Author: bachdn

  • Nghệ An tăng tốc xử lý tài sản công dôi dư

    Áp lực tiến độ xử lý ngày càng cao

    Sau hơn 1 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, mặc dù tiến độ xử lý tài sản công trên địa bàn Nghệ An được đánh giá khá tốt, song vẫn còn một số trụ sở hành chính cấp xã ở khu vực các huyện cũ như Diễn Châu, Hoàng Mai, Quỳnh Lưu, Thái Hòa, Quỳ Hợp… chưa được đưa vào sử dụng, một số nơi vẫn trong tình trạng cửa đóng, then cài. Theo phản ánh của người dân, những công trình nhà cửa, kể cả các hạng mục và thiết bị mới được đầu tư, nếu không có người quản lý, sử dụng thường xuyên sẽ nhanh chóng xuống cấp, nhất là trong điều kiện thời tiết mưa bão.

    Trụ sở hành chính xã Nghĩa Hoà sau sáp nhập hiện đã được Trường Cao đẳng nghề Kinh tế Kỹ thuật Việt – Đức thuê tạm làm cơ sở dạy nghề tại khu vực. Ảnh: Nguyễn Hải

    Trao đổi với chúng tôi, đại diện Phòng Quản lý giá và Công sản, Sở Tài chính cho biết, trong một thời gian ngắn, việc kiểm kê, quản lý gần 5.000 cơ sở nhà, đất công là nhiệm vụ lớn, tạo áp lực không nhỏ đối với ngành Tài chính và chính quyền địa phương 2 cấp. Cũng theo Sở Tài chính, cùng với yêu cầu quản lý, việc kiểm kê đầy đủ để bàn giao và cho thuê tài sản, quá trình thực hiện phải nhanh chóng, kịp thời nhưng không được nóng vội, dẫn đến thất thoát tài sản nhà nước. Bên cạnh đó, Chính phủ và Bộ Tài chính yêu cầu việc quản lý tài sản công không chỉ dừng ở hồ sơ, sổ sách mà khi bàn giao phải đúng chủ thể, sử dụng đúng mục đích, phát huy tối đa công năng và hiệu quả của tài sản.

    Cán bộ công chức Phòng Quản lý giá và Công sản, Sở Tài chính Nghệ An thống kê tài sản trong quá trình sáp nhập hành chính. Ảnh: Nguyễn Hải

    Lãnh đạo UBND tỉnh cũng yêu cầu việc xử lý tài sản công phải thực hiện đến cùng, tức là phải xác định được đơn vị tiếp quản, quản lý và sử dụng; việc cho thuê, bán phải đúng quy định và phù hợp với thực tế.

    Song song với quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, cùng với những chỉ đạo quyết liệt về kiểm kê, bàn giao tài sản công, Trung ương và tỉnh liên tục ban hành các văn bản hướng dẫn phương án tổ chức xử lý, đồng thời đôn đốc tiến độ.

    Một nhà văn hoá xóm ở xã Quỳnh Lưu sau sáp nhập được xây dựng khang trang hơn. Ảnh: Nguyễn Hải

    Mới đây, tại cuộc họp về xử lý tài sản dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, phường và xóm, bản ngày 13/8/2026, UBND tỉnh yêu cầu các địa phương triển khai các giải pháp mạnh, chủ động và linh hoạt hơn. Cụ thể, tại Thông báo số 5769/TB-UBND ngày 20/8/2026, đồng chí Bùi Thanh An – Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh giao các sở, ngành phối hợp với các địa phương hoàn thành xử lý dứt điểm 345 cơ sở dôi dư còn lại trước ngày 30/10/2026. Các địa phương phải xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, không để xảy ra tình trạng trì trệ, chậm trễ.

    Trụ sở UBND phường Hưng Bình (cũ) sau sáp nhập được chuyển đổi làm Trụ sở Ban quản lý dự án công trình giao thông tỉnh Nghệ An. Ảnh: Nguyễn Hải

    Chủ động và linh hoạt xử lý các tình huống phát sinh

    Ông Nguyễn Trung Long – Trưởng phòng Quản lý giá và Công sản, Sở Tài chính cho biết: Xuất phát từ thực tế quản lý công sản, áp lực về tiến độ và hiệu quả xử lý công sản dôi dư không chỉ do yêu cầu thực tiễn, thách thức về quản lý tài sản công giai đoạn chuyển giao mà còn là từ chỉ đạo, giao nhiệm vụ rất quyết liệt và dứt khoát của Chính phủ và UBND tỉnh.

    Trong quá trình xử lý tài sản công, nhất là đất đai, do hành lang pháp lý chưa đầy đủ, thiếu cụ thể nên phát sinh không ít khó khăn, vướng mắc. Đơn cử là trường hợp xử lý một số cơ sở tại huyện Nghĩa Đàn cũ, sau khi được bàn giao tài sản, cùng với chuyển đổi cho một số đơn vị, UBND xã Nghĩa Đàn muốn cho doanh nghiệp thuê ngay từ đầu năm 2026 nhưng do chưa có mức giá cho thuê và cơ chế đấu giá quyền thuê nên không triển khai được.

