Author: bachdn

  • Chiến lược cho kinh tế lòng hồ

    Đầm phá hay các con sông, một không gian kinh tế hoàn toàn mới. Ảnh: Nguyễn Quân

    Tại buổi kiểm tra thực địa hệ thống hồ thủy lợi, thủy điện trên địa bàn thành phố giữa tháng 9 vừa qua, Chủ tịch UBND TP. Huế Lê Trí Thanh đã nhấn mạnh định hướng khai thác tài nguyên lòng hồ theo hướng đa mục tiêu.

    Hiện, toàn TP. Huế có hơn 1.000 công trình thủy lợi, trong đó có 56 hồ chứa nước và 13 hồ thủy điện (tổng dung tích trên 2.000 triệu m3). Không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ cốt lõi là cung cấp nước tưới cho hơn 58.000ha đất nông nghiệp, điều tiết dòng chảy, cắt giảm lũ, đây còn là nguồn tài nguyên lớn của Huế.

    Bên cạnh dư địa về phát triển năng lượng mặt trời, nuôi trồng thủy sản nước ngọt và nguồn vật liệu xây dựng dôi dư từ các dự án nạo vét lòng hồ (với bùn, đất, sỏi đá và khoáng sản tồn dư), phát triển du lịch sinh thái gắn với hàng chục hồ chứa, hồ thủy điện sẽ là trụ cột kinh tế mới cho Huế.

    Cách trung tâm thành phố khoảng 35km về phía nam, hồ Truồi với diện tích mặt nước rộng đến 345ha, sở hữu lợi thế tuyệt đối để phát triển loại hình du lịch sinh thái vùng đệm. Ở đây, Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã tọa lạc giữa lòng hồ nay đã được biết đến là điểm du lịch sinh thái, tâm linh, thu hút từ 50.000 – 70.000 lượt khách mỗi năm.

    Cách Kinh thành Huế không xa, hồ Khe Ngang cũng đang chuyển từ một hồ chứa thủy lợi thuần túy thành một điểm du lịch sinh thái. Hiện, một dự án du lịch sinh thái thể thao với tổng vốn đầu tư lên tới 519 tỷ đồng, quy mô hơn 21ha (trong đó khu vực lòng hồ Khe Ngang chiếm 14,6ha), đã được UBND thành phố Huế chấp thuận.

    Dự án này định hình hồ Khe Ngang trở thành trung tâm du lịch sinh thái, tổ hợp thể thao cao cấp gắn với bảo tồn cảnh quan, kết nối trực tiếp với các di tích và danh thắng như chùa Thiên Mụ, Huyền Không Sơn Thượng và núi Hòn Vượn, tạo chuỗi trải nghiệm khép kín từ chiêm bái, leo núi (trekking) đến cắm trại dã ngoại và thể thao nước.

    Các công trình thủy lợi – thủy điện chiến lược khác như hồ Tả Trạch có dung tích lớn (trên 500 triệu m3), hồ Hương Điền, hồ Bình Điền hay hồ Thọ Sơn cũng đang mở ra dư địa để phát triển các loại hình du lịch trải nghiệm. 

    Ý tưởng về sản phẩm du lịch gắn với tiềm năng lòng hồ là không thiếu, từ tận dụng các thảm cỏ ven hồ để phát triển hệ thống cắm trại cao cấp (Glamping) kết hợp các hoạt động thiền định; phát triển các môn thể thao thân thiện với môi trường như chèo thuyền SUP, chèo kayak, lướt ván đứng… trên các hồ có quy mô lớn như Tả Trạch hoặc hồ Truồi đến xây dựng tour tham quan vườn cây ăn quả đặc sản tại vùng đệm… Phát triển du lịch lòng hồ gắn với bảo vệ môi trường và an ninh nguồn nước không chỉ làm giàu cho kinh tế địa phương mà còn định hình một thương hiệu du lịch sinh thái độc bản, bền vững cho Huế.

    Vấn đề còn lại là công tác quy hoạch (xác định rõ khu vực bảo vệ nguồn nước tuyệt đối, khu vực dành cho nuôi trồng thủy sản sạch, khu vực nào dành cho dịch vụ du lịch sinh thái), cũng như kêu gọi, thu hút cho được các nhà đầu tư có tầm và quan trọng là làm sao để hài hòa giữa phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường cho hệ sinh thái lòng hồ.

    Khi có chiến lược đồng bộ với các giải pháp và ý tưởng đột phá, khi có các sản phẩm du lịch đặc thù, có mô hình liên kết dịch vụ du lịch đa tầng cùng cách thức khai thác chuyên nghiệp và bền vững, chắc chắn “mỏ vàng” xanh lòng hồ sẽ tạo ra cực tăng trưởng kinh tế du lịch mới cho Huế.

    Tuy nhiên, do gắn với các công trình thủy lợi phục vụ an ninh nguồn nước và cắt giảm lũ, nên mọi dự án du lịch liên quan đến tiềm năng lòng hồ chắc chắn phải đặt bài toán an toàn hồ đập, bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt và duy trì sinh kế bền vững cho người dân vùng ranh giới lên hàng đầu.

    Kim Oanh

    Nguồn https://baomoi.com/chien-luoc-cho-kinh-te-long-ho-c56194058.epi

  • Chuyển Bộ Công an vụ khai thác trái phép hơn 2,3 triệu m3 đất tại An Giang

    Thanh tra Chính phủ vừa có thông báo kết luận thanh tra về phòng, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng các cơ sở nhà, đất công trên địa bàn tỉnh An Giang.

    Theo đó, trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, An Giang có 6.986 nhà, đất công. Sau sắp xếp, tỉnh An Giang có 6.190 nhà, đất công tiếp tục giữ lại sử dụng và 796 cơ sở dôi dư (gồm 18 cơ sở cấp tỉnh, 491 cơ sở cấp xã và 287 cơ sở do Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh quản lý).

