Author: bachdn

  • Khi sức mạnh lòng dân hóa giải bài toán hạ tầng giao thông Cần Thơ

    Sự đồng thuận này đã trở thành sức mạnh để địa phương chung tay tháo gỡ khó khăn, từng bước hoàn thiện hạ tầng giao thông nông thôn.

    Người dân ấp Phương Thạnh, xã Phương Bình, thành phố Cần Thơ tại buổi họp dân thực hiện tuyến đường nông thôn Quang Phong, dài hơn 2km. Ảnh: Duy Khương – TTXVN

    Ông Võ Văn Kiến Quốc, Phó Chủ tịch Thường trực UBND xã Phương Bình chủ trì buổi họp dân thực hiện tuyến đường nông thôn Quang Phong, dài hơn 2km. Ảnh: Duy Khương – TTXVN

    Chính quyền xã Phương Bình, thành phố Cần Thơ và các đơn vị liên quan triển khai ra nhân dân thực hiện tuyến đường nông thôn Quang Phong, dài hơn 2km. Ảnh: Duy Khương – TTXVN

    Chính quyền xã Phương Bình, thành phố Cần Thơ và các đơn vị liên quan triển khai ra quân thực hiện tuyến đường nông thôn Quang Phong, dài hơn 2km. Ảnh: Duy Khương – TTXVN

    Chính quyền xã Phương Bình, thành phố Cần Thơ và các đơn vị liên quan triển khai ra quân thực hiện tuyến đường nông thôn Quang Phong, dài hơn 2km. Ảnh: Duy Khương – TTXVN

    Người dân ấp Phương Thạnh, xã Phương Bình, thành phố Cần Thơ ký biên bản ủng hộ tại buổi họp dân thực hiện tuyến đường nông thôn Quang Phong, dài hơn 2km. Ảnh: Duy Khương – TTXVN

    Người dân ấp Phương Thạnh, xã Phương Bình, thành phố Cần Thơ ký biên bản ủng hộ tại buổi họp dân thực hiện tuyến đường nông thôn Quang Phong, dài hơn 2km. Ảnh: Duy Khương – TTXVN

    Người dân ấp Phương Thạnh, xã Phương Bình, thành phố Cần Thơ ký biên bản ủng hộ tại buổi họp dân thực hiện tuyến đường nông thôn Quang Phong, dài hơn 2km. Ảnh: Duy Khương – TTXVN

    Tuyến đường nông thôn Quang Phong, dài hơn 2km đã xuống cấp nhiều năm qua, khiến việc đi lại của người dân gặp nhiều khó khăn. Ảnh: Duy Khương – TTXVN

    Phạm Duy Khương/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/khi-suc-manh-long-dan-hoa-giai-bai-toan-ha-tang-giao-thong-can-tho-c56011298.epi

  • Nghệ An yêu cầu tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công

    Dự án trường phổ thông nội trú liên cấp xã biên gới – Tri Lễ (Nghệ An) đang triển khai thi công.

    Để tập trung cao độ vấn đề này, tỉnh Nghệ An đã gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả giải ngân vốn đầu tư công. Tại 3 Ban quản lý dự án cấp tỉnh có kế hoạch vốn lớn (Ban quản lý dự án đầu tư xây dụng các công trình dân dụng và công nghiệp tỉnh, Ban quản lý dự án công trình giao thông Nghệ An, Ban quản lý dự án Nông nghiệp và Môi trường), tỉnh yêu cầu tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân theo tiến độ cam kết, bảo đảm kế hoạch đề ra.

    UBND tỉnh Nghệ An giao Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan khẩn trương tham mưu phân bổ các nguồn vốn được Thủ tướng Chính phủ giao bổ sung để thực hiện đầu tư xây dựng trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới và các Chương trình MTQG đảm bảo đúng quy định và tiến độ. Tiếp tục rà soát, kịp thời đề xuất điều chuyển kế hoạch vốn từ các dự án chậm triển khai, không có khả năng giải ngân sang các dự án có tiến độ thực hiện tốt, có khả năng giải ngân và nhu cầu bổ sung vốn theo đúng quy định. Khẩn trương hoàn thiện hồ sơ thủ tục để kịp thời trình cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư các dự án khởi công mới trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. 

    Bên cạnh đó, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh (Tổ trưởng Tổ công tác được thành lập theo Quyết định số 2257/QÐ-UBND ngày 29/5/2026) tiếp tục tăng cường kiểm tra thực tế hiện trường, kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc để đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. 

    Được biết, năm 2026, Nghệ An được Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch vốn đầu tư công hơn 14.174 tỷ đồng. Sau khi thực hiện chủ trương tiết kiệm 5% chi ngân sách địa phương, tương đương gần 412 tỷ đồng, tổng nguồn vốn thực tế còn hơn 13.763 tỷ đồng. Đến nay, toàn bộ số vốn này đã được phân bổ chi tiết đến các chương trình, dự án. Bên cạnh đó, hơn 2.266 tỷ đồng vốn đầu tư công của các năm trước cũng được phép kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2026. 

    Đến hết quý II năm 2026, toàn tỉnh Nghệ An đã giải ngân hơn 6.386 tỷ đồng, đạt 39,09% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao và đạt 34,47% tổng kế hoạch vốn được giao. Riêng nguồn vốn ngân sách địa phương đạt tỷ lệ giải ngân 49,27%, cao hơn mức bình quân chung. Trong đó, có 82 đơn vị cấp xã đạt tỷ lệ giải ngân vượt mức bình quân của toàn tỉnh. 

    Riêng, tính đến ngày 31/8/2026, tổng số vốn đã giải ngân 12.724,601 tỷ đồng, đạt 61,71%/tổng kế hoạch và đạt 77,87%/kế hoạch giao đầu năm (cao hơn so với cùng kỳ năm 2025 đạt 42,51% tổng kế hoạch); trong đó, kế hoạch năm 2026 đã giải ngân 11.115,171 tỷ đồng, đạt 62,3%/tổng kế hoạch và đạt 78,41%/kế hoạch giao đầu năm; kế hoạch kéo dài đã giải ngân 1.609,43 tỷ đồng, đạt 57,92%.  

    Ngọc Tuấn

    Nguồn https://baomoi.com/nghe-an-yeu-cau-tang-toc-giai-ngan-von-dau-tu-cong-c56011226.epi

  • Tập trung bảo tồn nguyên trạng và phát huy giá trị di tích Trạm Nam Chơn và Đồn Chơn Sảng

    Theo báo cáo, tháng 5-2026, Ban Quản lý Di tích và Danh thắng TP Đà Nẵng phối hợp Viện Khảo cổ học (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tiến hành khai quật khẩn cấp di tích trạm Nam Chơn và đồn Chơn Sảng (phường Hải Vân) trên diện tích 600m2; trong đó Trạm Nam Chơn 300 m2, Đồn Chơn Sảng 300m2.

    Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Thị Anh Thi khảo sát thực địa tại Trạm Nam Chơn. Ảnh: P.T

    Sau 45 ngày khai quật khẩn cấp, kết quả khai quật bước đầu cho thấy quy mô, cấu trúc của hai di tích trạm Nam Chơn và đồn Chơn Sảng, củng cố bằng chứng về hệ thống phòng thủ góp phần làm nên chiến thắng oanh liệt của quân dân nhà Nguyễn trong cuộc đối đầutrước liên quân Pháp – Tây Ban Nha tại Đà Nẵng.

    Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Thị Anh Thi khảo sát thực địa tại Trạm Nam Chơn. Ảnh: P.T

    Theo báo cáo sơ bộ, trạm Nam Chơn vẫn còn giữ được khá nguyên vẹn cấu trúc nền móng. Các nhà khảo cổ xác định dấu tích tường thành, hào thành, hệ thống kè đá nhiều cấp, nền kiến trúc trung tâm lát gạch cùng chân tảng đá kê cột của công trình thời Nguyễn.

    Trên cơ sở đó, các nhà khảo cổ, nhà nghiên cứu kiến nghị thành phố thực hiện bảo vệ khẩn cấp đối với di tích Đồn Chơn Sảng và Trạm Nam Chơn; đồng thời tiến hành khai quật, nghiên cứu tổng thể, toàn diện và xây dựng hồ sơ khoa học đầy đủ về Trạm Nam Chơn, Đồn Chơn Sảng và khu vực xung quanh; lập hồ sơ xếp hạng hai di tích Trạm Nam Chơn và Đồn Chơn Sảng cấp thành phố, làm cơ sở tiến tới xây dựng hồ sơ di tích cấp quốc gia đặc biệt đối với hai di tích này.

    Sau khi nghe báo cáo từ Viện Khảo cổ học và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Sở VH-TT&DL), Phó Chủ tịch UBND thành phố ghi nhận, đánh giá cao sự chủ động phối hợp của các đơn vị, địa phương và doanh nghiệp trong việc khai quật khảo cổ khẩn cấp. Kết quả khai quật đã phát lộ nhiều dấu tích kiến trúc, hệ thống kè đá, nền móng, công sự phòng thủ và nhiều di vật có giá trị lịch sử lớn. Để đảm bảo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích, Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Thị Anh Thi thống nhất bảo vệ nguyên trạng các dấu tích khảo cổ đã phát lộ; tiếp tục nghiên cứu, khai quật khảo 2 di tích này. Đồng thời lưuý, việc nghiên cứu, bảo tồn phải dựa trên cơ sở khoa học, không làm ảnh hưởng yếu tố gốc và tuân thủ đúng quy định pháp luật.

    Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Thị Anh Thi phát biểu kết luận tại buổi làm việc. Ảnh: P.T

    Về mốc tiến độ, Phó Chủ tịch UBND thánh phố giao Sở VH-TT&DL khẩn trương hoàn thiện hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng Trạm Nam Chơn và Đồn Chơn Sảng là di tích cấp thành phố trong tháng 9-2029; phối hợp UBND phường Hải Vân rà soát đất đai, xác định ranh giới khoanh vùng bảo vệ. Cùng với đó, phối hợp với Viện Khảo cổ học hoàn thiện phương án nghiên cứu, khai quật khảo cổ tiếp theo (xác định rõ phạm vi, tiến độ, kinh phí, giải pháp bảo vệ) trình UBND thành phố phê duyệt trong Tháng 10-2026.

    Đối với công tác bảo vệ hiện trường và khớp nối hạ tầng với Dự án Làng Vân, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với UBND phường Hải Vân và các đơn vị có liên quan kiểm tra hiện trạng đất đai, loại rừng (nếu có); hướng dẫn phát quang cây bụi, cây co nguy cơ ảnh hưởng đến dấu tích, bảo đảm đúng quy định về đất đai, lâm nghiệp và môi trường, hoàn thành trong tháng 9-2026.

    Sở Xây dựng có trách nhiệm rà soát quy hoạch, thẩm định phương án khớp nối hạ tầng giữa Dự án Làng Vân và khu vực di tích. Đảm bảo tuyệt đối không gây ngập úng, xói lở, che lấp hay xâm hại yếu tố gốc của di tích; đồng thời phối hợp với các đơn vị liên quan đề xuất giải pháp tích hợp không gian bảo tồn, phát huy giá trị di tích vào tổng thể dự án.

    Đối với UBND phường Hải Vân & Ban Quản lý Di tích – Danh thắng: Quản lý chặt chẽ hiện trường, duy trì hàng rào, biển cảnh báo, lắp camera giám sát và triển khai ngay các giải pháp thoát nước, chống sạt lở. Giao Sở Tài chính tham mưu nguồn kinh phí phù hợp, hướng dẫn quản lý và sử dụng nguồn vốn xã hội hóa cho công tác khảo cổ.

    Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng đề nghị Viện Khảo cổ học khẩn trương hoàn thiện báo cáo khoa học kết quả khai quật; liên tục theo dõi hiện trạng các dấu tích, hướng dẫn chuyên môn về bảo quản, xử lý sạt lở và kịp thời đề xuất phương án khi có rủi ro.

    Đối với Công ty Cổ phần Vinpearl, lãnh đạo thành phố yêu cầu các hoạt động thi công Dự án Làng Vân không làm ảnh hưởng hay tác động tiêu cực đến di tích; khẩn trương lập phương án khớp nối hạ tầng giữa Dự án Làng Vân với khu vực Trạm Nam Chơn và Đồn Chơn Sảng trình cơ quan chuyên môn; phối hợp báo cáo ngay khi phát hiện dấu tích mới và nghiên cứu hỗ trợ nguồn lực cho công tác bảo tồn.

    P.Thủy

    Nguồn https://baomoi.com/tap-trung-bao-ton-nguyen-trang-va-phat-huy-gia-tri-di-tich-tram-nam-chon-va-don-chon-sang-c56011331.epi

  • Điều chỉnh mục tiêu nhà ở xã hội sát thực tế, đảm bảo cung cầu

    Giai đoạn 1 thuộc Dự án Chung cư nhà ở xã hội Golden City, phường Tân Ninh, tỉnh Tây Ninh cơ bản hoàn thành gồm 4 block với 917 căn hộ, trong đó có 825 căn nhà ở xã hội. Ảnh: Giang Phương/TTXVN

    Nhiều dự án triển khai nhưng nhu cầu chưa cao

    Theo Sở Xây dựng Tây Ninh, thực hiện Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 12/1/2026 của Chính phủ, tỉnh được giao hoàn thành 13.500 căn nhà ở xã hội trong năm 2026, trong tổng số 80.240 căn giai đoạn 2026-2030.

    Đến nay, tỉnh đã hoàn thành 1.062 căn nhà lưu trú công nhân và nhà ở học viên; đồng thời, có 8 dự án nhà ở xã hội đã khởi công, đang được khẩn trương thi công với tổng quy mô 9.684 căn; trong số này, dự kiến 5.516 căn có khả năng hoàn thành, đủ điều kiện bán trong năm 2026. Như vậy, tổng khả năng hoàn thành trong năm nay khoảng 6.578 căn, đạt gần 50% chỉ tiêu 13.500 căn được giao.