    Khu đất Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh (cũ) tại đường Nguyễn Thị Minh Khai sau khi bàn giao cho tỉnh là 1 trong 12 khu đất trong kế hoạch đấu giá năm 2026. Ảnh: Nguyễn Hải

    Trong khi đó, tại xã Quỳnh Lưu, sau gần 1 năm bàn giao, ngày 25/8 vừa qua, UBND xã Quỳnh Lưu đấu giá quyền thuê 5 tài sản công là Trụ sở Kho bạc Nhà nước huyện, Trụ sở Viện Kiểm sát nhân dân huyện, Trụ sở Trạm Khuyến nông huyện và Trụ sở cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện. Sau đấu giá, có 3 cơ sở đã xác định được người thuê; còn lại 2 cơ sở là Trụ sở Trạm Khuyến nông và Trụ sở Kho bạc Nhà nước huyện chưa có người thuê và vướng thủ tục.

    Tương tự, tại xã Hưng Nguyên, ông Hoàng Anh Tiến – Chủ tịch UBND xã cho hay: Sau khi được tỉnh bàn giao một số tài sản công, xã điều chuyển sắp xếp nội bộ và đang xây dựng phương án cho thuê một số trụ sở. Tuy nhiên, công thức tính giá cho thuê tài sản công hiện tại còn cao so với nhu cầu tại địa phương khiến nhiều người thuê còn e ngại.

    Trụ sở Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cũ sắp đấu giá khai thác quỹ đất. Ảnh: Nguyễn Hải

    Tại phường Thái Hòa, nhờ chủ động trong phương án xử lý, sau khi được bàn giao, phường đã điều chuyển trụ sở các phường Quang Phong, Quang Tiến, Long Sơn và Hòa Hiếu cho các đơn vị, qua đó phát huy hiệu quả sử dụng tài sản. Mới đây, UBND phường đã xây dựng Đề án quản lý và cho thuê tài sản công trình Ban Thường vụ Đảng ủy phường và mời Hội đồng thẩm định giá tư vấn để ký hợp đồng cho Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật nghề Việt Đức thuê trụ sở xã Nghĩa Hòa cũ làm địa điểm dạy nghề trong thời hạn 5 năm, với kinh phí 10 triệu đồng/tháng.

    Theo tìm hiểu, UBND tỉnh đã bàn giao 87 cơ sở nhà, đất là các trụ sở cho Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh để quản lý, khai thác. Trong đó, 70 cơ sở nhà, đất được giao quản lý, khai thác theo quy định và 17 tài sản công để quản lý, khai thác.

    Trụ sở Phòng Giáo dục huyện Nghĩa Đàn (cũ) được chuyển đổi cho Văn phòng đăng ký QSD đất khu vực Nghĩa Đàn ngay sau khi sáp nhập nên được bảo quản tốt. Ảnh: Nguyễn Hải

    Đầu năm 2026, Trung tâm đã hoàn thiện hồ sơ 12 khu đất thuận lợi đưa vào kế hoạch đấu giá năm 2026 và hiện đã trình Sở Nông nghiệp và Môi trường danh sách 30 khu đất để xác định giá khởi điểm cho thuê ngắn hạn.

    Bên cạnh đó, Trung tâm đã lập phương án khai thác nhà, đất đối với 13/17 khu đất trình Sở thẩm định và xin ý kiến Chủ tịch UBND tỉnh theo quy định tại Nghị định 108/2024/NĐ-CP; đối với khu đất còn lại do mới tiếp nhận, Trung tâm đang hoàn tất hồ sơ để đưa vào khai thác.

    Trụ sở Trung tâm DS-KHH Gia đình Nghĩa Đàn (cũ) chưa có phương án sử dụng. Ảnh: Nguyễn Hải

    Ông Cao Quang Trung – Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh cho biết: Qua rà soát 87 cơ sở nhà đất được tỉnh giao quản lý và khai thác, Trung tâm nhận thấy một số vị trí như nhà văn hóa thôn bản hay cơ sở giáo dục, y tế ở vùng sâu, vùng xa không có tiềm năng phát triển kinh tế – xã hội hay thương mại dịch vụ, dẫn đến khó quản lý cũng như đưa vào khai thác hiệu quả qua hình thức đấu giá hoặc cho thuê. Vì vậy, Trung tâm đã kiến nghị Sở Tài chính tham mưu bàn giao các khu đất này về cho UBND cấp xã quản lý và khai thác sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương.

    Bên cạnh đó, đối với các khu đất có mục đích sử dụng theo quy hoạch là đất trụ sở cơ quan, muốn đưa ra đấu giá quyền sử dụng đất thì bắt buộc phải điều chỉnh mục đích sử dụng đất cho phù hợp. Để đẩy nhanh tiến độ, Trung tâm đề xuất cùng với việc bàn giao tài sản nhà đất, tỉnh cần chỉ đạo các sở, ngành và địa phương chủ động điều chỉnh quy hoạch cục bộ như đã áp dụng đối với các dự án lớn thời gian qua, giúp thủ tục đấu giá và khai thác diễn ra nhanh chóng, thuận lợi hơn.

    Đại diện Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh

    Đại diện Phòng quản lý Giá và Công sản, Sở Tài chính cho biết: Ngay sau cuộc họp tháng 8 vừa qua, trên cơ sở kiến nghị của các sở ngành, UBND tỉnh đã có chỉ đạo không nhất thiết phải cho thuê hoặc bán đất đối với toàn bộ các cơ sở nhà, đất dôi dư. Tuỳ từng trường hợp, các địa phương có thể chuyển sang sử dụng làm thiết chế công cộng, cơ sở y tế, giáo dục và đào tạo; thanh lý, xử lý tài sản trên đất và thực hiện quản lý đất đai; cho thuê hoặc áp dụng các phương án khác theo quy định.