    Qua thanh tra, Thanh tra Chính phủ nhận thấy công tác phòng, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng tài sản công tại một số cơ quan, đơn vị còn nhiều hạn chế. Một số sở, ngành, địa phương chưa ban hành quy chế quản lý, sử dụng tài sản công; chưa thực hiện đầy đủ việc công khai tình hình quản lý, sử dụng tài sản công hoặc chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

    Thanh tra Chính phủ xác định Công ty CP Xây lắp An Giang khai thác trái phép hơn 2,3 triệu m3 đất sét trên diện tích hơn 406.000m2. (Ảnh minh hoạ)

    Đáng chú ý, Thanh tra Chính phủ phát hiện vi phạm trong quản lý tài nguyên, khoáng sản tại Công ty CP Xây lắp An Giang. 

    Theo kết luận, doanh nghiệp này sử dụng 3 khu đất để khai thác đất sét làm nguyên liệu sản xuất gạch, ngói nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép khai thác khoáng sản.

    Trong giai đoạn 2014-2023, doanh nghiệp đã khai thác tổng cộng hơn 2,3 triệu m3 đất trên diện tích khoảng 406.600 m2.

    Theo Thanh tra Chính phủ, hành vi trên vi phạm luật Khoáng sản năm 2010 và luật Đất đai năm 2013; có dấu hiệu tội “vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên”, quy định tại điều 227 bộ luật Hình sự.

    Thanh tra Chính phủ kiến nghị tỉnh xác định chính xác khối lượng khoáng sản khai thác trái phép để tính số lợi bất hợp pháp, buộc nộp lại ngân sách nhà nước.

    Thanh tra Chính phủ cho rằng vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về quản lý, khai thác tài nguyên và đã chuyển thông tin đến Bộ Công an để xem xét, xử lý theo thẩm quyền.

    Ngoài vụ việc trên, Tổng Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo UBND tỉnh An Giang và Chủ tịch UBND tỉnh tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, đơn vị, tập thể, cá nhân qua từng thời kỳ có liên quan đến những tồn tại, hạn chế và vi phạm được nêu trong kết luận.

    Thanh tra Chính phủ cũng đề nghị tỉnh An Giang rà soát, lập và hoàn thiện phương án sắp xếp, xử lý toàn bộ cơ sở nhà, đất thuộc phạm vi quản lý.

    Đối với những cơ sở đang bỏ trống, sử dụng kém hiệu quả hoặc không đúng mục đích, UBND tỉnh An Giang được yêu cầu xử lý dứt điểm, tránh tình trạng tài sản công bị bỏ không hoặc sử dụng không hiệu quả.

    Đồng thời, tỉnh cần tăng cường thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng các cơ sở nhà, đất do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước quản lý trên địa bàn, qua đó ngăn chặn nguy cơ thất thoát, lãng phí.

    PV

    Nguồn https://baomoi.com/chuyen-bo-cong-an-vu-khai-thac-trai-phep-hon-2-3-trieu-m3-dat-tai-an-giang-c56194069.epi

  • Đề nghị giữ quyền tách hợp thửa trong Luật Đất đai

    Hiệp hội Bất động sản TPHCM (HoREA) vừa có góp ý dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, với nội dung HoREA muốn bổ sung là quy định riêng về tách, hợp thửa đất.

    Theo đó, Luật Đất đai 2024 dành Điều 220 để quy định việc tách, hợp thửa đất. Dự thảo mới không còn điều tương ứng, dù tách thửa vẫn được nhắc đến ở một số trường hợp như nhóm người cùng sử dụng đất muốn tách phần quyền của từng thành viên hoặc bán công trình gắn liền với đất cần tách thửa để cấp giấy chứng nhận. HoREA cho rằng chừng đó chưa bao quát hết nhu cầu của hộ gia đình, cá nhân.

    Ông Lê Hoàng Châu – Chủ tịch HoREA đề nghị, bổ sung Điều 92a ngay sau Điều 92 và giữ lại về cơ bản nội dung Điều 220 hiện hành. Những lý do được đưa ra rất gần với đời sống: người dân có thể cần tách đất cho con cháu, chia tài sản thừa kế, thậm chí bán bớt một phần đất để có tiền xây nhà.

    “Đây không đơn thuần là một thủ tục hành chính. Đã là quyền thì phải được quy định trong luật, không thể quy định tại văn bản dưới luật”, ông Châu nói.

    Điều 220 hiện đặt ra khung chung cho việc tách, hợp thửa trên cả nước. Đất phải có giấy chứng nhận, còn thời hạn sử dụng, không tranh chấp, không bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thửa đất cũng phải có lối đi, kết nối với đường giao thông công cộng, bảo đảm cấp và thoát nước.

    Khi tách, các thửa mới phải đạt diện tích tối thiểu theo quy định của UBND cấp tỉnh. Nếu phần muốn tách nhỏ hơn mức này, người sử dụng đất phải đồng thời hợp với thửa liền kề. Trường hợp chuyển mục đích một phần khu đất, diện tích sau tách cũng phải đáp ứng mức tối thiểu của loại đất sau chuyển mục đích.

    HoREA muốn giữ lại trong Luật Đất đai sửa đổi quyền tách, hợp thửa cùng bộ nguyên tắc chung để người dân và cơ quan quản lý có căn cứ thực hiện.

    Phương án HoREA đưa ra tiếp tục giữ cách phân vai này. Theo đó, luật quy định quyền cùng các nguyên tắc chung, còn từng tỉnh thành quyết định điều kiện cụ thể và diện tích tối thiểu phù hợp thực tế địa phương.

    Dẫn thực tế tại TPHCM, HoREA cho biết, quyết định 67/2026/QĐ-UBND của UBND TPHCM, có hiệu lực từ ngày 28/8, hiện cũng yêu cầu việc tách, hợp thửa phải tuân thủ các nguyên tắc và điều kiện tại Điều 220.

    Tuy nhiên, ông Lê Hoàng Châu đề nghị UBND TPHCM kiến nghị xử lý rõ hơn trường hợp một thửa đất vừa có đất ở, vừa có đất vườn, ao hoặc đất nông nghiệp. Ông Châu lấy ví dụ, một hộ gia đình có thửa đất 1.100 m2 tại phường Đông Hưng Thuận. Trong đó, 500 m2 được công nhận là đất ở và có nhà, còn 600 m2 thực tế là sân xi măng nhưng trên giấy chứng nhận vẫn ghi đất nông nghiệp trồng cây ngắn ngày.

