Author: bachdn

  • Hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh

    Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và các Phó Chủ tịch Quốc hội tại Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ Nhất. Ảnh: Hồ Long

    Bảo đảm đồng bộ, thống nhất, khả thi trong tổ chức thực hiện

    Các nội dung sửa đổi, hoàn thiện và bổ sung của dự thảo Luật tập trung vào chuyển mạnh từ quản lý theo ngành sang quản trị hiện đại, tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia, hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực biển; đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển.

    Tại Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ Nhất, nhiệm kỳ khóa XVI, các đại biểu cho rằng, các nội dung dự thảo Luật cơ bản bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, dự thảo Luật điều chỉnh nhiều quan hệ liên quan đến quản lý không gian biển, quyền sử dụng khu vực biển, công trình trên biển, vùng bờ và bảo vệ môi trường liên quan trực tiếp với các luật chuyên ngành khác nên một số nội dung trong dự thảo Luật cần được rà soát, làm rõ để bảo đảm thống nhất.

    ĐBQH Nguyễn Thị Thu Nguyệt (Đắk Lắk) cơ bản thống nhất với Tờ trình dự án Luật và nội dung dự thảo Luật. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị, cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, chỉnh lý để bảo đảm tính thống nhất về bản chất pháp lý cũng như cơ chế tài chính đối với các hình thức sử dụng khu vực biển được quy định trong dự thảo Luật.

    ĐBQH Nguyễn Thị Thu Nguyệt (Đắk Lắk) phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Hồ Long

    Khoản 1, Điều 24 dự thảo Luật quy định nhà nước xác lập ghi nhận quyền sử dụng khu vực biển bằng ba hình thức: giao khu vực biển, cho thuê khu vực biển và xác nhận đăng ký sử dụng khu vực biển. Đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt đề nghị, cơ quan soạn thảo nên tách bạch về cơ chế tài chính đối với ba hình thức giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Cần làm rõ đối với trường hợp đăng ký sử dụng khu vực biển thì căn cứ nào làm phát sinh nghĩa vụ nộp tiền, căn cứ tính tiền, thời điểm phát sinh nghĩa vụ và hình thức nộp tiền? Theo đại biểu, có thể nghiên cứu chỉnh lý khoản 4, Điều 32 dự thảo Luật theo hướng quy định riêng hình thức nộp tiền đối với trường hợp được cho thuê khu vực biển và trường hợp đăng ký sử dụng khu vực biển thay vì quy định chung trong cùng một điểm như dự thảo hiện nay.

    Cùng với đó, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt đề nghị, rà soát khoản 1 và khoản 2 của Điều 32 để bảo đảm thống nhất với khoản 4, Điều 32 và khoản 1, Điều 24. Đại biểu nhấn mạnh, việc chỉnh lý lần này nhằm tránh áp dụng cùng một cơ chế tài chính cho những hình thức có nội hàm bản chất pháp lý khác nhau đã được nêu rõ trong dự thảo luật. Đồng thời, bảo đảm tính minh bạch, dễ thực hiện và tránh phát sinh cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng.

    Về quyền và nghĩa vụ của tổ chức cá nhân, tại khoản 6, khoản 7 và khoản 9 của Điều 33, dự thảo Luật quy định các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính, hệ quả pháp lý khi chuyển nhượng dự án chia tách doanh nghiệp, ký quỹ bảo đảm, quản lý dữ liệu biên giới… Đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt cho rằng, các nội dung quy định tại điều này thiên về quản lý nhà nước hoặc hệ quả pháp lý khi chuyển nhượng chứ không thuần tuý quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân. Do vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo chỉnh lý lại về mặt kỹ thuật lập pháp cho phù hợp.

    Cùng với đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát điểm c, khoản 6, Điều 33 dự thảo Luật để thống nhất với khoản 4, Điều 34 dự thảo Luật. Bởi lẽ, tại điểm c khoản 6 điều 33 quy định trường hợp giao dịch làm thay đổi chủ sở hữu hưởng lợi, quyền chi phối, quyền kiểm soát doanh nghiệp hoặc thay đổi tỷ lệ sở hữu của nhà nước đầu tư nước ngoài chỉ được thực hiện sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của các cơ quan quốc phòng – an ninh, ngoại giao.

    Tuy nhiên, quy định tiếp theo yêu cầu mọi trường hợp làm thay đổi chủ sở hữu hưởng lợi, quyền chi phối, quyền kiểm soát doanh nghiệp hoặc thay đổi tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đều phải có ý kiến đồng ý bằng văn bản của cơ quan quốc phòng – an ninh, ngoại giao. Theo đại biểu, quy định này rất rộng, có thể làm phát sinh thêm nhiều thủ tục chồng lấn với khoản 4, Điều 34. Nêu ra điểm bất hợp lý này, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt đề nghị, chỉ áp dụng một cơ chế kiểm soát đặc biệt đối với giao dịch thuộc khu vực, lĩnh vực có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến quốc phòng – an ninh, đối ngoại, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển hoặc các trường hợp pháp luật về đầu tư quy định phải kiểm soát. Đại biểu cũng đề nghị, cơ quan soạn thảo làm rõ tiêu chí về chủ sở hữu, hưởng lợi quyền chi phối, quyền kiểm soát để bảo đảm minh bạch, khả thi trong tổ chức thực hiện.

    Thiết kế chính sách ưu đãi theo mức ưu tiên

    Ở góc nhìn khác, ĐBQH Nguyễn Minh Tâm (Quảng Trị) cho rằng, đối với rất nhiều người dân sống ven biển, biển không chỉ là không gian phát triển du lịch, dịch vụ mà còn là nơi mưu sinh, neo đậu tàu thuyền, khai thác thủy sản và sinh hoạt của cộng đồng.