    Cán bộ xã Quỳnh Anh giám sát một công trình giao thông nông thôn sau sáp nhập. Ảnh: CSCC

    Nhằm xử lý dứt điểm các cơ sở dôi dư còn lại trước ngày 30/10/2026, Sở Tài chính được giao chủ trì theo dõi, giám sát tiến độ và hỗ trợ các địa phương tháo gỡ khó khăn. Sở cũng thành lập các tổ công tác trực tiếp đôn đốc, hướng dẫn tại địa bàn, đồng thời xây dựng mẫu hồ sơ, quy trình chuẩn hóa cho các phương án bán, cho thuê và khai thác tài sản công. Song song với đó, các cơ quan chuyên môn các sở sẽ phối hợp rà soát chặt chẽ nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý. Sự phối hợp liên ngành này đóng vai trò then chốt trong việc hạn chế nguy cơ thất thoát, ngăn chặn sử dụng sai mục đích và bảo vệ hiệu quả nguồn lực nhà nước.

    Đến tháng 8/2026, Nghệ An có 4.378 cơ sở nhà, đất công. Trong đó, tỉnh giữ lại tiếp tục sử dụng 3.670 cơ sở; điều chuyển nội bộ ngành 86 cơ sở; bàn giao cho các đơn vị Trung ương 109 cơ sở; chuyển đổi công năng làm thiết chế văn hóa công cộng 40 cơ sở. Đến giữa tháng 8, tỉnh đã xử lý 129 cơ sở, còn 345 cơ sở dôi dư chưa được xử lý.

    Nguyễn Hải

    Nguồn https://baomoi.com/nghe-an-tang-toc-xu-ly-tai-san-cong-doi-du-c55995887.epi

  • Giải bài toán hiệu quả ngân sách từ chuỗi gói thầu môi trường gần 177 tỷ đồng tại Đà Nẵng

    Trúng liên tiếp 9 gói thầu dịch vụ vệ sinh môi trường với tổng giá trị gần 177 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, sự vươn lên nhanh chóng của Công ty Toàn Cầu – đặc biệt khi liên danh cùng DNE – đang đặt ra bài toán lớn về năng lực thực thi, tính cạnh tranh và hiệu quả tối ưu hóa ngân sách dưới góc nhìn kinh tế môi trường.

    Theo dữ liệu đấu thầu được công bố, trong nửa đầu năm 2026, lĩnh vực vệ sinh môi trường đô thị tại TP. Đà Nẵng ghi nhận sự xuất hiện dày đặc của Công ty TNHH Xây dựng Công nghệ Môi trường Toàn Cầu (Công ty Toàn Cầu). Doanh nghiệp này đã trúng 9 gói thầu với tổng giá trị lên tới khoảng 176,87 tỷ đồng.

    Gần 177 tỷ đồng cho dịch vụ môi trường

    Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Ngũ Hành Sơn mới đây công bố kết quả lựa chọn nhà thầu gói dịch vụ thực hiện vệ sinh công cộng theo phân cấp trên địa bàn phường trong 6 tháng cuối năm 2026.

    Việc Toàn Cầu xuất hiện cùng DNE trong 8/9 gói thầu là một đặc điểm nổi bật của chuỗi hợp đồng.

    Theo đó, liên danh Công ty CP Môi trường Đô thị Đà Nẵng (DNE) – Công ty TNHH Xây dựng Công nghệ Môi trường Toàn Cầu được lựa chọn với giá trúng thầu hơn 8,34 tỷ đồng. Theo dữ liệu công bố, liên danh này là nhà thầu duy nhất tham dự gói thầu.

    Việc Toàn Cầu xuất hiện cùng DNE trong 8/9 gói thầu là một đặc điểm nổi bật của chuỗi hợp đồng.

    Gói thầu tại Ngũ Hành Sơn tiếp tục nối dài chuỗi hợp đồng giữa Toàn Cầu và DNE trong lĩnh vực vệ sinh môi trường tại Đà Nẵng.

    Theo dữ liệu đấu thầu được công bố, trong nửa đầu năm 2026, Toàn Cầu được công bố trúng 9 gói thầu với tổng giá trị khoảng 176,87 tỷ đồng. Trong đó, 8 gói được thực hiện dưới hình thức liên danh với DNE, còn một gói Toàn Cầu trúng độc lập nhưng chủ đầu tư là DNE.

    Rác thải chưa được xử lý kịp thời có thể phát sinh mùi hôi, nước rỉ rác và ảnh hưởng đời sống người dân.

    Cụ thể, lớn nhất là gói dịch vụ vệ sinh công cộng giai đoạn 3 năm, từ ngày 1/7/2026 đến 31/12/2028, trên địa bàn phường Thanh Khê, với giá trúng thầu hơn 70,11 tỷ đồng.

    Tiếp đó, tại phường An Khê, liên danh DNE – Toàn Cầu trúng gói dịch vụ vệ sinh môi trường giai đoạn 2026-2028 với giá hơn 39,75 tỷ đồng.

