Author: bachdn

  • Hà Nội sắp đón 400.000 m² văn phòng, cạnh tranh không còn chỉ ở giá thuê

    Hà Nội chuẩn bị đón 400.000 m² văn phòng

    Trong quý II/2026, tỷ lệ trống văn phòng tại Hà Nội ở mức khoảng 23%, trong khi giá thuê chào của văn phòng hạng A đạt 32,2 USD/m²/tháng.

    Đáng chú ý, thị trường mới đang bước vào giai đoạn nguồn cung gia tăng. Trong giai đoạn 2026 – 2028, Hà Nội dự kiến đón thêm khoảng 400.000 m² văn phòng, trong đó khu vực phía Tây chiếm khoảng 83%. Quy mô nguồn cung mới này có thể làm thay đổi tương quan giữa các dự án trên thị trường. Khi khách thuê có thêm lựa chọn, lợi thế cạnh tranh của các tòa nhà sẽ không còn chỉ phụ thuộc vào vị trí hay mức giá niêm yết.

    Diễn biến tại Bangkok có thể cung cấp một góc nhìn tham khảo cho thị trường Hà Nội. Theo Báo cáo Thị trường Văn phòng Bangkok quý II/2026 của Cushman & Wakefield, tỷ lệ trống văn phòng hạng A tại khu trung tâm Bangkok ở mức 21,9%, trong khi giá thuê gộp khoảng 943 baht/m², tương đương 28,6 USD/m².

    Dù tỷ lệ lấp đầy đã có sự cải thiện, nguồn cung dồi dào vẫn khiến các chủ nhà tại Bangkok phải tăng mức độ cạnh tranh thông qua ưu đãi và các điều khoản thuê linh hoạt hơn.

    Chất lượng tài sản trở thành yếu tố cạnh tranh

    Tại Bangkok, sự cạnh tranh gia tăng đang thúc đẩy các chủ đầu tư tìm cách tạo khác biệt thông qua chất lượng vận hành và trải nghiệm người sử dụng. One Bangkok là một ví dụ khi tích hợp văn phòng, khách sạn, bán lẻ và không gian công cộng, đồng thời chú trọng các tiêu chuẩn về công trình xanh, kết nối thông minh và sức khỏe người sử dụng.

    Không gian coworking cao cấp The Collective cũng được phát triển với hệ thống phòng họp, khu vực làm việc, dịch vụ hỗ trợ và các tiện ích phục vụ khách thuê. Dusit Central Park đi theo hướng tương tự khi kết hợp văn phòng hạng A với khách sạn, căn hộ, bán lẻ và khu vườn trên mái rộng hơn 1 ha. Không gian này vừa phục vụ người sử dụng trong dự án, vừa tạo sức hút với cộng đồng bên ngoài.

    Những mô hình trên cho thấy không gian văn phòng đang được phát triển theo hướng rộng hơn một diện tích cho thuê đơn thuần. Trải nghiệm nhân viên, khả năng kết nối, hệ thống tiện ích và hình ảnh thương hiệu ngày càng được đưa vào bài toán lựa chọn mặt bằng của doanh nghiệp.

    Đây cũng là vấn đề mà thị trường Hà Nội sẽ phải đối mặt khi lượng lớn nguồn cung mới gia nhập trong giai đoạn 2026-2028.

    Tòa nhà hiện hữu đứng trước yêu cầu nâng cấp

    Nguồn cung mới chất lượng cao không đồng nghĩa toàn bộ khách thuê sẽ chuyển sang các dự án mới. Kinh nghiệm từ Bangkok cho thấy những tòa nhà hiện hữu vẫn có thể duy trì sức cạnh tranh nếu được đầu tư nâng cấp phù hợp.

    Empire Tower là một trường hợp điển hình. Chủ sở hữu AWC đã đầu tư khoảng 40 triệu USD để tái định vị tòa nhà 58 tầng được xây dựng từ cuối thập niên 1990. Một phần diện tích được chuyển đổi thành không gian dùng chung, trong khi các tầng cao được phát triển thành khu ẩm thực trên cao rộng hơn 8.000 m².

    Mô hình này cho thấy cạnh tranh trên thị trường văn phòng không nhất thiết phải dựa vào việc xây mới hoặc giảm giá thuê. Chất lượng tài sản, hệ thống tiện ích và dịch vụ cũng có thể trở thành công cụ giữ chân khách thuê.

    Tại Hà Nội, một số dự án mới đã bắt đầu chú trọng các yếu tố như chứng chỉ công trình xanh, công nghệ tòa nhà thông minh, không gian xanh, bán lẻ tích hợp, phòng họp đa chức năng, khu vực chăm sóc sức khỏe và không gian dùng chung.

    Khi nguồn cung mới ngày càng đạt những tiêu chuẩn cao hơn, các tòa nhà hiện hữu cũng đứng trước yêu cầu nâng cấp để duy trì khả năng cạnh tranh. Điều này có thể tạo động lực cho một chu kỳ cải thiện chất lượng của toàn thị trường.

    Cạnh tranh thực tế có thể nằm sau mức giá niêm yết

    Nguồn cung tăng đồng nghĩa khách thuê có thêm lựa chọn. Khi đó, giá thuê niêm yết không còn phản ánh đầy đủ mức độ cạnh tranh giữa các dự án. Các chủ nhà có thể phải linh hoạt hơn về thời hạn hợp đồng, thời gian miễn tiền thuê, chi phí hoàn thiện mặt bằng, nội thất, phương án bàn giao và những dịch vụ đi kèm.

    Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp thuê văn phòng cũng cần nhìn vào tổng chi phí sử dụng trong toàn bộ vòng đời hợp đồng thay vì chỉ so sánh giá thuê trên mỗi mét vuông. Phí dịch vụ, chi phí hoàn thiện, thời gian miễn tiền thuê, mức hỗ trợ từ chủ nhà hay chi phí hoàn trả mặt bằng đều có thể tạo ra chênh lệch đáng kể giữa các lựa chọn.

    Các mô hình văn phòng hoàn thiện sẵn hoặc bàn giao một phần cũng có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư ban đầu và rút ngắn thời gian đưa văn phòng vào vận hành. Khi nhiều tòa nhà cùng sở hữu những tiêu chuẩn tương đồng về thiết kế và công trình xanh, chất lượng vận hành, dịch vụ và khả năng xây dựng cộng đồng khách thuê có thể trở thành những yếu tố ngày càng quan trọng trong quyết định lựa chọn.

    Phía Tây Hà Nội sẽ là tâm điểm của nguồn cung mới

    Với khoảng 400.000 m² nguồn cung dự kiến bổ sung trong giai đoạn 2026-2028 và khoảng 83% tập trung tại phía Tây, khu vực này sẽ là một trong những tâm điểm của sự thay đổi trên thị trường văn phòng Hà Nội. Nguồn cung mới không chỉ bổ sung diện tích cho thuê mà còn tạo thêm lựa chọn về chất lượng, tiêu chuẩn vận hành và mô hình không gian làm việc.

    Đối với những doanh nghiệp có hợp đồng hết hạn trong vòng hai đến ba năm tới, đặc biệt là các đơn vị có nhu cầu diện tích lớn hoặc nhiều tầng liền nhau, việc theo dõi nguồn cung tương lai có thể trở nên quan trọng hơn khi thị trường bước vào giai đoạn cạnh tranh mới.

    Kinh nghiệm từ Bangkok cho thấy tỷ lệ trống cao không đồng nghĩa mọi dự án đều chịu sức ép như nhau. Khác biệt về chất lượng tài sản, dịch vụ và khả năng đáp ứng nhu cầu khách thuê vẫn có thể tạo ra sự phân hóa giữa các tòa nhà.

    Với Hà Nội, khi nguồn cung mới, đặc biệt tại khu vực phía Tây, từng bước gia nhập thị trường, cán cân giữa chủ nhà và khách thuê có thể thay đổi. Khi đó, cạnh tranh sẽ không chỉ được thể hiện qua giá thuê, mà còn ở chất lượng và giá trị mà mỗi dự án mang lại cho khách thuê.

    Hà Chi

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-sap-don-400-000-m2-van-phong-canh-tranh-khong-con-chi-o-gia-thue-c56167244.epi

  • Hoàn thiện Luật Bảo vệ môi trường và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo khả thi, sát thực tiễn

    Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng kết luận – Ảnh: chinhphu.vn/Gia Huy

    Chiều 30/9, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp về việc tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ý kiến thẩm tra sơ bộ của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đối với dự án Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) và dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

    Dự cuộc họp có các Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT): Lê Trọng Yên, Đặng Ngọc Điệp; Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Thị Bích Ngọc; Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Phạm Mạnh Cường; đại diện các bộ, cơ quan liên quan.

