theo bà Thủy, yếu tố quyết định vẫn là chất lượng dữ liệu. Một hệ thống hiện đại nhưng dữ liệu thiếu, sai hoặc không được cập nhật thường xuyên sẽ khó phát huy giá trị. Vì vậy, dữ liệu hạ tầng phải bảo đảm chính xác, đầy đủ, đồng bộ và luôn được cập nhật để phản ánh sát thực tế.
Đây cũng là thách thức không nhỏ khi Hà Nội có hệ thống hạ tầng giao thông lớn, trải rộng và liên tục được đầu tư, nâng cấp, điều chỉnh. Để “lý lịch số” thực sự có giá trị, cần quy trình cập nhật rõ ràng, phân định trách nhiệm cụ thể giữa các cơ quan, đơn vị và bảo đảm dữ liệu được bổ sung kịp thời mỗi khi công trình có thay đổi.
Hà Nội đang chuyển từ quản lý hạ tầng bằng những bộ hồ sơ riêng lẻ sang quản trị trên nền tảng dữ liệu số.
Dữ liệu trở thành “mạch sống” của đô thị
Ông Trần Hữu Bảo, Phó giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, một tuyến đường không tồn tại độc lập mà liên quan đến nút giao, đèn tín hiệu, biển báo, chiếu sáng, thoát nước, cây xanh, vận tải hành khách công cộng và nhiều hạ tầng kỹ thuật khác. Tương tự, một cây cầu gắn với đường dẫn, tổ chức giao thông, hệ thống an toàn và các công trình liên quan.
Khi những lớp dữ liệu này được đưa lên cùng một nền tảng, cơ quan quản lý sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về hạ tầng đô thị.
Theo định hướng, hệ thống quản lý kết cấu hạ tầng giao thông Hà Nội không chỉ quản lý đường bộ mà từng bước tích hợp dữ liệu về cầu, hầm, nút giao, đường sắt đô thị, đường thủy nội địa, bến bãi, điểm đỗ xe và các công trình phục vụ giao thông. Dữ liệu cũng có thể kết nối với cây xanh, chiếu sáng công cộng, vận tải hành khách công cộng.
Khi đó, bản đồ số không còn đơn thuần để “xem” vị trí công trình mà trở thành nền tảng dữ liệu phục vụ phân tích, điều hành và ra quyết định.
Đây là bước chuyển quan trọng trong quá trình Hà Nội xây dựng đô thị thông minh. Bởi để quản trị một đô thị hiện đại, trước hết phải có khả năng nắm bắt đầy đủ và kịp thời những gì đang diễn ra trong đô thị.
Trong lĩnh vực giao thông, dữ liệu có thể cho biết mạng lưới đang vận hành ra sao, điểm nào thường xuyên phát sinh vấn đề, công trình nào cần ưu tiên và khu vực nào có nhu cầu đầu tư, điều chỉnh. Khi dữ liệu hạ tầng được kết nối với dữ liệu giao thông thời gian thực, camera, cảm biến và các hệ thống điều hành, khả năng phân tích, dự báo và ứng phó với tình huống phát sinh sẽ được nâng lên.
Xa hơn, AI, IoT hay Digital Twin có thể được tích hợp để xử lý dữ liệu lớn, nhận diện bất thường, cung cấp thông tin từ thực địa và mô phỏng các trạng thái khác nhau của hệ thống trước khi đưa ra quyết định.
Tuy nhiên, công nghệ chỉ là công cụ. Mục tiêu cuối cùng vẫn là giúp cơ quan quản lý ra quyết định tốt hơn.
Khi có đầy đủ dữ liệu về tình trạng đường, cầu và các công trình giao thông, kế hoạch bảo trì có thể được xây dựng dựa nhiều hơn vào hiện trạng và mức độ ưu tiên. Nguồn lực đầu tư được tập trung vào những nơi thực sự cần thiết. Khi xảy ra sự cố, vị trí, công trình liên quan và phương án tổ chức giao thông cũng có thể được xác định nhanh hơn nhờ dữ liệu đã tích hợp.