    Tại phường Hải Châu, gói thuê dịch vụ vệ sinh công cộng trong ba quý cuối năm 2026 có giá hơn 21,59 tỷ đồng. Phường Hòa Cường có gói thuê dịch vụ vệ sinh công cộng từ tháng 5 đến tháng 12/2026 trị giá hơn 16,38 tỷ đồng.

    Bên cạnh đó, các hợp đồng khác gồm gói vệ sinh công cộng tại phường An Hải trị giá khoảng 9,75 tỷ đồng; phường Sơn Trà hơn 5,92 tỷ đồng; gói quét, thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt tại các chợ trực thuộc Công ty Quản lý và Phát triển các chợ Đà Nẵng hơn 3,53 tỷ đồng.

    Cùng với đó, gói hơn 8,34 tỷ đồng tại Ngũ Hành Sơn, tổng giá trị 8 hợp đồng liên danh DNE – Toàn Cầu vào khoảng 175,38 tỷ đồng. Gói còn lại là hợp đồng thuê phương tiện cơ giới xúc dọn và vận chuyển rác thải, trị giá hơn 1,47 tỷ đồng.

    Theo đó, cộng từng giá trị được nêu của 9 gói thầu, tổng số đạt khoảng 176,84 tỷ đồng, thấp hơn khoảng 30 triệu đồng so với con số tổng hợp 176,87 tỷ đồng được công bố.

    Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, xử lý đúng quy định sẽ làm gia tăng chi phí môi trường và ảnh hưởng chất lượng sống.

    Khoản chênh lệch này tương đương khoảng 0,017% tổng giá trị, có thể xuất phát từ việc các giá trị từng gói được trình bày theo số làm tròn đến hai chữ số thập phân hoặc khác biệt trong cách tổng hợp dữ liệu. Vì vậy, không nên xem đây là một chênh lệch bất thường, nhưng việc bóc tách rõ từng hợp đồng vẫn cần thiết để bảo đảm tính minh bạch khi nhìn vào một chuỗi gói thầu có tổng giá trị gần 177 tỷ đồng.

     Những có số đáng chú ý

    176,87 tỷ đồng: Tổng giá trị 9 gói thầu Toàn Cầu được công bố trúng trong nửa đầu năm 2026.

    175,38 tỷ đồng: Tổng cộng xấp xỉ 8 gói mà Toàn Cầu liên danh với DNE, tính theo các giá trị được liệt kê 8/9 gói: Số gói có sự tham gia của DNE. 70,11 tỷ đồng:

    Trong đó, gói vệ sinh công cộng lớn nhất tại phường Thanh Khê. 39,75 tỷ đồng: Gói vệ sinh môi trường tại phường An Khê. 30 triệu đồng: Khoản chênh lệch giữa tổng 176,87 tỷ đồng được nêu và phép cộng 176,84 tỷ đồng từ các giá trị từng gói đã làm tròn.

    Một điểm tập kế rác sáng ngày 6/9 tại phường Ngũ Hành Sơn

    Từ 2,2 triệu đồng đến những hợp đồng hàng chục tỷ

    Đáng chú ý hơn cả những con số hiện tại là tốc độ gia tăng quy mô hợp đồng của Toàn Cầu.

    Được biết, Công ty TNHH Xây dựng Công nghệ Môi trường Toàn Cầu được thành lập tháng 7/2021, có trụ sở tại phường An Hải, TP. Đà Nẵng. Theo thông tin công bố gần nhất, doanh nghiệp có vốn điều lệ 10 tỷ đồng.

    Trong đó, Cơ cấu vốn gồm ba thành viên: bà Nguyễn Hoàng Oanh góp 7,5 tỷ đồng, tương ứng 75%; bà Lê Thị Xuyên góp 2 tỷ đồng, tương ứng 20%; bà Nguyễn Hoàng Yến góp 500 triệu đồng, tương ứng 5%. Bà Nguyễn Hoàng Oanh, sinh năm 1997, hiện giữ chức Giám đốc kiêm người đại diện theo pháp luật.

    Theo Dữ liệu đầu tư công cho thấy trong giai đoạn đầu, quy mô hợp đồng của doanh nghiệp còn khá nhỏ.

    Quý I/2023, Toàn Cầu được ghi nhận với gói tư vấn thẩm tra dự toán Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án tuyến thoát nước chính từ hạ lưu kênh thoát nước Khu Công nghệ cao về kênh thoát lũ xã Hòa Liên. Gói thầu được chỉ định theo hình thức rút gọn, giá trị khoảng 2,2 triệu đồng.

    Đến quý II/2023, Toàn Cầu lần đầu được ghi nhận liên danh với DNE và trúng gói thuê dịch vụ quét, thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại các chợ trực thuộc Công ty Quản lý và Phát triển các chợ Đà Nẵng, với giá hơn 3,26 tỷ đồng.

    Từ một hợp đồng vài triệu đồng đến những hợp đồng hàng chục tỷ đồng chỉ sau vài năm là bước chuyển đáng chú ý về quy mô tham gia thị trường.

    Đặc biệt, trong nửa đầu năm 2026, phần lớn giá trị các gói thầu mà Toàn Cầu được công bố trúng gắn với hình thức liên danh cùng DNE.