    ĐBQH Nguyễn Minh Tâm (Quảng Trị) phát biểu. Ảnh: Hồ Long

    Vì vậy, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tâm đồng tình với việc dự thảo Luật đưa quyền tiếp cận biển của người dân thành một nội dung được quy định trong luật. Tuy nhiên, đại biểu cũng cho rằng, quyền tiếp cận biển của người dân còn liên quan đến nhiều loại quy hoạch, dự án và quyền sử dụng đất, khu vực biển. Do đó, cần quy định rõ để bảo đảm quyền tiếp cận của người dân; đồng thời, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của từng khu vực, tránh quy định cứng trong luật dẫn tới khó thực hiện.

    Đại biểu Nguyễn Minh Tâm cho rằng, việc dự thảo Luật quy định quy hoạch, dự án và việc giao, cho thuê khu vực biển phải bảo đảm lối tiếp cận biển công cộng; tổ chức, cá nhân không được cản trở quyền tiếp cận này là định hướng đúng, song cần cụ thể hơn để sau này chính quyền địa phương có căn cứ kiểm tra và xử lý.

    ĐBQH Lê Đào An Xuân (Đắk Lắk) phát biểu. Ảnh: Phạm Thắng

    Cũng quan tâm đến quyền lợi của người dân, ĐBQH Lê Đào An Xuân (Đắk Lắk) tán thành với dự thảo Luật bổ sung nhóm chính sách ưu đãi hỗ trợ phát triển các hoạt động kinh tế trên biển và hải đảo. Song, đại biểu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ các địa phương nâng cao năng lực thu hút đầu tư biển và hỗ trợ người dân phải chuyển đổi nghề, chuyển đổi sinh kế do yêu cầu bảo vệ nguồn lợi, bảo vệ môi trường và tổ chức lại không gian biển.

    Đại biểu Lê Đào An Xuân đề nghị, cần thiết kế chính sách ưu đãi theo mức ưu tiên, tránh tình trạng nhiều đối tượng cùng được hưởng ở mức cao nhất. Bên cạnh đó, đại biểu Lê Đào An Xuân nhận thấy, dự thảo Luật hiện tổng hợp khá nhiều ưu đãi từ các dự thảo luật khác. Trong đó, nhiều nội dung trùng lặp lại với các chính sách ưu đãi được nêu tại Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đầu tư, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo… Do vậy, đại biểu đề nghị, các chính sách ưu đãi về thuế đất đai, đầu tư, tín dụng, đối tác công – tư, khoa học – công nghệ nên được thực hiện theo luật chuyên ngành. Luật này chỉ quy định các chính sách gắn với sử dụng không gian biển, tiền sử dụng biển, hạ tầng biển dùng chung, địa bàn biển khó thu hút đầu tư, chuyển đổi sinh kế cộng đồng và bảo vệ phục hồi hệ sinh thái biển.

    Nhật An

    Nguồn https://baomoi.com/hoan-thien-the-che-phat-trien-quoc-gia-bien-manh-c56167157.epi

  • Cải tạo, nâng cấp ĐT.108 đoạn Thuận Châu – Co Mạ

    Trung tâm xã Co Mạ.

    Dự án được triển khai trên địa bàn các xã Thuận Châu, Nậm Lầu và Co Mạ, thời gian thực hiện từ năm 2026 đến 2030. Trong đó, năm 2026 sẽ tập trung chuẩn bị dự án; giai đoạn 2027-2030 thực hiện xây dựng, hoàn thành công trình và quyết toán dự án.

    Theo Quyết định, tuyến đường được cải tạo, nâng cấp với tổng chiều dài khoảng 40 km, chia thành 3 đoạn có quy mô đầu tư khác nhau. Trong đó, đoạn Km0-Km1+033 được xây dựng theo tiêu chuẩn đường đô thị, nền đường rộng 17,5 m, mặt đường 10,5 m, hè phố rộng 7m, đồng thời đầu tư hệ thống điện chiếu sáng, thoát nước, cây xanh và an toàn giao thông đồng bộ.

    Đoạn từ Km1+033 đến Km3+200 được đầu tư phân kỳ, tận dụng đường hiện có, cải tạo, nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp III miền núi. Đoạn Km3+200-Km40 tiếp tục tận dụng tối đa tuyến đường cũ, cải tạo, nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp V miền núi; các công trình trên tuyến và hệ thống an toàn giao thông được xây dựng đồng bộ.
    Dự án nhằm khắc phục tình trạng tuyến đường hư hỏng, xuống cấp, đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, nâng cao khả năng khai thác, tạo thuận lợi cho giao lưu, phát triển kinh tế – xã hội; từng bước hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch và góp phần củng cố quốc phòng – an ninh trên địa bàn.

    UBND tỉnh giao các cơ quan, đơn vị liên quan phối hợp hoàn thiện hồ sơ, thực hiện các thủ tục đầu tư theo quy định; đồng thời tham mưu phân bổ, giao kế hoạch vốn phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn và tiến độ thực hiện dự án.

