Author: bachdn

  • Đà Nẵng lấy ý kiến về việc tổ chức và quản lý vị trí đỗ xe hợp đồng trong nội thành

    Ngày 12/10, Sở Xây dựng TP Đà Nẵng cho biết, đã có công văn gửi Ủy ban MTTQ Việt Nam TP; Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND TP; Công an TP Đà Nẵng; Các Sở, ban, ngành TP Đà Nẵng; UBND các xã, phường; các Hội, đoàn thể trên địa bàn và các phòng ban, đơn vị trực thuộc Sở về việc lấy ý kiến góp ý dự thảo quyết định ban hành Quy định về tổ chức và quản lý các vị trí đỗ cho xe hợp đồng trong khu vực nội thành.

    Các cơ quan, đơn vị tham gia ý kiến góp ý bằng văn bản gửi về Sở Xây dựng (tầng 12 Trung tâm hành chính thành phố, số 24 Trần Phú) trước ngày 20/10 để tổng hợp, hoàn chỉnh dự thảo gửi Sở Tư pháp thẩm định.

    Một bãi đỗ xe tại TP Đà Nẵng.

    Sở Xây dựng TP Đà Nẵng cho hay, việc tổ chức và quản lý các vị trí đỗ cho xe hợp đồng trong khu vực nội thành dựa trên nguyên tắc bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và phù hợp với phương án tổ chức giao thông trên địa bàn.

    Ngoài ra, phù hợp với quy hoạch đô thị, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và không làm phát sinh tình trạng ùn tắc giao thông, mất an ninh, trật tự hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến sinh hoạt của cộng đồng dân cư.

    Vị trí đỗ cho xe hợp đồng chỉ được sử dụng để phương tiện dừng, đỗ chờ thực hiện hợp đồng vận chuyển; Không làm phát sinh tình trạng “xe dù”, “bến cóc” hoặc biến tướng thành điểm đón, trả khách thường xuyên của tuyến vận tải hành khách cố định. Việc tổ chức bảo đảm công khai, minh bạch, thuận tiện trong công tác quản lý nhà nước.

    Dự thảo cũng quy định rõ tiêu chí lựa chọn vị trí đỗ cho xe hợp đồng bao gồm: Vị trí lựa chọn, diện tích vị trí đỗ cho xe hợp đồng; Không thuộc các vị trí cấm dừng xe, đỗ xe theo quy định của pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Không ảnh hưởng đến năng lực thông hành của tuyến đường và các khu vực lân cận.

    Ngoài ra, lựa chọn vị trí đỗ cho xe cũng cần bảo đảm các yêu cầu về vệ sinh môi trường, phòng cháy và chữa cháy theo quy định của pháp luật; Phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu sử dụng trên địa bàn.

    Vị trí đỗ cho xe hợp đồng phải được báo hiệu bằng biển báo số I.434a theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ (QCVN 41:2024/BGTVT ban hành kèm theo Thông tư 51/2024/TT-BGTVT) và thay thế chữ “Bến xe buýt” thành chữ “Điểm đỗ cho Xe Hợp đồng”, có các biển báo phụ quy định về thời gian đỗ, loại xe được phép đỗ (theo số chỗ của thiết kế xe).

    Ưu tiên xác định vị trí đỗ cho xe hợp đồng tại các bến xe, bãi đỗ xe; cơ sở lưu trú du lịch; khu du lịch, điểm du lịch; di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh; làng nghề truyền thống; khu vui chơi, mua sắm, giải trí; cửa hàng ẩm thực đặc trưng; cửa hàng giới thiệu sản phẩm OCOP… đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận.

    Sở Xây dựng cho hay, các trường hợp không bố trí vị trí đỗ cho xe hợp đồng trên đường bộ sẽ gồm: Vị trí nằm trong phạm vi nút giao, trên cầu, gầm cầu, hầm đường bộ, đường cong có tầm nhìn hạn chế hoặc các vị trí khác có nguy cơ mất an toàn giao thông; Làm ảnh hưởng đến tầm nhìn của người điều khiển phương tiện, hệ thống báo hiệu đường bộ, công trình giao thông và các công trình hạ tầng kỹ thuật.

    Ngoài ra, vị trí làm cản trở hoạt động của phương tiện giao thông công cộng, phương tiện ưu tiên, phương tiện thu gom chất thải, cứu hỏa, cứu thương và các hoạt động phục vụ quản lý, bảo trì đường bộ; 4. Làm ảnh hưởng đến lối đi bộ, lối sang đường, đường dành cho người khuyết tật và lối tiếp cận các công trình công cộng; Tại các vị trí ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của trường học, bệnh viện, cơ quan Nhà nước và công trình công cộng khác; các vị trí khác theo quy định của pháp luật cũng nằm trong trường hợp không bố trí vị trí đỗ cho xe hợp đồng.