    Ngoài 8 dự án đang thi công, trong năm 2026, Sở Xây dựng tập trung tham mưu UBND tỉnh đôn đốc 21 dự án đã có chủ trương đầu tư hoàn thiện các thủ tục để khởi công, với tổng quy mô 73,83 ha, tương đương 21.917 căn. Trong đó, 4 dự án quy mô 23,47 ha, với 7.586 căn, đang thực hiện thủ tục đầu tư theo Nghị quyết số 201/2025/QH15 và Nghị định số 192/2025/NĐ-CP.

    Tuy nhiên, theo Phó Giám đốc Sở Xây dựng Tây Ninh Nguyễn Văn Trang, nhu cầu nhà ở xã hội thực tế tại một số khu vực chưa tăng như dự báo. Việc đầu tư nhà máy tại các khu công nghiệp còn chậm, tỷ lệ lấp đầy chưa cao nên số lượng công nhân chưa tăng tương ứng, kéo theo nhu cầu nhà ở xã hội thấp hơn so với cơ sở tính toán khi xây dựng chỉ tiêu.

    Quy hoạch các khu công nghiệp của tỉnh đến năm 2050 có 133 khu, tổng diện tích 46.495 ha; hiện đã thành lập 51 khu với diện tích 15.338 ha, trong đó 34 khu sẵn sàng tiếp nhận đầu tư, diện tích 10.044,5 ha, tỷ lệ lấp đầy khoảng 69,2%. Đối với cụm công nghiệp, tỉnh quy hoạch 108 cụm, tổng diện tích 6.224 ha; hiện có 24 cụm đang hoạt động, diện tích 1.178 ha, tỷ lệ lấp đầy 81,9%.

    Khả năng hấp thụ sản phẩm nhà ở xã hội cũng còn hạn chế. Đơn cử như dự án Chung cư nhà ở xã hội Thành phố Vàng giai đoạn 1 có 824 căn, đủ điều kiện kinh doanh từ tháng 6/2025 nhưng đến nay mới bán được 140 căn, đạt 16,99%. Hay dự án nhà ở xã hội tại Khu dân cư Lương Hòa của Công ty cổ phần Prodezi Long An có 400 căn, đủ điều kiện kinh doanh từ tháng 11/2025, nhưng mới bán được 15 căn, đạt 3,75%.

    Theo Sở Xây dựng Tây Ninh, một bộ phận người lao động có thu nhập thấp chưa tích lũy đủ khả năng tài chính để mua nhà. Một số người có xu hướng lựa chọn nhà ở riêng lẻ bên ngoài các dự án tập trung phù hợp với tập quán địa phương; trong khi một bộ phận khác còn cân nhắc giữa thuê nhà gần nơi làm việc với việc mua nhà.

    Bên cạnh yếu tố nhu cầu, tiến độ nhiều dự án còn chịu tác động bởi công tác giải phóng mặt bằng, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; giá vật liệu xây dựng, máy móc, nhân công biến động. Một số dự án phải chấm dứt hợp đồng với nhà thầu và lựa chọn đơn vị mới có đủ năng lực về vật liệu, nhân lực, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai.

    Trước thực tế này, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh Nguyễn Hồng Thanh yêu cầu các sở, ngành, địa phương tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng và tiến độ xây dựng; ưu tiên xử lý các dự án nhà ở xã hội theo cơ chế “luồng xanh”, “luồng ưu tiên” nhằm rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục.

    Kiến nghị điều chỉnh chỉ tiêu, sát nhu cầu thực tế

    Từ tiến độ thực hiện và kết quả rà soát nhu cầu, Sở Xây dựng Tây Ninh nhận định chỉ tiêu 13.500 căn nhà ở xã hội trong năm 2026 khó hoàn thành. Trong bối cảnh nhu cầu thực tế thấp hơn dự báo, việc tiếp tục giữ chỉ tiêu ở mức cao có thể tạo áp lực cho các địa phương và chủ đầu tư; đồng thời, tiềm ẩn nguy cơ phát triển dự án vượt khả năng hấp thụ của thị trường.

    Theo Phó Giám đốc Sở Xây dựng Nguyễn Văn Trang, việc rà soát không chỉ căn cứ vào tiến độ xây dựng mà còn phải tính đến nhu cầu thực tế của người dân, công nhân và người thu nhập thấp; khả năng phát triển các khu công nghiệp, đô thị cũng như khả năng huy động nguồn lực để triển khai dự án. Đây là cơ sở để tỉnh đề xuất điều chỉnh chỉ tiêu theo hướng phù hợp hơn với điều kiện thực tế, thay vì chạy theo số lượng được giao nhưng sản phẩm hoàn thành lại khó tiêu thụ.

    Trên cơ sở đó, Sở Xây dựng Tây Ninh kiến nghị UBND tỉnh xem xét, báo cáo Bộ Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền cho phép cập nhật, điều chỉnh chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội giai đoạn 2026-2030. Theo phương án đề xuất, chỉ tiêu năm 2026 được điều chỉnh còn 6.000 căn; năm 2027 là 15.700 căn; năm 2028 là 15.700 căn; năm 2029 là 19.300 căn và năm 2030 là 19.800 căn. Tổng số giai đoạn 2026-2030 là 76.500 căn, gồm 51.500 căn nhà ở xã hội và 25.000 căn nhà ở cho thuê.

    Việc điều chỉnh theo từng năm nhằm phân bổ chỉ tiêu sát hơn với khả năng triển khai thực tế. Trong đó, mức 6.000 căn năm 2026 phản ánh khả năng hoàn thành của các dự án đang thi công; các năm tiếp theo được phân bổ cao hơn trên cơ sở quỹ dự án đang chuẩn bị đầu tư và khả năng phát triển nhà ở gắn với quá trình mở rộng đô thị, khu công nghiệp của tỉnh.

    Đề xuất của Tây Ninh được đặt trong quá trình Bộ Xây dựng xây dựng dự thảo Nghị quyết về giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho các địa phương giai đoạn 2026-2030. Theo Thông báo số 455/TB-VPCP ngày 28/8/2026, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu Bộ Xây dựng phối hợp Văn phòng Chính phủ làm việc thêm với các địa phương để hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, trong đó nghiên cứu tăng chỉ tiêu nhà ở xã hội cho thuê, cho thuê mua và giảm nhà ở xã hội để bán.

    Thực hiện chỉ đạo này, Bộ Xây dựng đề nghị các địa phương tiếp tục rà soát nhu cầu, mục tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê và đề xuất điều chỉnh chỉ tiêu theo hướng tăng nhà ở cho thuê, cho thuê mua, giảm nhà ở xã hội để bán. Đây cũng là cơ sở để Tây Ninh tính toán lại cơ cấu phát triển, trong đó phương án mới dành 25.000 căn cho nhà ở cho thuê.

    Theo Sở Xây dựng Tây Ninh, việc kiến nghị điều chỉnh không đồng nghĩa giảm yêu cầu phát triển nhà ở xã hội mà nhằm đưa chỉ tiêu từng năm sát hơn với nhu cầu và khả năng thực hiện. Tỉnh tiếp tục tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh các dự án có khả năng hoàn thành; đồng thời, nâng cao khả năng hấp thụ sản phẩm, bảo đảm nguồn cung nhà ở phù hợp cho công nhân và người thu nhập thấp.