    Thứ trưởng Bộ NN&MT Lê Trọng Yên phát biểu – Ảnh: chinhphu.vn/Gia Huy

    Bảo đảm nguồn lực, kiểm soát môi trường phù hợp thực tiễn

    Theo Thứ trưởng Bộ NN&MT Lê Trọng Yên, sau Phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và phiên họp thẩm tra sơ bộ dự án Luật ngày 18/9/2026 của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Bộ đã khẩn trương, nghiêm túc rà soát, nghiên cứu đầy đủ các kết luận để đề xuất phương án tiếp thu, giải trình, hoàn thiện dự án Luật.

    Đối với dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), trong quá trình nghiên cứu, tiếp thu, Bộ NN&MT xin ý kiến tại cuộc họp về một số kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong đó đề nghị cân nhắc việc thể chế hóa quan điểm đã xác định rõ trong Kết luận số 75-KL/TW về bảo đảm nguồn lực tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ, tốc độ tăng trưởng và quy mô nền kinh tế, bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường.

    Bên cạnh đó, cần quy định kiểm soát xả thải trên cơ sở đồng thời xem xét nồng độ, tải lượng và khả năng chịu tải thực tế của nguồn nước theo mùa, gắn với trách nhiệm công bố công khai khả năng chịu tải của lưu vực sông làm căn cứ cấp phép minh bạch, khoa học.

    Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị làm rõ việc phân cấp thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường; cơ chế phối hợp và xác định trách nhiệm của cơ quan, địa phương trong việc giải quyết thủ tục hành chính đối với dự án đầu tư có phạm vi hoạt động liên tỉnh; đồng thời xác định rõ vai trò điều phối của Bộ NN&MT trong giải quyết các vấn đề môi trường có tính liên tỉnh.

    Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đề nghị rà soát yêu cầu phải nhận diện tác động đến di sản văn hóa và việc di dân tái định cư trong báo cáo đánh giá tác động môi trường; đề nghị bổ sung các yếu tố nhạy cảm gắn trực tiếp với con người như khu dân cư tập trung, nguồn nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, di sản văn hóa, yêu cầu di dân tái định cư quy mô lớn. Đồng thời, đề nghị quy định tần suất kiểm kê khí nhà kính phù hợp với đặc thù công nghệ của một số ngành, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và năng lực của các tổ chức thẩm định.

    Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Thị Bích Ngọc phát biểu – Ảnh: chinhphu.vn/Gia Huy

    Sau khi nghe ý kiến của các bộ, ngành: NN&MT, Tài chính, Tư pháp, Xây dựng, Văn phòng Chính phủ…, kết luận cuộc họp, đối với dự án Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng thống nhất không đưa quy định bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường vào dự án Luật. Tuy nhiên, cần nêu rõ hằng năm Nhà nước vẫn bố trí, bảo đảm nguồn lực để thực hiện công tác bảo vệ môi trường.

    Về quản lý nước mặt, Phó Thủ tướng thống nhất với phương án giải trình của Bộ NN&MT, trong đó cần đánh giá đầy đủ khả năng chịu tải của nguồn nước để làm căn cứ cân đối, xem xét việc cấp phép.

    Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Phạm Mạnh Cường phát biểu – Ảnh: chinhphu.vn/Gia Huy

    Đối với tần suất kiểm kê khí nhà kính, Phó Thủ tướng đề nghị giữ quy định hiện hành là 2 năm. Trường hợp các yêu cầu, quy định quốc tế có thay đổi thì nghiên cứu điều chỉnh phù hợp. Không nên đặt thêm yêu cầu kiểm kê hằng năm khi chưa cần thiết, nhất là trong bối cảnh đang hoàn thiện chính sách để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng cao.

    Về ý kiến của Bộ Tài chính liên quan đến định mức, tiêu chuẩn chi cho môi trường, Phó Thủ tướng đề nghị Bộ NN&MT tiếp thu, quy định rõ trong dự thảo. Các nội dung về giải thích từ ngữ cũng cần được rà soát, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với các quy định liên quan.

    Thứ trưởng Bộ NN&MT Đặng Ngọc Điệp phát biểu – Ảnh: chinhphu.vn/Gia Huy

    Làm rõ quyền sử dụng biển, dữ liệu và chính sách phát triển kinh tế biển

    Đối với dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết Bộ NN&MT đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và Bộ Tư pháp hoàn thiện hồ sơ, báo cáo thẩm định trình Chính phủ và được giao báo cáo Quốc hội. Qua ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan thẩm tra, Bộ đã tiếp thu, giải trình một số nội dung.

    Về quy hoạch không gian biển, các hoạt động trên biển phải tuân thủ quy hoạch không gian biển, bảo đảm phù hợp với mục đích sử dụng, phạm vi diện tích và phương thức sử dụng. Quy hoạch được phân thành các tầng, lớp và khu vực chức năng khác nhau như nuôi trồng thủy sản, điện gió, cáp quang…, bảo đảm việc phân định khu vực giao, cho thuê không chồng chéo, đồng thời phù hợp với quy định của các luật chuyên ngành.

    Dự thảo Luật đã quy định việc xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu thống nhất, dùng chung, bảo đảm khả năng tích hợp, chia sẻ và cập nhật với cơ sở dữ liệu của ngành NN&MT, tạo điều kiện để các đối tượng có thể tiếp cận thông tin. Việc cập nhật, tiếp cận và truy nhập thông tin sẽ được phân cấp, phân quyền cụ thể; nội dung được quy định chặt chẽ trong quá trình xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu ngành.

    Về chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển, Bộ đề xuất các chính sách hỗ trợ phù hợp đối với những lĩnh vực cần khuyến khích như nuôi biển, đánh bắt và chuyển đổi nghề. Các chính sách về thuế, hỗ trợ đầu tư được phối hợp rà soát với Bộ Tài chính để bảo đảm phù hợp với pháp luật hiện hành.

    Về kiểm soát ô nhiễm, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết dự thảo Luật đã quy định rõ nguyên tắc xác định trách nhiệm, xử lý vi phạm và bồi thường thiệt hại; đồng thời quy định cụ thể cơ chế phối hợp, xác định mức đóng góp của doanh nghiệp gây ô nhiễm và phương thức phân bổ, hỗ trợ người dân, nhằm tránh khó khăn trong xử lý khi xảy ra sự cố môi trường.

    Liên quan đến nguồn kinh phí thu hồi, bồi thường, Bộ NN&MT sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ Tài chính rà soát, hoàn thiện quy định, bảo đảm phù hợp với pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản, tránh chồng chéo, xung đột giữa các luật.

    Phó Thủ tướng đề nghị Bộ NN&MT tiếp tục lấy ý kiến thành viên, rà soát, hoàn thiện về nội dung các dự án luật bảo đảm chặt chẽ trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội – Ảnh: chinhphu.vn/Gia Huy

    Cầnbảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân

    Đối với dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Thủ tướng đề nghị Bộ NN&MT tiếp tục rà soát, tiếp thu tối đa các ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhất là ý kiến của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội; đồng thời bám sát kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để giải trình, tiếp thu chặt chẽ.

    Phó Thủ tướng lưu ý, nội dung về không gian biển liên quan đến nhiều luật, do đó phải rà soát kỹ để bảo đảm không chồng lấn, mâu thuẫn với các luật khác. Về chế độ thu, chi tài chính, Phó Thủ tướng đề nghị Bộ NN&MT tiếp thu ý kiến của Bộ Tài chính, thống nhất rà soát, chỉnh sửa quy định theo hướng rõ ràng, thuận lợi cho thực hiện.

    Đặc biệt, Phó Thủ tướng lưu ý cần bổ sung quy định bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân. Việc giao, cho thuê, quản lý, vận hành các khu vực biển phải được thiết kế phù hợp, không được cản trở quyền tiếp cận biển của người dân. Các hoạt động quản lý, khai thác, dịch vụ trên biển cần được tổ chức hợp lý, bảo đảm vệ sinh, trật tự và các điều kiện phục vụ người dân nhưng vẫn phải duy trì khả năng tiếp cận, đi lại, tắm biển của cộng đồng.

    Phó Thủ tướng đề nghị Bộ NN&MT tiếp tục lấy ý kiến thành viên, rà soát, hoàn thiện về nội dung các dự án luật bảo đảm chặt chẽ trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội.