    Tin, ảnh: Việt Anh

    Nguồn https://baomoi.com/cai-tao-nang-cap-dt-108-doan-thuan-chau-co-ma-c56167133.epi

  • E cần tìm phòng tc trên dưới 2tr 1 chút ạ,ac hỗ trợ e vs ạ

    fb post id 2035000370537564

     

    E cần tìm phòng tc trên dưới 2tr 1 chút ạ,ac hỗ trợ e vs ạ

  • An Giang: Thông qua Quy hoạch Đặc khu Thổ Châu

    Theo Quyết định số 364/QĐ-UBND của UBND Đặc khu Thổ Châu phạm vi lập quy hoạch Đặc khu Thổ Châu bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên 1.398,04 ha của 8 hòn đảo (Thổ Chu, Hòn Khô, Hòn Nhạn, Hòn Cao Cát, Hòn Từ, Hòn Xanh, Hòn Đá Bàn, Hòn Cao) và 235 ha khu vực dự kiến lấn biển.

    Quang cảnh Hội nghị thông qua quy hoạch

    Đồ án quy hoạch đặt ra các mục tiêu tăng trưởng cụ thể theo hai giai đoạn. Về dân số, dự kiến quy mô sẽ đạt khoảng 4.000 – 4.500 người vào năm 2035 và tăng lên 8.000-10.000 người vào năm 2050.

    Ngành du lịch hải đảo tại Đặc khu Thổ Châu được kỳ vọng bứt phá mạnh mẽ, hướng tới đón 100.000-150.000 lượt khách/năm vào năm 2050.

    Không gian Đặc khu Thổ Châu sẽ được tổ chức tập trung với các phân vùng chức năng rõ rệt. Trong đó, Bãi Ngự tiếp tục giữ vai trò là trung tâm hành chính, chính trị và kinh tế. Khu vực Bãi Dong rộng 76 ha được quy hoạch thành cảng lưỡng dụng và trung tâm hậu cần nghề cá hiện đại.

    Đặc biệt, Đặc khu Thổ Châu sẽ có khu lấn biển 235 ha nhằm tạo quỹ đất phát triển hạ tầng đô thị, cảng biển và dịch vụ du lịch.

    Một góc Đặc khu Thổ Châu (Ảnh: Phương Vũ)

    Để đồng bộ hạ tầng, Đặc khu Thổ Châu sẽ hoàn thiện mạng lưới đường vòng quanh đảo, nâng cấp hệ thống cấp điện (đạt 21 MW năm 2050) và ứng dụng giải pháp lọc nước biển thành nước ngọt để đảm bảo nguồn cung nước sinh hoạt bền vững.

    Đặc khu Thổ Châu có vị trí chiến lược của vùng biển Tây Nam. Định hướng phát triển cốt lõi của Đặc khu Thổ Châu là kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển, dịch vụ hậu cần nghề cá, du lịch sinh thái với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng-an ninh và bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên.

    Phú Khởi

    Nguồn https://baomoi.com/an-giang-thong-qua-quy-hoach-dac-khu-tho-chau-c56167201.epi

  • Rà soát, hoàn thiện hai dự án luật về bảo vệ môi trường và tài nguyên biển

    Hoàn thiện 2 dự án luật

    Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo. Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN.

    Tại cuộc họp, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Bộ đã tiếp thu các ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, các cơ quan liên quan để hoàn thiện 2 dự án luật; bảo đảm đồng bộ với các dự án luật liên quan, quy định chuyển tiếp và điều kiện thi hành.

    Về dự án Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên xin ý kiến về một số nội dung trong Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và cơ quan thẩm tra, tập trung vào nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường; kiểm soát xả thải gắn với khả năng chịu tải của nguồn nước; phân cấp thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết thủ tục môi trường đối với dự án liên tỉnh; yêu cầu năng lực đối với tổ chức tư vấn môi trường; nhận diện các yếu tố nhạy cảm trong đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và tần suất kiểm kê khí nhà kính…

    Trong đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị cân nhắc thể chế hóa yêu cầu bảo đảm nguồn lực tương xứng, bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường; kiểm soát xả thải trên cơ sở nồng độ, tải lượng và khả năng chịu tải thực tế của nguồn nước theo mùa, gắn với công khai khả năng chịu tải của lưu vực sông. Đồng thời, đề nghị làm rõ phân cấp thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM, cấp giấy phép môi trường và trách nhiệm điều phối của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối với các vấn đề môi trường liên tỉnh.

    Cơ quan thẩm tra đề nghị rà soát yêu cầu về năng lực đối với tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn môi trường, cân nhắc cơ chế quản lý theo hướng công khai, minh bạch và tăng cường chế tài xử lý vi phạm; đồng thời làm rõ các tiêu chí năng lực ngay trong luật nếu tiếp tục quy định. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đề nghị rà soát việc nhận diện tác động đến di sản văn hóa, di dân tái định cư trong báo cáo ĐTM; bổ sung các yếu tố nhạy cảm như khu dân cư tập trung, nguồn nước cấp cho sinh hoạt, di sản văn hóa, di dân tái định cư quy mô lớn và quy định tần suất kiểm kê khí nhà kính phù hợp với đặc thù ngành, chi phí tuân thủ và năng lực thẩm định.

    Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên báo cáo. Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN.

    Về Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), các nội dung được Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp thu, giải trình tập trung vào quy hoạch không gian biển; cơ sở dữ liệu dùng chung; kiểm soát ô nhiễm và trách nhiệm bồi thường; chính sách thu hút đầu tư; thẩm định, giao khu vực biển; phân cấp, phân quyền và hoạt động nhận chìm ở biển…

    Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, các hoạt động trên biển phải tuân thủ quy hoạch không gian biển, phù hợp mục đích, phạm vi và phương thức sử dụng; việc phân định các khu vực chức năng như nuôi trồng thủy sản, điện gió, cáp quang phải bảo đảm không chồng chéo và phù hợp pháp luật chuyên ngành. Dự thảo cũng quy định xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu thống nhất, dùng chung, có cơ chế tích hợp, chia sẻ, cập nhật và phân cấp quyền tiếp cận.