    Tình trạng rác thải tồn lưu cho thấy áp lực ngày càng lớn đối với công tác quản lý môi trường.

    Đây có thể được nhìn nhận như một quá trình mở rộng năng lực thông qua hợp tác. Doanh nghiệp có thể bổ sung kinh nghiệm, phương tiện, nhân lực và khả năng tổ chức thực hiện; trong khi liên danh giúp đáp ứng những hợp đồng có quy mô lớn và phạm vi địa bàn rộng.

    Nhưng chính sự gia tăng nhanh này cũng khiến yêu cầu đánh giá năng lực thực tế trở nên quan trọng hơn.

    Đấu thầu môi trường không chỉ là câu chuyện giá

    Trong lĩnh vực vệ sinh đô thị, giá trúng thầu chỉ là một phần của bài toán kinh tế.

    Theo đó, một hợp đồng trị giá 70 tỷ đồng không thể chỉ được đánh giá bằng việc giá bỏ thầu thấp hay cao. Điều quan trọng hơn là với khoản kinh phí đó, nhà thầu phải cung cấp được khối lượng và chất lượng dịch vụ tương xứng: đường phố được quét dọn đúng tần suất, rác được thu gom đúng thời gian, phương tiện đáp ứng yêu cầu, chất thải được vận chuyển an toàn và hạn chế tối đa phát sinh ô nhiễm trong quá trình thực hiện.

    Đó chính là phần “giá trị môi trường” của một hợp đồng công ích.

    8/9 gói có DNE: cần nhìn cả hiệu quả và cạnh tranh

    Việc Toàn Cầu xuất hiện cùng DNE trong 8/9 gói thầu là một đặc điểm nổi bật của chuỗi hợp đồng.

    Về nguyên tắc, liên danh là một phương thức hợp pháp để các doanh nghiệp kết hợp năng lực nhằm đáp ứng yêu cầu của gói thầu. Trong lĩnh vực môi trường, mô hình này có thể mang lại lợi ích nếu các bên thực sự bổ trợ cho nhau về kinh nghiệm, thiết bị, nhân lực và năng lực vận hành.

    Tuy nhiên, khi một liên danh liên tiếp tham gia và trúng nhiều gói thầu trên nhiều địa bàn, điều cần quan tâm là năng lực thực hiện có tương xứng với quy mô công việc hay không.

    Đặc biệt, gói vệ sinh công cộng tại Ngũ Hành Sơn vừa được công bố có liên danh DNE – Toàn Cầu là nhà thầu duy nhất tham dự.

    Trong lĩnh vực vệ sinh đô thị, giá trúng thầu chỉ là phần nổi của một “tảng băng chìm” mang tên hiệu quả kinh tế. Một hợp đồng hàng chục tỷ đồng không thể chỉ được đo lường bằng việc nhà thầu bỏ giá thấp hay cao so với dự toán, mà phải được đánh giá qua lăng kính quản trị rủi ro môi trường (ESG).

    Dưới góc độ kinh tế môi trường, chi ngân sách cho vệ sinh đô thị là một khoản đầu tư trực tiếp nhằm giảm thiểu chi phí ngoại tác. Nếu rác thải không được thu gom đúng giờ, phương tiện vận chuyển cũ kỹ làm rỉ nước rác, bốc mùi hôi thối… xã hội sẽ phải gánh chịu những chi phí khổng lồ về y tế, mất mỹ quan đô thị và suy giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, du lịch.

    Ngược lại, khi nhà thầu cung cấp dịch vụ chất lượng, đô thị sạch sẽ tạo ra thặng dư về cảnh quan, nâng cao chất lượng sống và hỗ trợ phát triển kinh tế tuần hoàn.

    Do đó, với chuỗi gói thầu gần 177 tỷ đồng tại Đà Nẵng, câu hỏi đặt ra đối với chính quyền địa phương và chủ đầu tư không chỉ dừng ở việc “đúng quy trình đấu thầu”. Điều quan trọng hơn là: Với năng lực hiện tại của liên danh DNE – Toàn Cầu, mỗi tỷ đồng ngân sách bỏ ra sẽ tạo ra được bao nhiêu “giá trị môi trường” thực tế?

    Để phát triển bền vững, đã đến lúc các gói thầu môi trường cần vượt ra khỏi bài toán cạnh tranh về giá đơn thuần, tiến tới áp dụng các bộ tiêu chí khắt khe hơn về công nghệ xử lý giảm phát thải và năng lực quản trị xanh của nhà thầu.

    Trọng Nghị

    Nguồn https://baomoi.com/giai-bai-toan-hieu-qua-ngan-sach-tu-chuoi-goi-thau-moi-truong-gan-177-ty-dong-tai-da-nang-c55995984.epi

  • Thanh tra chỉ ra nhiều tồn tại, hạn chế tại Bệnh viện Phổi Trà Vinh

     Bệnh viện Phổi Trà Vinh.

    Thanh tra tỉnh Vĩnh Long vừa ban hành Kết luận thanh tra số 97/KL-TT về việc chấp hành các quy định pháp luật trong công tác quản lý thu, chi tài chính; thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao tại Bệnh viện Phổi Trà Vinh.