Với Hà Nội, yêu cầu này càng rõ khi thành phố đang bước vào giai đoạn phát triển hạ tầng quy mô lớn. Nhiều tuyến đường, cây cầu, tuyến đường sắt đô thị và công trình giao thông mới sẽ tiếp tục làm gia tăng khối lượng tài sản cần quản lý.
Nếu không có một hệ thống dữ liệu thống nhất, việc quản lý sẽ ngày càng phức tạp. Ngược lại, nếu mỗi công trình được gắn với một hồ sơ số và dữ liệu được duy trì trong suốt vòng đời, thành phố có thể từng bước hình thành một “bản đồ sống” về hạ tầng đô thị.
Từ “lý lịch số” của từng công trình sẽ hình thành dữ liệu của từng tuyến đường, từng khu vực; khi các lớp dữ liệu được kết nối, thành phố có thể hình thành bức tranh tổng thể về hệ thống hạ tầng.
Vì vậy, xây dựng hệ thống này không đơn thuần là đầu tư một phần mềm hay tạo ra một bản đồ điện tử. Đằng sau công nghệ là yêu cầu thay đổi phương thức làm việc, quy trình quản lý và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.
Dữ liệu phải được cập nhật từ cơ sở, có người chịu trách nhiệm, có cơ chế chia sẻ, khai thác và đồng thời bảo đảm an toàn, bảo mật.
Khi những yêu cầu đó được thực hiện đồng bộ, “lý lịch số” sẽ không chỉ giúp cơ quan quản lý biết một công trình ở đâu mà còn biết công trình đang ở trạng thái nào, đã trải qua những gì và cần được làm gì tiếp theo.
Đó là bước chuyển từ quản lý công trình sang quản trị tài sản hạ tầng; từ xử lý sự cố sang chủ động phòng ngừa; từ những bộ hồ sơ riêng lẻ sang một hệ thống dữ liệu có khả năng kết nối, phân tích.
Và rộng hơn, đó là bước chuyển từ quản lý đô thị bằng thông tin phân tán sang quản trị đô thị bằng dữ liệu.
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thủy, mục tiêu cuối cùng của chuyển đổi số không phải tạo thêm một hệ thống công nghệ, mà là giúp chính quyền nhìn rõ hơn những vấn đề của đô thị, ra quyết định nhanh và chính xác hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và phục vụ người dân tốt hơn.
Với việc xây dựng “lý lịch số” cho hạ tầng giao thông, Hà Nội đang tạo nền móng quan trọng cho quá trình đó. Khi mỗi công trình có một hồ sơ số, mỗi dữ liệu được cập nhật theo vòng đời và các lớp dữ liệu được kết nối, hạ tầng giao thông sẽ không chỉ hiện hữu trên mặt đất mà còn được “nhìn thấy”, phân tích và quản trị trên không gian số.
Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-xay-ly-lich-so-cho-tung-cong-trinh-giao-thong-c55979442.epi
-
Xây dữ liệu ‘đúng, đủ, sạch, sống’, mở đường cho giao thông thông minh
Tạo nền tảng dữ liệu cho giao thông thông minh
Theo báo cáo của Cục Đường bộ Việt Nam, thực hiện Kế hoạch triển khai Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số, đến ngày 3/9, Cục đã hoàn thành 8/15 nhiệm vụ, đạt hơn 53%; 7 nhiệm vụ còn lại đang được triển khai, chiếm gần 47%.
Hệ thống thu phí tự động không dừng cao tốc Quảng Ngãi – Hoài Nhơn.
Một trong những kết quả đáng chú ý là Cục Đường bộ đã hoàn thành rà soát, kiểm kê trung tâm dữ liệu, phòng máy chủ; rà soát, bổ sung danh mục cơ sở dữ liệu cần xây dựng, hoàn thiện; đồng thời cung cấp các trường dữ liệu dự kiến đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Đáng chú ý, Cục đã tham mưu Bộ Xây dựng ban hành quyết định về Kế hoạch triển khai xây dựng Nền tảng quản lý hệ thống giao thông thông minh đường bộ giai đoạn 2026-2030. Đây là bước quan trọng trong quá trình hình thành nền tảng số phục vụ quản lý, điều hành giao thông đường bộ trong những năm tới.