    Gia đình muốn chia khu đất thành 6 thửa cho 6 người con, đồng thời chừa diện tích làm lối đi chung. Vướng mắc nằm ở phần sân 600 m2, thực tế không còn dùng để sản xuất nông nghiệp nhưng hồ sơ vẫn ghi là đất nông nghiệp.

    Với những trường hợp như vậy, HoREA đề nghị UBND cấp xã căn cứ nhu cầu thực tế để xem xét chuyển toàn bộ hoặc một phần diện tích sang đất ở cùng lúc với việc tách thửa. Phần đất mới hình thành và thửa còn lại vẫn phải đáp ứng diện tích tối thiểu, người sử dụng đất cũng phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định.

    Ngay cả chuyện lối đi chung, HoREA cũng cho rằng không nên áp một kích thước cứng cho mọi khu đất. Có trường hợp cần đường cho ô tô, nhưng nơi khác chỉ cần lối đi cho xe hai hoặc ba bánh, nên chính quyền cơ sở cần được xem xét theo điều kiện thực tế.

    Do vậy, điều HoREA muốn giữ ở cấp luật là quyền tách, hợp thửa cùng bộ nguyên tắc chung để người dân và cơ quan quản lý có căn cứ thực hiện. Diện tích tối thiểu, lối đi và các điều kiện chi tiết vẫn được địa phương quy định theo đặc điểm từng nơi.

    Duy Quang

    Nguồn https://baomoi.com/de-nghi-giu-quyen-tach-hop-thua-trong-luat-dat-dai-c56193961.epi

  • Mức hỗ trợ công tác mộ liệt sĩ được quy định như thế nào?

    Trả lời: Vấn đề bạn hỏi được quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 321/2026/NĐ-CP quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng. Cụ thể như sau:

    a) Hỗ trợ một lần kinh phí xây mộ liệt sĩ đối với hài cốt liệt sĩ an táng ngoài nghĩa trang liệt sĩ: 10.000.000 đồng/mộ;

    b) Hỗ trợ xây mới vỏ mộ liệt sĩ bao gồm cả bia ghi tên liệt sĩ đối với hài cốt liệt sĩ an táng trong nghĩa trang liệt sĩ: Tối đa 10.000.000 đồng/mộ (không gắn với dự án xây dựng, nâng cấp nghĩa trang); hỗ trợ cải tạo, nâng cấp, sửa chữa mộ liệt sĩ bao gồm cả bia ghi tên liệt sĩ: Tối đa bằng 70% mức xây mới.

    * Bạn đọc Hồ Minh Phong ở xã Ea Bá, tỉnh Đắk Lắk, hỏi: Đề nghị tòa soạn cho biết, thời hạn và mức lãi suất đối với các khoản vay của người nghèo và các đối tượng chính sách khác tại ngân hàng chính sách xã hội được quy định như thế nào?

    Trả lời: Vấn đề bạn hỏi được quy định tại khoản 1, 2 Điều 2 Văn bản hợp nhất số 107/2026/VBHN-TT-NHNN thông tư quy định chi tiết thi hành việc hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay của người nghèo và các đối tượng chính sách khác tại ngân hàng chính sách xã hội. Cụ thể như sau:

    1. Thời hạn vay được hỗ trợ lãi suất tối đa là 24 tháng áp dụng đối với từng khoản vay trong hạn, được tính từ ngày giải ngân đến 31 tháng 12 năm 2011. Không được tính hỗ trợ lãi suất đối với khoảng thời gian khoản vay bị quá hạn trả nợ, gia hạn nợ và khoảng thời hạn vay thực tế vượt quá 24 tháng.

    2. Mức lãi suất hỗ trợ cho khách hàng vay:

    a) Đối với những khoản vay có lãi suất cho vay đang thực hiện lớn hơn 4%/năm: Mức lãi suất hỗ trợ cho khách hàng vay là 4%/năm, tính trên số dư nợ vay và thời hạn cho vay thực tế.

    b) Đối với những khoản vay có lãi suất cho vay đang thực hiện nhỏ hơn hoặc bằng 4%/năm: Mức lãi suất hỗ trợ là toàn bộ lãi suất tiền vay tính trên số dư nợ vay và thời hạn cho vay thực tế (lãi suất cho vay là 0%/năm).

    QĐND

    Nguồn https://baomoi.com/muc-ho-tro-cong-tac-mo-liet-si-duoc-quy-dinh-nhu-the-nao-c56191909.epi

  • 17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện ‘có mặt’ với trách nhiệm

    Ngày 1/10, UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức hội nghị tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, nhà đầu tư trên địa bàn. Đây không phải một cuộc họp mang tính hình thức. Nhiều kiến nghị được đưa ra liên quan đến đất đai, thủ tục pháp lý, bồi thường, giải phóng mặt bằng, môi trường và những vấn đề đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ dự án, hoạt động sản xuất, kinh doanh.

    Tại hội nghị, tỉnh ghi nhận một số đơn vị đăng ký thành phần tham dự chậm; một số địa phương dự trực tuyến nhưng không tham dự đầy đủ đến khi kết thúc. Sau đó, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi phê bình 17 Chủ tịch UBND xã vì không nghiêm túc trong việc tham dự hội nghị. Văn bản của tỉnh đồng thời yêu cầu người được phân công phải tham dự đầy đủ, đúng thời gian, xuyên suốt nội dung cuộc họp; trường hợp không thể tiếp tục tham dự phải báo cáo và được người chủ trì đồng ý.

    Nhìn ở góc độ kỷ luật, đó là yêu cầu rất bình thường. Nhưng nếu cuộc họp đang bàn về một dự án còn vướng đất đai, một hồ sơ đang chờ giải quyết, một kiến nghị của doanh nghiệp đã tồn đọng nhiều tháng, thì việc người có trách nhiệm có theo dõi đến cùng hay không lại không còn là chuyện nhỏ.