    Thanh Đức

    Nguồn https://baomoi.com/da-nang-lay-y-kien-ve-viec-to-chuc-va-quan-ly-vi-tri-do-xe-hop-dong-trong-noi-thanh-c56252972.epi

  • Tháo gỡ đến cùng các điểm nghẽn trong hệ thống pháp luật

    Tháo gỡ đến cùng các điểm nghẽn trong hệ thống pháp luật

    Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 522/TB-VPCP ngày 12/10/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về tình hình, tiến độ thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).

    Tại Thông báo, Phó Thủ tướng cơ bản thống nhất với nội dung báo cáo của Bộ Tư pháp về các kết quả sơ bộ đã đạt được trong thời gian vừa qua, các nhiệm vụ trong thời gian tới cũng như các đề xuất, kiến nghị của Bộ Tư pháp và các Bộ, cơ quan.

    Tuy nhiên, theo báo cáo và kết quả các đoàn kiểm tra, thẩm định của Bộ Tư pháp cũng như các ý kiến phát biểu tại cuộc họp, quá trình nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL còn nhiều tồn tại, hạn chế, cần nghiêm túc rút kinh nghiệm và có biện pháp khắc phục.

    Phó Thủ tướng nhận định, kết quả rà soát chủ yếu tập trung thực hiện thống kê, kiểm đếm, xác định số lượng văn bản mâu thuẫn, bất cập trong từng văn bản và đối với từng Bộ, ngành, địa phương, chưa làm rõ được những điểm nghẽn pháp lý có tính hệ thống, liên ngành gây cản trở sự phát triển, để khơi thông nguồn lực phục vụ tăng trưởng 02 con số.

    Việc phối hợp, xác định trách nhiệm và đề xuất phương án xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh từ sự giao thoa của nhiều lĩnh vực pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu, chưa bảo đảm đồng bộ, dẫn tới tình trạng các quy định riêng lẻ không mâu thuẫn nhưng khi áp dụng đồng thời lại gây ách tắc cho các hoạt động kinh tế – xã hội.

    Kết quả rà soát của một số Bộ, ngành, địa phương: (i) Chưa phân tích sâu nguyên nhân, tác động từ thực tiễn, chưa đề xuất cụ thể phương án, lộ trình xử lý; (ii) Một số chủ trương, định hướng lớn của Đảng chưa được rà soát, đánh giá về mức độ thể chế hóa đầy đủ và kịp thời; (iii) Việc tham vấn ý kiến của người dân, doanh nghiệp, chuyên gia, nhà khoa học và rà soát, đối chiếu với thực tiễn tổ chức thi hành pháp luật chưa đầy đủ, chưa thực chất; (iv) Chưa đánh giá đầy đủ tác động của chính sách, các quy định hiện hành.

    Tháo gỡ điểm nghẽn để khơi thông nguồn lực 

    Phó Thủ tướng lưu ý nghiêm túc rút kinh nghiệm khi một số lãnh đạo Bộ, cơ quan là thành viên Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL không tham dự họp, việc cử cán bộ họp thay chưa đúng thành phần và chưa được sự đồng ý của người chủ trì là chưa đúng Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo, chưa quan tâm đúng mức việc chỉ đạo tổ chức hoạt động tổng rà soát thuộc phạm vi quản lý. Công tác hoàn thiện thể chế, xây dựng pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm và trách nhiệm của người đứng đầu các Bộ, ngành, địa phương. Do đó, đề nghị các đồng chí Bộ trưởng, trưởng ngành, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL, chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Chính phủ và cấp có thẩm quyền nếu sau tổng rà soát vẫn để sót những vướng mắc, điểm nghẽn pháp lý đã tồn tại, có đủ cơ sở nhận diện nhưng không chủ động phát hiện, kiến nghị xử lý; trong quá trình tổng hợp, báo cáo, Bộ Tư pháp phải xác định đây là một nguyên tắc quan trọng cần quán triệt để báo cáo Bộ Chính trị và Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL.

    Phó Thủ tướng khẳng định kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL không chỉ thực hiện kiểm đếm số lượng VBQPPL cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ mà mục tiêu quan trọng nhất là xác định rõ ràng, cụ thể những điểm nghẽn của hệ thống pháp luật đang cản trở phát triển và phương án xử lý từng điểm nghẽn, cần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để khơi thông nguồn lực, tạo môi trường pháp lý thông thoáng, đồng bộ, thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững.