Cùng với đó, Cục đã công bố thủ tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; thực hiện tái cấu trúc quy trình giải quyết thủ tục hành chính; hoàn thành tích hợp và thông báo triển khai kết nối hệ thống với phần mềm nghiệp vụ chuyên ngành lĩnh vực đường bộ.
Trong lĩnh vực kinh tế số, Bộ Xây dựng đã ban hành danh mục dữ liệu mở và dịch vụ dữ liệu có thể khai thác an toàn, gồm dữ liệu về doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đường bộ, tuyến vận tải hành khách cố định, cơ sở đào tạo lái xe ô tô, trạm dừng nghỉ, bến xe ô tô. Cục Đường bộ thống nhất cho phép Trung tâm Công nghệ thông tin thực hiện chia sẻ, khai thác và công bố các chỉ tiêu thông tin theo danh mục dữ liệu mở.
Đối với dịch vụ công trực tuyến, Cục Đường bộ đã hoàn thành kết nối hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính với các cơ sở dữ liệu đã công bố và các cơ sở dữ liệu mới hoàn thành. Qua đó, hướng tới tự động điền, xác thực và tái sử dụng dữ liệu, hạn chế việc người dân, doanh nghiệp phải cung cấp lại những giấy tờ, thông tin đã có.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng đang được Cục Đường bộ tích cực triển khai là hoàn thiện Cơ sở dữ liệu kết cấu hạ tầng đường bộ.
Đến nay, Cục đã ký thỏa thuận thử nghiệm hệ thống từ ngày 1/1 đến 30/9/2026; được bố trí 20 tỷ đồng vốn năm 2026 và đang thực hiện thủ tục thuê dịch vụ công nghệ số. Hệ thống dự kiến được đưa vào hoạt động trong tháng 10/2026.
Tuy nhiên, tiến độ đồng bộ dữ liệu hiện chưa đồng đều giữa các nhóm hạ tầng. Tính đến thời điểm báo cáo, dữ liệu tuyến đường bộ đã đồng bộ 2.104/3.583 tuyến, đạt gần 59%; dữ liệu cầu đường bộ đạt 6.381/9.083 cầu, tương đương hơn 70%; riêng dữ liệu hầm đường bộ đạt 26/27 hầm, tương đương hơn 96%.
Mục tiêu đến ngày 15/11/2026 là hoàn thành chuẩn hóa, đối soát, làm sạch tối thiểu 80% dữ liệu đủ điều kiện đồng bộ.
Đây là khâu có ý nghĩa nền tảng, bởi dữ liệu hạ tầng đường bộ không chỉ phục vụ quản lý tài sản kết cấu hạ tầng mà còn là đầu vào quan trọng cho công tác quản lý, khai thác, bảo trì và từng bước xây dựng hệ thống giao thông thông minh.
Một nội dung đáng chú ý khác là tiến độ hoàn thiện hồ sơ cấp độ đối với Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu thanh toán điện tử giao thông đường bộ và Hệ thống điều hành và trung tâm dữ liệu thu phí.
Theo Cục Đường bộ, nhà thầu đã xây dựng hồ sơ cấp độ và xin ý kiến Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05). Tuy nhiên, do Luật An ninh mạng năm 2026 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, cùng các nghị định mới có hiệu lực từ ngày 19/8/2026, hồ sơ cần tiếp tục được hoàn thiện, cập nhật theo các quy định mới.
Cục Đường bộ cho biết, hệ thống hiện đã đáp ứng cấp độ 3 nhưng chưa đáp ứng cấp độ 4. Cục đề nghị Bộ Xây dựng chỉ đạo Ban QLDA 7 hoàn thành phê duyệt hồ sơ cấp độ 4 trước ngày 20/11/2026. Đồng thời, nhà thầu được yêu cầu triển khai kết nối, chia sẻ thông tin giám sát an ninh mạng với Trung tâm An ninh mạng quốc gia trong tháng 9/2026.