    Kết luận ghi nhận những kết quả đạt được của đơn vị, đồng thời chỉ ra nhiều hạn chế, thiếu sót trong công tác tài chính, mua sắm, quản lý tài sản công, chuyên môn nghiệp vụ và quản trị bệnh viện; đồng thời kiến nghị UBND tỉnh cùng các đơn vị liên quan tổ chức kiểm điểm, khắc phục. 

    Theo kết luận thanh tra, Bệnh viện Phổi Trà Vinh là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Y tế, hoạt động theo cơ chế tự chủ tài chính nhóm 3. Trong thời kỳ thanh tra, bệnh viện cơ bản thực hiện các quy định về quản lý tài chính, kế toán và quyết toán ngân sách. Tuy nhiên, qua kiểm tra, Thanh tra tỉnh phát hiện nhiều tồn tại cần được chấn chỉnh. 

    Đáng chú ý, bệnh viện còn để xảy ra tình trạng hạch toán, quản lý và sử dụng một số nguồn kinh phí chưa đúng quy định; việc quản lý các khoản tạm ứng, quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp và một số khoản thu, chi chưa bảo đảm đầy đủ theo quy định hiện hành.

    Kết luận cũng nêu, bệnh viện còn thực hiện một số khoản chi từ nguồn không đúng tính chất, trong đó có việc thanh toán tiền văn phòng phẩm, nước uống, chi tiền lương và các khoản liên quan từ nguồn kinh phí không phù hợp; một số khoản kinh phí phòng, chống dịch COVID-19 chưa được xử lý đúng quy định. 

    Thanh tra xác định công tác mua sắm hàng hóa, thuốc, vật tư y tế, sửa chữa tài sản của bệnh viện còn nhiều hạn chế.

    Một số hồ sơ lựa chọn nhà thầu chưa bảo đảm đầy đủ căn cứ pháp lý; việc lập hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, xác định giá gói thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu còn thiếu sót. Công tác sửa chữa tài sản cũng còn bất cập trong việc lập dự toán, xác định khối lượng, nghiệm thu và quản lý hồ sơ.

    Đối với tài sản công, bệnh viện chưa kịp thời sắp xếp, xử lý một số tài sản sau khi hết nhu cầu sử dụng; việc theo dõi, quản lý, sử dụng tài sản còn thiếu chặt chẽ, cần tiếp tục rà soát để tránh lãng phí tài sản nhà nước. 

    Ngoài các nội dung về tài chính, kết luận thanh tra còn chỉ ra nhiều hạn chế trong công tác chuyên môn.

    Theo đó, bệnh viện còn chậm cập nhật một số danh mục kỹ thuật, quy trình chuyên môn; chưa thực hiện đầy đủ một số quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn, hồ sơ bệnh án, hội chẩn, quản lý chất lượng bệnh viện và công tác điều dưỡng. Một số quy chế, quy trình nội bộ chưa được rà soát, sửa đổi, bổ sung kịp thời theo quy định mới.

    Thanh tra cũng ghi nhận công tác cải cách hành chính, kiểm tra nội bộ và xử lý kỷ luật đối với một số cá nhân có thời điểm còn chưa bảo đảm đúng quy định. 

    Trên cơ sở những tồn tại được phát hiện, Thanh tra tỉnh Vĩnh Long kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm các nội dung của kết luận thanh tra; giao Sở Y tế theo dõi, đôn đốc việc khắc phục.

    Đồng thời, Thanh tra kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm đối với Giám đốc, các Phó Giám đốc Bệnh viện Phổi Trà Vinh và các tập thể, cá nhân có liên quan theo mức độ trách nhiệm; yêu cầu bệnh viện xây dựng kế hoạch khắc phục toàn diện các hạn chế, hoàn thiện quy chế, quy trình quản lý, tăng cường kiểm tra nội bộ và thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong hoạt động chuyên môn cũng như quản lý tài chính. 

    Kết luận thanh tra nhấn mạnh, việc khắc phục triệt để các hạn chế, thiếu sót không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực công mà còn bảo đảm chất lượng khám, chữa bệnh, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. 

    Mai Phong

    Nguồn https://baomoi.com/thanh-tra-chi-ra-nhieu-ton-tai-han-che-tai-benh-vien-phoi-tra-vinh-c55995909.epi

  • Tại sao giải ngân vốn các chương trình mục tiêu quốc gia tiếp tục chậm?

    Năm 2026, Quốc hội đã quyết nghị tổng vốn ngân sách trung ương thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) là 35.000 tỷ đồng, gồm 25.000 tỷ đồng vốn đầu tư công và 10.000 tỷ đồng kinh phí thường xuyên.

    Đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã giao 21.983,935 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư công là 15.100 tỷ đồng, kinh phí thường xuyên là 6.883,935 tỷ đồng.

    Số vốn này được phân bổ cho 3 chương trình gồm: CTMTQG phòng, chống ma túy; CTMTQG về phát triển văn hóa và CTMTQG tích hợp.

    Năm 2026, Quốc hội quyết nghị 35.000 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương thực hiện các CTMTQG.

    Tuy nhiên, việc phân bổ nguồn vốn sau khi được giao vẫn đang trong quá trình thực hiện. Đến ngày 31/8/2026, mới có 2 bộ và 9 địa phương phân bổ 3.030,32 tỷ đồng vốn đầu tư công. Đối với kinh phí thường xuyên, có 8 bộ, cơ quan trung ương và 5 địa phương đã phân bổ 1.830,74 tỷ đồng.