    Về kiểm soát ô nhiễm, dự thảo quy định nguyên tắc xác định trách nhiệm, xử lý vi phạm và bồi thường thiệt hại, cùng cơ chế phối hợp, xác định trách nhiệm của doanh nghiệp gây ô nhiễm và hỗ trợ người dân. Về thu hút đầu tư kinh tế biển, Bộ đã phối hợp với Bộ Tài chính rà soát chính sách hỗ trợ, bảo đảm phù hợp pháp luật về đầu tư, thuế.

    Đối với thẩm định, giao khu vực biển, Bộ đề xuất tiếp tục lấy ý kiến các cơ quan Quốc phòng, Công an, Ngoại giao, Công Thương và cơ quan liên quan, nhất là đối với khu vực nhạy cảm về quốc phòng, an ninh; đồng thời làm rõ phân cấp, phân quyền giữa các cấp. Đối với hoạt động nhận chìm ở biển, Bộ tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định theo hướng đơn giản, nhanh gọn, không phát sinh thủ tục không cần thiết nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu và quản lý chất nhận chìm.

    Hài hòa lợi ích phát triển kinh tế với cộng đồng ven biển

    Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo. Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN.

    Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho biết, theo pháp luật về ngân sách nhà nước, việc cân đối, bố trí ngân sách nhà nước cần đảm bảo tính linh hoạt, phù hợp với điều kiện đất nước trong từng giai đoạn cụ thể. Việc luật hóa mức sàn (tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước) chi sự nghiệp bảo vệ môi trường sẽ tạo sự cứng nhắc trong phân bổ ngân sách. Vì vậy, không quy định cứng tỷ lệ tối thiểu mà thực hiện theo các văn bản của Trung ương, Bộ Chính trị và Chính phủ chỉ đạo điều hành.

    Thống nhất với phương án giải trình về kiểm soát xả thải vào nguồn nước mặt, Phó Thủ tướng nhấn mạnh, việc cấp phép cần dựa trên đánh giá khả năng chịu tải thực tế của nguồn nước, bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường, đồng thời phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục hoàn thiện quy định, làm rõ các trường hợp không được phép xả thải và biện pháp kiểm soát để bảo đảm cơ sở khoa học, chặt chẽ trong quá trình thực hiện.

    Liên quan đến phân cấp thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM của các dự án liên tỉnh, Phó Thủ tướng yêu cầu rà soát kỹ quy định hiện hành, nhất là cơ chế phối hợp và xác định trách nhiệm giữa các cơ quan, địa phương khi dự án có phạm vi hoạt động trên địa bàn nhiều tỉnh.

    Trên cơ sở đánh giá thực tiễn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu phương án phân cấp phù hợp, bảo đảm rõ đầu mối, rõ trách nhiệm và thuận lợi trong tổ chức thực hiện.

    Phó Thủ tướng lưu ý, cùng với việc nâng cao chất lượng thẩm định ĐTM, cần tăng cường hậu kiểm, kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường sau khi dự án được phê duyệt. Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiểm tra thực tế một số dự án liên tỉnh đã được phân cấp thẩm định để có thêm cơ sở đánh giá, hoàn thiện quy định.

    Với các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn môi trường, Phó Thủ tướng yêu cầu tiếp tục rà soát quy định về điều kiện năng lực; xác định rõ những nội dung cần quy định trong luật và nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết, bảo đảm chặt chẽ, khả thi.

    Về tần suất kiểm kê khí nhà kính, Phó Thủ tướng đề nghị rà soát kỹ các cam kết, yêu cầu quốc tế có liên quan; trên cơ sở đó xác định tần suất phù hợp, tránh phát sinh chi phí tuân thủ không cần thiết cho doanh nghiệp.

    Với dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục rà soát, tiếp thu đầy đủ, phù hợp các ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lãnh đạo Quốc hội và cơ quan thẩm tra; bám sát kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để hoàn thiện dự thảo và báo cáo giải trình, tiếp thu.

    Quy hoạch không gian biển liên quan đến nhiều lĩnh vực và luật chuyên ngành, vì vậy phải được rà soát kỹ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, không chồng chéo, mâu thuẫn với các quy định pháp luật khác. Nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội cần được quy định trong luật; những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm tính linh hoạt, khả thi.

    Phó Thủ tướng cũng yêu cầu nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan về hoạt động nhận chìm ở biển, bảo đảm quy định rõ ràng, thuận lợi trong tổ chức thực hiện.

    Phó Thủ tướng đặc biệt lưu ý, việc giao, cho thuê, quản lý và khai thác các khu vực biển cần hài hòa giữa yêu cầu phát triển kinh tế, quản lý tài nguyên với lợi ích chính đáng của cộng đồng dân cư ven biển. Các quy định cần tạo điều kiện để địa phương quản lý, khai thác hiệu quả khu vực biển, phát triển các dịch vụ phù hợp, bảo đảm vệ sinh, cảnh quan, đồng thời duy trì khả năng tiếp cận biển của người dân, tránh phát sinh những rào cản không cần thiết.

    Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục hoàn thiện hai dự án luật cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp, bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, khả thi trước khi trình cấp có thẩm quyền.

    Diệp Trương/TTXVN

    Nguồn https://baomoi.com/pho-thu-tuong-ra-soat-hoan-thien-hai-du-an-luat-ve-bao-ve-moi-truong-va-tai-nguyen-bien-c56167184.epi

  • Tháo gỡ vướng mắc 26 dự án Chương trình mục tiêu quốc gia

    Đồng chí Đặng Ngọc Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, chủ trì cuộc làm việc.