Hướng tới chuẩn dữ liệu thống nhất
Trong lĩnh vực dữ liệu số, Cục Đường bộ đã thống nhất phương án xây dựng từ điển dữ liệu chuyên ngành, đặt mục tiêu hoàn thành và ban hành vào ngày 20/11/2026.
Cùng với đó, Bộ Xây dựng đang triển khai xây dựng Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị, quản lý dữ liệu và Từ điển dữ liệu của Bộ.
Khi hoàn thành đúng tiến độ, các nội dung này sẽ góp phần hình thành chuẩn thống nhất, tạo điều kiện để các hệ thống dữ liệu ngành đường bộ kết nối, trao đổi và khai thác hiệu quả hơn, thay vì dữ liệu được hình thành và quản lý riêng lẻ theo từng hệ thống.
Bên cạnh các nhiệm vụ đã hoàn thành, một số nội dung vẫn đang được triển khai, tập trung vào thiết bị đầu cuối, đào tạo nhân lực và chính sách hỗ trợ cán bộ chuyên trách chuyển đổi số.
Đối với trang thiết bị đầu cuối, Cục đã hoàn thành rà soát, thống kê nhu cầu mua sắm, đầu tư, nâng cấp. Tuy nhiên, các đơn vị vẫn phải hoàn thành việc mua sắm thiết bị trước ngày 20/11/2026.
Về đào tạo, Cục Đường bộ đã tham gia khóa bồi dưỡng kiến thức AI cho cán bộ, công chức, viên chức; đồng thời hoàn thành chương trình phổ cập kỹ năng số trên nền tảng Bình dân học vụ số.
Để bảo đảm tiến độ các nhiệm vụ còn lại, Cục Đường bộ kiến nghị Bộ Xây dựng giao Trung tâm Công nghệ thông tin hướng dẫn, đôn đốc Ban QLDA 7 hoàn thành phê duyệt hồ sơ cấp độ 4 của Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu thanh toán điện tử giao thông đường bộ và hệ thống Back-End trước ngày 20/11/2026.
Cùng với đó, Trung tâm Công nghệ thông tin tiếp tục phối hợp rà soát dữ liệu đối với Cơ sở dữ liệu kết cấu hạ tầng đường bộ, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”; đồng thời đề nghị lãnh đạo Bộ quan tâm, bố trí kinh phí hỗ trợ công chức làm công tác chuyển đổi số của Cục.
Nguồn https://baomoi.com/xay-du-lieu-dung-du-sach-song-mo-duong-cho-giao-thong-thong-minh-c55979397.epi
-
Tổng rà soát hệ thống pháp luật: Đề xuất xử lý hơn 13.000 văn bản
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu chủ trì họp về tình hình triển khai thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật – Ảnh: chinhphu.vn/Thu Sa
Chính phủ vừa có Báo cáo số 652/BC-CP ngày 30/8/2026 về tình hình triển khai thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, kính gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Việc tổng rà soát được thực hiện đối với toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ở Trung ương và địa phương ban hành còn hiệu lực hoặc chưa có hiệu lực thuộc trách nhiệm rà soát của các cơ quan, tính đến hết ngày 31/12/2026.
Nội dung rà soát tập trung đánh giá sự phù hợp của văn bản với chủ trương, đường lối của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật; tính tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tính khả thi, hiệu quả của quy định pháp luật; đồng thời rà soát, phát hiện các nội dung, lĩnh vực, vấn đề chưa có quy định pháp luật điều chỉnh.
Rà soát 45.793 văn bản quy phạm pháp luật từ Trung ương đến địa phương
Tính đến ngày 30/6/2026, các cơ quan ở Trung ương và địa phương đã xác định, tổng hợp 45.793 văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực hoặc chưa có hiệu lực thuộc đối tượng, phạm vi tổng rà soát.
Đối với các văn bản được ban hành không theo chế độ mật, các cơ quan ở Trung ương và địa phương đã rà soát, xác định và đề xuất phương án xử lý đối với tổng số 13.077 văn bản.
