Author: bachdn

  • Bộ Công an làm việc với các tỉnh về tiến độ xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới

    Buổi làm việc được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến các tỉnh. Đồng chí Trần Thanh Nhàn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn; Đại tá Vũ Thanh Tùng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh dự buổi làm việc tại điểm cầu trung tâm.

    Tại điểm cầu Công an tỉnh Lạng Sơn, dự buổi làm việc có các đồng chí lãnh đạo Công an tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh và các phòng chuyên môn của Công an tỉnh.

    Các đại biểu dự buổi làm việc tại điểm cầu Công an tỉnh Lạng Sơn

    Thực hiện kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới, Bộ Công an đang theo dõi, đôn đốc tiến độ 53 dự án. Trong đó, công an các tỉnh trực tiếp làm chủ đầu tư 25 dự án, phối hợp, chỉ đạo, theo dõi và hỗ trợ địa phương triển khai 28 dự án.

    Theo báo cáo, trong 21 dự án khởi công năm 2025, đến nay 11 dự án đã hoàn thành, bàn giao, đưa vào sử dụng, đón học sinh vào học tập và sinh hoạt nội trú.

    Các dự án khởi công năm 2026 đang được các địa phương tập trung triển khai, khối lượng thực hiện tại nhiều công trình đạt cao; một số dự án đã hoàn thành, đưa vào sử dụng, bảo đảm các điều kiện học tập, sinh hoạt cho học sinh.

    Công an các tỉnh đã chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền, chủ đầu tư và nhà thầu đẩy nhanh tiến độ, kịp thời tháo gỡ những khó khăn phát sinh. Tuy nhiên, tiến độ một số dự án vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là những công trình chịu tác động của thiên tai, điều kiện địa chất phức tạp, khó khăn về mặt bằng, nguồn vật liệu, nhân lực, năng lực nhà thầu và kinh phí; một số dự án phải điều chỉnh phương án, xử lý sạt lở, sụt lún hoặc mở rộng diện tích đất để bảo đảm an toàn công trình, qua đó tác động đến tiến độ chung.

    Đại biểu dự buổi làm việc tại điểm cầu Công an tỉnh Lạng Sơn

    Đại biểu dự buổi làm việc tại điểm cầu Công an tỉnh Lạng Sơn

    Tại buổi làm việc, các đại biểu tập trung làm rõ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai, tổ chức thi công; đề xuất giải pháp cụ thể, khả thi để tháo gỡ từng vấn đề, bảo đảm tiến độ các dự án.

    Tham luận tại buổi làm việc, đồng chí Trần Thanh Nhàn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn cho biết: Thực hiện chủ trương, chỉ đạo của trung ương, tỉnh Lạng Sơn đang triển khai 11 trường học tại khu vực biên giới. Giai đoạn 1 có 4 trường, đều đã hoàn thành và đưa vào sử dụng; trong đó, Công an tỉnh trực tiếp làm chủ đầu tư 2 trường tại xã Mẫu Sơn và xã Quốc Khánh. Giai đoạn 2 triển khai 7 trường do Công an tỉnh làm chủ đầu tư. Hiện các cấp, ngành liên quan của tỉnh đang tập trung giải phóng mặt bằng. Lãnh đạo tỉnh đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị, cá nhân liên quan trong quá trình triển khai. 

    Ban Chỉ đạo của tỉnh, đặc biệt là đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, thường xuyên quan tâm kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện, trên cơ sở đó chỉ đạo Công an tỉnh và UBND tỉnh triển khai thi công các dự án một cách nhanh chóng và đảm bảo chất lượng. 

    Trong thời gian tới, tỉnh Lạng Sơn xác định tiếp tục huy động sự phối hợp của Công an tỉnh, các sở, ngành, chính quyền cơ sở và các đơn vị liên quan, tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, phấn đấu hoàn thành 7 trường giai đoạn 2 vào tháng 5 và vận hành thử trong tháng 8/2027 để kịp đưa vào sử dụng từ tháng 9/2027, phục vụ năm học 2027 – 2028. 

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định, tỉnh Lạng Sơn sẽ tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, quyết tâm hoàn thành các mục tiêu, yêu cầu đề ra.

    Đại biểu dự buổi làm việc tại điểm cầu Công an tỉnh Lạng Sơn

    Đại biểu dự buổi làm việc tại điểm cầu Công an tỉnh Lạng Sơn

    Phát biểu kết luận buổi làm việc, Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an ghi nhận tinh thần khẩn trương, trách nhiệm của các địa phương, đơn vị trong tổ chức, triển khai xây dựng Trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

    Về nhiệm vụ trong thời gian tới, đồng chí yêu cầu các địa phương, đơn vị tập trung kiểm tra, đánh giá việc vận hành các trường đã hoàn thành, kịp thời khắc phục những bất cập phát sinh; đẩy nhanh tiến độ, xử lý dứt điểm khó khăn đối với các dự án khởi công năm 2025 chưa hoàn thành; xây dựng tiến độ chi tiết đến từng tuần, từng tháng đối với các dự án giai đoạn 2. 

    Đồng chí đề nghị các tỉnh quan tâm, bổ sung Công an tỉnh vào Ban Chỉ đạo của các địa phương chưa có thành phần Công an tham gia; chủ động phối hợp tháo gỡ khó khăn về vốn, lao động và các điều kiện thi công, kịp thời báo cáo những vấn đề vượt thẩm quyền; phát huy vai trò, trách nhiệm của Giám đốc Công an tỉnh trong chỉ đạo, kiểm tra từng dự án, chủ động phát hiện, xử lý khó khăn, bảo đảm tiến độ đề ra.

    HOÀNG VƯƠNG – KHÁNH CHI

    Nguồn https://baomoi.com/bo-cong-an-lam-viec-voi-cac-tinh-ve-tien-do-xay-dung-truong-pho-thong-noi-tru-lien-cap-tai-cac-xa-bien-gioi-c56190686.epi

  • Mở rộng khu kinh tế Vũng Áng

    Một góc Khu kinh tế Vũng Áng. (Ảnh: Cổng TTĐT tỉnh Hà Tĩnh). 