    Đối với 26 dự án giao thông khởi công mới giai đoạn 2021-2025, tổng mức đầu tư hơn 382,5 tỷ đồng; ngân sách Trung ương đã giao hơn 150,3 tỷ đồng, giải ngân hơn 140,2 tỷ đồng, đạt 93% kế hoạch, còn thiếu hơn 232,2 tỷ đồng để hoàn thành các dự án. Đối với Hợp phần 2 thuộc Chương trình MTQG giai đoạn 2026-2030, tổng nhu cầu vốn đầu tư công trung hạn cấp tỉnh là 332 tỷ đồng; riêng năm 2026 cần 6,6 tỷ đồng, dự kiến đầu tư cơ sở vật chất cho 20 trường THPT và phổ thông dân tộc nội trú. Tại các xã, việc rà soát, phân bổ danh mục đầu tư công trung hạn và kế hoạch năm 2026 đang được triển khai, hoàn thiện thủ tục theo quy định.

    Lãnh đạo Sở Dân tộc và Tôn giáo phát biểu tại cuộc làm việc.

    Các đại biểu dự cuộc làm việc.

    Lãnh đạo Sở Xây dựng phát biểu tại cuộc làm việc.

    Tại cuộc làm việc, đại diện các sở, ngành đã trao đổi, làm rõ một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai các dự án, nhất là nguồn vốn còn thiếu để hoàn thành 26 công trình, dự án thuộc Chương trình 1719; việc chuẩn bị danh mục, bố trí nguồn lực thực hiện Hợp phần 2 giai đoạn 2026-2030.

    Đồng chí Đặng Ngọc Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, phát biểu kết luận cuộc làm việc.

    Phát biểu kết luận, đồng chí Đặng Ngọc Hậu yêu cầu các sở, ngành, địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn 26 dự án thuộc Chương trình 1719; khẩn trương nghiệm thu, thanh quyết toán các dự án đã hoàn thành khối lượng. Tăng cường hướng dẫn thực hiện Hợp phần 2, nhất là hỗ trợ nhà ở, bảo đảm đúng đối tượng, quy định; ưu tiên nguồn lực cho các dự án có khả năng thực hiện, giải ngân, tránh để vốn tồn đọng, góp phần nâng cao hiệu quả Chương trình.

    Hồng Sâm

    Nguồn https://baomoi.com/thao-go-vuong-mac-26-du-an-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-c56167178.epi

  • Đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri các địa phương

    Các đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri phường Bách Quang.

    * Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Nguyên gồm các đồng chí: Nguyễn Thanh Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội; Ngô Tuấn Anh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh; Hà Sỹ Huân, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh, tiếp xúc cử tri phường Bách Quang. 

    Dự buổi tiếp xúc cử tri có đồng chí Bùi Văn Lương, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh. Cùng dự có các đồng chí: Vũ Duy Hoàng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ tỉnh; Dương Văn Lượng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh.

    Đồng chí Bùi Văn Lương, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh và các đại biểu dự buổi tiếp xúc cử tri.

    Tại buổi tiếp xúc, ĐBQH Ngô Tuấn Anh thông báo tới cử tri dự kiến nội dung, chương trình Kỳ họp thứ hai; báo cáo kết quả giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến Đoàn ĐBQH tỉnh từ sau kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI đến nay.

    Theo đó, dự kiến Kỳ họp thứ hai khai mạc vào ngày 17/10/2026 và bế mạc ngày 20/11/2026; Kỳ họp tiến hành thành 2 đợt (đợt 1 từ ngày 17/10 – 13/11, đợt 2 từ ngày 19 – 20/11/2026), dự kiến xem xét, thông qua 45 dự án luật, nghị quyết; xem xét, quyết định các vấn đề kinh tế – xã hội, tài chính, ngân sách, giám sát và các vấn đề quan trọng khác.

    Cử tri phường Bách Quang bày tỏ đồng thuận và đánh giá cao nội dung dự kiến được xem xét, quyết định tại Kỳ họp thứ hai; đặc biệt là những kết quả liên quan đến giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến Đoàn ĐBQH của tỉnh.

    Trong phần kiến nghị, cử tri phản ánh việc quy hoạch hành lang thoát lũ sông Cầu trên địa bàn phường khiến nhiều hộ dân không đủ điều kiện cấp phép xây nhà ổn định cuộc sống, và một số vấn đề khác.

    Cử tri phát biểu tại buổi tiếp xúc. 

    Cử tri phát biểu tại buổi tiếp xúc.

    Các ý kiến thuộc thẩm quyền của tỉnh được lãnh đạo UBND tỉnh và các sở, ngành trực tiếp trả lời; đồng thời tiếp thu để chỉ đạo giải quyết. Đối với những vấn đề khác, Đoàn ĐBQH tỉnh tổng hợp để trình Quốc hội, chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Lượng phát biểu tại Hội nghị.

    Cho rằng các ý kiến của cử tri là kênh thông tin hết sức quan trọng để đánh giá hiệu quả, tính khả thi của các chính sách đã được ban hành và thực thi, thay mặt Đoàn ĐBQH tỉnh, đồng chí Nguyễn Thanh Hải đề nghị UBND tỉnh xem xét, phân loại các ý kiến thuộc thẩm quyền để giao các sở, ban, ngành, địa phương giải quyết.

    Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thanh Hải phát biểu tại buổi tiếp xúc cử tri phường Bách Quang.

    Đồng chí mong muốn cử tri tiếp tục quan tâm, đề xuất, phản ánh, kiến nghị, đồng hành cùng các ĐBQH tỉnh Thái Nguyên.

    * Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Nguyên gồm các đồng chí: Hoàng Duy Chinh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Dân tộc của Quốc hội; Phạm Thị Thu Thủy, Trưởng Ban Văn hóa – Xã hội HĐND tỉnh Thái Nguyên có buổi tiếp xúc cử tri xã Vạn Phú. Cùng dự có đại diện Thường trực HĐND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh và các sở, ngành của tỉnh.

    Đồng chí Hoàng Duy Chinh trò chuyện với cử tri xã Vạn Phú.

    Tại buổi tiếp xúc, cử tri xã Vạn Phú kiến nghị nhiều vấn đề liên quan đến công tác giải quyết hồ sơ đất đai; quản lý, bảo vệ rừng; chế độ, chính sách đối với trưởng thôn sau sáp nhập; quản lý, sử dụng nhà văn hóa sau sắp xếp; đầu tư, sửa chữa đường giao thông nông thôn và chính sách đối với người cao tuổi.

    Cử tri cũng phản ánh tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ và đánh bắt chim tại khu vực ven hồ Núi Cốc, đề nghị tăng cường kiểm tra, quản lý.

    Cử tri xã Vạn Phú phát biểu.

    Đại diện các sở, ngành và địa phương đã trao đổi, giải đáp một số nội dung thuộc thẩm quyền; các kiến nghị còn lại được tiếp thu để xem xét, giải quyết theo quy định.

    Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Hoàng Duy Chinh thông tin khái quát tình hình kinh tế – xã hội của cả nước và tỉnh Thái Nguyên, trong đó nhấn mạnh những kết quả tích cực về tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách, thu hút đầu tư, xuất khẩu, cùng các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế và bảo đảm an sinh.

    Đồng chí Hoàng Duy Chinh phát biểu tại buổi tiếp xúc.

    Đối với Vạn Phú, đồng chí cho rằng địa phương có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp, thương mại – dịch vụ và du lịch, nhất là phát huy giá trị cây chè, sản phẩm OCOP, lợi thế khu vực hồ Núi Cốc và từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng để mở rộng không gian phát triển.

    Tiếp thu các ý kiến, kiến nghị của cử tri, đồng chí đề nghị UBND tỉnh cùng các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan tiếp tục rà soát, xem xét, giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền; những nội dung cần thời gian xử lý phải thông tin rõ tiến độ, kết quả để cử tri theo dõi.

    Các kiến nghị thuộc thẩm quyền Trung ương sẽ được Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh tổng hợp, chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét và nghiên cứu phản ánh trong các hoạt động của Quốc hội.

    Đồng chí Hoàng Duy Chinh và các đại biểu trao các suất quà tặng đối tượng chính sách là người cao tuổi trên địa bàn xã Vạn Phú.

    Tại chương trình, đồng chí Hoàng Duy Chinh và các đại biểu trao 15 suất quà tặng đối tượng chính sách là người cao tuổi trên địa bàn xã Vạn Phú.

    * Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên gồm các đồng chí: Nguyễn Đăng Bình, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; Hồ Thị Kim Ngân, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đã tiếp xúc cử tri xã Chợ Mới.

    Quang cảnh buổi tiếp xúc.

    Tại buổi tiếp xúc, cử tri xã Chợ Mới kiến nghị nhiều vấn như: Đề nghị tiếp tục có chính sách hỗ trợ, bố trí nguồn lực cho các xã miền núi phát triển du lịch cộng đồng; bổ sung biên chế cho cấp xã để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sau sắp xếp tổ chức bộ máy; quan tâm chính sách tiền lương đối với người nghỉ hưu.

    Cử tri cũng đề nghị bố trí nguồn lực xây dựng, nâng cấp nhà văn hóa, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng tại các khu dân cư sau sắp xếp thôn, tổ dân phố; xem xét nâng mức hỗ trợ, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện các công trình, dự án…

    Cử tri xã Chợ Mới phát biểu.

    Cử tri xã Chợ Mới phát biểu.

    Phát biểu tại buổi tiếp xúc, đồng chí Nguyễn Đăng Bình ghi nhận, đánh giá cao những ý kiến, kiến nghị của cử tri, đồng thời trao đổi, làm rõ một số nội dung thuộc thẩm quyền.

    Những nội dung thuộc thẩm quyền của tỉnh, đồng chí đề nghị các cơ quan liên quan nghiên cứu, tham mưu giải quyết theo quy định, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền của Trung ương, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh sẽ tổng hợp, chuyển đến Quốc hội và các cơ quan chức năng xem xét, giải quyết.

    Đồng chí Nguyễn Đăng Bình phát biểu tại buổi tiếp xúc.

    Đồng chí Nguyễn Đăng Bình đề nghị chính quyền địa phương tiếp tục nắm chắc tình hình cơ sở, kịp thời tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhất là các vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống người dân; qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của cử tri.

    Thu Trà

    Nguồn https://baomoi.com/dai-bieu-quoc-hoi-tiep-xuc-cu-tri-cac-dia-phuong-c56167096.epi

  • Xã Phú Ninh rà soát, lên phương án di dời các hộ dân vùng nguy cơ sạt lở

    Quang cảnh cuộc họp. Ảnh: N.ĐOAN

    Trên cơ sở rà soát, tổ công tác xã Phú Ninh đã lập danh sách 64 hộ dân với 225 nhân khẩu nằm trong vùng nguy cơ sạt lở tại các thôn: Bồng Miêu, Phước Bắc, Kỳ Sơn.