Trong đó, đối với văn bản do các cơ quan, người có thẩm quyền ở Trung ương ban hành, có 2.363 văn bản được đề xuất xử lý. Cụ thể, đề xuất sửa đổi, bổ sung 663 văn bản; thay thế 859 văn bản; tạm ngưng hiệu lực một phần 4 văn bản; bãi bỏ toàn bộ 650 văn bản; bãi bỏ một phần 29 văn bản và ban hành mới 158 văn bản.
Đối với văn bản do chính quyền địa phương cấp tỉnh ban hành, các địa phương đã rà soát, xác định phương án xử lý đối với 7.939 văn bản; trong đó đề xuất sửa đổi, bổ sung 461 văn bản; thay thế 3.052 văn bản; bãi bỏ toàn bộ 3.490 văn bản; ban hành mới 902 văn bản; tạm ngưng hiệu lực một phần 1 văn bản và hướng dẫn áp dụng 34 văn bản.
Đối với văn bản do chính quyền địa phương cấp xã ban hành, các địa phương xác định phương án xử lý đối với 2.775 văn bản, gồm đề xuất sửa đổi, bổ sung 43 văn bản; thay thế 680 văn bản; bãi bỏ toàn bộ 1.740 văn bản; ban hành mới 301 văn bản; tạm ngưng hiệu lực một phần 5 văn bản và bãi bỏ một phần 6 văn bản.
Theo đánh giá của Chính phủ, kết quả tổng rà soát sơ bộ cho thấy các cơ quan Trung ương và địa phương đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ một phần, ban hành mới 7.300 văn bản, chiếm 15,9% tổng số văn bản thuộc đối tượng rà soát; 5.926 văn bản được đề xuất bãi bỏ toàn bộ, chiếm 12,9%.
Cùng với 7.687 văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp huyện trước khi sắp xếp sẽ tự động hết hiệu lực theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đến hết ngày 28/2/2027, tổng số 13.613 văn bản sẽ được “loại bỏ” khỏi hệ thống.
Phần lớn các cơ quan Trung ương và địa phương đã xác định lộ trình xử lý văn bản trong giai đoạn 2026 – 2027; một số ít văn bản được xác định có lộ trình xử lý đến năm 2030 hoặc chưa xác định được cụ thể thời hạn xử lý.
Đối với văn bản thuộc thẩm quyền của Quốc hội, các cơ quan Trung ương đề xuất xử lý 136 bộ luật, luật và 12 nghị quyết của Quốc hội. Trong đó, năm 2026 dự kiến xử lý 78 bộ luật, luật và 6 nghị quyết; năm 2027 xử lý 27 bộ luật, luật và 3 nghị quyết; giai đoạn 2028 – 2030 xử lý 31 bộ luật, luật; còn 3 nghị quyết của Quốc hội chưa xác định cụ thể thời gian xử lý.
Đối với văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan Trung ương đề xuất xử lý 575 văn bản. Trong đó, năm 2026 đề xuất xử lý 355 văn bản; năm 2027 xử lý 194 văn bản; giai đoạn 2028 – 2030 xử lý 24 văn bản; giai đoạn sau năm 2030 xử lý 1 văn bản và 1 văn bản chưa xác định cụ thể thời gian xử lý.
Bộ Công Thương đề xuất xử lý 78 văn bản
Theo Báo cáo số 652/BC-CP, tính đến ngày 30/6/2026, Bộ Công Thương đã tổng hợp 417 văn bản quy phạm pháp luật thuộc đối tượng, phạm vi văn bản tổng rà soát.
Kết quả tổng rà soát sơ bộ xác định 78 văn bản quy phạm pháp luật được đề xuất xử lý, trong đó có 13 luật, 2 pháp lệnh, 35 nghị định, 5 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 23 văn bản khác.
Kết quả rà soát cho thấy hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Công Thương ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành về cơ bản phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước; phù hợp với yêu cầu đổi mới của đất nước trong kỷ nguyên mới, đồng thời bảo đảm tính tương thích với thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Tại Phiên họp lần thứ hai Ban Chỉ đạo Tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngày 26/8/2026, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, cuộc tổng rà soát lần này không phải để có thêm một báo cáo hay đơn thuần kiểm đếm văn bản, mà phải thực sự tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mở ra không gian phát triển mới cho đất nước – Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội
Để tinh gọn, hoàn thiện cấu trúc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Công Thương đề xuất xử lý 78 văn bản, gồm 8 luật, 2 pháp lệnh, 33 nghị định, 5 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 29 thông tư và 1 quyết định của Bộ trưởng.