    Theo Cổng TTĐT Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký quyết định số 1918 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt mở rộng khu kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh.

    Quy mô khu kinh tế Vũng Áng sau mở rộng có diện tích gần 73.000 ha, trong đó gần 58.000 ha đất liền và 15.000 ha mặt biển.

    Phần đất liền bao gồm toàn bộ diện tích các xã,phường như: Sông Trí, Hải Ninh, Vũng Áng, Hoành Sơn, Kỳ Hoa, Kỳ Khang, Kỳ Anh, Kỳ Xuân và một phần diện tích xã Kỳ Văn.

    Đây là khu kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực với trọng tâm là công nghiệp cơ bản gắn với việc xây dựng và khai thác khu bến Cảng Vũng Áng, Sơn Dương; đường sắt, đường bộ vùng, quốc gia và quốc tế.

    Đồng thời, là trung tâm kinh tế, đầu mối về giao thông vận tải, giao thương và giao lưu quốc tế quan trọng của vùng Bắc Trung Bộ, cửa ngõ của vùng Trung, Thượng Lào, Đông Bắc Thái Lan vào Miền Trung và Việt Nam; là cực tăng trưởng, liên kết với sự phát triển chung của tỉnh Hà Tĩnh và vùng Bắc Trung Bộ.

    Bên cạnh đó, là khu kinh tế tổng hợp, có hạ tầng đồng bộ làm động lực phát triển cho vùng Bắc Trung Bộ. Có liên kết hỗ trợ và chia sẻ với khu kinh tế Đông Nam Nghệ An, khu kinh tế Hòn La và các vùng phụ cận, là khu vực phát triển hài hòa các mục tiêu kinh tế, văn hóa, môi trường và an ninh quốc phòng.

    Mục tiêu phát triển khu kinh tế Vũng Áng thành khu vực năng động, trọng điểm của vùng kinh tế Bắc Trung Bộ; nghiên cứu triển khai các mô hình mới như Khu thương mại tự do, thúc đẩy kinh tế – xã hội tỉnh Hà Tĩnh và các địa phương lân cận.

    Đồng thời, tăng cường liên kết với các khu kinh tế, trung tâm kinh tế và các hành lang phát triển trong vùng và trên các tuyến giao thông quốc gia, quốc tế.

    Về lộ trình và kế hoạch phát triển, trong giai đoạn 2026 – 2027 là hoàn thành quy hoạch chung và một số quy hoạch phân khu 1/2.000 đối với các phân khu quan trọng.

    Cùng với đó, sẽ xây dựng và khởi công xây dựng một số cơ sở hạ tầng lớn; xúc tiến mạnh việc thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước.

    Đến giai đoạn 2028 – 2030 bắt đầu vận hành các công trình, dự án đã xây dựng; hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng đô thị, công nghiệp, dịch vụ trên toàn khu kinh tế. Tiếp tục thu hút đầu tư các dự án vào khu kinh tế trong giai đoạn sau năm 2030; nghiên cứu triển khai một số mô hình khu công nghiệp, dự án sản xuất mới trong khu kinh tế.

    Giai đoạn 2031 – 2050 sẽ hoàn thiện hệ thống kết cấu kinh tế, xã hội của khu kinh tế. Đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa, hình thành diện mạo của đô thị.

    Tiến Dũng

    Nguồn https://baomoi.com/mo-rong-khu-kinh-te-vung-ang-c56190572.epi

  • Bộ Xây dựng ban hành quy định chỉ tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh

    Thông tư này quy định các chỉ tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh và hướng dẫn lập báo cáo xây dựng đô thị tăng trưởng xanh theo các chỉ tiêu. Hệ thống chỉ tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh gồm 24 chỉ tiêu, chia thành 4 nhóm.

    Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư quy định về chỉ tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh. (Ảnh minh họa)

    Nhóm chỉ tiêu kinh tế gồm 5 chỉ tiêu, nhằm đánh giá hiệu quả tăng trưởng kinh tế về sử dụng năng lượng và tài nguyên thiên nhiên trong đầu tư xây dựng và phát triển đô thị.

    Nhóm chỉ tiêu môi trường gồm 10 chỉ tiêu, nhằm đánh giá về chất lượng môi trường và cảnh quan đô thị, mức độ áp dụng các giải pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo, bảo vệ môi trường và giảm thiểu ô nhiễm, xả thải, phát thải khí nhà kính trong phát triển đô thị.

    Nhóm chỉ tiêu xã hội gồm 4 chỉ tiêu, nhằm đánh giá về hiệu quả nâng cao chất lượng và điều kiện sống của người dân đô thị.

    Nhóm chỉ tiêu thể chế gồm 5 chỉ tiêu, nhằm đánh giá về công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của chính quyền đô thị đối với công tác xây dựng đô thị tăng trưởng xanh.

    Thông tư đã quy định các hoạt động ưu tiên thực hiện để xây dựng đô thị tăng trưởng xanh như phát triển công trình xanh; phát triển giao thông đô thị xanh, giao thông phát thải thấp; sử dụng tiết kiệm và chống thất thoát, thất thu nước sạch; phát triển đô thị thông minh; khu đô thị xanh, sinh thái; tăng cường năng lực chống chịu biến đổi khí hậu đối với các đô thị…

    Thông tư nêu rõ, việc lập báo cáo xây dựng đô thị tăng trưởng xanh có mục đích chính là đánh giá thẩm định các chương trình, kế hoạch, dự án đầu tư xây dựng có sử dụng nguồn vốn phục vụ mục tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh; kiểm tra, giám sát chương trình, kế hoạch của đô thị thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.

    Đó sẽ là cơ sở đề xuất rà soát, điều chỉnh các chỉ tiêu cụ thể trong quy hoạch đô thị, chương trình phát triển đô thị; đề xuất các hoạt động ưu tiên thực hiện xây dựng đô thị tăng trưởng xanh.

    Thông tư quy định, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị có liên quan tổ chức xây dựng báo cáo đô thị tăng trưởng xanh làm căn cứ triển khai các hoạt động xây dựng đô thị tăng trưởng xanh tại các đô thị trực thuộc.