    Gia Huy

    Nguồn https://baomoi.com/hoan-thien-luat-bao-ve-moi-truong-va-luat-tai-nguyen-moi-truong-bien-va-hai-dao-kha-thi-sat-thuc-tien-c56167304.epi

  • Huế bổ nhiệm người đứng đầu 3 ban quản lý dự án sau tinh gọn

    Ông Lê Trí Thanh, Chủ tịch UBND TP Huế vừa ký quyết định bổ nhiệm 3 lãnh đạo để điều hành 3 Ban Quản lý dự án mới thành lập, hợp nhất và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/10/2026.

    Theo đó, ông Trương Văn Giang, Giám đốc Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được bổ nhiệm giữ chức Giám đốc Ban Quản lý dự án Giao thông và Nông nghiệp TP Huế.

    Ông Hồ Hữu Phú, Phó Giám đốc phụ trách Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng khu vực 2 giữ chức Phó Giám đốc và được giao quyền Giám đốc Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng Bắc Sông Hương.

    Ông Hoàng Tiến Minh, Giám đốc Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng khu vực 3, được bổ nhiệm giữ chức Giám đốc Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng Nam Sông Hương.

    Các quyết định có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, thời hạn bổ nhiệm 5 năm.

    Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng Nam Sông Hương được UBND TP Huế thành lập trên cơ sở tổ chức lại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và phát triển đô thị và Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực 3

    Trước đó, UBND TP Huế ký các quyết định thành lập Ban Quản lý dự án Giao thông và Nông nghiệp TP Huế, Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng Bắc Sông Hương và Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng Nam Sông Hương trên cơ sở sắp xếp, tổ chức 6 Ban Quản lý dự án hiện có.

    Theo đó, Ban Quản lý dự án Giao thông và Nông nghiệp TP Huế là đơn vị sự nghiệp công lập chuyên ngành, thực hiện quản lý các dự án quy mô lớn, trọng điểm trong lĩnh vực giao thông, thủy lợi; các dự án sử dụng nguồn vốn ODA, trong đó có dự án Chương trình phát triển các đô thị loại II (các đô thị xanh) – tiểu dự án TP Huế.

    Ngoài chức năng đầu tư xây dựng, đơn vị sẽ thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các dự án được giao làm chủ đầu tư.

    Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng Bắc Sông Hương có chức năng quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, công trình công cộng; thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn khu vực Bắc Sông Hương.

    Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng Nam Sông Hương có trách nhiệm tiếp nhận toàn bộ dự án, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư từ 2 đơn vị tiền thân để tiếp tục quản lý, triển khai theo địa bàn được phân công.

    Cả 3 ban quản lý dự án mới đều có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng. Mỗi đơn vị có giám đốc và không quá 3 phó giám đốc.

    NGUYỄN VƯƠNG

    Nguồn https://baomoi.com/hue-bo-nhiem-nguoi-dung-dau-3-ban-quan-ly-du-an-sau-tinh-gon-c56167116.epi

  • Hoàn thành Dự án hoàn chỉnh cao tốc CT.07 trước ngày 2/9/2027

    Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Trịnh Xuân Trường và đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thế Mạnh cùng đoàn công tác kiểm tra tiến độ thi công khu vực nút giao Thịnh Đán.

    Tham gia Đoàn công tác có các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo UBND tỉnh và đại diện các sở, ngành, địa phương, chủ đầu tư, đơn vị thi công.

    Dự án đầu tư xây dựng hoàn chỉnh cao tốc CT.07 đoạn Hà Nội – Thái Nguyên – Chợ Mới dài 99,03km, tổng mức đầu tư hơn 21.228 tỷ đồng, thực hiện theo phương thức PPP; liên danh nhà đầu tư do Công ty CP Đầu tư và Xây dựng giao thông Phương Thành đứng đầu. Đoạn Hà Nội – Thái Nguyên mở rộng lên 6 làn xe, đoạn Thái Nguyên – Chợ Mới hoàn chỉnh 4 làn xe.

    Phối cảnh khu vực nút giao Thịnh Đán thuộc Dự án đầu tư xây dựng hoàn chỉnh cao tốc CT.07, đoạn Hà Nội – Thái Nguyên – Chợ Mới.

    Kiểm tra thực địa tại nút giao Thịnh Đán, chủ đầu tư báo cáo hiện nay đang chuẩn bị 7 mũi thi công để triển khai đồng loạt, trước mắt phấn đấu cơ bản hoàn thành di dời hạ tầng điện, nước, cáp quang để phục vụ thi công trong tháng 10-2026. 

    Việc khảo sát địa chất tại các cầu, vị trí trọng yếu cơ bản hoàn tất; một số đoạn qua các xã Vô Tranh, Chợ Mới còn vướng mặt bằng, khó khăn cho việc khoan thăm dò. Chủ đầu tư đề nghị địa phương hỗ trợ để hoàn thành khảo sát trong tháng 10.

    Đoạn qua phường Phan Đình Phùng là trọng điểm quyết định tiến độ chung của toàn tuyến. Vì vậy, chủ đầu tư đề nghị các địa phương liên quan tích cực phối hợp giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư để đảm bảo tiến độ.

    Đoàn công tác kiểm tra tiến độ thi công tại nút giao Vành đai I, phường Quan Triều.

    Kiểm tra tại nút giao Vành đai I, phường Quan Triều, các địa phương báo cáo đây là đoạn có diện tích thu hồi đất lớn nhất toàn tuyến. Trong số 8 xã, phường liên quan đến dự án, riêng 4 xã, phường gồm: Quan Triều, Phú Lương, Vô Tranh, Chợ Mới có tổng diện tích thu hồi khoảng 230ha. Phường Quan Triều đã hoàn thành thống kê khoảng 64ha, đạt 100% diện tích. Tuy nhiên hiện còn vướng mắc về hệ số bồi thường và tái định cư. 

    Lãnh đạo xã Vô Tranh báo cáo tiến độ giải phóng mặt bằng phục vụ thi công Dự án.

    Xã Vô Tranh có 12km tuyến cao tốc đi qua, diện tích thu hồi đất hơn 90ha; đến nay địa phương đã bàn giao trên 22ha, dự kiến hoàn thành kiểm đếm vào đầu tháng 10. Xã Phú Lương có khoảng 35ha liên quan đến dự án, gồm một khu tái định cư và một hầm chui; tiến độ kiểm đếm hiện đạt trên 70%.

    Qua nghe báo cáo và kiểm tra thực tế, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Trịnh Xuân Trường ghi nhận, đánh giá cao sự nỗ lực, quyết tâm của chủ đầu tư, đơn vị thi công, sự phối hợp tích cực của cấp ủy, chính quyền 8 xã, phường liên quan trực tiếp đến dự án trong công tác chuẩn bị các điều kiện triển khai thi công, giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư.

    Đại diện nhà thầu báo cáo tiến độ thi công Dự án.

    Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đề nghị chủ đầu tư và các đơn vị có liên quan chuẩn bị đầy đủ các điều kiện, đảm bảo đến ngày 2/9/2027 hoàn thành Dự án đầu tư xây dựng hoàn chỉnh cao tốc CT.07 đoạn Hà Nội – Thái Nguyên – Chợ Mới đoạn từ Km8 đến Km70 để đưa vào sử dụng và tổ chức thu phí. 

    Đối với các địa phương, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy lưu ý nhiều nội dung vẫn chậm, nhất là việc triển khai các dự án tái định cư. Đồng chí yêu cầu lãnh đạo các xã, phường phải trực tiếp chỉ đạo, đề xuất các cơ chế chính sách để kịp thời tháo gỡ khó khăn, trong trường hợp cần thiết có phương án hỗ trợ tạm cư phù hợp để tạo đồng thuận trong nhân dân nhanh chóng bàn giao mặt bằng phục vụ thi công.

    Kiểm tra tại công trường cao tốc Chợ Mới – Bắc Kạn, các đơn vị báo cáo công tác giải phóng mặt bằng dự án cơ bản hoàn thành. Toàn tuyến đã chi trả 575,907 tỷ đồng tiền bồi thường, hỗ trợ cho 1.624 hộ, đạt 100% phương án được phê duyệt; bàn giao 260,31/261,8ha và 28,45/28,8km tuyến, đạt khoảng 99%. 

    Xã Thanh Mai và phường Bắc Kạn đã bàn giao toàn bộ mặt bằng. Xã Thanh Thịnh bàn giao 109/110,5ha, đạt 98,6%. Đối với phần mặt bằng còn lại, nhà đầu tư kiến nghị địa phương tiếp tục hoàn tất để phục vụ thi công.

    Khu tái định cư Thanh Thịnh đã cơ bản hoàn thành.