    Đối với hơn 13.016 tỷ đồng vốn còn lại, Bộ Tài chính cho biết đã nhận được phương án phân bổ của một số bộ chủ chương trình nhưng chưa đủ cơ sở để tổng hợp, báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.

    Về tiến độ giải ngân của các CTMTQG thuộc giai đoạn 2026 – 2030 theo báo cáo từ Bộ Tài chính hiện còn rất thấp. Cụ thể, lũy kế giải ngân kế hoạch vốn ngân sách nhà nước năm 2026 đến hết ngày 31/8/2026 mới đạt 173,86 tỷ đồng, tương đương 0,8% kế hoạch. Trong đó, vốn ngân sách trung ương giải ngân 21 tỷ đồng, đạt 0,1% kế hoạch.

    Đối với kinh phí thường xuyên, lũy kế giải ngân đến hết tháng 8 đạt 41,39 tỷ đồng, bằng 3,1% dự toán của CTMTQG phòng, chống ma túy. Trong đó, vốn ngân sách trung ương giải ngân 17,52 tỷ đồng, đạt 1,4% dự toán.

    Tương tự, việc giải ngân nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2025 được kéo dài sang năm 2026 cũng còn chậm.

    Đến ngày 31/8/2026, tổng số vốn ngân sách trung ương đã làm thủ tục kéo dài theo quy định được Bộ Tài chính theo dõi là 19.020,78 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư công là 7.246,18 tỷ đồng và kinh phí thường xuyên là 11.774,60 tỷ đồng.

    Đối với vốn đầu tư công, lũy kế giải ngân đến hết tháng 8 đạt 4.755,73 tỷ đồng, tương đương 38,7% kế hoạch. Trong đó, vốn ngân sách trung ương giải ngân 2.448,47 tỷ đồng, đạt 34,9% kế hoạch đã kéo dài.

    Xét theo từng chương trình, CTMTQG phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giải ngân khoảng 1.750,96 tỷ đồng, đạt 38% kế hoạch. CTMTQG xây dựng nông thôn mới giải ngân khoảng 338,18 tỷ đồng, đạt 29% kế hoạch.

    Đối với kinh phí thường xuyên, lũy kế giải ngân đến hết ngày 31/8 đạt 3.148,88 tỷ đồng, bằng 24,2% dự toán. Trong đó, vốn ngân sách trung ương giải ngân 2.879,45 tỷ đồng, đạt 24,5% dự toán.

    CTMTQG phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giải ngân khoảng 1.908,9 tỷ đồng, đạt 26,6% kế hoạch. CTMTQG xây dựng nông thôn mới giải ngân khoảng 158,5 tỷ đồng, đạt 16,5% kế hoạch. CTMTQG giảm nghèo bền vững giải ngân khoảng 812,1 tỷ đồng, đạt 22,4% kế hoạch.

    Theo Bộ Tài chính, nguyên nhân ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân là một số địa phương chưa chủ động thực hiện các nội dung thuộc thẩm quyền, trong đó có việc điều chỉnh kinh phí, vốn từ những nội dung hoặc hoạt động đã hết nhiệm vụ chi sang các nội dung, hoạt động khác.

    Một số địa phương cũng gặp khó khăn trong việc xác định đối tượng thụ hưởng khi triển khai các nội dung sử dụng kinh phí thường xuyên, như hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, nhân rộng mô hình và hỗ trợ phát triển sản xuất.

    Bên cạnh đó, việc biến động giá vật liệu làm phát sinh thời gian thực hiện thủ tục điều chỉnh tổng mức đầu tư của một số dự án. Công tác xác minh nguồn gốc đất, tái định cư cũng ảnh hưởng đến tiến độ triển khai.

    Đặc thù địa bàn thực hiện các nhiệm vụ, dự án chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, cùng với thời tiết trong mùa mưa cũng là những yếu tố tác động đến tiến độ thi công và giải ngân…

    Hà An

    Nguồn https://baomoi.com/tai-sao-giai-ngan-von-cac-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-tiep-tuc-cham-c55995721.epi

  • Chỉ định 2 đơn vị thử nghiệm ghế trẻ em trên ô tô

    Cục Đăng kiểm Việt Nam vừa tạm thời chỉ định 2 đơn vị thử nghiệm ghế trẻ em trên ô tô. Ảnh minh hoạ

    Cục Đăng kiểm Việt Nam yêu cầu các đơn vị được chỉ định tuân thủ đầy đủ quy định, hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật và Cục Đăng kiểm Việt Nam về kết quả thử nghiệm.

    Việc chỉ định 2 đơn vị thử nghiệm diễn ra trong bối cảnh các quy định mới về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa bắt đầu được áp dụng từ ngày 1-7-2026.

    Theo quy định hiện hành, sản phẩm, hàng hóa được phân loại theo 3 mức độ rủi ro: thấp, trung bình và cao. Đây là cơ sở để áp dụng các biện pháp quản lý chất lượng, xác định yêu cầu chứng nhận hợp quy và tổ chức thực hiện chứng nhận phù hợp. Thiết bị an toàn cho trẻ em được xếp vào nhóm sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và phải được chứng nhận, công bố hợp quy theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Việc chứng nhận hợp quy phải do tổ chức chứng nhận được công nhận thực hiện.