    Sở Xây dựng tổ chức lập báo cáo xây dựng đô thị tăng trưởng xanh; xác định rõ các nhiệm vụ công việc cụ thể lập báo cáo, tổ chức lựa chọn đơn vị tư vấn (nếu có) lập báo cáo xây dựng đô thị tăng trưởng xanh năm cơ sở và giai đoạn theo quy định pháp luật hiện hành.

    Các đô thị chủ động đề xuất, hợp tác với các tổ chức, đơn vị, cơ quan trong nước và quốc tế để hỗ trợ, tài trợ cho công tác đánh giá hiện trạng, lập báo cáo, theo dõi và giám sát thực hiện các chỉ tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh.

    Bộ Xây dựng phối hợp với UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vận động các nguồn vốn tài trợ, hỗ trợ để hướng dẫn, phổ biến và triển khai thí điểm xây dựng đô thị tăng trưởng xanh đối với các đô thị. 

    Ngoài ra, Bộ cũng có trách nhiệm chủ trì, tổ chức triển khai, hướng dẫn, giám sát và đánh giá tình hình thực hiện báo cáo xây dựng đô thị tăng trưởng xanh nhằm thúc đẩy thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia tại các đô thị.

    Dịch Phong

    Nguồn https://baomoi.com/bo-xay-dung-ban-hanh-quy-dinh-chi-tieu-xay-dung-do-thi-tang-truong-xanh-c56190571.epi

  • Xây lắp An Giang khai thác trái phép 2,3 triệu m³ đất trong 9 năm

    Ngày 2/10, Thanh tra Chính phủ cho biết đã công bố kết luận thanh tra về công tác phòng, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng các cơ sở nhà, đất thuộc cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước tại An Giang.

    Đáng chú ý nhất tại kết luận này là việc CTCP Xây lắp An Giang khai thác đất sét làm nguyên liệu sản xuất gạch, ngói khi chưa được cấp phép khai thác khoáng sản.

    Theo kết luận, doanh nghiệp có 3 khu đất khai thác đất sét khi chưa được cấp phép. Qua thanh tra, cơ quan chức năng xác định hành vi khai thác trái phép tổng cộng 2.300.206,22 m³ đất trên diện tích 406.600 m², trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2023.

    Thanh tra xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm quy định tại Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 về vi phạm quy định nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên.

    Trên cơ sở đó, Thanh tra Chính phủ đã chuyển thông tin vụ việc sang Bộ Công an để xem xét, xử lý theo quy định pháp luật.

    Cơ quan thanh tra đồng thời kiến nghị xác định chính xác khối lượng khoáng sản CTCP lắp An Giang khai thác trái phép, làm căn cứ xác định số lợi bất hợp pháp và buộc nộp lại ngân sách nhà nước theo quy định.

    Hàng trăm cơ sở nhà, đất bỏ trống, sử dụng chưa hiệu quả

    Bên cạnh vụ việc trên, kết luận thanh tra cho thấy việc quản lý, sử dụng quỹ nhà, đất công tại An Giang còn nhiều tồn tại.

    Trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, toàn tỉnh có 6.986 cơ sở nhà, đất. Trong số này, 6.406 cơ sở được giữ lại tiếp tục sử dụng; 8 cơ sở thu hồi; 116 cơ sở điều chuyển; 3 cơ sở tạm giữ lại tiếp tục sử dụng; 1.386 cơ sở chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý và 67 cơ sở chuyển giao Trung tâm Phát triển quỹ đất.

    Sau sắp xếp đơn vị hành chính, số cơ sở nhà, đất tiếp tục giữ lại sử dụng là 6.190 cơ sở, trong khi còn 796 cơ sở dôi dư, gồm 18 cơ sở cấp tỉnh, 491 cơ sở cấp xã và 287 cơ sở do Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh quản lý.

    Cụ thể, tại Kiên Giang trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, Thanh tra Chính phủ phát hiện 6 cơ sở dôi dư chậm thu hồi, điều chuyển từ 1 – 5 năm. Ba cơ sở khác không hoàn thành đấu giá trong thời hạn 24 tháng, để bỏ trống 2,5 năm nhưng UBND tỉnh chưa ban hành quyết định thu hồi.

    Riêng tại Kiên Giang trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, Thanh tra Chính phủ phát hiện 6 cơ sở dôi dư chậm thu hồi, điều chuyển từ 1 – 5 năm. Ba cơ sở khác không hoàn thành đấu giá trong thời hạn 24 tháng, để bỏ trống 2,5 năm nhưng UBND tỉnh chưa ban hành quyết định thu hồi.

    Tại TP Phú Quốc, có 7 điểm trung bộ trống hơn 6 năm và một cơ sở bị lấn chiếm. Tại TP Rạch Giá, 22 cơ sở nhà, đất bỏ trống từ 6 – 11 năm và 5 cơ sở bị lấn chiếm trên 6 năm.

    Đáng chú ý hơn, Thanh tra Chính phủ phát hiện 151 cơ sở nhà, đất được cho thuê, kinh doanh khi chưa có dự án hoặc dự án chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt, vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản công.

    Tại TP Rạch Giá còn có 40 cơ sở nhà, đất dôi dư sau khi Trung tâm Phát triển quỹ đất tiếp nhận từ tháng 9/2025 nhưng chưa có phương án sử dụng, xử lý; 22 cơ sở chưa được bàn giao. 

    Hàng loạt vấn đề trong giao đất, đấu giá và phát triển nhà ở xã hội

    Trong lĩnh vực đất đai và đầu tư, Thanh tra Chính phủ cũng chỉ ra nhiều trường hợp chưa tuân thủ đầy đủ quy định.

    Đáng chú ý, khu đất thực hiện dự án Khu dân cư Nam An Hòa được UBND tỉnh Kiên Giang quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư nhưng không xin ý kiến HĐND tỉnh. Dự án cũng không dành 20% quỹ đất để phát triển nhà ở xã hội theo quy định. 

    Tại Khu dân cư số 2, việc cho phép xây dựng nhà ở xã hội dạng liền kề thấp tầng cũng được thực hiện khi chưa xin ý kiến HĐND tỉnh.