    Kiểm tra thực tế, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cho rằng, về cơ bản, những khó khăn, vướng mắc về mặt bằng, tái định cư đã được tập trung tháo gỡ. Trách nhiệm hiện nay chủ yếu thuộc về chủ đầu tư. Đồng chí yêu cầu chủ đầu tư, nhà thầu bổ sung nguồn lực, bảo đảm các mốc tiến độ: Thông tuyến vào cuối tháng 10-2026 và hoàn thành dự án trên toàn tuyến vào cuối tháng 6-2027.

    Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu xã Thanh Thịnh khẩn trương hoàn thiện khu tái định cư, giao đất cho người dân; thực hiện các cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đảm bảo công khai, minh bạch, đúng đối tượng; nhanh chóng bàn giao diện tích còn lại cho đơn vị thi công để đảm bảo tiến độ dự án.

    Mạnh Nghịnh- Nguyên Ngọc

    Nguồn https://baomoi.com/hoan-thanh-du-an-hoan-chinh-cao-toc-ct-07-truoc-ngay-2-9-2027-c56167444.epi

  • GẦN DÂN, LÀM VIỆC DÂN CẦN – KỲ 2: Trao trách nhiệm cho người trẻ

    Tại phường Phong Phú, chúng tôi cảm nhận nhịp sống ở nhiều khu dân cư đang có những chuyển động. Sau sắp xếp, những địa bàn trước đây vốn quen thuộc nay được mở rộng, dân cư đông hơn.

    Trong 10 TDP mới thành lập của phường Phong Phú, Điền Lộc 2 được hình thành từ hai TDP Nhất Tây và Giáp Nam cũ, với hơn 720 hộ, hơn 3.070 nhân khẩu. Đây là địa bàn khá thuận lợi khi nằm ở khu vực trung tâm, có chợ Đại Lộc, nơi trao đổi hàng hóa sầm uất của vùng Ngũ Điền; có các vùng sản xuất nông nghiệp và nhiều lợi thế về đầm phá gần biển.

    TDP Điền Lộc 2 hiện có 160ha lúa được duy trì sản xuất mỗi năm, năng suất bình quân hơn 60 tạ/ha. Bên cạnh trồng lúa, người dân còn phát triển chăn nuôi gia cầm, nuôi cá lồng ở khu vực Giáp Nam cũ. Hơn một năm trước, tuyến đường Phong Điền – Điền Lộc hoàn thành mở thêm điều kiện kết nối giữa Điền Lộc 2 với các khu vực phía bắc TP. Huế.

    Trần Đình Hải và Lê Ngọc Dũng là hai cán bộ được giao những công việc gần dân. Anh Hải hiện Uỷ viên BCH Đảng bộ, công tác tại Ban Xây dựng Đảng phường Phong Phú, nay được phân công kiêm làm Bí thư Chi bộ TDP Điền Lộc 2. Anh Dũng, từng là công an viên ở Nhất Tây, được giao làm tổ trưởng TDP. Chi bộ TDP Điền Lộc 2 hiện có 44 đảng viên.

     “Địa bàn mới thì trước hết phải gần dân để hiểu dân. Việc gì thuộc trách nhiệm của mình thì cố gắng giải quyết, việc vượt thẩm quyền thì đề xuất cấp trên”, anh Hải chia sẻ.

    Còn với anh Dũng, dù làm công việc mới nhưng nay anh thường có mặt ở tuyến đường này, mai anh lại ở khu vực nọ. Chuyện đi của anh Dũng là để nghe tâm tư, nắm những vấn đề vướng mắc, tồn tại và tìm cách giải quyết những vướng mắc từ cơ sở. Đơn cử ở xóm Vận Chuyển – khu vực thấp trũng thuộc Giáp Nam cũ, mỗi khi mưa lớn, thường ngập lũ bị chia cắt. Qua kiến nghị của người dân và địa phương đề xuất, mới đây Ủy ban  MTTQ Việt Nam thành phố hỗ trợ 2 tỷ đồng để xây dựng ngôi nhà chống lũ tại xóm Vận Chuyển. Cũng tại khu vực này, phường vừa hỗ trợ xây dựng tuyến đường bê tông dài hơn 200m, rộng 4m nối đến khu vực trung tâm vừa phục vụ đi lại vừa thuận tiện mỗi khi cần ứng cứu, sơ tán dân khi mưa lũ về.

    Nhìn con đường mới hình thành, ông Lê Văn Tân, người dân TDP Giáp Tây cũ tâm đắc: “Tuyến đường dân sinh hình thành ở khu vực Giáp Nam là từ ý Đảng, lòng dân đã nhìn về một phía”.

    Việc sắp xếp lại thôn, TDP vào đầu tháng 7/2026 vừa qua ở các phường xã, bài toán đặt ra không chỉ là ổn định tổ chức mà còn làm sao để những cộng đồng dân cư trước đây khác nhau tiếp tục gắn kết trong một địa bàn chung.

    Ở Điền Lộc 2, anh Hải và anh Dũng cùng các cán bộ trong chi bộ, TDP, các đoàn thể đã bắt đầu từ những việc thường nhật. Đó là vận động người dân giữ gìn đường làng, ngõ xóm; xử lý những điểm tập kết rác; quan tâm hộ còn khó khăn; kết nối đề xuất giúp bà con phát triển mô hình chăn nuôi, trồng trọt phù hợp… “Có những việc rất nhỏ nhưng nếu không giải quyết thì thành vướng mắc. Do vậy, việc gì thuộc khả năng, thẩm quyền giải quyết ở TDP thì cố gắng làm ngay, việc nào vượt quá thẩm quyền thì tiếp tục đề xuất cấp trên”, anh Dũng nói.

    TDP Điền Lộc 2 đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển. Khi hạ tầng giao thông được hoàn thiện, các cụm công nghiệp, cảng biển Điền Lộc và hướng phát triển du lịch sinh thái từng bước hình thành, yêu cầu đối với cán bộ cơ sở và người dân thích ứng với những thay đổi mới.

    Ông Nguyễn Ngọc Vũ, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy phường Phong Phú thông tin, sau sắp xếp, phường còn 10 TDP thay vì 25 TDP trước đây. Cùng với việc tổ chức lại địa bàn, nhiều cán bộ trẻ, có trình độ, kinh nghiệm, năng lực công tác được bố trí làm bí thư chi bộ, tổ trưởng TDP. Theo ông Vũ, đội ngũ cán bộ trẻ có kinh nghiệm thực tế là nguồn lực quan trọng ở địa phương. Các bạn năng động, tiếp cận những cách làm mới, giải quyết công việc khi dân cần một cách thỏa đáng.

    Không riêng câu chuyện TDP Điền Lộc 2, phường Phong Phú, nhiều TDP ở phường Phong Thái, Phong Điền… sau sắp xếp địa giới hành chính, cán bộ cơ sở đang đứng trước một yêu cầu cao hơn vì thôn, TDP mới rộng hơn, dân đông hơn, công việc nhiều hơn.

    Ông Nguyễn Ngọc Phương, Bí thư Đảng ủy phường Phong Thái tại hội nghị công bố, sắp xếp lại TDP ở địa phương đã bày tỏ mong muốn các bí thư chi bộ và tổ trưởng TDP vừa chỉ định theo tiêu chí mới chủ động hơn, nắm chắc tình hình và làm tốt những việc sát với đời sống người dân.

    Tại hội nghị sơ kết một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, UVTW Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn ĐBQH thành phố Huế Nguyễn Đình Trung yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, trong đó chú trọng kỹ năng tiếp dân, đối thoại, lắng nghe và giải quyết công việc; đồng thời tăng cường đối thoại, giải quyết kịp thời những kiến nghị chính đáng của người dân từ cơ sở.

    Thông điệp ấy, khi đặt vào công việc của những bí thư chi bộ, tổ trưởng TDP – nơi cánh tay nối dài của lãnh đạo phường, xã trở nên cụ thể. “Nắm chắc địa bàn, chủ động từ cơ sở, giải quyết tại chỗ” không chỉ là yêu cầu đối với bộ máy chính quyền mà còn đòi hỏi những người cán bộ cơ sở phải biết ở địa bàn đó dân đang cần gì, những trở ngại nào cần khắc phục.

    Thực tế, không phải việc gì ở TDP cũng có thể giải quyết. Có những vấn đề liên quan đến nguồn lực, quy hoạch, hạ tầng hay thẩm quyền của cấp trên. Khi đó, vai trò của cán bộ cơ sở là nắm chắc tình hình, tổng hợp đúng, đề xuất kịp thời và tiếp tục theo dõi, thông tin lại cho người dân. Cách làm ấy giúp công việc không bị đứt quãng giữa thôn, TDP với cấp phường, xã.