    17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện “có mặt” với trách nhiệm – Ảnh: AI

    Họp cho đủ mặt, trách nhiệm để đâu?

    Không thể từ một sự việc ở Quảng Ngãi để nói rằng đó là tình trạng phổ biến. Cũng không nên chỉ nhìn câu chuyện này qua con số 17 người bị phê bình.

    Điều đáng suy nghĩ nằm ở một câu hỏi khác: Một cán bộ có thể có mặt trong cuộc họp nhưng có thực sự có mặt với công việc của mình hay không?

    Có những cuộc họp, người dự ngồi đủ thành phần nhưng tâm trí lại dành cho những việc khác. Có người nghe đến phần liên quan đến mình rồi rời đi. Có người tham dự đầy đủ nhưng sau khi cuộc họp kết thúc, những nội dung được giao vẫn nằm trên giấy.

    Tất nhiên, không phải mọi trường hợp rời cuộc họp sớm đều đáng trách. Công việc đột xuất, tình huống cấp bách có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Vấn đề nằm ở cách ứng xử với trách nhiệm: có báo cáo hay không, có được người chủ trì đồng ý hay không, và quan trọng hơn, phần việc của mình có được tiếp tục theo đến cùng hay không.

    Vì vậy, “có mặt” không nên chỉ được hiểu là sự hiện diện về mặt thời gian.

    Một người có thể ngồi hết một cuộc họp nhưng vẫn vắng mặt trong công việc nếu sau đó không biết mình phải làm gì, không theo dõi việc được giao và không chịu trách nhiệm về kết quả. Ngược lại, giá trị của một cuộc họp đôi khi nằm ở những việc diễn ra sau đó: một cuộc điện thoại được thực hiện, một hồ sơ được kiểm tra lại, một vướng mắc được tháo gỡ, một quyết định được đưa ra đúng lúc.

    Nói cách khác, sự có mặt đáng kể nhất của một cán bộ không phải là có tên trong danh sách tham dự, mà là sự hiện diện của họ trong quá trình giải quyết công việc.

    Đó cũng là tinh thần được đặt ra trong Chỉ thị 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị: việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh phải gắn với chất lượng, hiệu quả thực thi nhiệm vụ; lấy sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công việc và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo. Chỉ thị cũng nhấn mạnh yêu cầu làm việc khoa học, sâu sát thực tiễn, nói đi đôi với làm, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

    Nhìn như vậy, những việc tưởng rất nhỏ như đi họp đúng giờ, tham dự đầy đủ, nghe kỹ, ghi lại phần việc của mình rồi theo đến cùng lại không hề nhỏ. Đó là cách một người thực hiện trách nhiệm của mình trong những công việc bình thường nhất.

    Một cuộc họp kết thúc, công việc phải bắt đầu

    Điều đáng chú ý ở hội nghị ngày 1/10 tại Quảng Ngãi là những vấn đề được đưa ra không hề xa đời sống sản xuất, kinh doanh. Theo tổng hợp của Trung tâm Xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch tỉnh, có 35 kiến nghị của 16 doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp được đưa ra tại buổi làm việc, tập trung vào đất đai và hồ sơ pháp lý dự án; nghĩa vụ tài chính về đất và thuế; bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; nguồn vật liệu xây dựng.

    Từ đầu năm 2026 đến nay, Trung tâm đã theo dõi, đôn đốc các sở, ban, ngành, địa phương giải quyết 149 nội dung kiến nghị của 56 doanh nghiệp, nhà đầu tư, tổ chức. Đến nay, 83 nội dung đã được giải quyết, còn 66 nội dung đang tiếp tục được phối hợp xử lý. Các kiến nghị này liên quan đến nhiều lĩnh vực như đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư, đầu tư công, môi trường, cấp và điều chỉnh chủ trương đầu tư, cơ chế, chính sách…

    Những con số ấy cho thấy phía sau một cuộc họp là rất nhiều công việc cụ thể. Chẳng hạn như một hồ sơ đất đai có thể liên quan đến tiến độ của cả dự án; một phương án bồi thường chậm có thể khiến công trường chưa thể triển khai; hay một thủ tục môi trường chưa hoàn tất có thể khiến nhà máy chưa thể hoạt động trở lại.

    Trong những trường hợp ấy, điều doanh nghiệp cần không phải là một cuộc họp đông đủ về hình thức, mà là sau cuộc họp có ai thực sự theo việc.

    Đó cũng là lý do Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Đức Tâm yêu cầu các cơ quan, địa phương trả lời từng kiến nghị theo hướng rõ người, rõ việc, rõ thời hạn. Người đứng đầu tỉnh nhấn mạnh không chấp nhận cách trả lời “đang nghiên cứu”, “sẽ phối hợp”, “tiếp tục rà soát” mà không có người chịu trách nhiệm, không có hướng giải quyết và không có thời hạn.

    Cách đặt vấn đề ấy đáng suy nghĩ bởi nó đưa câu chuyện trách nhiệm từ phòng họp trở về đúng nơi nó cần thuộc về: kết quả công việc.

    Một cuộc họp không thể tự mình giải quyết được một hồ sơ. Một biên bản không thể thay thế một quyết định. Một lời hứa sẽ phối hợp cũng không thể thay thế cho việc phối hợp thực sự. Cuộc họp chỉ có ý nghĩa khi sau đó công việc chuyển động.

    Trong một bộ máy đang được yêu cầu vận hành nhanh hơn, hiệu quả hơn, yêu cầu ấy càng rõ. Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị cũng đặt vấn đề lấy sản phẩm, hiệu quả công việc, năng lực tháo gỡ điểm nghẽn, giải quyết việc khó, việc tồn đọng kéo dài và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm những thước đo quan trọng trong đánh giá cán bộ.

    Vì thế, chống bệnh hình thức trong hội họp không chỉ là giảm những cuộc họp không cần thiết. Đó còn là thay đổi cách nhìn về trách nhiệm của người dự họp.

    Người tổ chức phải họp đúng việc, đúng người, tránh triệu tập tràn lan. Người được mời phải xác định rõ mình đến để làm gì, cần nắm việc gì và sau đó phải chịu trách nhiệm về phần việc nào.