    Bùi Giang (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/dieu-chinh-muc-tieu-nha-o-xa-hoi-sat-thuc-te-dam-bao-cung-cau-c56011347.epi

  • Buốt ruột sân bay Cần Thơ ‘vắng tanh vắng ngắt’ lại đề xuất xây mới

    Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ tại phường Thới An Đông, cách trung tâm thành phố hơn 10km.

    Năm 2025, sân bay Cần Thơ đón khoảng 1,1 triệu khách (tăng hơn 8% so với năm 2024), trong khi công suất thiết kế 3 triệu khách/năm.

    Mấy năm gần đây sân bay Cần Thơ không có chuyến bay quốc tế thường lệ, hiện chỉ còn 7 đường bay nội địa, mỗi ngày bình quân có khoảng 20 chuyến bay cất/hạ cánh.

    Theo đơn vị tư vấn lập quy hoạch Cần Thơ, thực trạng khai thác chưa phát huy hết tiềm năng của sân bay Cần Thơ chủ yếu do: Nguồn lực đầu tư phát triển du lịch còn hạn chế; hệ thống cơ sở vật chất, sản phẩm và dịch vụ du lịch chất lượng cao chưa đa dạng, chưa tạo được sức hút lớn đối với khách du lịch trong nước và quốc tế. Ảnh khu vực sảnh nhà ga phục vụ khách bay quốc tế của sân bay Cần Thơ.

    Bên cạnh đó, hệ thống giao thông kết nối với sân bay Cần Thơ chưa đồng bộ, đặc biệt các tuyến cao tốc, quốc lộ và các trục giao thông liên vùng. Khả năng kết nối nhanh, thuận tiện từ các tỉnh, thành phố trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến sân bay còn hạn chế, làm giảm khả năng tiếp cận và chưa phát huy đầy đủ vai trò như một đầu mối giao thông hàng không quan trọng của vùng. Ảnh khu vực làm thủ tục đi quốc tế của sân bay Cần Thơ vắng lặng.

    Theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và nội dung điều chỉnh, sân bay Cần Thơ tiếp tục được xác định là đầu mối hàng không quan trọng của vùng ĐBSCL, với định hướng đến năm 2050 nâng công suất lên khoảng 12 triệu hành khách/năm. Mỗi ngày sân bay Cần Thơ chỉ vài máy bay đi/đến nội địa.

    Trên cơ sở không gian thành phố sau sáp nhập và nhu cầu phát triển du lịch trong dài hạn, tư vấn lập quy hoạch đề xuất định hướng nâng công suất sân bay Cần Thơ hiện hữu lên khoảng 18-20 triệu hành khách/năm vào năm 2050.

    Tư vấn cũng đề xuất nghiên cứu xây dựng sân bay mới nhằm phát huy tiềm năng kinh tế và tăng cường chức năng kết nối vùng, quốc tế.

    3 phương án bố trí cảng hàng không mới được đề xuất nghiên cứu gồm: Phương án 1 là khu vực ven biển Trần Đề, kết nối trực tiếp với hệ thống giao thông dẫn vào cảng biển Trần Đề. Phương án 2 tại phía Nam TP. Sóc Trăng cũ, gần nút giao giữa cao tốc Châu Đốc – Trần Đề và cao tốc CT33. Phương án 3 bố trí cách sân bay Cần Thơ hiện hữu khoảng 30km về phía Nam, gần nút giao giữa cao tốc Châu Đốc – Trần Đề và cao tốc Cần Thơ – Cà Mau.

    Theo đơn vị tư vấn, các phương án được xem xét nhằm lựa chọn vị trí phù hợp nhất, bảo đảm kết nối đa phương thức, phục vụ nhu cầu vận tải hành khách – hàng hóa và hỗ trợ phát triển không gian đô thị, kinh tế biển của thành phố.

    Theo các chuyên gia, ưu tiên đúng đắn hiện nay là khai thác hiệu quả và nâng cấp sân bay Cần Thơ hiện hữu, thay vì phân tán nguồn lực cho một sân bay mới. Chỉ xem xét sân bay mới khi có nhu cầu thực tế, dự báo độc lập, phương án tài chính khả thi, đánh giá môi trường đầy đủ và được bổ sung vào quy hoạch ngành quốc gia.

    Cách làm hợp lý là tập trung nguồn lực cho việc lấp đầy công suất sân bay hiện có. Đó là chính sách thu hút hãng bay mở lại đường bay quốc tế, là đầu tư đồng bộ giao thông kết nối để rút ngắn thời gian từ các tỉnh lân cận đến sân bay, là phát triển sản phẩm du lịch đủ sức kéo khách quốc tế đến…

    Cảnh Kỳ

    Nguồn https://baomoi.com/buot-ruot-san-bay-can-tho-vang-tanh-vang-ngat-lai-de-xuat-xay-moi-c56011242.epi

  • Từ ngày 15/9, chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm thế nào về an toàn phòng cháy?

    Không thể đưa công trình vào hoạt động khi chưa hoàn tất trách nhiệm về phòng cháy

    Ngày 8/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 347/2026/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 nghị định, trong đó có Nghị định 105/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

    Một trong những điểm đáng chú ý là quy định cụ thể hơn trách nhiệm của chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình trong nghiệm thu về phòng cháy, chữa cháy.

    Theo quy định mới, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình phải tổ chức nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy đối với dự án, công trình; đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả nghiệm thu.

    Chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình phải tổ chức nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy đối với dự án, công trình đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật.

    Đáng chú ý, trước khi đưa công trình vào hoạt động, chủ đầu tư còn phải khai báo trên hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy.

    Quy định này có ý nghĩa đáng kể đối với người dân, đặc biệt là những người sinh sống, làm việc trong các tòa nhà chung cư, nhà ở kết hợp kinh doanh, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các công trình có nguy cơ cháy, nổ. Về nguyên tắc, trách nhiệm bảo đảm an toàn không chỉ nằm ở người sử dụng công trình mà trước hết phải được kiểm soát ngay từ khâu xây dựng và đưa công trình vào vận hành.

    Với phương tiện giao thông thuộc diện quy định, chủ phương tiện cũng phải tổ chức nghiệm thu về phòng cháy, chữa cháy và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả nghiệm thu. Khi đưa phương tiện vào hoạt động, chủ phương tiện phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý chuyên ngành.

    Kiểm tra định kỳ: công trình có nguy cơ cao được kiểm tra thường xuyên hơn

    Một thay đổi khác đáng chú ý là việc phân định rõ hơn thẩm quyền kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy giữa cơ quan Công an và cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc UBND cấp tỉnh.

    Theo quy định mới, cơ quan Công an theo phân cấp sẽ tổ chức kiểm tra định kỳ 1 năm/lần đối với cơ sở thuộc nhóm 1; công trình đang xây dựng thuộc diện phải thẩm duyệt hoặc thẩm định thiết kế về phòng cháy, chữa cháy; và các phương tiện giao thông thuộc diện quy định.

    Đối với cơ sở thuộc nhóm 2, tần suất kiểm tra định kỳ là 2 năm/lần.