    Đối với khu đất tái định cư thuộc Dự án Lấn biển Tây Bắc, UBND tỉnh Kiên Giang cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất tái định cư sang đất nhà ở xã hội khi quy hoạch chung xây dựng, quy hoạch phân khu và quy hoạch đô thị chưa được điều chỉnh phù hợp.

    Đặc biệt, UBND tỉnh An Giang trước sắp xếp đơn vị hành chính đã thực hiện đấu giá và phê duyệt kết quả đấu giá khu đất bãi bồi với tổng diện tích 109.151 m² khi chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và chưa có chỉ tiêu khai thác.

    Thanh tra Chính phủ cũng phát hiện 3 khu đất bãi bồi được cho thuê nhưng không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất.

    Kiến nghị rà soát, xử lý hàng loạt dự án và tài sản công

    Từ các tồn tại trên, Thanh tra Chính phủ kiến nghị UBND tỉnh An Giang tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm để xử lý hoặc kiến nghị xử lý đối với các tổ chức, đơn vị, tập thể, cá nhân có liên quan theo từng thời kỳ.

    Đồng thời, tỉnh được yêu cầu rà soát, hoàn thiện phương án sắp xếp, xử lý toàn bộ cơ sở nhà, đất thuộc phạm vi quản lý; xử lý dứt điểm các cơ sở bỏ trống, sử dụng kém hiệu quả hoặc không đúng mục đích.

    Thanh tra Chính phủ cũng yêu cầu rà soát việc chấp thuận chủ trương đầu tư, đấu giá quyền sử dụng đất; điều chỉnh hoặc chấm dứt chủ trương đầu tư đối với những dự án chậm tiến độ kéo dài, tránh thiệt hại cho ngân sách Nhà nước.

    Đối với các cơ sở nhà, đất bỏ trống quá 12 tháng hoặc đất chậm đưa vào sử dụng từ 24 tháng so với tiến độ dự án, UBND tỉnh được yêu cầu thanh tra, kiểm tra, làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm và xử lý nghiêm vi phạm, đồng thời sớm đưa tài sản vào khai thác, sử dụng để tránh lãng phí.

    Riêng vụ Công ty CP Xây lắp An Giang, Thanh tra Chính phủ đã chuyển thông tin sang Bộ Công an để xem xét, xử lý đối với việc khai thác trái phép 2.300.206,22 m³ đất trên diện tích 406.600 m² trong giai đoạn 2014 – 2023, do vụ việc có dấu hiệu vi phạm quy định về khai thác tài nguyên.

    Ngoài ra, Thanh tra Chính phủ đề nghị tiếp tục làm rõ việc quản lý, sử dụng sân vận động Phú Quốc; việc thành lập CTCP Du lịch Núi Đèn và quản lý tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp và dự án Resort Núi Đèn; việc đấu giá khu đất bãi bồi 109.151 m² và việc cho thuê 3 khu đất bãi bồi không qua đấu giá. 

    Thanh tra nhấn mạnh, nếu phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, cơ quan chức năng được yêu cầu chuyển cơ quan điều tra để xem xét, xử lý theo quy định.

    Tấn Hiệp

    Nguồn https://baomoi.com/xay-lap-an-giang-khai-thac-trai-phep-2-3-trieu-m3-dat-trong-9-nam-c56190574.epi

  • 522 kiến nghị đã được xử lý để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế

    Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định điều hành Phiên họp. Ảnh: VPQH

    Đã ban hành 26 nghị quyết xử lý những khó khăn, ách tắc cản trở phát triển kinh tế – xã hội

    Chiều 02/10, tiếp tục chương trình Phiên họp thứ 7, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH)đã cho ý kiến về Báo cáo của Chính phủ về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật (Nghị quyết số 206).

    Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Doãn Anh Thơ dự Phiên họp.

    Tại Phiên họp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng đã trình bày tóm tắt báo cáo tình hình thi hành Nghị quyết số 206 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.

    Theo báo cáo, sau một năm thực hiện, cơ chế đặc biệt của Nghị quyết số 206/2025/QH15 đã phát huy hiệu quả, tạo cơ sở pháp lý linh hoạt để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn về thể chế; nâng cao năng lực phản ứng chính sách, thúc đẩy cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và giải phóng nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

    Thực hiện các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 206, các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã tổ chức rà soát, xác định khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật, phân loại để xử lý theo thẩm quyền. “Đến nay, đã xử lý xong 522 kiến nghị; đang tiếp tục xử lý 264 kiến nghị” – Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng thông tin.

    Trên cơ sở rà soát, tổng kết, đánh giá thực tiễn triển khai thi hành pháp luật và chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền, Chính phủ đã xây dựng, ban hành 26 nghị quyết để kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc gây kìm hãm, ách tắc, cản trở phát triển kinh tế – xã hội.

    Trong số 5 nghị quyết được ban hành theo cơ chế đặc biệt của Nghị quyết số 206 về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh và phân cấp, phân quyền, đã thực hiện phân cấp, phân quyền với 82 thủ tục hành chính; cắt giảm 308 thủ tục hành chính, đơn giản hoá 1.190 thủ tục hành chính; cắt giảm 823 điều kiện kinh doanh.

    Để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, 26 nghị quyết nêu trên đã đặt ra yêu cầu nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung 316 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 77 luật, 1 nghị quyết của Quốc hội, 1 nghị quyết của UBTVQH, 147 nghị định, 4 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 83 thông tư, 2 thông tư liên tịch và 1 quyết định của Bộ trưởng.

    Đề xuất kéo dài hiệu lực của Nghị quyết tối đa đến hết năm 2027

    Về nhiệm vụ, giải pháp thời gian tới, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cho biết, Chính phủ tiếp tục quan tâm chỉ đạo quyết liệt công tác rà soát, xử lý các khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật; tập trung ưu tiên nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ sửa đổi, bổ sung các văn bản có liên quan; kiện toàn đội ngũ làm công tác pháp chế, tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ rà soát, theo dõi, xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.

    Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Báo cáo tại Phiên họp. Ảnh: VPQH

    Chính phủ cũng đề xuất quy định cơ chế chuyển tiếp cho phép kéo dài thời gian có hiệu lực của các văn bản đã được ban hành theo cơ chế đặc biệt của Nghị quyết số 206/2025/QH15 tối đa đến ngày 31/12/2027 để các cơ quan tiếp tục hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung các văn bản có liên quan, bảo đảm tính liên tục, ổn định của hệ thống pháp luật và tránh phát sinh khoảng trống pháp lý.

    Thẩm tra nội dung này, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cho rằng, báo cáo của Chính phủ đã thể hiện cơ bản kết quả cụ thể đạt được, chỉ ra hạn chế và nguyên nhân sau một năm thực hiện, đề xuất giải pháp tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 206 và các văn bản được ban hành theo cơ chế của Nghị quyết này trong thời gian tới.

    Về kết quả rà soát các quy định của pháp luật, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cho rằng, đối với các phản ánh, kiến nghị đang được tiếp tục xử lý, cần đẩy mạnh tiến độ hoàn thành.

    Cơ quan thẩm tra lưu ý, với những vướng mắc liên quan nhiều lĩnh vực phải được xử lý đồng bộ, tránh mỗi cơ quan sửa một phần nhưng công việc thì vẫn ách tắc, để đề xuất giải pháp bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp, khả thi.

    Về kết quả xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai các nghị quyết của Chính phủ theo quy định tại Nghị quyết số 206, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị Chính phủ bổ sung đánh giá kết quả tổ chức thực hiện đối với các quy định, văn bản được ban hành theo cơ chế quy định tại Nghị quyết số 206; xác định rõ những nội dung hiệu quả, khả thi cần tiếp tục kế thừa; các nội dung cần tiếp tục theo dõi, đánh giá; đồng thời, đề nghị làm rõ hơn nguyên nhân của những hạn chế về chất lượng rà soát, tính dự báo, đồng bộ trong xử lý văn bản.

    Cơ quan thẩm tra cũng tán thành kiến nghị “cho phép kéo dài thời gian có hiệu lực của các văn bản đã được ban hành theo cơ chế của Nghị quyết số 206 tối đa đến ngày 31/12/2027”. Tuy nhiên, Ủy ban đề nghị khi đề xuất sửa đổi luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, UBTVQH thì không luật hóa toàn bộ quy định tại các nghị quyết của Chính phủ được ban hành theo cơ chế của Nghị quyết số 206, mà phải trên cơ sở rà soát, sơ kết, tổng kết thực tiễn thi hành, phân tích kỹ lưỡng, đánh giá tác động đối với từng chính sách được đề xuất, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, hợp lý, khả thi, ổn định.

    Kết luận nội dung thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định đề nghị tiếp tục đánh giá, làm rõ hơn nữa kết quả thi hành Nghị quyết số 206. Với các văn bản đã ban hành theo Nghị quyết, cần làm rõ nội dung nào đã được luật hoá, nội dung nào chưa được luật hoá nhưng vẫn còn hiệu lực thì tiếp tục được duy trì cho đến khi được luật hóa; những nội dung không còn phù hợp cần được xem xét bãi bỏ.

    Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định cho biết, UBTVQH thống nhất về chủ trương kéo dài hiệu lực Nghị quyết số 206/2025/QH15 để Chính phủ tiếp tục có cơ sở xử lý những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn khi cần thiết.

    Nội dung này sẽ được hoàn thiện trình Quốc hội thảo luận tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI./.

    N. HỒNG

    Nguồn https://baomoi.com/522-kien-nghi-da-duoc-xu-ly-de-thao-go-kho-khan-vuong-mac-ve-the-che-c56190684.epi

  • Đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp di dời nhà máy, mở không gian phát triển đô thị Việt Trì

    Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Trần Duy Đông phát biểu chỉ đạo.

    Dự buổi làm việc có các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh: Phan Trọng Tấn, Vũ Việt Văn; đại diện một số sở, ban, ngành, địa phương và doanh nghiệp có dự án thuộc diện cần di dời.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Trọng Tấn cho ý kiến vào một số nội dung quan trọng.

    Sau hợp nhất tỉnh, khu vực đô thị thành phố Việt Trì trước sáp nhập và khu vực lân cận được xác định vai trò là đô thị trung tâm của tỉnh; với tầm nhìn chiến lược mới của tỉnh về phát triển đô thị, giải quyết các nhu cầu phát triển trong ngắn hạn, dài hạn; mở ra các không gian phát triển, khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh tương xứng với vị trí, vai trò là trung tâm động lực vùng.

    Ngày 22/8/2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kết luận số 53-KL/TU thống nhất đồng ý về chủ trương di dời các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố Việt Trì (trước sáp nhập).

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vũ Việt Văn phát biểu tại buổi làm việc.

    Theo dự thảo kế hoạch của UBND tỉnh, đối tượng di dời là các nhà máy nằm trong trung tâm đô thị Việt Trì cũ có nguy cơ gây ô nhiễm, thuộc ngành công nghiệp nặng, sử dụng nhiều lao động hoặc có khoảng cách không an toàn với khu dân cư.

    Phạm vi không gian gồm các nhà máy thuộc phường Thanh Miếu, Nông Trang và Việt Trì. Địa điểm di dời đến các khu công nghiệp và cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Thời gian di dời trong giai đoạn 2026-2030.

    Về lộ trình thực hiện:

    Giai đoạn 2026-2028, di dời Nhà máy Hóa chất Việt Trì – Công ty Cổ phần Hóa chất Việt Trì.

    Giai đoạn 2026-2029, di dời Nhà máy Giấy Việt Trì – Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì; Nhà máy sản xuất sứ vệ sinh Viglacera – Công ty Cổ phần Việt Trì Viglacera và Nhà máy sản xuất xi măng – Công ty TNHH Xi măng Hùng Vương.

    Giai đoạn 2026-2030, di dời Nhà máy Bánh kẹo Hải Hà 1 – Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà; Nhà máy sản xuất bia, rượu, nước giải khát – Công ty Cổ phần bia rượu NGK Viger; Nhà máy dệt – Công ty Cổ phần Dệt Vĩnh Phú; Nhà máy sản xuất nhôm thanh định hình – Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhôm Sông Hồng Shalumi; Nhà máy may Sông Hồng – Công ty Cổ phần May Sông Hồng; Cụm nhà máy sợi dệt – Công ty TNHH MTV Pangrim Neotex.