    Nếu một cuộc họp kéo dài nhưng không có việc gì chuyển động, cuộc họp ấy khó có thể gọi là hiệu quả. Nhưng nếu một cuộc họp kết thúc và từng vấn đề đều có người nhận, có cách làm, có thời hạn; những người tham dự sau đó thực sự theo việc đến cùng, thì có khi cuộc họp chỉ vài giờ lại tạo ra chuyển động cho nhiều tuần, nhiều tháng. Đó mới là giá trị của việc “có mặt”.

    Mười bảy Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi bị phê bình có thể chỉ là một câu chuyện về kỷ luật tham dự hội nghị. Không nên biến sự việc này thành một phép quy chiếu cho tất cả cán bộ, cũng không cần nhìn nó đơn thuần như câu chuyện trách phạt.

    Điều đáng nhìn rộng hơn là một câu hỏi về văn hóa công vụ: Trong một bộ máy đang cần chuyển động nhanh, người có trách nhiệm sẽ hiện diện như thế nào trong công việc của mình?

    Có mặt khi cuộc họp bắt đầu là yêu cầu về kỷ luật. Có mặt trong từng vấn đề được giao là trách nhiệm. Và có mặt cho đến khi công việc có kết quả mới là điều người dân, doanh nghiệp thực sự cần.

    Bởi lẽ, sau cùng, họ không cần những danh sách thành phần thật đẹp, những cuộc họp thật đông hay những báo cáo thật dài. Họ cần một cán bộ chịu nghe, chịu làm, dám quyết và theo đuổi công việc đến cùng.

    Có mặt trong một cuộc họp là chuyện rất dễ. Có mặt với công việc mới là điều đáng nói.

    Hoài Đức

    Nguồn https://baomoi.com/17-chu-tich-xa-o-quang-ngai-va-cau-chuyen-co-mat-voi-trach-nhiem-c56193827.epi

  • Hà Nội: Gần 1 ha đất tại Chùa Bộc được chuyển sang làm dự án nhà ở, thương mại

    UBND TP Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 5397/QĐ-UBND về việc cho Tổng Công ty 36 – CTCP chuyển mục đích sử dụng 9.825,7 m2 đất tại số 6-8 phố Chùa Bộc, phường Kim Liên do Tổng Công ty đang quản lý, sử dụng để thực hiện Dự án Xây dựng nhà ở cao tầng kết hợp thương mại dịch vụ.

    Diện tích của khu đất này là 9.825,7 m2, phần lớn là đất ở với diện tích 6.842,7 m2 để xây dựng công trình nhà ở kết hợp thương mại dịch vụ và công trình hạ tầng, phía dưới có tầng hầm.

    Số 6-8 Chùa Bộc hiện đang là bãi trông giữ xe.

    Đối với diện tích đất ở, nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Tổng Công ty 36 được sử dụng trong thời hạn 50 năm kể từ ngày UBND thành phố ban hành quyết định. Người mua nhà ở gắn với quyền sử dụng đất được sử dụng đất lâu dài theo quy định. 

    Ngoài diện tích đất ở nêu trên, dự án còn có 2.940,6 m2 đất thương mại, dịch vụ (để xây dựng công trình văn phòng, khách sạn, thương mại dịch vụ, hạ tầng phục vụ công trình thương mại, phía dưới có tầng hầm); vị trí, ranh giới, diện tích được giới hạn bởi các mốc từ T1 đến T10, E1, T11 đến T33, T1;

    Với phần đất thương mại, dịch vụ này nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm; thời hạn sử dụng đất là 50 năm từ ngày UBND Thành phố ký quyết định.

    42,4 m2 đất còn lại nằm trong chỉ giới đường đỏ; vị trí, ranh giới, diện tích giới hạn bởi các mốc (4, 5, B, 4), (2, 3, C, D, E, 18, 2) và (E1, F, 39, 17, E1); hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất; Tổng Công ty 36 – CTCP có trách nhiệm làm đường, sau khi hoàn thành, Tổng Công ty 36 – CTCP có trách nhiệm bàn giao cho chính quyền địa phương, cơ quan chức năng của Thành phố để quản lý.

    UBND Thành phố giao Tổng Công ty 36 – CTCP chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính chuẩn xác và tính hợp pháp của các thông tin, số liệu, tài liệu gửi kèm hồ sơ dự án đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất; thực hiện đầy đủ trách nhiệm của nhà đầu tư ghi tại Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư số 26/QĐ-UBND ngày 06/01/2026 của UBND Thành phố.

    Tổng Công ty 36 – CTCP liên hệ với Sở Nông nghiệp và Môi trường; Sở Tài chính; Thuế thành phố Hà Nội để thực hiện hoàn tất các thủ tục liên quan đến đất đai và các nghĩa vụ tài chính về đất đai.

    Trước đây, Dự án 6-8 Chùa Bộc được phê duyệt là một tổ hợp Trung tâm thương mại – Văn phòng – Khách sạn cao cấp quy mô lớn, cao 21 tầng. Sau khi được chuyển nhượng cho Tổng công ty 36 của Chủ tịch Nguyễn Đăng Giáp, dự án được chuyển đổi thành dự án Khu nhà ở cao tầng kết hợp dịch vụ thương mại với quy mô 24 tầng nổi và 4 tầng hầm, mật độ xây dựng tối đa 45%.

    Tuy nhiên, suốt giai đoạn từ 2016 đến 2020, Tổng công ty 36 “mắc kẹt” tại dự án 6-8 Chùa Bộc do một số doanh nghiệp thuê đất kinh doanh quán bar, nhà hàng… ngang nhiên hoạt động, chây ì không chịu trả mặt bằng.

    Sau nhiều rắc rối về mặt pháp lý, Tổng công ty 36 đã được Cục Thi hành án dân sự Hà Nội bàn giao lại lô đất 6-8 Chùa Bộc (quận Đống Đa, TP.Hà Nội) để thực hiện dự án có tên thương mại Hà Nội Orchard Park.