    Phải rà soát toàn diện, tổng thể các quy định cản trở sự phát triển

    Để bảo đảm đạt được mục tiêu đã đề ra của nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL, Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương bám sát yêu cầu trọng tâm của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, đồng chí Chủ tịch Quốc hội – Trưởng Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL và Thủ tướng Chính phủ đặt ra đối với nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL tại Thông báo số 07-TB/BCĐTW ngày 06 tháng 10 năm 2026 của Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thi hành pháp luật.

    Trên cơ sở kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL đã có, các Bộ, ngành và địa phương không chỉ tập trung vào các mâu thuẫn, chồng chéo lớn giữa các luật mà phải nhận diện, phân tích chuyên sâu những vấn đề, điểm nghẽn pháp lý có tính hệ thống, liên ngành, gây tác động lớn đến sự phát triển, trong đó không chỉ rà soát pháp luật thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành, địa phương mình mà rà soát toàn diện, tổng thể các quy định liên quan cản trở sự phát triển của ngành mình; chú trọng rà soát, xác định các chủ trương, quy định của Đảng chưa được thể chế hoá đầy đủ, kịp thời; đánh giá được sự cần thiết của các chính sách, tác động của việc thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ đối với hệ thống pháp luật.

    Ưu tiên rà soát, xử lý các điểm nghẽn cản trở hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp…

    Đồng thời, phân tích rõ nguyên nhân, đề xuất đầy đủ, cụ thể phương án, lộ trình xử lý theo thẩm quyền, bảo đảm bám sát Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, Chương trình Lập pháp năm 2027 và các dự án Luật đang trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI để bảo đảm tính thống nhất, tháo gỡ các điểm nghẽn ngay tại các dự án Luật này; chủ động xây dựng các VBQPPL hướng dẫn thi hành, trong đó: cập nhật, đề xuất xử lý ngay các khó khăn, vướng mắc tại các dự án luật đã được đưa vào Chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, bổ sung việc sửa đổi các luật chưa có trong Chương trình Lập pháp năm 2027, phấn đấu trong năm 2027 sẽ cơ bản xử lý các vướng mắc trong các quy định của pháp luật.

    Ưu tiên rà soát, xử lý các điểm nghẽn cụ thể cản trở hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp và việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp; tập trung rà soát các nhóm vấn đề mà Bộ Tư pháp đã bước đầu nhận diện nêu tại phụ lục của các báo cáo và những nhóm vấn đề được Văn phòng Chính phủ đề xuất, đồng thời, chủ động nhận diện các vấn đề khác trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, gửi về Bộ Tư pháp tổng hợp.

    Xử lý đồng bộ các vướng mắc có tính liên ngành

    Xử lý đồng bộ các vướng mắc có tính liên ngành, bảo đảm không xảy ra tình trạng mỗi cơ quan xử lý một công đoạn nhưng vẫn làm ách tắc công việc, tiến độ; chủ động phối hợp, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền tháo gỡ đến cùng các vướng mắc, điểm nghẽn liên quan đến bộ, ngành, địa phương mình, bảo đảm kiến nghị, sửa đổi các quy định pháp luật và tổ chức thực hiện đúng thẩm quyền.

    Xác định rõ những quy định còn bất cập, tác động, nguyên nhân và phương án xử lý tại các đề xuất, kiến nghị; đồng thời, đối chiếu với phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp và tình hình thực tiễn, bảo đảm xử lý thống nhất, phù hợp, trong đó: (i) Khẩn trương đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới theo thẩm quyền những khoảng trống pháp lý, vướng mắc xuất phát từ quy định pháp luật; (ii) Kịp thời có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục vướng mắc có nguyên nhân từ quá trình tổ chức thực thi pháp luật.

    Tiếp tục chú trọng tổ chức các hoạt động trao đổi, lấy ý kiến chuyên sâu đối với kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL thuộc phạm vi phụ trách của cơ quan, địa phương mình; tiếp thu đầy đủ các ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế của kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL đã được Chính phủ, Ban Chỉ đạo chỉ ra trong giai đoạn vừa qua.