    Đối với Nhà máy sản xuất bột ngọt Miwon – Công ty TNHH Daesang Việt Nam, doanh nghiệp chưa có kế hoạch xây dựng nhà máy mới và sẽ trả lại đất cho tỉnh khi hết hạn thời gian thuê đất (đến hết tháng 7/2029).

    Lãnh đạo Sở Xây dựng phát biểu tại buổi làm việc.

    Tại buổi làm việc, đại diện các doanh nghiệp bày tỏ thống nhất cao với chủ trương di dời các nhà máy, xí nghiệp ra khỏi khu vực trung tâm đô thị tỉnh.

    Đồng thời, kiến nghị về việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, bố trí quỹ đất sạch, hỗ trợ kinh phí di dời, ưu đãi về tiền thuê đất, thuế, tín dụng; rút ngắn thủ tục hành chính; hỗ trợ đào tạo, tuyển dụng, chuyển đổi việc làm và ổn định đời sống người lao động…

    Một số doanh nghiệp đề nghị tỉnh cho phép duy trì sản xuất tại vị trí cũ trong thời gian xây dựng nhà máy mới để tránh gián đoạn hoạt động.

    Đại diện Nhà máy Giấy Việt Trì – Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì đề xuất một số nội dung.

    Đại diện Nhà máy Hóa chất Việt Trì – Công ty Cổ phần Hóa chất Việt Trì kiến nghị một số nội dung.

    Phát biểu kết luận, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Trần Duy Đông đánh giá cao những đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh, góp phần tăng thu ngân sách, thúc đẩy sản xuất công nghiệp và phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Trong đó, nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tiên phong đầu tư tại Việt Nam, đồng hành và gắn bó lâu dài với địa phương.

    Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh ghi nhận tinh thần trách nhiệm, thiện chí của các doanh nghiệp trong việc ủng hộ chủ trương di dời, thực hiện quy hoạch mới của tỉnh.

    Đồng chí nhấn mạnh, việc di dời sẽ góp phần hiện thực hóa quy hoạch, tổ chức lại không gian phát triển, phát huy tiềm năng, lợi thế phù hợp với quy mô và định hướng phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới. Đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng thị trường.

    Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Trần Duy Đông cùng đoàn công tác khảo sát thực tế tại Nhà máy Giấy Việt Trì thuộc Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì.

    Nhấn mạnh tinh thần chung là cơ bản hoàn thành việc di dời các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường hoặc không còn phù hợp với quy hoạch vào năm 2030, Chủ tịch UBND tỉnh chia sẻ những khó khăn, tác động đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong quá trình di dời.

    Đồng chí giao Sở Tài chính nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm di dời các cơ sở sản xuất tại một số địa phương trong cả nước, tiếp tục tham mưu hoàn thiện kế hoạch triển khai với lộ trình cụ thể; đánh giá đầy đủ tác động đến phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

    Trong đó, cần phân loại rõ các nhóm, gồm: Cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; cơ sở công nghiệp nặng; cơ sở cần di dời để tổ chức lại không gian đô thị; doanh nghiệp chấm dứt hoạt động… Từ đó làm cơ sở nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp.

    Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh giao thành lập Tổ công tác của tỉnh do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Trọng Tấn làm Tổ trưởng, với sự tham gia của lãnh đạo các sở, ngành, đơn vị liên quan. Tổ công tác có nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng phương án cụ thể đối với từng doanh nghiệp; rà soát các cơ chế, chính sách hỗ trợ và giải quyết thủ tục hành chính liên quan trong quá trình thực hiện di dời. Các sở, ngành, cơ quan chuyên môn chủ động đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp tìm hiểu, tiếp cận chính sách hỗ trợ theo quy định; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.

    Tại hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh Trần Duy Đông cũng cho ý kiến cụ thể đối với các kiến nghị, đề xuất của một số doanh nghiệp, nhằm bảo đảm quá trình di dời được triển khai phù hợp với thực tế, đúng quy định và hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.

    Đại diện Nhà máy Giấy Việt Trì báo cáo đoàn công tác kế hoạch di dời và hoạt động sản xuất, kinh doanh.

    Trước đó, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Trần Duy Đông cùng lãnh đạo các sở, ban, ngành đã khảo sát thực tế tại Nhà máy Giấy Việt Trì thuộc Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì.

    Đức Anh

    Nguồn https://baomoi.com/dong-hanh-ho-tro-doanh-nghiep-di-doi-nha-may-mo-khong-gian-phat-trien-do-thi-viet-tri-c56190668.epi

  • Tập đoàn Xuân Thiện đề xuất nghiên cứu tổ hợp công nghiệp, cảng biển tại Chân Mây – Lăng Cô

    Ảnh minh họa. (Ảnh: Văn Dinh)

    Thông tin từ Cổng thông tin điện tử UBND TP Huế, các dự án được Tập đoàn Xuân Thiện đề xuất nghiên cứu gồm Cảng biển Chân Mây; Tổng kho lỏng/khí Chân Mây; Nhà máy cấu kiện bê tông Chân Mây; khu đô thị – dịch vụ và nhà ở cán bộ, công nhân viên; cùng Tổ hợp dự án thép ứng dụng công nghệ cao kết hợp nhà máy điện đồng phát.

    Các hạng mục này được doanh nghiệp định hướng nghiên cứu đồng bộ, hình thành chuỗi liên kết giữa cảng biển, logistics, cung ứng nguyên liệu, sản xuất công nghiệp, năng lượng, đô thị và dịch vụ. Theo tính toán của Tập đoàn, tổ hợp có thể tạo thêm việc làm trực tiếp, gián tiếp cho lao động địa phương, đồng thời thúc đẩy công nghiệp phụ trợ, dịch vụ hậu cần và logistics. Tuy nhiên, quy mô, công nghệ và phương án đầu tư của từng hạng mục vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét.