    Ở tầm rộng hơn, yêu cầu trao trách nhiệm đi cùng điều kiện thực hiện cũng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu gắn thẩm quyền với nguồn lực và trách nhiệm giải trình, đồng thời nâng cao năng lực cán bộ cơ sở, để công việc được giải quyết thông suốt, hiệu quả ngay từ cơ sở.

    Điều này phù hợp với những vấn đề được TP. Huế nhìn nhận sau một năm vận hành mô hình mới: quy mô quản lý của nhiều xã, phường tăng lên, yêu cầu đối với năng lực quản trị cao hơn; trong khi việc phân cấp, phân quyền, cơ sở dữ liệu, hạ tầng và nhân lực ở một số nơi vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.

    Với cán bộ thôn, TDP, được “trao quyền” không chỉ là giao thêm chức danh hay phần việc. Quan trọng hơn là tạo điều kiện để họ chủ động giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm; có sự phối hợp rõ ràng với cấp trên, các ban, ngành và được hỗ trợ về nguồn lực khi cần thiết. Khi được tin tưởng và trao đúng việc, cán bộ cơ sở có thêm cơ hội rèn luyện, trưởng thành và tạo dựng niềm tin từ chính những việc cụ thể cho cộng đồng.

    Nguồn https://baomoi.com/gan-dan-lam-viec-dan-can-ky-2-trao-trach-nhiem-cho-nguoi-tre-c56167090.epi

  • Đặc khu Thổ Châu sẽ lấn 235ha mặt biển phát triển đô thị, du lịch

    Chiều 30/9, UBND đặc khu Thổ Châu tổ chức công bố Quy hoạch chung đặc khu đến năm 2050, tỷ lệ 1/5.000. Phạm vi lập quy hoạch bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên hơn 1.398ha của 8 hòn đảo, gồm: Thổ Chu, Hòn Khô, Hòn Nhạn, Hòn Cao Cát, Hòn Từ, Hòn Xanh, Hòn Đá Bàn và Hòn Cao; cùng 235ha khu vực dự kiến lấn biển.

    Bản đồ định hướng phát triển không gian Thổ Châu.

    Thổ Châu định hướng kết hợp giữa phát triển kinh tế biển, dịch vụ hậu cần nghề cá, du lịch sinh thái với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng – an ninh và bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên.

    Du lịch hải đảo được định hướng trở thành một trong những động lực phát triển, với mục tiêu đến năm 2050 đón khoảng 100.000-150.000 lượt khách/năm.

    Quy hoạch đặt mục tiêu đến năm 2035, dân số đặc khu đạt khoảng 4.000 – 4.500 người và đến năm 2050 tăng lên khoảng 8.000 -10.000 người.

    Quang cảnh buổi công bố quy hoạch.

    Về không gian phát triển, Bãi Ngự tiếp tục được xác định là trung tâm hành chính, chính trị và kinh tế của đặc khu. Khu vực Bãi Dong, rộng khoảng 76ha, được quy hoạch phát triển cảng lưỡng dụng và trung tâm hậu cần nghề cá.

    Đáng chú ý, quy hoạch dành khoảng 235ha cho phương án lấn biển nhằm tạo quỹ đất phát triển hạ tầng đô thị, cảng biển và các dịch vụ du lịch. Việc lấn biển được định hướng kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến môi trường và hệ sinh thái tự nhiên.

    Về hạ tầng, đặc khu sẽ từng bước hoàn thiện mạng lưới đường vòng quanh đảo, nâng cấp hệ thống cấp điện với công suất dự kiến đạt 21MW vào năm 2050. Đồng thời, địa phương nghiên cứu ứng dụng giải pháp khử mặn nước biển nhằm bảo đảm nguồn cung nước sạch ổn định, bền vững.

    Một góc đặc khu Thổ Châu nhìn từ trên cao.

    Nhật Huy

    Nguồn https://baomoi.com/dac-khu-tho-chau-se-lan-235ha-mat-bien-phat-trien-do-thi-du-lich-c56167027.epi

  • Hà Nội: Chỉ đầu tư thiết chế văn hóa khi có phương án khai thác hiệu quả

    Sáng 30-9, Thường trực HĐND thành phố Hà Nội tổ chức phiên họp giải trình về việc đầu tư, khai thác, quản lý các thiết chế văn hóa, thể thao trên địa bàn thành phố.

    Làm rõ một số nội dung tại phiên họp, Phó Chủ tịch UBND thành phố Vũ Thu Hà nhấn mạnh, mục tiêu của công tác quản lý, đầu tư, khai thác thiết chế văn hóa không chỉ dừng ở việc ban hành chính sách, hay hoàn thành các thủ tục đầu tư, mà quan trọng hơn, là phải giải quyết được những bất cập thực tế ở cơ sở, để người dân thực sự được thụ hưởng các thiết chế văn hóa.

    UBND thành phố sẽ tiếp thu các ý kiến tại phiên họp giải trình, phân công rõ trách nhiệm, tiến độ và tăng cường phối hợp giữa các ngành, các cấp để tổ chức thực hiện hiệu quả.

    Quang cảnh phiên họp giải trình. Ảnh: Văn Tuyến

    Phó Chủ tịch UBND thành phố Vũ Thu Hà cho biết, về mô hình quản lý, việc chuyển từ mô hình chính quyền địa phương ba cấp sang hai cấp từ ngày 1-7-2025 đã đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh phương thức quản lý, khai thác các thiết chế văn hóa đã được đầu tư.

    Theo phân cấp, đối với các thiết chế văn hóa thuộc cấp thành phố, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là đầu mối quản lý. Đối với các thiết chế nằm trên địa bàn xã, phường, địa phương đó chịu trách nhiệm quản lý.

    Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy một số bất cập, như thiết chế trước đây được đầu tư với quy mô phục vụ cấp quận/huyện, nay giao cho cấp xã/phường quản lý nên không còn phù hợp về quy mô và phạm vi hoạt động. Nhận diện những vướng mắc, UBND thành phố đã giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch rà soát, xây dựng phương án khai thác, sử dụng. Trường hợp địa phương xác định không đủ khả năng duy tu, duy trì, vận hành, có thể đề xuất bàn giao về thành phố.

    Bên cạnh đó, thành phố tiếp tục yêu cầu các địa phương xây dựng phương án cụ thể, trình cơ quan chuyên môn thẩm định và theo dõi, đánh giá hiệu quả hoạt động thực chất của các thiết chế văn hóa. Qua đó, thành phố sẽ có phương án xử lý tổng thể, tránh tình trạng nơi thiếu thiết chế phải đề xuất đầu tư, trong khi nơi khác lại có công trình chưa khai thác hết công suất.

    Phó Chủ tịch UBND thành phố Vũ Thu Hà nhấn mạnh, các thiết chế văn hóa, thể thao trước hết phải ưu tiên phục vụ người dân. Do vậy, việc có chỉ tiêu thiết chế văn hóa và chỉ tiêu hoạt động hiệu quả thiết chế văn hóa là cần thiết.

    UBND thành phố đã giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẩn trương rà soát, xây dựng lại danh mục, tiêu chí về thiết chế văn hóa cho phù hợp với yêu cầu mới. Thiết chế văn hóa cần được tiếp cận rộng hơn, không chỉ theo mô hình truyền thống (có khuôn viên, nhà, phòng họp…), mà phải tính đến không gian công cộng và các loại hình phù hợp.

    Phó Chủ tịch UBND thành phố Vũ Thu Hà làm rõ một số nội dung tại phiên họp. Ảnh: Văn Tuyến

    “Phải xác định lại tiêu chí, danh mục về thiết chế văn hóa của Thủ đô phù hợp với từng loại hình khu dân cư để gắn với tổ chức các hoạt động. Từ đó, mới có thể xác định chỗ nào cần đầu tư và đầu tư như thế nào”, Phó Chủ tịch UBND thành phố Vũ Thu Hà nói.

    Về định hướng đầu tư, Phó Chủ tịch UBND thành phố Vũ Thu Hà cho biết, quan điểm của thành phố là những dự án có khả năng xã hội hóa, có nhà đầu tư tham gia thì ưu tiên tạo điều kiện để triển khai. Các vị trí thuận lợi, phù hợp quy hoạch sẽ được công khai danh mục để kêu gọi đầu tư.

    Hiện nay, UBND thành phố đã rà soát toàn bộ danh mục đầu tư công thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam để điều chỉnh, tập trung cho những dự án thực sự cần thiết, có tính dẫn dắt, trọng tâm, trọng điểm, đẩy mạnh kêu gọi nguồn lực xã hội hóa.