    Đến thời điểm hiện tại, tại vị trí dự án trên khu vực “đất vàng” của phường Kim Liên hiện là bãi trông giữ xe ngày và đêm.

    Anh Tuấn

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-gan-1-ha-dat-tai-chua-boc-duoc-chuyen-sang-lam-du-an-nha-o-thuong-mai-c56193832.epi

  • Đưa chương trình phát triển nhà ở xã hội vào nhóm luồng xanh

    Dự án Nhà ở xã hội tại Khu hành chính và dân cư phường Long Châu (Vĩnh Long) đang đẩy nhanh tiến độ hoàn thành.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Trúc Sơn cho biết, thực hiện Chương trình phát triển nhà ở xã hội, mục tiêu cốt lõi của tỉnh là giải quyết căn bản nhu cầu an cư cho người thu nhập thấp và công nhân lao động, góp phần tích cực đảm bảo an sinh xã hội gắn liền với tiến trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp bền vững. Chương trình phát triển nhà ở của tỉnh Vĩnh Long không chỉ hướng tới số lượng mà đặc biệt chú trọng đến chất lượng công trình và khả năng chi trả thực tế của người dân.”

    Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long, HĐND tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Nghị quyết số 34/NQ-HĐND phê duyệt điều chỉnh chương trình phát triển nhà ở địa phương. Theo đó, đến năm 2030, tỉnh phấn đấu hoàn thành khoảng 1,34 triệu m2 sàn nhà ở xã hội, tương đương 20.508 căn hộ. Trong cơ cấu phân bổ, nguồn cung lớn nhất dành cho nhóm đối tượng thu nhập thấp với 1,26 triệu m2 sàn, tương ứng khoảng 19.519 căn; nhà lưu trú công nhân khu công nghiệp đạt 120.000 m2 sàn, tương ứng 2.000 căn; nhà ở cho lực lượng vũ trang đạt 69.230 m2 sàn, tương ứng 989 căn. Mục tiêu này góp phần nâng diện tích nhà ở bình quân tỉnh đạt 36,0 m2 sàn/người và kéo giảm tỷ lệ nhà ở thiếu kiên cố xuống dưới 0,09%.

    Để đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu trên, tỉnh Vĩnh Long đã chủ động rà soát, bố trí quy mô quỹ đất và nguồn tài chính cho giai đoạn từ nay đến năm 2030. Tỉnh dự kiến bố trí khoảng 82 ha đất sạch phục vụ riêng cho các dự án nhà ở xã hội, ưu tiên các vị trí đất công phù hợp và khu vực gắn liền với các thiết chế công đoàn tại các khu, cụm công nghiệp trọng điểm, như: Hòa Phú, Bình Minh, Đông Bình. Tổng nhu cầu vốn phát triển nhà ở trên tỉnh ước tính khoảng 332.213 tỷ đồng; trong đó vốn ngoài ngân sách là chủ yếu với 331.677 tỷ đồng, vốn ngân sách nhà nước bố trí khoảng 536 tỷ đồng để đầu tư nhà ở công vụ.

    Theo ông Dương Văn Phúc, Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Long, qua rà soát thực tế, nhu cầu nhà ở xã hội trên địa bàn hiện tăng mạnh, đặc biệt sau khi rà soát, bố trí bộ máy hành chính số lượng cán bộ, công chức và lực lượng lao động tại các khu công nghiệp chuyển về địa phương gia tăng. Tính đến hết tháng 9/2026, tỉnh đã triển khai, mời gọi đầu tư 26 dự án nhà ở xã hội với quy mô khoảng 9.269 căn.

    Dự án Nhà ở xã hội Công đoàn trên địa bàn xã Gisao Long, tỉnh Vĩnh Long đang được thi công. Ảnh: Phúc Sơn/TTXVN

    Nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai theo chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Xây dựng đang phối hợp cùng các sở, ngành liên quan đưa các dự án nhà ở xã hội vào nhóm luồng xanh. Cụ thể, các dự án nhà ở xã hội sẽ được cắt giảm tối đa thời gian xử lý ít nhất 50% thời gian thủ tục hành chính liên thông trên nhiều lĩnh vực: đất đai, đầu tư, quy hoạch, xây dựng, nhà ở, môi trường, phòng cháy chữa cháy và kinh doanh bất động sản.

    Tỉnh thúc đẩy chuyển đổi số và công khai dữ liệu liên thông với hệ thống thông tin quốc gia; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số về nhà ở và thị trường bất động sản để công khai danh mục dự án, thông tin bất động sản minh bạch. Tăng cường công tác thẩm định ngay từ khâu tiếp nhận dự án, lựa chọn các nhà đầu tư có đủ năng lực tài chính, nhân lực, kinh nghiệm quản trị và chuyên môn kỹ thuật; kiên quyết không tiếp nhận các nhà đầu tư yếu kém. Các cơ quan chuyên môn thường xuyên kiểm tra, giám sát đánh giá đầu tư, kịp thời hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho các chủ đầu tư nhằm đẩy nhanh tiến độ hoàn thành công trình.

    Chương trình phát triển nhà ở xã hội giai đoạn mới được triển khai trong bối cảnh có nhiều khó khăn, áp lực về chi phí, CPI nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 7,17% so với cùng kỳ do nhu cầu xây dựng tăng cao. Tuy nhiên, tỉnh Vĩnh Long sẽ tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp cùng với đưa các dự án nhà ở xã hội vào nhóm luồng xanh để giúp người thu nhập thấp và công nhân lao động thuận lợi an cư, góp phần tích cực đảm bảo an sinh xã hội.

    Tin, ảnh: Phúc Sơn/TTXVN

    Nguồn https://baomoi.com/dua-chuong-trinh-phat-trien-nha-o-xa-hoi-vao-nhom-luong-xanh-c56193997.epi

  • Phường Ngũ Hành Sơn bàn giao 5 tuyến đường đảm bảo trật tự đô thị cho khu dân cư quản lý

    Các đại biểu cùng người dân tham gia dọn vệ sinh môi trường trên các tuyến đường. Ảnh: VĂN HÙNG – PHƯƠNG HUY

    Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Trần Thị Mẫn cùng lãnh đạo phường Ngũ Hành Sơn và người dân các khu dân cư tham dự lễ bàn giao; đồng thời ra quân xử lý, đảm bảo vệ sinh môi trường tại các khu dân cư trên địa bàn.