    Trong cấu trúc đề xuất, cảng biển được đặt trong mối liên hệ với không gian công nghiệp và logistics. TP Huế yêu cầu nghiên cứu phát triển cảng trong tổng thể mở rộng không gian công nghiệp, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và bảo đảm kết nối đồng bộ với các dự án liên quan. Hệ thống bến cảng Chân Mây cũng cần được rà soát theo chức năng phục vụ hàng container, hàng rời, hàng lỏng và tàu du lịch, trên cơ sở đánh giá điều kiện kỹ thuật, khả năng khai thác và kết nối hạ tầng.

    Cùng với giao thông, nguồn nước được xác định là một trong những vấn đề cần tính toán tổng thể. Phương án cấp nước phải đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, có khả năng bổ sung nguồn khi nhu cầu tăng, gắn với yêu cầu bảo vệ nguồn nước. Đối với các dự án công nghiệp và năng lượng, TP Huế yêu cầu lựa chọn công nghệ theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, tăng cường tuần hoàn, tái sử dụng nước và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường.

    Một yêu cầu khác được đặt ra là phát triển đô thị phải đi cùng với bảo đảm điều kiện sống và sinh kế của người dân. Trường hợp phát sinh nhu cầu tái định cư, phương án cần tính toán đồng bộ nơi ở với trường học, hạ tầng và các công trình phục vụ cộng đồng. Với các hộ làm nghề khai thác thủy sản, việc bố trí nơi ở cần gắn với khu neo đậu tàu thuyền để duy trì sinh kế. TP Huế đồng thời yêu cầu giữ không gian tiếp cận biển, nghiên cứu bố trí bãi tắm công cộng và các hoạt động dịch vụ phù hợp.

    Theo UBND TP Huế, đề xuất của Tập đoàn Xuân Thiện không chỉ tập trung vào một dự án công nghiệp riêng lẻ mà hướng tới hình thành chuỗi liên kết giữa cảng biển, sản xuất, năng lượng, logistics và đô thị. Với đặc thù nhiều dự án thành phần, thành phố yêu cầu doanh nghiệp tiếp tục rà soát tổng thể, xác định rõ thứ tự ưu tiên và lộ trình thực hiện, trong đó các hạng mục nền tảng phải được tính toán đồng bộ với hạ tầng và khả năng huy động nguồn lực.

    TP Huế sẽ phối hợp với doanh nghiệp rà soát các quy hoạch liên quan, hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ, thủ tục và nghiên cứu phương án phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, nguồn nhân lực. Nhà ở công nhân, nhà ở xã hội và khu chuyên gia cũng được yêu cầu gắn với các dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế và văn hóa.

    Hiện toàn bộ đề xuất vẫn ở giai đoạn nghiên cứu. Trước khi xác định các bước đầu tư cụ thể, các cấu phần của tổ hợp sẽ tiếp tục được xem xét về quy hoạch, đất đai, hạ tầng, nguồn nước, công nghệ, môi trường và tác động đến đời sống người dân. Trên cơ sở đó, phương án sẽ được hoàn thiện để trình cấp có thẩm quyền xem xét theo quy định.

    Dương Mỹ

    Nguồn https://baomoi.com/tap-doan-xuan-thien-de-xuat-nghien-cuu-to-hop-cong-nghiep-cang-bien-tai-chan-may-lang-co-c56190426.epi

  • Hà Tĩnh đầu tư hơn 326 tỷ đồng xây tổ hợp sản xuất dược phẩm tại Vũng Áng

    Ảnh minh họa. (Ảnh: Báo Hà Tĩnh)

    Theo Quyết định số 211/QĐ-KKT, nhà đầu tư thực hiện dự án là Công ty Cổ phần VKD Vũng Áng 2, có trụ sở tại phường Thành Sen, tỉnh Hà Tĩnh. Dự án có diện tích dự kiến sử dụng khoảng 44.000 m², trong đó phạm vi và ranh giới khu đất sẽ được xác định chính xác trong quá trình thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng và thực hiện các thủ tục về đất đai.

    Mục tiêu của dự án là sản xuất các sản phẩm dược liệu, thuốc dùng ngoài, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng và nước uống đóng chai/lon. Doanh nghiệp cũng định hướng nghiên cứu, phát triển các sản phẩm y dược, mỹ phẩm từ sâm Ngọc Linh và các loại dược liệu, đồng thời tổ chức sản xuất, thu mua nguyên liệu thô phục vụ chế biến nguyên liệu đầu vào cho các sản phẩm y dược công nghệ cao.

    Về quy mô, dự án sẽ hình thành tổ hợp nhà máy sản xuất thành phẩm, trung tâm nghiên cứu và kiểm nghiệm, trung tâm nguyên liệu và chiết xuất công nghệ cao, hệ thống kho và nhà xưởng, văn phòng cùng hạ tầng kỹ thuật. Công suất dự kiến gồm 7 triệu sản phẩm/năm dược liệu chiết xuất và dược phẩm, thuốc từ dược liệu; 2 triệu sản phẩm/năm thuốc dùng ngoài và mỹ phẩm; 7 triệu sản phẩm/năm thực phẩm chức năng; cùng 30 triệu chai/lon nước uống mỗi năm.

    Ngoài hoạt động sản xuất, dự án còn cung cấp dịch vụ kiểm nghiệm dược phẩm, mỹ phẩm theo hình thức gia công hoặc thuê ngoài. Hệ thống kho GSP kết hợp nhà xưởng có diện tích dự kiến khoảng 10.500 – 15.000 m², được định hướng đáp ứng tiêu chuẩn Good Storage Practices.

    Tổng vốn đầu tư dự án là 326,233 tỷ đồng. Trong đó, vốn góp của nhà đầu tư đạt 97,8699 tỷ đồng, tương đương 30% tổng vốn; 228,3631 tỷ đồng còn lại, tương đương 70%, là vốn huy động. Dự án không sử dụng khoản lợi nhuận để lại của nhà đầu tư để tái đầu tư.

    Theo tiến độ được chấp thuận, giai đoạn 1 sẽ hoàn thành hồ sơ, thủ tục, triển khai xây dựng và đưa vào vận hành trong vòng 18 tháng kể từ ngày được cho thuê, bàn giao đất. Trước đó, việc hoàn thiện hồ sơ thuê đất và bàn giao đất phải được thực hiện trong vòng 3 tháng sau khi hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng.