    Trong đó, thôn Bồng Miêu có 22 hộ có nguyện vọng và được đề xuất di dời tập trung, 13 trường hợp hỗ trợ ổn định tại chỗ, 2 trường hợp cần xem xét lại. Thôn Phước Bắc có 16 trường hợp đề xuất di dời tập trung, 7 trường hợp hỗ trợ ổn định tại chỗ, 1 trường hợp cần xem xét lại. Thôn Kỳ Sơn có 2 hộ đề xuất di dời tập trung và 1 hộ di dời xen ghép.

    Khu vực từng xảy ra sạt lở đất, hiện thuộc vùng có nguy cơ sạt lở cao tại thôn Bồng Miêu. Ảnh: N.ĐOAN

    Tại cuộc họp, các thành viên tổ công tác thông tin cụ thể về từng trường hợp được rà soát (hiện trạng đất ở, nguy cơ sạt lở, nhu cầu, phương án di dời…); từ đó thảo luận, thống nhất lập danh sách chính thức các đối tượng được xem xét di dời tập trung, trường hợp cần vận động quay về nơi ở cũ, hỗ trợ ổn định tại chỗ và di dời xen ghép khi có thiên tai, bão lũ.

    Theo lãnh đạo UBND xã Phú Ninh, việc rà soát, lập danh sách các hộ dân vùng nguy cơ sạt lở nhằm xây dựng phương án di dời đến nơi ở mới theo cơ chế, chính sách hỗ trợ sắp xếp, ổn định dân cư miền núi, vùng thiên tai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2026 – 2030 theo Nghị quyết số 63/2026/NQ-HĐND ngày 29/6/2026 của HĐND thành phố.

    HÀN GIANG

    Nguồn https://baomoi.com/xa-phu-ninh-ra-soat-len-phuong-an-di-doi-cac-ho-dan-vung-nguy-co-sat-lo-c56167102.epi

  • Quảng Trị tìm giải pháp xử lý hiệu quả các trụ sở dôi dư sau sáp nhập

    Ngày 30/9, đồng chí Vương Quốc Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy đã đi kiểm tra các trụ sở công dôi dư trên địa bàn phường Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Tại buổi kiểm tra, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị yêu cầu: Đối với 5 trụ sở công dôi dư đã có nhà đầu tư quan tâm, trong đó có trụ sở Tỉnh ủy Quảng Trị (cũ) tại địa chỉ số 30, đường Hùng Vương, phường Đông Hà và trụ sở UBND tỉnh Quảng Trị (cũ) tại địa chỉ số 45, đường Hùng Vương, phường Đông Hà, đơn vị chủ trì là Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh phối hợp cùng Sở Tài chính đẩy nhanh tiến độ thực hiện thủ tục bàn giao cho nhà đầu tư trước ngày 30/10.

    Đồng chí Vương Quốc Tuấn, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị đã kiểm tra thực tế và có hướng chỉ đạo xử lý các trụ sở dôi dư sau sáp nhập.

    Đối với 18 trụ sở còn lại thuộc danh mục 23 trụ sở UBND tỉnh đã thống nhất chủ trương cho thuê; giao các sở, ngành kêu gọi, vận động nhà đầu tư tiếp tục quan tâm, tìm hiểu, chuyển đổi mục đích sử dụng sang các lĩnh vực y tế, giáo dục, nhà ở xã hội, văn phòng đại diện của doanh nghiệp, nhà đầu tư tại Quảng Trị… Hoàn thành phương án xử lý đối với các trụ sở này trước ngày 15/11.

    Trụ sở Tỉnh uỷ tỉnh Quảng Trị (cũ) ở phường Đông Hà sẽ được bàn giao cho nhà đầu tư phù hợp.

    Đối với các trụ sở ở xã, phường dôi dư do sáp nhập địa giới hành chính, tỉnh Quảng Trị xây dựng chủ trương bố trí, chuyển đổi công năng thành nhà văn hóa sinh hoạt cộng đồng; trung tâm chăm sóc sức khỏe nhân dân gắn với chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; hỗ trợ các trường học xây dựng thư viện…

    Được biết, UBND tỉnh Quảng Trị cũng vừa có văn bản thống nhất chủ trương cho phép Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Quảng Trị thực hiện cho thuê 10 cơ sở nhà, đất đã được cấp có thẩm quyền giao quản lý, xử lý.

    Các trụ sở cũ sẽ được cho thuê.

    Theo văn bản thống nhất chủ trương của UBND tỉnh, 10 cơ sở nhà, đất được phép cho thuê nằm tại khu vực Đông Hà và Đồng Hới, như: Trụ sở Viện Kiểm sát cũ tại số 7 đường Lê Quý Đôn; trụ sở Chi cục Kinh tế hợp tác và Quản lý chất lượng tại số 49 đường Trần Hưng Đạo; trụ sở Đảng ủy Khối Doanh nghiệp tại số 26 đường Trần Hưng Đạo và cơ sở Trung tâm Quản lý di tích và Bảo tàng tỉnh tại số 180 đường Trần Hưng Đạo; trụ sở Người cao tuổi Đồng Phú; Trung tâm Dân số – Kế hoạch hóa gia đình cũ; khu tập thể Tỉnh ủy cũ và Nhà khách huyện Tuyên Hóa tại số 11 đường Lê Lợi…

    Quảng Trị sẽ xử lý các trụ sở công dôi dư sau hợp nhất tỉnh, phường, xã tránh lãng phí.