    Không chỉ kiểm tra theo lịch, cơ quan chức năng có thể kiểm tra đột xuất khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật, có đơn khiếu nại, tố cáo liên quan đến phòng cháy, chữa cháy hoặc khi có yêu cầu nhằm bảo đảm an ninh, trật tự.

    Cơ quan Công an theo phân cấp sẽ tổ chức kiểm tra định kỳ 1 năm/lần đối với cơ sở thuộc nhóm 1.

    Ở cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh phân công, phân cấp cơ quan chuyên môn về xây dựng tổ chức kiểm tra. Các cơ sở thuộc nhóm 1 được kiểm tra định kỳ 1 năm/lần, trong khi nhóm 2 được kiểm tra 2 năm/lần; đồng thời có thể kiểm tra đột xuất khi xuất hiện dấu hiệu vi phạm hoặc có khiếu nại, tố cáo theo quy định.

    Điều này cho thấy việc kiểm soát an toàn phòng cháy, chữa cháy đang được chuyển mạnh theo hướng kiểm tra thường xuyên, phân loại theo mức độ rủi ro, thay vì chỉ tập trung vào thời điểm công trình được xây dựng hoặc nghiệm thu.

    Kiểm tra không chỉ là “đến xem” mà phải có kế hoạch, thông báo và biên bản

    Nghị định mới cũng quy định cụ thể hơn trình tự, thủ tục kiểm tra định kỳ.

    Theo đó, trước ngày 15/12 hằng năm, cơ quan Công an, cơ quan chuyên môn về xây dựng và UBND cấp xã theo phân cấp phải xây dựng kế hoạch kiểm tra định kỳ của năm kế tiếp đối với các cơ sở, công trình, phương tiện thuộc phạm vi quản lý. Kế hoạch có thể được điều chỉnh khi cần thiết.

    Trước khi kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền phải thành lập đoàn kiểm tra hoặc phân công cán bộ thực hiện. Đối tượng được kiểm tra phải được thông báo bằng văn bản về thời gian, nội dung và thành phần tham gia trước ít nhất 3 ngày làm việc.

    Trước ngày 15/12 hằng năm, cơ quan Công an, cơ quan chuyên môn về xây dựng và UBND cấp xã theo phân cấp phải xây dựng kế hoạch kiểm tra định kỳ của năm kế tiếp.

    Trong quá trình kiểm tra, trưởng đoàn hoặc cán bộ được phân công phải giới thiệu thành phần, nội dung, phương pháp kiểm tra và phân công nhiệm vụ cho các thành viên.

    Sau khi kết thúc, việc kiểm tra phải được lập thành biên bản theo mẫu quy định. Nếu đối tượng được kiểm tra không ký biên bản, lý do cũng phải được ghi rõ trong biên bản.

    Với người dân, quy trình này không chỉ mang ý nghĩa thủ tục. Việc quy định rõ kế hoạch, thời gian thông báo, nội dung và kết quả kiểm tra giúp quá trình kiểm tra minh bạch hơn, đồng thời tạo cơ sở để xác định trách nhiệm khi xảy ra vi phạm hoặc sự cố.

    An toàn phòng cháy cần bắt đầu từ trách nhiệm của người đứng đầu

    Các vụ cháy tại nhà ở, chung cư, cơ sở kinh doanh hay công trình tập trung đông người cho thấy phòng cháy, chữa cháy không phải câu chuyện chỉ được nhắc đến khi có sự cố.

    Một hệ thống báo cháy có thể giúp phát hiện nguy cơ sớm, nhưng nếu lối thoát nạn bị chắn, cửa thoát hiểm không bảo đảm, thiết bị chữa cháy không hoạt động hoặc công trình được đưa vào sử dụng khi chưa đáp ứng yêu cầu an toàn thì rủi ro vẫn có thể xảy ra.

    Phòng cháy, chữa cháy không phải câu chuyện chỉ được nhắc đến khi có sự cố.

    Việc Nghị định 347/2026/NĐ-CP tiếp tục làm rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, chủ sở hữu và các cơ quan quản lý vì thế có ý nghĩa trực tiếp đối với cuộc sống của người dân. Khi trách nhiệm được xác định rõ từ khâu nghiệm thu, đưa công trình vào hoạt động đến kiểm tra định kỳ, yêu cầu về an toàn phòng cháy, chữa cháy sẽ không chỉ dừng ở những hồ sơ trên giấy.

    Đặc biệt, đối với cư dân chung cư, người thuê nhà, người lao động tại các cơ sở sản xuất – kinh doanh hay khách hàng tại những địa điểm tập trung đông người, một công trình đáp ứng đầy đủ yêu cầu phòng cháy, chữa cháy cũng đồng nghĩa với việc quyền được sống và làm việc trong một môi trường an toàn được bảo vệ tốt hơn.

    Nghị định 347/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/9/2026.

    Hoàng Anh

    Nguồn https://baomoi.com/tu-ngay-15-9-chu-dau-tu-phai-chiu-trach-nhiem-the-nao-ve-an-toan-phong-chay-c56011064.epi

  • Thẩm định dự án Luật Đất đai (sửa đổi): Tập trung tháo gỡ vướng mắc từ thực tiễn

    Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú phát biểu tại cuộc họp – Ảnh: BTP

    Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú vừa chủ trì Hội đồng thẩm định dự án Luật Đất đai (sửa đổi). Hội đồng tập trung xem xét, đánh giá các nội dung của dự án Luật, góp ý về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự thảo với hệ thống pháp luật hiện hành, qua đó góp phần hoàn thiện dự án Luật.

    Theo báo cáo tại cuộc họp, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) được xây dựng với bố cục dự kiến gồm 13 chương, giảm 3 chương so với Luật Đất đai năm 2024.

    Hoàn thiện quy định về phân loại, sử dụng đất

    Một trong những nội dung được hoàn thiện trong dự thảo là không quy định chi tiết về phân loại đất, cụ thể, đất đai được phân thành 03 nhóm, gồm:

    Nhóm đất nông nghiệp gồm đất canh tác (đất trồng lúa, đất trồng cây khác), đất lâm nghiệp; đất chăn nuôi tập trung, thủy sản; đất nông nghiệp khác.

    Nhóm đất phi nông nghiệp gồm đất quốc phòng, an ninh; đất ở; đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp công; đất công cộng; đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp; đất tôn giáo, tín ngưỡng.

    Nhóm đất dự trữ phát triển.

    Việc hoàn thiện quy định về phân loại đất nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn thi hành Luật Đất đai thời gian qua.

    Đối với nguyên tắc sử dụng đất, dự thảo Luật hoàn thiện trên cơ sở kế thừa Điều 5 Luật Đất đai năm 2024, đồng thời tiếp tục thể chế hóa Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

    Dự thảo cũng bổ sung một số nguyên tắc phù hợp với yêu cầu thực tiễn như “bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và các chủ thể có liên quan; bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, bình đẳng giới trong tiếp cận, quản lý và sử dụng đất…”.

    Liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, dự thảo Luật giữ như quy định hiện hành, đồng thời bổ sung một số trường hợp.