    Trong đợt này, phường Ngũ Hành Sơn bàn giao tuyến đường Trần Trọng Khiêm cho khu dân cư Mỹ Đa Tây 3; tuyến đường Nguyễn Quốc Trị cho khu dân cư Mỹ Đa Tây 4. Các khu dân cư Đa Mặn 1, Đa Mặn 2 và Đa Mặn 3 quản lý, đảm bảo trật tự các tuyến đường Dương Khuê, Bùi Tá Hán và Nguyễn Đình Chiểu.

    Các tuyến đường này được lực lượng chức năng phường ra quân đảm bảo trật tự đô thị, lập lại trật tự vỉa hè; nay bàn giao cho các khu dân cư quản lý, giám sát, duy trì trật tự đô thị, không để tái diễn tình trạng lấn chiếm vỉa hè.

    Lãnh đạo địa phương tuyên truyền, động viên người dân chấp hành đảm bảo trật tự vỉa hè. Ảnh: VĂN HÙNG – PHƯƠNG HUY

    Trước đó, phường Ngũ Hành Sơn cũng đã bàn giao các tuyến đường Mai Đăng Chơn, Cao Hồng Lãnh và Lê Trí Viễn cho các khu dân cư Khuê Đông 1, Khuê Đông 2, Khái Tây, Khái Tây 1, Khái Tây 2A, Khái Tây 2B và Thị An trực tiếp tham gia quản lý, đảm bảo trật tự đô thị.

    Thời gian tới, phường tiếp tục nhân rộng mô hình “Tuyến đường đảm bảo trật tự đô thị, không lấn chiếm vỉa hè”. Các lực lượng chức năng như công an phường, kiểm tra quy tắc đô thị, an ninh cơ sở phát huy vai trò tiên phong, phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể, thực hiện kiên trì và liên tục với phương châm “Tuyên truyền đi trước, hướng dẫn theo sau, xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm”.

    VĂN HÙNG – PHƯƠNG HUY

    Nguồn https://baomoi.com/phuong-ngu-hanh-son-ban-giao-5-tuyen-duong-dam-bao-trat-tu-do-thi-cho-khu-dan-cu-quan-ly-c56193723.epi

  • Xác lập quyền sử dụng đất cho đồng bào dân tộc thiểu số

    Hoàn thiện pháp luật về đất đai, bảo đảm xác lập quyền sử dụng đất cho đồng bào dân tộc thiểu số. Ảnh: TUẤN HIÊN

    Từ “thiếu đất” đến khoảng trống về quyền pháp lý

    Giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những vấn đề được nhiều đại biểu Quốc hội đặt ra khi góp ý về định hướng sửa đổi Luật Đất đai. Các đại biểu nhấn mạnh, việc thiết kế chính sách này cần được nhìn nhận đầy đủ hơn từ thực tiễn sử dụng đất tại cơ sở.

    Theo đại biểu Lý Thị Lan (Đoàn Tuyên Quang), qua khảo sát tại địa phương, nhu cầu hỗ trợ đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số còn rất lớn, song kết quả thực hiện giai đoạn 2021-2025 còn thấp, trên 95% nhu cầu về đất ở và gần 99% nhu cầu về đất sản xuất chưa được giải quyết.

    Đáng chú ý, đại biểu Lan chỉ ra, bên cạnh những hộ thực sự không có hoặc thiếu đất ở, đất sản xuất, còn có những hộ đã sinh sống, sản xuất ổn định từ lâu nhưng chưa được xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp. Đây là vấn đề khá phổ biến tại địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay.

    Theo đó, có những điểm dân cư hình thành qua nhiều năm tại những nơi gắn với nương, rẫy và sinh kế của người dân, nhưng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường chưa được giải quyết dứt điểm; hồ sơ địa chính chưa đầy đủ, ranh giới chưa rõ hoặc hiện trạng sử dụng đất còn chồng lấn với quy hoạch lâm nghiệp. Vì vậy, người dân có đất sử dụng trên thực tế nhưng chưa có quyền pháp lý tương ứng đối với diện tích đất đó.

    “Khi chưa xác lập được quyền sử dụng đất thì không chỉ quyền về đất đai bị hạn chế mà người dân còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng chính sách về nhà ở, hỗ trợ sinh kế và một số chính sách an sinh khác” – đại biểu Lý Thị Lan chỉ rõ.

    Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với việc hoàn thiện chính sách đất đai. Bởi nếu chỉ nhìn nhận vào số hộ thiếu đất để thiết kế chính sách thì chưa phản ánh đầy đủ thực trạng. Trong trường hợp này, nhu cầu của người dân không phải là được giao thêm một diện tích đất mới, mà trước hết là giải quyết dứt điểm tình trạng pháp lý đối với diện tích đất mà họ đã sử dụng ổn định qua nhiều năm.

    Từ thực tế này, vấn đề đặt ra đối với quá trình sửa đổi pháp luật không chỉ là xác định đối tượng, điều kiện để hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, mà còn phải giải quyết được “khoảng trống” giữa đất người dân đang sử dụng trên thực tế và quyền sử dụng đất được pháp luật xác lập.

    Đại biểu Lý Thị Lan cho rằng cần đặt chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số trong mối quan hệ trực tiếp với quy định về quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường.

    Dẫn chứng thực tế từ tỉnh Tuyên Quang, đại biểu cho biết, hơn 28.000ha đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường đã được thu hồi, bàn giao về địa phương qua các giai đoạn song chưa hoàn thành đo đạc, xác định ranh giới; có nơi còn tranh chấp, lấn chiếm, cấp trùng; có diện tích người dân đã sử dụng ổn định; cũng có nơi hiện trạng sử dụng không thống nhất với hồ sơ hoặc quy hoạch lâm nghiệp.