    Do đó, trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, doanh nghiệp phải hoàn tất việc chứng nhận và công bố hợp quy theo quy định. Doanh nghiệp đồng thời chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, đầy đủ, chính xác của hồ sơ kỹ thuật và chất lượng sản phẩm đưa ra lưu thông trên thị trường.

    Bộ Xây dựng yêu cầu Cục Đăng kiểm Việt Nam khẩn trương tổ chức triển khai hoạt động chứng nhận, công bố hợp quy đối với thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô nhằm tháo gỡ khó khăn trong giai đoạn đầu thực hiện.

    Bộ Xây dựng yêu cầu Cục Đăng kiểm Việt Nam khẩn trương tổ chức triển khai hoạt động chứng nhận, công bố hợp quy đối với thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô nhằm tháo gỡ khó khăn trong giai đoạn đầu thực hiện.

    Tuấn Lương

    Nguồn https://baomoi.com/chi-dinh-2-don-vi-thu-nghiem-ghe-tre-em-tren-o-to-c55995953.epi

  • Phấn đấu hoàn thành giải phóng mặt bằng các dự án nhà máy điện hạt nhân trước ngày 15-10

    Ngày 7-9, tại phường Phan Rang, đồng chí Trịnh Minh Hoàng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa chủ trì cuộc họp nghe báo cáo tình hình triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2.

    Đồng chí Trịnh Minh Hoàng chủ trì cuộc họp.

    Theo báo cáo, Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 tại xã Phước Dinh có 783 trường hợp bị ảnh hưởng với diện tích 515ha. Đến ngày 5-9, địa phương đã dự thảo xác nhận nguồn gốc đất 333 trường hợp, đạt 42,5%; lập và niêm yết phương án bồi thường, hỗ trợ đối với 333 trường hợp với diện tích 338,1ha. Tuy nhiên, mới thực hiện chi trả 86 trường hợp với diện tích 146,6ha, đạt 28,5% diện tích. Đáng chú ý, tại khu vực nhà máy vẫn còn 472 trường hợp với diện tích 123,2ha phải tiếp tục rà soát, xác minh nguồn gốc đất. Ngoài ra, có 109 trường hợp đã được phê duyệt nhưng chưa nhận tiền hoặc chưa triển khai chi trả.

    Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 tại xã Vĩnh Hải có 841 trường hợp bị ảnh hưởng, đến nay đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho 814 trường hợp, đạt 98,6%, tương ứng 97,5% diện tích (trong đó đã chi trả 754 trường hợp). Hiện nay, còn 45 trường hợp tại khu nhà máy và 15 trường hợp tại khu tái định cư chưa nhận tiền. Công tác di dời mồ mả đã thực hiện được 1.169 ngôi mộ; còn 27 trường hợp với diện tích 10,3ha chồng lấn đất rừng đang chờ kết quả xác minh.

    Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hải phát biểu tại cuộc họp.

    Phát biểu tại cuộc họp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trịnh Minh Hoàng đánh giá tiến độ thực hiện công tác giải phóng mặt bằng còn rất chậm, trong khi đây là dự án quan trọng quốc gia. Đồng chí yêu cầu các địa phương rút kinh nghiệm sâu sắc, khắc phục tình trạng báo cáo số liệu thiếu thống nhất; đồng thời yêu cầu Văn phòng UBND tỉnh rà soát số liệu giữa các kỳ báo cáo, bảo đảm chính xác, thống nhất khi báo cáo Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Trung ương.

    Đối với Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1, đồng chí Trịnh Minh Hoàng yêu cầu cả hệ thống chính trị vào cuộc, phân công rõ người phụ trách từng nhóm hồ sơ, thực hiện theo phương châm “cuốn chiếu”; hồ sơ đủ điều kiện phải khẩn trương xử lý, chi trả, thu hồi và bàn giao mặt bằng; hồ sơ phức tạp phải phân loại, xác định rõ nguyên nhân, người chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành. Đặc biệt, đối với việc xác minh nguồn gốc đất và đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, địa phương phải rà soát chặt chẽ, phân biệt rõ người dân địa phương sử dụng đất ổn định với các trường hợp từ nơi khác đến gom, mua đất diện tích lớn. Việc xác nhận người trực tiếp sản xuất nông nghiệp phải bảo đảm đúng thực tế, đúng đối tượng; người ký xác nhận phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ, không hợp thức hóa các trường hợp có dấu hiệu trục lợi chính sách.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu đẩy nhanh tiến độ khu tái định cư, hoàn thành theo thời hạn đề ra, ưu tiên bàn giao mặt bằng để người dân xây dựng nhà ở; đồng thời khẩn trương hoàn thiện các hạng mục hạ tầng phục vụ dự án, trong đó có khu cải táng, mỏ vật liệu và các công trình kè, âu thuyền. Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các đơn vị tập trung thực hiện các nhiệm vụ theo từng mốc thời gian, phấn đấu hoàn thành 100% công tác giải phóng mặt bằng các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận trước ngày 15-10-2026. 

    M.T

    Nguồn https://baomoi.com/phan-dau-hoan-thanh-giai-phong-mat-bang-cac-du-an-nha-may-dien-hat-nhan-truoc-ngay-15-10-c55995631.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!