    Theo đó, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là pháp nhân mới được hình thành thông qua việc chia, tách, hợp nhất, chuyển đổi mô hình tổ chức theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc văn bản về việc chia, tách, hợp nhất, chuyển đổi mô hình tổ chức của tổ chức kinh tế phù hợp với pháp luật được nhận quyền sử dụng đất từ các tổ chức là pháp nhân bị chia, tách, hợp nhất, chuyển đổi.

    Dự thảo cũng bổ sung trường hợp tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhận quyền sử dụng đất khi nhận sáp nhập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

    Rà soát toàn diện trước khi trình cấp có thẩm quyền

    Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú cho biết, trên cơ sở ý kiến của Hội đồng thẩm định, dự thảo Luật cần tiếp tục được nghiên cứu, rà soát và hoàn thiện toàn diện, tập trung vào 10 nhóm vấn đề trọng tâm nhằm bảo đảm chất lượng trước khi trình cấp có thẩm quyền.

    Trước hết, cần rà soát lại phạm vi điều chỉnh theo hướng tập trung trực tiếp vào những vấn đề liên quan đến đất đai, đồng thời xử lý rõ mối quan hệ áp dụng giữa Luật này với các luật khác. Đây là vấn đề cần được làm rõ ngay từ quá trình xây dựng để hạn chế xung đột, chồng chéo và những vướng mắc có thể phát sinh trong thực tiễn.

    Cùng với đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cần tiếp tục đối chiếu, rà soát dự thảo với các chủ trương, đường lối có liên quan, đặc biệt là Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan; Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

    Quá trình hoàn thiện cũng phải phân định rõ nội dung nào cần được quy định tại Luật, nội dung nào giao Chính phủ quy định chi tiết. Trong đó, những vấn đề tác động đến quyền, nghĩa vụ của người dân, doanh nghiệp phải được thể hiện trong Luật.

    Về tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú cho biết, thời gian qua, Bộ Tư pháp và Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp chặt chẽ trong quá trình rà soát. Bộ Tư pháp đã xây dựng phụ lục đầy đủ và sẽ tiếp tục hoàn thiện trên cơ sở ý kiến tại phiên họp để báo cáo cấp có thẩm quyền.

    Yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo đảm sự thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật hiện hành mà còn phải bảo đảm tính thống nhất ngay trong nội tại dự thảo.

    Đề cập đến thủ tục hành chính và thủ tục nội bộ, Thứ trưởng nhấn mạnh, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phải gắn với cơ chế bảo đảm tính thống nhất trong thực thi. Đối với những thủ tục cùng loại, nếu không xuất phát từ yêu cầu đặc thù thì cần bảo đảm thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước.

    Việc trao quyền cho địa phương phải được thiết kế phù hợp, qua đó hạn chế phát sinh thêm chi phí, thủ tục.

    Ngoài ra, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú đề nghị tiếp tục hoàn thiện hồ sơ dự án Luật, nhất là báo cáo tiếp thu, giải trình và bảng so sánh các nội dung sửa đổi; rà soát, bảo đảm tính hợp hiến của dự thảo.

    Trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch Quốc hội về việc lấy ý kiến Nhân dân đối với dự án Luật, các cơ quan cần chuẩn bị kỹ lưỡng để triển khai, qua đó tiếp tục thu nhận ý kiến, hoàn thiện dự thảo trước khi trình Quốc hội xem xét, quyết định.

    DA

    Nguồn https://baomoi.com/tham-dinh-du-an-luat-dat-dai-sua-doi-tap-trung-thao-go-vuong-mac-tu-thuc-tien-c56011565.epi

  • Nhà ở xã hội phát thải các-bon thấp: Tích hợp giải pháp xanh ngay từ khâu thiết kế

    Vừa qua, tại Bắc Ninh, Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng (Bộ Xây dựng) phối hợp với Hội Kiến trúc sư tỉnh Bắc Ninh và các đơn vị liên quan tổ chức hội thảo “Nhà ở xã hội phát thải các-bon thấp – Định hướng và giải pháp cho Việt Nam”.

    Sự kiện có sự tham dự của hơn 100 đại biểu, gồm đại diện cơ quan quản lý, tổ chức tài chính, viện nghiên cứu, hội nghề nghiệp, chủ đầu tư, kiến trúc sư, tổng thầu và doanh nghiệp.

    Bắc Ninh có hơn 140.000 căn nhà ở xã hội trong 128 dự án

    Phát biểu tại hội thảo, ông Hà Quang Hưng, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản (Bộ Xây dựng), cho rằng phát triển nhà ở xã hội cần gắn với mục tiêu xây dựng thị trường bất động sản lành mạnh, bền vững.

    Theo ông, bên cạnh tăng nguồn cung và nâng cao chất lượng nhà ở xã hội, các yêu cầu về tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải cần được tính đến ngay từ quá trình chuẩn bị và triển khai dự án.

    Ông Nguyễn Quốc Ân, Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Bắc Ninh, phát biểu tại hội thảo.

    Ông Nguyễn Quốc Ân, Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Bắc Ninh, cho biết địa phương được giao chỉ tiêu khoảng 147.200 căn nhà ở xã hội, trong đó giai đoạn 2025-2030 là 135.002 căn.

    Toàn tỉnh hiện có 128 dự án, với quy mô khoảng 140.690 căn; trong đó 33 dự án đã hoàn thành và 95 dự án đang triển khai.

    Theo Phó Giám đốc Sở Xây dựng Bắc Ninh, hiệu quả phát triển nhà ở xã hội không chỉ được đánh giá bằng số lượng căn hộ hoàn thành mà còn phải tính đến khả năng tiếp cận của người dân, chất lượng công trình, chi phí sử dụng và môi trường sống.

    Do đó, các giải pháp phát thải thấp cần phù hợp với điều kiện thực tế, có khả năng đo lường và từng bước nhân rộng.

    Giảm phát thải cần được tính từ quy hoạch, thiết kế

    Theo ông Nguyễn Hữu Tiến, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), mục tiêu phát thải các-bon thấp cần được lượng hóa bằng dữ liệu và tích hợp xuyên suốt vòng đời dự án, từ chuẩn bị, thiết kế, thi công đến vận hành.

    Bộ Xây dựng đang giao các đơn vị triển khai những nhiệm vụ liên quan đến xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn và hướng dẫn thiết kế, với kế hoạch ban hành trong năm 2026 và 2027.

    Ông Nguyễn Hữu Tiến, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ môi trường và Vật liệu xây dựng – Bộ Xây dựng, phát biểu tại hội thảo.

    Về định hướng phát triển nhà ở xã hội phát thải các-bon thấp tại Việt Nam,TS. Nguyễn Hồng Hải, Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng (Bộ Xây dựng), cho rằng giảm phát thải không nên được xem là một gói công nghệ bổ sung sau khi công trình đã hoàn thành thiết kế.

    Theo ông, mục tiêu này cần được tích hợp ngay từ quy hoạch, tổ chức không gian, lựa chọn vật liệu và thiết bị. Các giải pháp đồng thời phải có cơ sở khoa học, phù hợp điều kiện thực tế và có khả năng đo lường, đánh giá.

    Ở góc độ kiến trúc, KTS. Đỗ Xuân Thủy, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư tỉnh Bắc Ninh, cho rằng bài toán giảm phát thải phải đi cùng yêu cầu về kinh tế.