    Cùng đề cập vấn đề này, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng) cho rằng, đất có nguồn gốc nông, lâm trường rất phức tạp, tranh chấp, lấn chiếm, giao khoán sai đối tượng, lấn chồng ranh giới, thiếu hồ sơ hoặc không xác định rõ nguồn gốc sử dụng. Nếu chỉ bàn giao nguyên trạng mà không đồng thời xác định rõ trách nhiệm pháp lý của từng cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thì địa phương có thể nhận đất nhưng đồng thời nhận cả một khối lượng rất lớn các vấn đề về pháp lý chưa được giải quyết. Khi đó, mục tiêu cấp giấy chứng nhận đất cho người dân lại tiếp tục bị ách tắc.

    Xử lý căn cơ bất cập, bảo đảm quyền hợp pháp của người dân

    Từ những vướng mắc thực tiễn, các đại biểu Quốc hội đề nghị Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) cần tạo được cơ chế đủ rõ để xử lý các trường hợp sử dụng đất ổn định nhưng chưa được xác lập quyền sử dụng đất, đồng thời phân định rạch ròi với các trường hợp lấn chiếm, vi phạm mới phát sinh.

    Luật Đất đai sửa đổi cần có cơ chế nhằm tháo gỡ rào cản đối với quyền lợi chính đáng của người dân đang sử dụng đất ổn định. Ảnh: TUẤN HIÊN

    Theo đại biểu Lý Thị Lan, cần rà soát quy định về chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và quy định về quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường theo hướng có sự kết nối rõ về chính sách và nguồn đất. Chính phủ cần được giao quy định cơ chế xử lý những tồn tại lịch sử đối với đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường, trong đó có những trường hợp hiện trạng sử dụng đất không thống nhất với hồ sơ, quy hoạch qua nhiều thời kỳ.

    Điểm quan trọng được đại biểu nhấn mạnh là phải xác định rõ tiêu chí để phân loại, xử lý đối với những hộ gia đình, cá nhân đã sinh sống, sản xuất ổn định nhưng chưa được xác lập quyền sử dụng đất; đồng thời phân biệt với trường hợp lấn chiếm, vi phạm mới phát sinh. Điều này vừa đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân, vừa giữ nghiêm kỷ cương quản lý đất đai và yêu cầu bảo vệ rừng.

    Cùng quan điểm cần xử lý căn cơ những vấn đề tồn tại mang tính lịch sử, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt (Đoàn Đắk Lắk) cho rằng, định hướng khắc phục các tồn tại lịch sử trong quản lý, sử dụng đất, trong đó có đất có nguồn gốc nông, lâm trường quốc doanh, cần được luật hóa bằng một cơ chế cụ thể trong Luật Đất đai.

    Theo đại biểu, cần có một cơ chế xử lý dứt điểm diện tích đất nông, lâm nghiệp bị lấn chiếm trái phép qua các thời kỳ, không phân biệt thời điểm lấn chiếm.Chính sách cần thiết kế theo hướng công nhận cho đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất; cho thuê đất đối với đối tượng còn lại nếu phù hợp với quy hoạch. Đồng thời, có giải pháp, lộ trình thu hồi đất bị lấn chiếm đối với diện tích đất còn lại nhằm đảm bảo kỷ cương pháp luật gắn với ổn định cuộc sống của người dân và thực hiện chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

    Nguyên tắc được các ý kiến nhấn mạnh là không hợp thức hóa sai phạm, nhưng cũng không để những bất cập, thiếu thống nhất trong quản lý đất đai qua nhiều thời kỳ tiếp tục trở thành rào cản đối với quyền lợi chính đáng của người dân đang sử dụng đất ổn định.

    Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Lâm Đồng) nhấn mạnh quan điểm, hoàn thiện pháp luật cần đi cùng với việc xác lập một chuỗi trách nhiệm rõ ràng. Đại biểu đề nghị bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm của UBND cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc rà soát, xác định ranh giới, hiện trạng nguồn gốc đất, xử lý hồ sơ chồng lấn và các tranh chấp đất trước khi bàn giao.

    Như vậy, việc xác lập quyền sử dụng đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là việc giải quyết một nhu cầu về chỗ ở, mà còn là việc hoàn thiện địa vị pháp lý của người đang sử dụng đất, tháo gỡ những điểm nghẽn kéo dài từ lịch sử quản lý, sử dụng đất và tạo điều kiện để người dân tiếp cận đầy đủ hơn các quyền, chính sách gắn với đất đai. Khi những diện tích đất người dân đã sử dụng ổn định, đủ điều kiện được rà soát, phân loại và xử lý đúng pháp luật, đất đai mới thực sự trở thành nguồn lực phục vụ đời sống và phát triển.

    Liên quan đến vấn đề này, mới đây, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

    Kế hoạch yêu cầu rà soát toàn diện hệ thống chính sách đất đai hiện hành; đánh giá thực trạng, xác định những bất cập, vướng mắc, chồng chéo để đề xuất nội dung cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới, bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật đất đai và các cơ chế, chính sách có liên quan.

    Trọng tâm rà soát gồm: chính sách giao đất ở, đất sản xuất cho hộ dân tộc thiểu số nghèo, cận nghèo, thiếu đất; cơ chế hạn chế chuyển nhượng đất sau khi được Nhà nước hỗ trợ; đất sinh hoạt cộng đồng; cơ chế sử dụng quỹ đất thu hồi, nhất là đất từ nông, lâm trường, để giải quyết đất cho đồng bào;

    Cơ chế, chính sách tham vấn cộng đồng khi thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chính sách đất đai gắn với bảo tồn văn hóa, phong tục, tập quán của đồng bào.

    Kế hoạch nêu rõ, việc rà soát đồng thời gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa chính sách đất đai và các cơ chế triển khai Chương trình.

    Trên cơ sở kết quả rà soát, các đơn vị liên quan sẽ xây dựng báo cáo, xác định danh mục chính sách cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới; đề xuất nội dung về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số để kiến nghị đưa vào Luật Đất đai (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thi hành.

    N. HỒNG

    Nguồn https://baomoi.com/xac-lap-quyen-su-dung-dat-cho-dong-bao-dan-toc-thieu-so-c56193871.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!