    Song song với đó, một số dự án ngoài ngân sách gặp vướng mắc cũng đã được thành phố tháo gỡ, tạo điều kiện để dự án tiếp tục triển khai.

    Các quy định cụ thể hóa nghị quyết của HĐND thành phố về huy động nguồn lực đầu tư các loại hình gắn với công nghiệp văn hóa cũng đã được ban hành. Trên cơ sở đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai đến các nhóm đối tượng liên quan và đánh giá hiệu quả thực tế.

    Về tổ chức thực hiện, thời gian qua, UBND thành phố đã giao các sở, ngành hướng dẫn chi tiết, trong đó, Sở Tài chính tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn. Tuy nhiên, qua triển khai, có nội dung không còn vướng về cơ chế, chính sách nhưng mức độ thực hiện giữa các địa phương chưa đồng đều. Thời gian tới, thành phố sẽ tăng cường kiểm tra, giám sát; quán triệt quan điểm chỉ đầu tư khi có phương án tổ chức hoạt động hiệu quả và có người chịu trách nhiệm.

    Phó Chủ tịch UBND thành phố Vũ Thu Hà cũng nhấn mạnh, thành phố sẽ tiếp tục huy động các nguồn lực, trong đó có nguồn lực trong nhân dân, để tổ chức các hoạt động văn hóa phù hợp, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu thụ hưởng văn hóa của người dân.

    Phương Ngân – Văn Tuyến

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-chi-dau-tu-thiet-che-van-hoa-khi-co-phuong-an-khai-thac-hieu-qua-c56167065.epi

  • Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc: Tháo gỡ phải đưa dự án thực sự trở lại hoạt động

    Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc, Trưởng Ban Chỉ đạo về giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc các dự án tồn đọng (Ban Chỉ đạo 751) chủ trì cuộc họp của Ban Chỉ đạo – Ảnh: chinhphu.vn/Phương Nguyên

    Phát biểu mở đầu, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị các thành viên Ban Chỉ đạo rà soát thực chất kết quả tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án tồn đọng, xác định rõ những vấn đề còn vướng mắc và giải pháp xử lý trong thời gian tới.

    Phó Thủ tướng Thường trực lưu ý việc có phương án tháo gỡ chưa phải là kết quả cuối cùng; quan trọng là sau khi được xử lý vướng mắc, các dự án phải tiếp tục được triển khai, đi vào hoạt động, phát huy hiệu quả và đóng góp cho phát triển kinh tế – xã hội.

    71% số dự án đã được xử lý, không còn khó khăn, vướng mắc

    Theo báo cáo của Bộ Tài chính – Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 751, Hệ thống 751 ghi nhận cả nước có 5.012 dự án khó khăn, vướng mắc, với tổng diện tích sử dụng đất 213.581 ha, tổng mức đầu tư 3.688.751 tỷ đồng.

    Theo số liệu cập nhật trên Hệ thống 751, 3.557 dự án, với tổng diện tích 139.404 ha, tổng mức đầu tư 2.490.432 tỷ đồng, đã được xử lý, không còn khó khăn, vướng mắc, chiếm 71% tổng số dự án.

    Trong số này, 855 dự án đã hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng; 2.121 dự án được tháo gỡ vướng mắc để tiếp tục triển khai; 581 dự án được thu hồi hoặc chấm dứt.

    Bên cạnh đó, 1.131 dự án, với tổng diện tích 56.405 ha, tổng mức đầu tư 779.047 tỷ đồng, đang được các bộ, ngành, địa phương tiếp tục xử lý theo thẩm quyền, chiếm 23% tổng số dự án.

    Còn 158 dự án, với tổng diện tích sử dụng đất 13.073 ha, tổng mức đầu tư 229.410 tỷ đồng, được đề xuất thuộc thẩm quyền xử lý của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan Trung ương, chiếm 3% tổng số dự án. Trong đó, 34 dự án được đề xuất thuộc thẩm quyền xử lý của Quốc hội và 124 dự án thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan Trung ương.

    Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc phát biểu kết luận cuộc họp của Ban Chỉ đạo – Ảnh: chinhphu.vn/Phương Nguyên

    Theo Bộ Tài chính, số dự án này không lớn về số lượng nhưng chủ yếu là những dự án khó, phức tạp về pháp lý, kéo dài qua nhiều thời kỳ pháp luật; một số vướng mắc mang tính đặc thù, chưa thể áp dụng các cơ chế, chính sách đã được ban hành để tháo gỡ.

    Báo cáo cũng cho thấy tiến độ, chất lượng rà soát và cập nhật dữ liệu tại một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu; thông tin về tình huống pháp lý, nguyên nhân, thẩm quyền xử lý và giải pháp đề xuất còn chưa đầy đủ.

    Về thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách nhà nước, theo số liệu cập nhật trên Hệ thống 751, tổng số tiền đã nộp ngân sách là 52.634 tỷ đồng, gồm 33.410 tỷ đồng trước ngày 1/1/2025, 13.804 tỷ đồng trong năm 2025 và 5.420 tỷ đồng trong năm 2026. Tuy nhiên, đến thời điểm báo cáo mới có 20 địa phương cập nhật thông tin, còn 12 địa phương chưa cập nhật.

    Thứ trưởng Bộ Tài chính Tạ Anh Tuấn báo cáo – Ảnh: chinhphu.vn/Phương Nguyên

    Thảo luận tại cuộc họp, các thành viên Ban Chỉ đạo tập trung phân tích những vướng mắc về pháp luật, thẩm quyền xử lý và sự phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình tháo gỡ các dự án. Các ý kiến cho rằng cần phân loại rõ từng nhóm dự án, xác định cụ thể vướng mắc và cơ quan có thẩm quyền giải quyết; những vấn đề có tính chất tương tự cần được tổng hợp để có hướng dẫn thống nhất hoặc hoàn thiện quy định pháp luật.

    Các đại biểu cũng đề nghị chuẩn hóa số liệu, thống nhất tiêu chí đánh giá kết quả xử lý, bảo đảm việc xác định dự án đã được tháo gỡ phản ánh đúng thực chất, phân biệt giữa dự án mới có phương án xử lý với dự án đã đủ điều kiện tiếp tục triển khai, thực hiện các nghĩa vụ liên quan và đi vào hoạt động.

    Rõ trách nhiệm, thời hạn; lấy kết quả thực chất làm thước đo

    Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài là nhiệm vụ quan trọng nhằm chống thất thoát, lãng phí, khơi thông nguồn lực tài chính, đất đai, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế.

    Bên cạnh những kết quả đạt được, Phó Thủ tướng Thường trực chỉ rõ tiến độ, chất lượng rà soát, cập nhật dữ liệu tại một số cơ quan, địa phương còn chưa đáp ứng yêu cầu; dữ liệu còn thiếu đồng bộ, chưa làm rõ nguyên nhân, nội dung vướng mắc và thẩm quyền giải quyết. Công tác phối hợp, hướng dẫn xử lý có lúc chưa chặt chẽ, kịp thời; vẫn còn tình trạng trông chờ, đùn đẩy những vấn đề thuộc thẩm quyền lên cấp trên.

    Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu các nhiệm vụ phải xác định rõ trách nhiệm, công việc, thời hạn và kết quả. Những việc thuộc thẩm quyền của bộ, ngành, địa phương phải chủ động giải quyết, không đùn đẩy, né tránh; lãnh đạo các bộ, địa phương chịu trách nhiệm xử lý các dự án khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền theo phân công và quy định.

    Đối với những vấn đề vượt thẩm quyền hoặc pháp luật chưa có quy định, cơ quan quản lý chuyên ngành phải chủ động nghiên cứu, đề xuất phương án xử lý hoặc sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật; xác định cụ thể vướng mắc ở quy định nào, cần sửa văn bản nào, cơ quan nào chủ trì và thời hạn thực hiện.

    Lãnh đạo các bộ, ngành phát biểu – Ảnh: chinhphu.vn/Phương Nguyên

    Bộ Tài chính được giao rà soát, hoàn thiện nội dung, biểu mẫu, trường thông tin của Hệ thống 751, bảo đảm dữ liệu khoa học, thống nhất, đầy đủ, thuận lợi cho cập nhật, khai thác và theo dõi tiến độ. Các địa phương có trách nhiệm cập nhật đầy đủ, chính xác tình hình xử lý dự án trên hệ thống.

    Đối với 1.131 dự án đang được các bộ, ngành, địa phương tiếp tục xử lý theo thẩm quyền, Phó Thủ tướng Thường trực giao Bộ Tài chính phân loại theo từng bộ, ngành, địa phương, thống nhất thời hạn hoàn thành và đưa vào kế hoạch theo dõi, đôn đốc.