    Việc lựa chọn hướng nhà, kiểm soát diện tích kính, bố trí che nắng, tăng thông gió và ánh sáng tự nhiên, cây xanh hợp lý, sử dụng vật liệu bền và dễ bảo trì có thể vừa cải thiện môi trường sống vừa giảm chi phí xây dựng, vận hành.

    Tại hội thảo, ThS. Trần Phương, Trưởng Phòng Công trình xanh và Tiết kiệm năng lượng, Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng, giới thiệu nhóm giải pháp kỹ thuật và lộ trình triển khai phù hợp với suất đầu tư nhà ở xã hội.

    Theo đó, 43 giải pháp được đề xuất, trải rộng từ quy hoạch, kiến trúc, kết cấu, cơ điện đến vận hành. Các giải pháp được phân thành nhóm không làm tăng suất đầu tư và nhóm tăng suất đầu tư dưới 2%.

    Việc phân nhóm nhằm giúp chủ đầu tư, đơn vị tư vấn thiết kế và tổng thầu lựa chọn, áp dụng các giải pháp phù hợp ngay từ giai đoạn đầu của dự án.

    Các chuyên gia công trình xanh của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) và Trung tâm Năng lượng ASEAN cũng chia sẻ về khả năng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi xanh và kinh nghiệm triển khai công trình tiết kiệm năng lượng tại khu vực ASEAN.

    Ông Hà Quang Hưng, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản – Bộ Xây dựng, phát biểu tại hội thảo.

    Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp giới thiệu các giải pháp vật liệu và thiết bị phục vụ mục tiêu giảm phát thải.

    Công ty Cổ phần Xi măng FiCO-YTL giới thiệu các giải pháp vật liệu xây dựng phát thải thấp, xi măng xanh, đây là giải pháp cơ bản để giảm lượng các-bon hàm chứa trong bê tông và kết cấu công trình; Công ty TNHH Knauf Việt Nam trình bày các giải pháp vách nhẹ, tối ưu vật liệu và giảm phát thải, giải pháp thay thế gạch xây truyền thống giúp giảm chi phí nhân công, vật liệu thừa thải trên công trường, giảm tải trọng công trình; Công ty TNHH Panasonic Electric Works Việt Nam giới thiệu các giải pháp tiết kiệm năng lượng, cải thiện chất lượng không khí trong nhà (IAQ) và nâng cao sức khỏe, tiện nghi cho cư dân, đáng chú ý là giải pháp về điều hòa không khí giúp giảm tới 27% lượng điện tiêu thụ nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu về tiện nghi nhhiệt.

    Giới thiệu mô hình nhà mẫu tỷ lệ 1:1

    Tại hội thảo, mô hình nhà mẫu tỷ lệ 1:1 tích hợp các giải pháp hướng tới nhà ở xã hội phát thải các-bon thấp cũng được giới thiệu.

    TS. Nguyễn Hồng Hải, Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng – Bộ Xây dựng, trình bày định hướng phát triển nhà ở xã hội phát thải các-bon thấp.

    Mô hình gồm giải pháp mô-đun nhà vệ sinh lắp sẵn; giải pháp tường nhẹ của Công ty Cổ phần Cơ khí & Vật liệu Xây dựng Phú Nguyễn; giải pháp sơn phản xạ, chống nóng của Công ty TNHH Sơn TOA Việt Nam; các giải pháp cách nhiệt của Công ty TNHH ROCKWOOL; và hệ thống quạt, điều hòa không khí thông minh, tiết kiệm năng lượng của Panasonic Việt Nam. Các giải pháp được phối hợp nghiên cứu cùng Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng (IBST) nhằm lựa chọn phương án tối ưu, không làm gia tăng chi phí đầu tư cho nhà ở xã hội nhưng vẫn đáp ứng các yêu cầu về công năng sử dụng, môi trường và tiện nghi cho cư dân.

    Kết thúc hội thảo, các nhóm giải pháp phát thải các-bon thấp được tổng hợp và giới thiệu tới Bắc Ninh để xem xét áp dụng. Đây được xem là cơ sở để địa phương lựa chọn, tích hợp và từng bước triển khai các giải pháp trong những dự án nhà ở xã hội thực tế.

    Nam Khánh

    Nguồn https://baomoi.com/nha-o-xa-hoi-phat-thai-cac-bon-thap-tich-hop-giai-phap-xanh-ngay-tu-khau-thiet-ke-c56010935.epi

  • Xã Quang Minh: Nâng cao chất lượng thực hiện dân chủ ở cơ sở gắn với trách nhiệm của người đứng đầu

    Các đại biểu tham dự buổi giám sát. Ảnh: PV

    Góp phần củng cố niềm tin của nhân dân

    Xã Quang Minh xác định thực hiện dân chủ ở cơ sở không chỉ là yêu cầu pháp luật mà còn là giải pháp quan trọng để củng cố niềm tin của nhân dân, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và phòng ngừa phát sinh các vụ việc phức tạp ngay từ cơ sở.

    Từ ngày 1-7-2025 đến nay, xã đã tiếp nhận và tổ chức công khai 340 dự án, công trình đầu tư; đồng thời công khai các chủ trương, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, danh sách hộ dân chịu ảnh hưởng theo từng dự án.

    Trong lĩnh vực thủ tục hành chính, xã công khai 469 thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết, gồm 216 thủ tục trực tuyến toàn trình và 253 thủ tục trực tuyến một phần. Từ 1-7-2025 đến ngày 30-7-2026, xã tiếp nhận 18.557 hồ sơ; đã giải quyết 18.148 hồ sơ, trong đó 18.008 hồ sơ đúng và trước hạn, đạt 99,23%. Tỷ lệ số hóa hồ sơ và tỷ lệ thanh toán trực tuyến đối với hồ sơ phát sinh phí, lệ phí đều đạt 100%.

    Bên cạnh đó, xã Quang Minh làm việc với tinh thần bảo đảm quyền bàn, quyết định và tham gia ý kiến của nhân dân. Cụ thể, UBND xã đã phối hợp tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với các đồ án quy hoạch, dự án đầu tư, phương án giải phóng mặt bằng, bầu trưởng thôn, xây dựng hương ước, quy ước và sắp xếp thôn.

    Cùng với đó, vấn đề tiếp công dân, đối thoại và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cũng được xã Quang Minh chú trọng. Sau các kỳ tiếp công dân, UBND xã ban hành 47 thông báo kết luận, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị. Đến thời điểm báo cáo, 98/108 nội dung đã hoàn thành; 10 nội dung đang thực hiện trong thời hạn…

    Phó Chủ tịch UBND xã Quang Minh Phạm Anh Tuấn trao đổi tại buổi giám sát. Ảnh: PV

    Theo Phó Chủ tịch UBND xã Quang Minh Phạm Anh Tuấn, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và ứng dụng chuyển đổi số được xã Quang Minh đẩy mạnh. Chủ tịch UBND xã duy trì việc trực tiếp tiếp công dân, xuống cơ sở, làm việc với các thôn, kiểm tra hiện trường, đối thoại với người dân và chỉ đạo xử lý những vấn đề phát sinh.