    Đối với việc rà soát, đề xuất xử lý những vấn đề có tính chất liên ngành, liên lĩnh vực giữa các cơ quan, Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, cơ quan có trách nhiệm: (i) Tổng hợp đầy đủ, đúng thời hạn các nội dung, quy định pháp luật có tính chất hệ thống, liên ngành, gửi Bộ Tư pháp trong ngày 12 tháng 10 năm 2026; (ii) Tích cực, chủ động phối hợp và tham mưu phương án xử lý đối với các nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước, phụ trách và VBQPPL do mình chủ trì xây dựng hoặc tham mưu xây dựng; (iii) Khẩn trương hoàn thiện kết quả tổng rà soát sau khi thống nhất được nội dung, phương án xử lý, hoàn thành trước ngày 23 tháng 10 năm 2026.

    Bộ Tư pháp có trách nhiệm: (i) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan tổng hợp đầy đủ các nội dung, quy định pháp luật có tính hệ thống, liên ngành còn có ý kiến khác nhau giữa các cơ quan; (ii) Phân loại, xác định cơ quan chủ trì, tham mưu xử lý trên cơ sở bám sát chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực quản lý nhà nước của các cơ quan và cơ quan có trách nhiệm chủ trì xây dựng VBQPPL được kiến nghị, trong đó đề xuất giao một cơ quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xử lý; (iii) Tổng hợp, xin ý kiến chỉ đạo của Ban Chỉ đạo, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ đối với vấn đề các cơ quan chưa thống nhất phương án xử lý.

    Xử lý các khó khăn về ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo phục vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL

    Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục theo dõi, kịp thời hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương để kịp thời xử lý các khó khăn về ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo phục vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL.

    Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục chỉ đạo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các tổ chức thành viên chủ trì tổ chức các hoạt động tham vấn rộng rãi, lấy ý kiến phản ánh, kiến nghị của các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, các hội viên, chuyên gia… về những bất cập cụ thể trong các VBQPPL; tổ chức các hoạt động cho ý kiến, phản biện đối với kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL, tổng hợp các ý kiến gửi các Bộ, ngành, địa phương có liên quan để nghiên cứu, hoàn thiện kết quả chính thức về tổng rà soát hệ thống VBQPPL.

    Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ qua thực tiễn công tác kiểm toán, thanh tra bổ sung các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật trong các kết luận kiểm toán, thanh tra, gửi Bộ Tư pháp và các cơ quan có thẩm quyền trước ngày 15 tháng 10 năm 2026 để cập nhật, hoàn thiện nội dung báo cáo kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL.

    Tăng cường công tác truyền thông về vai trò, ý nghĩa và kết quả thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL

    Các cơ quan báo chí ở Trung ương và địa phương, các Bộ, ngành, địa phương tăng cường công tác truyền thông về vai trò, ý nghĩa và kết quả thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL nhằm tạo khí thế, quyết tâm chính trị cao nhất, góp phần hoàn thành các mục tiêu của đợt tổng rà soát hệ thống VBQPPL, trong đó khẩn trương xây dựng một số tin bài, phóng sự chuyên sâu mời Lãnh đạo Chính phủ, Lãnh đạo một số cơ quan ở Trung ương và địa phương phát biểu về kết quả sơ bộ tình hình thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL và định hướng, yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn chỉnh lý, hoàn thiện kết quả chính thức.

    Hoàn thiện cơ sở dữ liệu về tổng rà soát

    Bộ Tư pháp – Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tiếp tục tích cực phát huy vai trò của Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo, tập trung cao độ, thường xuyên theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn và giải đáp cho các Bộ, cơ quan, địa phương; kịp thời xử lý những khó khăn về dữ liệu, phần mềm hỗ trợ rà soát VBQPPL, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về tổng rà soát làm cơ sở để tiếp tục theo dõi, kiểm tra, giám sát kịp thời.

    Báo cáo Thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL để có hình thức đôn đốc, nhắc nhở, phê bình các trường hợp chậm tiến độ hoặc không bảo đảm chất lượng của báo cáo kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL.

    Đồng thời, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và các cơ quan liên quan nghiên cứu, tham mưu triển khai kịp thời ý kiến chỉ đạo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật tại Phiên họp tháng 9 năm 2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo, báo cáo Chủ tịch Quốc hội – Trưởng Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL trước ngày 15 tháng 10 năm 2026.

    Tập trung nguồn lực cho ý kiến, thẩm định đối với dự thảo Báo cáo kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL trước ngày 15 tháng 10 năm 2026 và dự thảo các Báo cáo chuyên đề về kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL trước ngày 25 tháng 10 năm 2026.

    Đồng thời, Bộ Tư pháp phải yêu cầu các bộ, ngành, địa phương hoàn thiện các báo cáo, không tổng hợp nội dung các báo cáo trong trường hợp: (i) Không nghiêm túc thực hiện tiếp thu giải trình ý kiến thẩm định, ý kiến góp ý hoặc việc thực hiện mang tính hình thức, đối phó hoặc (ii) Nội dung báo cáo không bảo đảm chất lượng, các đề xuất, kiến nghị còn chung chung, phương án xử lý không rõ ràng.