    Đối với 158 dự án được đề xuất thuộc thẩm quyền xử lý của Trung ương, các bộ, cơ quan phải làm rõ từng vướng mắc, căn cứ pháp luật và phương án xử lý; nêu cụ thể vướng ở quy định nào, cần sửa văn bản pháp luật nào, hình thức sửa, cơ quan chủ trì và thời hạn thực hiện.

    Trong đó, 34 dự án thuộc thẩm quyền Quốc hội phải được tổng hợp, báo cáo Chính phủ trước ngày 30/10/2026; 124 dự án thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan Trung ương phải báo cáo Chính phủ trước ngày 20/10/2026.

    Bộ Tài chính hoàn thiện kế hoạch cụ thể theo từng nhóm dự án để theo dõi, đôn đốc và báo cáo kết quả tại phiên họp tiếp theo của Ban Chỉ đạo.

    Phó Thủ tướng Thường trực cũng yêu cầu khẩn trương hoàn thiện việc kiện toàn Ban Chỉ đạo và Quy chế hoạt động; nghiên cứu tổ chức bộ phận hoặc đầu mối giúp việc để tăng cường phối hợp thường xuyên giữa Cơ quan Thường trực và các thành viên Ban Chỉ đạo.

    Cùng với xử lý từng dự án, các bộ, ngành phải tiếp tục rà soát, kiểm tra, giám sát, tổng kết thực tiễn để kịp thời sửa đổi, bổ sung những bất cập trong các quy định pháp luật về đất đai, đầu tư, đấu thầu, nhà ở, kinh doanh bất động sản, xây dựng, quy hoạch, khoáng sản và quản lý tài sản công.

    Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu xây dựng quy trình phối hợp liên ngành giữa các cơ quan hành pháp, tư pháp và địa phương, bảo đảm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc gắn với xem xét, xử lý trách nhiệm và khắc phục hậu quả; xây dựng tiêu chí, hướng dẫn chuyên ngành để đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh cũng như khả năng, điều kiện khắc phục hậu quả của dự án.

    Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc: Sau khi được tháo gỡ, các dự án phải thực sự được triển khai, đi vào hoạt động, khai thác hiệu quả, tạo việc làm, giá trị gia tăng, khơi thông nguồn lực và đóng góp thực chất cho phát triển kinh tế-xã hội – Ảnh: chinhphu.vn/Phương Nguyên

    Quá trình tháo gỡ phải bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, không hợp thức hóa sai phạm, không để thất thoát, lãng phí; đồng thời bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.

    Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh thước đo cuối cùng không phải chỉ là số lượng dự án đã có phương án xử lý. Sau khi được tháo gỡ, các dự án phải thực sự được triển khai, đi vào hoạt động, khai thác hiệu quả, tạo việc làm, giá trị gia tăng, khơi thông nguồn lực và đóng góp thực chất cho phát triển kinh tế-xã hội.

    Chủ đầu tư cũng phải chủ động phối hợp xây dựng phương án tháo gỡ, bảo đảm năng lực và cam kết triển khai dự án sau khi những khó khăn, vướng mắc được xử lý.

    Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát, lấy kết quả xử lý thực chất làm thước đo; tổ chức các cuộc họp của Ban Chỉ đạo thiết thực, hiệu quả, không để những khó khăn, vướng mắc tiếp tục kéo dài qua nhiều phiên họp.

    Phương Nguyên

    Nguồn https://baomoi.com/pho-thu-tuong-thuong-truc-pham-gia-tuc-thao-go-phai-dua-du-an-thuc-su-tro-lai-hoat-dong-c56167057.epi

  • Thu hút doanh nghiệp đầu tư tại Mộc Châu

    Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc làm việc với Công ty Cổ phần Tập đoàn BIM.

    Các đại biểu dự cuộc làm việc.

    Dự cuộc làm việc có các đồng chí: Hà Trung Chiến, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; Nguyễn Minh Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Đào Tài Tuệ, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Xây dựng; lãnh đạo các sở, ngành và đơn vị liên quan.

    Đại diện BIM Group phát biểu tại cuộc làm việc.

    BIM Group là tập đoàn kinh tế tư nhân đa ngành, hoạt động trong các lĩnh vực bất động sản, nông nghiệp – thực phẩm, năng lượng tái tạo và dịch vụ tiêu dùng. Đại diện BIM Group đã đánh giá cao tiềm năng của Sơn La, nhất là Khu du lịch Quốc gia Mộc Châu về khí hậu, cảnh quan và bản sắc văn hóa; đồng thời mong muốn nghiên cứu đầu tư các dự án du lịch nghỉ dưỡng, đô thị, dịch vụ và nông nghiệp gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Tập đoàn đề xuất phối hợp với tỉnh khảo sát địa điểm, lựa chọn các dự án khả thi, phù hợp định hướng phát triển của địa phương.

    Đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh phát biểu tại cuộc làm việc.

    Tại cuộc làm việc, các đại biểu đã trao đổi, thảo luận về một số lĩnh vực BIM Group quan tâm nghiên cứu đầu tư; hiện trạng sử dụng đất, quy mô và ranh giới dự kiến; khả năng kết nối hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật; các yêu cầu về quy hoạch, đất đai, môi trường, giải phóng mặt bằng và trình tự, thủ tục thực hiện dự án…

    Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu tại cuộc làm việc.

    Phát biểu tại cuộc làm việc, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao sự quan tâm và các ý tưởng, đề xuất của BIM Group; khẳng định tỉnh Sơn La luôn đồng hành, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư nghiên cứu, triển khai các dự án phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, đề nghị BIM Group tiếp tục nghiên cứu, khảo sát kỹ tiềm năng, quy hoạch và không gian phát triển của khu vực Mộc Châu; trên cơ sở thế mạnh, kinh nghiệm của doanh nghiệp, đề xuất các ý tưởng, dự án đầu tư phù hợp, bảo đảm đồng bộ giữa phát triển đô thị, du lịch, dịch vụ với bảo tồn cảnh quan, môi trường và phát huy bản sắc văn hóa địa phương. Các sở, ngành, địa phương phối hợp cung cấp thông tin về quy hoạch, đất đai và các điều kiện liên quan để BIM Group nghiên cứu, đề xuất phương án đầu tư phù hợp, góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

    Huy Thành

    Nguồn https://baomoi.com/thu-hut-doanh-nghiep-dau-tu-tai-moc-chau-c56166898.epi

  • Gìn giữ những ngôi nhà mái bổi

    Một trong những ngôi nhà lợp mái bổi tại Bảo tàng Đồng Quê.

    Độc đáo kiến trúc vùng ven biển

    Tại xã Quỹ Nhất, giữa không gian làng quê đang từng ngày đổi thay, những ngôi nhà lợp mái bổi vẫn được một số gia đình gìn giữ. Qua tìm hiểu, phía sau mỗi nếp nhà là câu chuyện về cách người dân tận dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ để dựng nhà, thích ứng với điều kiện tự nhiên, duy trì nếp sinh hoạt qua nhiều thế hệ.

    Ngôi nhà mái bổi được dựng từ năm 1978 của gia đình ông Ngô Gia Thoáng, xã Quỹ Nhất.

    Ông Ngô Gia Thoáng, chủ nhân ngôi nhà mái bổi được dựng từ năm 1978 ở xã Quỹ Nhất, cho biết: “Bổi (cây cói) là loại cây đặc trưng sinh trưởng mạnh ở các vùng đất bãi mặn, lợ ven biển. Quá trình thu hoạch cói của bà con nông dân thường được phân loại kỹ. Những cây cói có thân nhỏ, chiều dài đều từ 1,5 đến 1,6m sẽ được tuyển chọn để phục vụ nghề dệt chiếu truyền thống. Trong khi đó, những cây cói thân to, ngắn hơn hoặc cói loại sẽ được cắt, phơi khô trên các bờ bãi rồi đem về làm nguyên liệu lợp mái nhà.”