    Trong chuyển đổi số, 100% cán bộ, công chức được cấp tài khoản, thư điện tử công vụ và chữ ký số; văn bản chỉ đạo, điều hành thông thường được tiếp nhận, xử lý và ký số trên môi trường điện tử. Nền tảng HanoiWork được sử dụng để giao việc và theo dõi tiến độ tại 27 đơn vị, tỷ lệ nhiệm vụ hoàn thành đạt trên 91%. Kênh iHanoi được duy trì để tiếp nhận, chỉ đạo xử lý phản ánh của người dân; hệ thống kênh thông tin tại các thôn được sử dụng để chuyển tải kịp thời chủ trương, chính sách và hướng dẫn dịch vụ công trực tuyến…

    Tiếp tục nâng cao tổ chức thi hành pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở

    Phát biểu kết luận buổi giám sát, đồng chí Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam chỉ rõ một số hạn chế cần khắc phục như: Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tại một số thôn cũ chưa đồng bộ, gây khó khăn cho việc ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số; năng lực, kỹ năng vận động quần chúng của một bộ phận cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách ở thôn đôi lúc chưa theo kịp với yêu cầu của mô hình quản lý mới…

    Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Hà Thị Nga phát biểu tại buổi giám sát. Ảnh: PV

    Đồng chí Hà Thị Nga đề nghị UBND xã nghiên cứu xây dựng, trình HĐND xã ban hành Nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn theo quy định tại Điều 8 Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở; thực hiện hiệu quả các hoạt động đối thoại trực tiếp, trực tuyến, lắng nghe ý kiến nhân dân, phản hồi hai chiều giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp; nghiên cứu các hình thức thực hiện dân chủ trên các nền tảng số, dữ liệu số, tương tác trực tuyến.

    Bên cạnh đó, bảo đảm điều kiện để MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong tổ chức vận động nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở, tổ chức các phong trào thi đua về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tham gia, hỗ trợ, hướng dẫn nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổng hợp phản ánh, kiến nghị của nhân dân đến cơ quan có thẩm quyền, giám sát quá trình giải quyết…

    Hà Lan

    Nguồn https://baomoi.com/xa-quang-minh-nang-cao-chat-luong-thuc-hien-dan-chu-o-co-so-gan-voi-trach-nhiem-cua-nguoi-dung-dau-c56011101.epi

  • Cần đối thoại trực tiếp với người dân, giải quyết vụ việc ngay từ cơ sở

    Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội Lò Việt Phương phát biểu tại buổi làm việc.

    Ông Lò Việt Phương đánh giá cao việc tỉnh Vĩnh Long đã quan tâm, thường xuyên chỉ đạo và thực hiện tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định pháp luật, nhất là trong bối cảnh hợp nhất, thay đổi địa giới hành chính, tổ chức bộ máy và nhân sự. Đáng chú ý, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trực tiếp tiếp người dân, đối thoại và tham gia giải quyết vụ việc ngay từ cơ sở.

    Đây là cách làm thể hiện trách nhiệm của người đứng đầu, cần được tổng hợp, đánh giá để nghiên cứu nhân rộng. Tỉnh tiếp tục tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, kéo dài, hạn chế phát sinh khiếu kiện vượt cấp. Đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân, cần chú trọng ổn định nhân sự, nâng cao chất lượng chuyên môn, bởi đây là công việc đặc thù, đòi hỏi kinh nghiệm, am hiểu pháp luật và kỹ năng xử lý tình huống.

    Do đó, tỉnh cần hạn chế tình trạng cán bộ vừa tích lũy kinh nghiệm đã được điều chuyển có thể ảnh hưởng đến tính liên tục trong giải quyết vụ việc. Việc giải quyết không thấu đáo kiến nghị ngay từ đầu cũng có thể khiến vụ việc kéo dài, từ kiến nghị, phản ánh phát triển thành khiếu nại, thậm chí tố cáo.

    Qua khảo sát, Đoàn công tác ghi nhận các kiến nghị của tỉnh để tổng hợp, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan, nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Quỳnh Thiện phát biểu tại buổi làm việc.

    Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Quỳnh Thiện, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được tỉnh xác định là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên và là trách nhiệm của chính quyền trước nhân dân. Sau khi sắp xếp, hợp nhất tỉnh, cấp ủy, chính quyền các cấp tiếp tục thực hiện nghiêm công tác tiếp công dân định kỳ, tăng cường đối thoại trực tiếp, lắng nghe và chỉ đạo giải quyết các vụ việc bức xúc ngay từ cơ sở.

    Tuy nhiên, quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp còn phát sinh một số khó khăn về thông tin, phối hợp liên thông, thời hạn, thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết, nhất là đối với những vụ việc có tính lịch sử. Các vấn đề liên quan đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng phát sinh nhiều, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách.

    Theo Phó Chánh Thanh tra tỉnh Vĩnh Long Lê Thị Thu Hải, khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tập trung chủ yếu ở lĩnh vực đất đai, nhất là bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện các dự án khu dân cư, giao thông, thủy lợi. Nội dung tố cáo chủ yếu liên quan thái độ, ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ; sai phạm trong quản lý tài chính và vi phạm đạo đức, lối sống. Các vụ việc không phát sinh thành điểm nóng.

    Từ ngày 1/7/2025 đến ngày 30/6/2026, Chủ tịch UBND các cấp và thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh Vĩnh Long đã tiếp công dân 7.574 lượt, với 7.539 người, tương ứng 6.328 vụ việc. Trong đó có 27 đoàn đông với 256 người, liên quan 25 vụ.

    Nội dung tiếp công dân gồm 59 vụ khiếu nại, 12 vụ tố cáo và 6.257 vụ kiến nghị, phản ánh. Các cơ quan hành chính đã thực hiện 5.219 ngày tiếp công dân định kỳ, với 1.473 lượt, 1.239 người, tương ứng 1.046 vụ việc; trong đó có 19 đoàn đông người, với 322 người, liên quan 19 vụ.

    Các cơ quan chức năng tiếp nhận 983 đơn; qua phân loại có 562 đơn đủ điều kiện xử lý, trong đó 150 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết, gồm 123 đơn khiếu nại và 27 đơn tố cáo. Đến nay, các cơ quan chức năng đã giải quyết 104 vụ khiếu nại, đạt 84,55%; 25 vụ tố cáo, đạt 92,59%. Trong quá trình giải quyết, Chủ tịch UBND các cấp và lãnh đạo các ngành tổ chức đối thoại trực tiếp với công dân, công khai chứng cứ, kết quả xác minh theo quy định pháp luật.

    Thời gian tới, UBND tỉnh Vĩnh Long tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tăng cường tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác này.

    Tỉnh tăng cường thanh tra, kiểm tra trách nhiệm trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiểm tra việc thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo đã có hiệu lực pháp luật; tăng cường theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và thực hiện đầy đủ chế độ thông tin, báo cáo, nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

    Tin, ảnh: Phạm Minh Tuấn (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/can-doi-thoai-truc-tiep-voi-nguoi-dan-giai-quyet-vu-viec-ngay-tu-co-so-c56011150.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!