    Giai đoạn 1 tập trung đầu tư nhà máy sản xuất thành phẩm, trung tâm nghiên cứu và kiểm nghiệm, trung tâm nguyên liệu và chiết xuất công nghệ cao, văn phòng và hạ tầng kỹ thuật. Giai đoạn 2 là hệ thống kho GSP kết hợp nhà xưởng, dự kiến hoàn thành trong quý I/2030.

    Dự án có thời hạn hoạt động 50 năm kể từ ngày có quyết định giao đất, cho thuê đất. Theo quyết định chấp thuận đầu tư, phường Hoành Sơn được xác định là địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, do đó dự án được hưởng các ưu đãi đầu tư theo quy định đối với địa bàn này. Mức ưu đãi cụ thể, điều kiện và thủ tục áp dụng sẽ được xác định theo pháp luật về đất đai, thuế, tín dụng và các quy định liên quan.

    Trong quá trình triển khai, Công ty Cổ phần VKD Vũng Áng 2 phải thực hiện đầy đủ các thủ tục về quy hoạch, xây dựng, đất đai, môi trường, quốc phòng – an ninh và phòng cháy, chữa cháy. Doanh nghiệp cũng phải ký quỹ hoặc có bảo lãnh ngân hàng về nghĩa vụ ký quỹ để bảo đảm thực hiện dự án theo quy định.

    Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu nhà đầu tư thực hiện dự án đúng mục tiêu, quy mô và tiến độ đã được chấp thuận, chủ động cân đối, huy động nguồn vốn để bảo đảm tiến độ; chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, chính xác và trung thực của hồ sơ đề xuất dự án, cũng như thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo hoạt động đầu tư theo quy định.

    Đoàn Chi

    Nguồn https://baomoi.com/ha-tinh-dau-tu-hon-326-ty-dong-xay-to-hop-san-xuat-duoc-pham-tai-vung-ang-c56190424.epi

  • Bắc Ninh điều chỉnh quy hoạch khu đô thị rộng hơn 65 ha

    UBND TP Bắc Ninh vừa ban hành Quyết định số 1219/QĐ-UBND điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu đô thị mới phía Đông thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa (cũ), tỷ lệ 1/500, nay thuộc phường Hiệp Hòa và xã Hoàng Vân, TP Bắc Ninh.

    Theo quyết định, tổng diện tích nghiên cứu của khu đô thị là 65,38 ha, với quy mô dân số khoảng 11.500 người. Việc điều chỉnh nhằm cập nhật, hoàn thiện cơ cấu sử dụng đất, bảo đảm tính khả thi, đồng bộ và không làm thay đổi định hướng phát triển tổng thể của đồ án đã được phê duyệt.

    Lý do điều chỉnh xuất phát từ yêu cầu triển khai đầu tư xây dựng Trường THPT Hiệp Hòa số 1. Sau khi rà soát quy hoạch chi tiết khu đô thị, cơ quan chức năng xác định cần điều chỉnh quy hoạch để bảo đảm quy mô, diện tích khu đất theo yêu cầu đối với trường đạt chuẩn quốc gia.

    Theo phương án được phê duyệt, khu đất trường THPT sau điều chỉnh có diện tích khoảng 3,89 ha. Để hình thành quỹ đất này, quy hoạch chuyển đổi từ đất trường học THCS, đất ở liền kề, đất cây xanh, đất bãi đỗ xe, đất hạ tầng kỹ thuật sau nhà và đất giao thông.

    Cụ thể, diện tích đất trường học được điều chỉnh từ 22.776,02 m² lên 54.973 m², tăng 32.196,98 m². Tỷ lệ đất trường học trong khu quy hoạch theo đó tăng từ 3,48% lên 8,41%.

    Trong khi đó, tổng diện tích đất ở giảm từ 165.685,23 m² xuống 150.798,47 m². Phần diện tích giảm tập trung ở đất ở liền kề, từ 117.577,34 m² xuống 102.690,58 m², tương ứng giảm 14.886,76 m². Diện tích đất cây xanh cũng giảm 2.032,3 m², từ 108.710,22 m² xuống 106.677,92 m². Đối với nhóm đất hạ tầng, diện tích đất bãi đỗ xe giảm 1.795,9 m²; đất hạ tầng kỹ thuật sau nhà giảm 2.795,2 m² và đất giao thông giảm 10.686,82 m².

    Một số loại đất khác được giữ nguyên theo quy hoạch đã được phê duyệt, gồm đất ở biệt thự, đất ở hỗn hợp cao tầng, đất văn hóa, đất y tế, đất dịch vụ thương mại và đất công cộng khác.

    Sau điều chỉnh, tổng diện tích toàn khu vẫn được giữ nguyên ở mức 653.769,47 m², tương đương 65,38 ha. Như vậy, việc điều chỉnh chỉ làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất trong phạm vi đồ án, không làm thay đổi tổng diện tích quy hoạch.

    Cùng với điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, UBND TP Bắc Ninh cũng yêu cầu bổ sung, điều chỉnh hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại các vị trí có điều chỉnh cục bộ, phù hợp với bản đồ quy hoạch sử dụng đất sau điều chỉnh. Các nội dung khác của đồ án tiếp tục thực hiện theo Quyết định số 205/QĐ-UBND ngày 24/2/2023.

    Theo UBND TP Bắc Ninh, việc điều chỉnh quy hoạch để mở rộng trường học không làm thay đổi tính chất, định hướng phát triển chính của khu đô thị, không làm quá tải hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và phù hợp với định hướng quy hoạch chung cũng như yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

    UBND phường Hiệp Hòa và xã Hoàng Vân được giao cập nhật các nội dung điều chỉnh vào hồ sơ quy hoạch và tổ chức công bố công khai chậm nhất trong vòng 15 ngày kể từ ngày điều chỉnh cục bộ quy hoạch được phê duyệt.

    Dương Mỹ

    Nguồn https://baomoi.com/bac-ninh-dieu-chinh-quy-hoach-khu-do-thi-rong-hon-65-ha-c56190422.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!