    Ở nhiều địa phương, mái nhà truyền thống thường sử dụng rơm, rạ; trong khi đó, việc dùng cây cói để lợp mái tạo nên nét kiến trúc riêng ở một số vùng bãi bồi, lấn biển. Ngoài xã Quỹ Nhất, những ngôi nhà mái bổi còn lại ở Ninh Bình hiện nay chủ yếu nằm rải rác tại các xã Hải Thịnh, Lai Thành, Kim Đông, Bình Minh…

    Đến thăm gia đình ông Vũ Văn Phi tại xã Lai Thành, chúng tôi được tận mắt chiêm ngưỡng ngôi nhà cấp 4 lợp mái bổi với tuổi đời 160 năm, được gia đình ông Phi gìn giữ qua 5 thế hệ. Căn nhà được xây dựng với diện tích rộng trên 50m2, thiết kế theo lối truyền thống gồm 3 gian giữa và 2 chái, bao quanh là hệ thống tường xây kiên cố. Ba gian nhà chính giữa không gian mở, trang trọng được gia chủ dùng làm phòng khách và nơi sinh hoạt chung, hai bên kê giường, tủ. Hai gian chái đóng vai trò như phần không gian kín đáo để làm buồng ngủ hoặc cất giữ những tài sản, vật dụng quan trọng của gia đình.

    Ngôi nhà mái bổi của gia đình ông Vũ Văn Phi, xã Lai Thành

    Điểm nhấn làm nên giá trị đặc trưng của những ngôi nhà là phần mái bổi đồ sộ. Mái nhà được lợp công phu với độ dày lớn, phần nóc thường dày từ 70cm đến 1m, hai bên mái dày trên 50cm. Với khối lượng bổi lớn, để gánh được phần mái, đòi hỏi hệ thống khung nhà phải được làm từ những cây gỗ to, chắc; hệ thống đòn tay, rui, mè bằng luồng chịu lực tốt, liên kết chặt chẽ bằng dây mây. Đặc biệt, trên nóc nhà lợp cói đều có những ụ cói nhỏ bện chặt vào xà nhà nhằm giúp giữ mái vững trước gió bão, đồng thời tạo nét mềm mại trang trí cho ngôi nhà.

    Chính đặc tính của cây cói giúp những ngôi nhà mái bổi thích ứng tốt với điều kiện thời tiết vùng ven biển. Thân cây cói xốp, rỗng, chứa nhiều không khí bên trong nên có khả năng cách nhiệt tốt, ấm áp vào mùa đông, mát mẻ mùa hè. Ngoài ra, bề mặt thân cói bóng, trơn mượt nên khi trời mưa, nước thoát nhanh, hạn chế tình trạng đọng nước, ngấm dột. Nhờ đặc tính của cây cói và cách làm mái phù hợp, những ngôi nhà mái bổi trải qua hàng chục năm, dù nằm ngay vùng rốn bão ven biển vẫn đứng vững chãi.

    Theo kinh nghiệm của những người dân gắn bó với nhà lợp bổi, mái càng nặng thì càng đầm, càng chắc chắn trước gió mưa. Nếu được bảo dưỡng thường xuyên, mái bổi có thể sử dụng trong nhiều năm trước khi phải lợp lại. Để bảo quản mái, người dân thường xuyên phải dùng dụng cụ cạo sạch lớp mùn, đất, cát đọng trên mái và có biện pháp phòng chống chuột cắn phá.

    Nỗ lực gìn giữ những nếp nhà xưa

    Quá trình tồn tại và gắn bó với đời sống sinh hoạt của người dân ven biển đã biến nhà mái bổi từ một công trình che mưa, che nắng thông thường trở thành nét văn hóa đặc sắc. Trước những năm 1995, khi điều kiện kinh tế chung còn nhiều khó khăn, nhà mái bổi là lựa chọn phổ biến của vùng quê nghèo. Lúc bấy giờ, diện tích trồng cói lên tới hàng trăm héc-ta, người dân dễ dàng tận dụng nguồn cói loại, giá rẻ ngay tại địa phương để dựng nhà. Thế nhưng, ngày nay, việc lợp và duy trì một ngôi nhà mái bổi trở nên khó khăn hơn, từ nguồn nguyên liệu đến nhân công và chi phí bảo dưỡng.

    Cận cảnh kết cấu chịu lực bên trong ngôi nhà mái bổi

    Hiện tại, phần lớn diện tích đất bãi ven biển đã được chuyển đổi cơ cấu sang trồng cây nông nghiệp hiệu quả cao hoặc nuôi trồng thủy sản, khiến nguồn cung cói tại chỗ khan hiếm. Ông Ngô Gia Thoáng, xã Quỹ Nhất cho biết thêm: “Nếu như trước đây nguồn bổi lợp nhà có thể dễ dàng tìm mua ngay tại các vùng bãi bồi ven biển trong tỉnh, thì nay muốn lợp phải đánh xe vào tận vùng Nga Sơn (Thanh Hóa) mới có thể đặt mua đủ nguyên liệu”. Theo ông, chi phí để lợp đủ 5 gian nhà mái bổi mới hiện nay đắt gấp 2-3 lần so với lợp nhà ngói.

    Không chỉ tốn kém về nguyên liệu, quá trình thi công cần một lượng lớn nhân công. Ông Vũ Văn Phi chia sẻ thêm: “Muốn lợp mái phải thuê hàng chục người tuốt cói cho thẳng, rồi mới đưa lên mái. Công việc này cần người có kinh nghiệm, làm liên tục mới đảm bảo mái chắc và đều. Mỗi lần lợp lại mái phải mất gần một tháng mới hoàn thành”.

    Ngoài ra, chi phí bảo trì nhà bổi cũng khá tốn kém. Do ảnh hưởng của thời tiết nắng mưa, gió heo may hàng năm, lớp cói trên cùng của mái sẽ bị xoăn và rụng xuống. Gia chủ phải thường xuyên thuê thợ về dặm, chải lại mái. Theo chu kỳ, cứ sau 3 năm phải bảo dưỡng nóc nhà một lần và khoảng 20-30 năm thì dỡ ra lợp lại toàn bộ mái. Mỗi lần đại tu, số tiền bỏ ra lên tới hàng trăm triệu đồng, một phần vì giá cói đắt đỏ, phần vì thợ biết lợp bổi lành nghề ngày càng thưa thớt, đẩy công thợ lên cao.

    Hệ thống mái bổi đồ sộ được gia cố cẩn thận, giúp nếp nhà đứng vững trước điều kiện thời tiết khắc nghiệt của vùng ven biển.

    Với gia đình ông Vũ Văn Phi, những khoản chi phí và công sức ấy vẫn đáng để bỏ ra. Ngôi nhà 160 năm tuổi đã gắn với 5 thế hệ, lưu giữ nhiều ký ức và nếp sinh hoạt của gia đình. Mỗi dịp lễ, Tết, con cháu từ nhiều nơi lại trở về sum họp dưới mái bổi. Vì thế, ông vẫn cố gắng tu sửa, giữ lại ngôi nhà để con cháu sau này còn có một nơi tìm về và hiểu hơn về nếp nhà của mình.

    Bà Ngô Thị Khiếu, Giám đốc Bảo tàng Đồng Quê, xã Giao Ninh

    Ý thức bảo tồn nét kiến trúc nhà mái bổi đã vượt ra khỏi phạm vi từng gia đình. Tại xã Giao Ninh, trong khuôn viên Bảo tàng Đồng Quê do nhà giáo Ngô Thị Khiếu làm chủ nhân, những nếp nhà mái bổi đã được phục dựng bài bản. Bà Khiếu cho biết: “Để dựng lại không gian chân thực nhất về đời sống các tầng lớp xã hội xưa (từ bần nông, trung nông đến địa chủ), tôi đã lặn lội sưu tầm, mua lại những ngôi nhà nguyên bản có tuổi đời từ 70 – 100 năm mang về phục dựng. Việc xây dựng 5 gian nhà mái bổi trong bảo tàng đã tiêu tốn tới hơn 30 tấn bổi, thi công ròng rã nhiều ngày với kỹ thuật công phu”. Từ khi đi vào hoạt động, những ngôi nhà mái bổi tại bảo tàng đã đón hàng vạn du khách từ nhiều địa phương đến tham quan, tìm hiểu về đời sống, văn hóa và kiến trúc vùng ven biển.

    Những ngôi nhà mái bổi còn lại hôm nay lưu giữ kiến trúc gắn với quá trình khai phá, định cư và văn hóa của cư dân bãi bồi. Trong điều kiện vật liệu, nhân công và kỹ thuật lợp mái ngày càng khan hiếm, việc duy trì những ngôi nhà mái bổi cần sự chung tay của gia đình, cộng đồng và địa phương. Khi được gìn giữ đúng cách, kết nối với các hoạt động trải nghiệm, du lịch cộng đồng, những mái nhà làm từ cây cói sẽ tiếp tục phát huy giá trị văn hóa, góp phần lưu giữ dấu ấn riêng của vùng đất ven biển./.

    Bài và ảnh: Viết Dư

    Nguồn https://baomoi.com/gin-giu-nhung-ngoi-nha-mai-boi-c56166948.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!