    Mục tiêu đặt ra của tỉnh Quảng Trị là nhanh chóng xử lý các trụ sở công dôi dư sau hợp nhất tỉnh, phường, xã, tránh lãng phí nguồn lực và từng bước chuyển đổi công năng, phục vụ hiệu quả đời sống dân sinh. Đồng chí Vương Quốc Tuấn, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị yêu cầu các sở ngành liên quan tham mưu UBND tỉnh xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi trình HĐND tỉnh thông qua tại kỳ họp sắp tới; trong đó ưu tiên các chính sách hỗ trợ tối đa cho nhà đầu tư như giảm thuế, giảm giá thuê đất; trên cơ sở tính toán giá trị tài sản còn lại của các trụ sở công dôi dư để xây dựng chính sách cho thuê ngắn hạn theo từng năm, phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

    Sông Lam-Thanh Bình

    Nguồn https://baomoi.com/quang-tri-tim-giai-phap-xu-ly-hieu-qua-cac-tru-so-doi-du-sau-sap-nhap-c56167120.epi

  • Ban Chỉ đạo 333 triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý IV

    Ban Chỉ đạo 333 họp triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026.

    Dự cuộc họp có các đồng chí: Dương Tú Anh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy; Nguyễn Thành Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; các thành viên Ban Chỉ đạo 333 và lãnh đạo một số sở, ngành liên quan.

    Đồng chí Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ phát biểu.

    Ban Chỉ đạo 333 được thành lập theo Quyết định số 333-QĐ/TU ngày 8/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, có nhiệm vụ chỉ đạo triển khai 3 nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, gồm: Nghị quyết số 05-NQ/TU về phát triển nông nghiệp bền vững gắn với công nghiệp chế biến; Nghị quyết số 13-NQ/TU về giải quyết những tồn tại, vướng mắc, quản lý, sử dụng hiệu quả đất có nguồn gốc nông, lâm trường; Nghị quyết số 14-NQ/TU về rà soát, sắp xếp, ổn định dân cư tại các khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất, ngập úng.

    Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường phát biểu.

    Thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU, tỉnh tiếp tục tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, gắn với chế biến và thị trường. Toàn tỉnh duy trì 80.600 ha cây ăn quả, sản lượng ước đạt 521.500 tấn; hơn 44.000 ha cà phê, sản lượng ước đạt gần 51.000 tấn nhân. Đã số hóa dữ liệu truy xuất nguồn gốc đáp ứng quy định EUDR cho hơn 6.731 ha cà phê; duy trì 169 mã số vùng trồng, trong đó 152 mã số phục vụ xuất khẩu. Chỉ số sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo 8 tháng tăng 7,91% so với cùng kỳ; giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 151,2 triệu USD, tăng 12,78%.

    Đối với Nghị quyết số 13-NQ/TU, tỉnh tập trung giải quyết những tồn tại trong quản lý, sử dụng 18.851 ha đất do các công ty nông, lâm nghiệp bàn giao về địa phương; triển khai đo đạc, rà soát hồ sơ pháp lý, xác minh nguồn gốc sử dụng đất. Đến nay, đã hoàn thành đo đạc chi tiết tại 5/7 công ty thuộc diện triển khai.

    Thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TU, tỉnh đã rà soát, khảo sát thực địa 80 điểm dân cư tại 35 xã, phường có nguy cơ lũ ống, lũ quét, sạt lở đất, ngập úng để phân loại mức độ nguy hiểm và xác định khu vực ưu tiên di dời. Đã khởi công mới 7 dự án bố trí cho 222 hộ tại 8 điểm sạt lở nguy hiểm; tiếp tục triển khai 6 dự án chuyển tiếp để di chuyển 254 hộ.

    Tại cuộc họp, các đại biểu tập trung làm rõ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện 3 nghị quyết, nhất là việc tổ chức sản xuất theo chuỗi, phát triển công nghiệp chế biến; xác định nguồn gốc, xử lý diện tích đất nông, lâm trường; giải phóng mặt bằng, bố trí quỹ đất và nguồn lực thực hiện các dự án sắp xếp dân cư. Các đại biểu cũng cho ý kiến vào dự thảo Đề án di chuyển đàn bò sữa tại phường Vân Sơn và phường Thảo Nguyên. Theo dự thảo Đề án, có 124 hộ với 5.042 con bò sữa thuộc diện phải di chuyển. Các ý kiến tập trung vào việc cơ chế hỗ trợ và các điều kiện bảo đảm ổn định sản xuất, đời sống của các hộ sau di chuyển.

    Đồng chí Chá A Của phát biểu tại cuộc họp.

    Phát biểu kết luận cuộc họp, đồng chí Chá A Của đề nghị cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tiếp thu ý kiến của các đại biểu, bổ sung đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ đã giao từ cuộc họp trước; hoàn thiện báo cáo, đề xuất, kiến nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy. 

    Đối với Đề án di chuyển đàn bò sữa, đồng chí yêu cầu xây dựng lại Đề án, đánh giá đầy đủ các vấn đề liên quan, xác định cụ thể những công việc cần thực hiện để di chuyển đàn bò sữa; nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp, bảo đảm triển khai nhanh, đúng quy định, ổn định sản xuất và đời sống của các hộ chăn nuôi.

    Ban Chỉ đạo thống nhất kiện toàn tổ chức, bổ sung Tổ nghiên cứu chiến lược của Tỉnh ủy tham gia Ban Chỉ đạo; Sở Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan thường trực. Trong quý IV, Ban Chỉ đạo sẽ tổ chức kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TU và Nghị quyết số 14-NQ/TU tại các địa phương, kịp thời đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.

    Tin, ảnh: Nguyễn Yến

    Nguồn https://baomoi.com/ban-chi-dao-333-trien-khai-nhiem-vu-trong-tam-quy-iv-c56167105.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!