Trong đó, 33 nghị định; 5 quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 29 thông tư và 1 quyết định của Bộ trưởng được định hướng tích hợp, lồng ghép nội dung để xử lý theo hướng tinh gọn; đồng thời 12 văn bản quy phạm pháp luật được đề xuất bãi bỏ toàn bộ.
Về lộ trình, trong năm 2026, Bộ Công Thương dự kiến xử lý 42 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có 8 luật, 19 nghị định, 4 quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Trong năm 2027, dự kiến xử lý 30 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có 1 luật, 1 pháp lệnh, 16 nghị định và 1 quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Xác định đúng, thực chất những điểm nghẽn cần tháo gỡ
Chính phủ đánh giá kết quả tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mới chỉ là bước đầu. Để tiếp tục hoàn thiện kết quả tổng rà soát, các cơ quan Trung ương và địa phương được yêu cầu tiếp tục bám sát các chủ trương, đường lối về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 66-NQ/TW và các nghị quyết, kết luận mới của Trung ương.
Quá trình chỉnh lý, hoàn thiện kết quả tổng rà soát phải xác định đúng, thực chất các vấn đề vướng mắc, bất cập, điểm nghẽn cần tháo gỡ; xác định rõ vướng mắc do quy định pháp luật hay do công tác tổ chức thi hành, hướng dẫn áp dụng; xác định những nội dung có khó khăn, vướng mắc trong áp dụng nhưng thực chất có nguyên nhân từ công tác tổ chức thi hành hoặc chưa được hướng dẫn đầy đủ, tổ chức thực hiện chưa thống nhất, tổng lực thực thi chưa đáp ứng hoặc cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chưa hiệu quả.
Kết quả tổng rà soát chính thức cũng phải đánh giá đầy đủ, sâu sắc thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, ngành, lĩnh vực; xác định rõ các định hướng lớn trong việc hoàn thiện thể chế để phát triển trong kỷ nguyên mới, trong đó có các đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật trong Chính phủ và văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi trách nhiệm rà soát của các cơ quan, địa phương.
Để đẩy nhanh tiến độ xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Chính phủ yêu cầu trên cơ sở phương án, lộ trình xử lý kết quả tổng rà soát, các cơ quan Trung ương và địa phương chủ động tham mưu xử lý hoặc xử lý theo thẩm quyền, không chờ đến khi có kết quả cuối cùng, chính thức về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đối với các văn bản đã rõ nội dung vướng mắc, bất cập.
Các cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu khẩn trương thực hiện hoặc kiến nghị thực hiện việc bãi bỏ toàn bộ đối với 5.926 văn bản, bãi bỏ một phần đối với 69 văn bản đã được các cơ quan xác định không còn áp dụng, không còn phù hợp nhưng chưa có căn cứ pháp lý xác định việc hết hiệu lực theo quy định.
Đồng thời, thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn áp dụng ngay đối với 80 văn bản; tạm ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần đối với 16 văn bản nhằm bảo đảm quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Đối với các văn bản đã có trong Chương trình, Kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền, Chính phủ yêu cầu khẩn trương thực hiện xử lý trong năm 2026; đối với các văn bản đã xác định có quy định pháp luật không rõ ràng, có nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn, vướng mắc trong áp dụng, các cơ quan chủ động rà soát, nghiên cứu kỹ để xác định phương án xử lý, kịp thời giải quyết, tháo gỡ cho người dân, doanh nghiệp.
Nguồn https://baomoi.com/tong-ra-soat-he-thong-phap-luat-de-xuat-xu-ly-hon-13-000-van-ban-c55979345.epi
-
Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư vào nông nghiệp
Các đại biểu tham dự cuộc họp tại điểm cầu UBND tỉnh
Các đại biểu tham dự cuộc họp tại điểm cầu UBND tỉnh
Các đại biểu nghiên cứu tài liệu tại cuộc họp
Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường báo cáo tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết 02
Theo báo cáo tại cuộc họp, từ khi triển khai nghị quyết đến nay, toàn tỉnh có 282 tổ chức, cá nhân đề xuất hỗ trợ lãi suất tín dụng với tổng mức đầu tư dự án hơn 163,4 tỷ đồng. Trong đó, 52 nhà đầu tư đã được chấp thuận hỗ trợ với tổng mức đầu tư đề nghị hơn 21,5 tỷ đồng.
Đối với chính sách mua cây giống, có 868 nhà đầu tư đăng ký. UBND cấp xã đã chấp thuận hỗ trợ cho 363 nhà đầu tư với diện tích 277,4 ha. Đến nay, các nhà đầu tư được phê duyệt đã trồng mới trên 95,2 ha cây mắc ca và 3,6 ha cây dẻ. Ngoài ra, cơ quan chức năng đã tiếp nhận 1 hồ sơ đề xuất hỗ trợ cơ sở chế biến.
Các đại biểu nghiên cứu tài liệu cuộc họp
Bên cạnh kết quả đạt được, việc triển khai nghị quyết còn một số khó khăn như: sản xuất nông, lâm nghiệp mang tính nhỏ lẻ, phân tán; một số hợp tác xã hạn chế về vốn, năng lực quản trị và liên kết sản xuất, tiêu thụ; một số xã thiếu quỹ đất để phát triển các loại cây trồng được hỗ trợ; người dân còn lúng túng trong việc lập hồ sơ, xây dựng phương án, dự án đầu tư…
Lãnh đạo Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh phát biểu tại cuộc họp
Đại diện Công ty Cổ phần Giống lâm nghiệp vùng Đông Bắc đóng góp ý kiến tại cuộc họp
Lãnh đạo UBND xã Hội Hoan phát biểu ý kiến từ điểm cầu trực tuyến (Ảnh chụp màn hình)
Tại cuộc họp, các đại biểu tập trung thảo luận, đánh giá kết quả triển khai nghị quyết, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện và đề xuất các giải pháp thực hiện hiệu quả chính sách trong thời gian tới.
Đồng chí Trần Thanh Nhàn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu kết luận cuộc họp
Phát biểu kết luận, đồng chí Trần Thanh Nhàn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Nghị quyết 02, trong đó xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, ngành.
Đồng chí yêu cầu Sở NN&MT – cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo Phát triển nông nghiệp tỉnh tiếp tục đôn đốc, hướng dẫn các xã, phường triển khai thực hiện nghị quyết; định kỳ hằng tuần tổng hợp tiến độ báo cáo Ban Chỉ đạo tỉnh. Sở cần tăng cường hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch đối với các cây trồng chủ lực; đa dạng hóa hình thức tuyên truyền bằng việc xây dựng các trailer, video clip hướng dẫn kỹ thuật phù hợp để người dân dễ tiếp cận; chủ động nghiên cứu, tham mưu sửa đổi Nghị quyết 02 bảo đảm sát với thực tế.
Đối với các xã, phường, đồng chí yêu cầu phát huy vai trò chủ động, trực tiếp tổ chức triển khai chính sách tại cơ sở; huy động sự tham gia của các tổ chức đoàn thể, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong xây dựng mô hình; cập nhật chính xác, đầy đủ số liệu để báo cáo tiến độ. Đồng thời đa dạng hóa hình thức tuyên truyền và tổ chức các đoàn đi tham quan, học tập kinh nghiệm những mô hình sản xuất hiệu quả.
Các sở, ban, ngành liên quan tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ; bảo đảm nguồn kinh phí thực hiện các chính sách; tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn để người dân, tổ chức, cá nhân hiểu và tiếp cận đầy đủ các nội dung của nghị quyết. Các tổ chức hội, đoàn thể tăng cường nắm bắt nội dung chính sách, phối hợp hướng dẫn kỹ thuật, phát động các phong trào hỗ trợ người dân phát triển sản xuất.