    Tham mưu xây dựng Báo cáo kết quả tổng rà soát và giải pháp xử lý tổng thể hệ thống VBQPPL của Chính phủ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cụ thể: (i) Trình Chính phủ để xem xét, gửi Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL cho ý kiến đối với dự thảo Báo cáo trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước ngày 20 tháng 11 năm 2026; (ii) Trình Chính phủ để xem xét, gửi Báo cáo tới Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước ngày 30 tháng 11 năm 2026.

    Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tổ chức hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến toàn quốc lấy ý kiến hoàn thiện đối với dự thảo Báo cáo của Chính phủ về kết quả tổng rà soát và giải pháp xử lý tổng thể hệ thống VBQPPL, hoàn thành trước ngày 20 tháng 11 năm 2026./.

    Nguồn https://baomoi.com/thao-go-den-cung-cac-diem-nghen-trong-he-thong-phap-luat-c56252913.epi

  • Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang lấy ý kiến tham gia xây dựng 4 dự án luật

    Dự hội nghị có các đồng chí: Lê Thị Thanh Trà, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Đỗ Anh Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh; lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Đoàn Luật sư, Hội Luật gia tỉnh; đại diện các hiệp hội doanh nghiệp và lãnh đạo UBND các xã, phường Minh Xuân, Nông Tiến, An Tường, Mỹ Lâm, Yên Sơn, Bình Thuận.

    Các đại biểu dự hội nghị.

    Tại hội nghị, các đại biểu tập trung tham gia ý kiến đối với 4 dự án luật, gồm: Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi); Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản (sửa đổi) và Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh.

    Phát biểu khai mạc và định hướng thảo luận, đồng chí Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lý Thị Lan nhấn mạnh, các dự án luật đều liên quan đến yêu cầu hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, huy động và sử dụng nguồn lực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Một số chính sách có tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp và đời sống nhân dân, đòi hỏi phải được xem xét kỹ về tính khả thi và điều kiện tổ chức thực hiện tại địa phương.

    Đồng chí Lý Thị Lan, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh phát biểu kết luận hội nghị.

    Đồng chí đề nghị các đại biểu tập trung phân tích những nội dung sửa đổi, bổ sung, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; chú trọng đánh giá tác động từ thực tiễn tỉnh miền núi, địa bàn rộng, có đông đồng bào dân tộc thiểu số và điều kiện phát triển không đồng đều. Các ý kiến cần chỉ rõ quy định còn bất cập, khó khăn phát sinh trong thực tế, nguyên nhân và đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung cụ thể, đồng thời làm rõ nguồn lực và trách nhiệm tổ chức thực hiện khi luật được ban hành.

    Tại hội nghị, các đại biểu tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào những nội dung trọng tâm của 4 dự án luật, nhất là các quy định còn có cách hiểu khác nhau, những vấn đề phát sinh từ thực tiễn và tính khả thi khi triển khai. Đối với dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các ý kiến quan tâm đến chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, mặt bằng sản xuất, mở rộng thị trường; tạo điều kiện cho hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, nhất là tại địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi), các đại biểu trao đổi về quy định tiền đặt trước, xử lý trường hợp trúng đấu giá nhưng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán và việc tổ chức đấu giá trực tuyến, bảo đảm công khai, minh bạch, quyền lợi của các bên liên quan.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Anh Tuấn phát biểu ý kiến tham gia vào các dự thảo luật.

    Đối với dự thảo Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản (sửa đổi), các ý kiến tập trung làm rõ điều kiện, trình tự, thủ tục trưng mua, trưng dụng trong tình huống khẩn cấp; cơ chế hoàn trả, bồi thường tài sản, nhất là khi xảy ra thiên tai, sự cố tại những địa bàn bị chia cắt, khó khăn trong tiếp cận. Đối với dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh, đại biểu đề nghị quan tâm đến cơ chế vận hành thị trường, kiểm soát rủi ro, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn. Các ý kiến cũng nhấn mạnh yêu cầu quy định rõ trách nhiệm của cơ quan thực thi, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi, tránh phát sinh vướng mắc trong quá trình áp dụng.

    Kết luận hội nghị, đồng chí Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lý Thị Lan đề nghị các cơ quan, đơn vị tiếp tục nghiên cứu, rà soát các quy định trong 4 dự án luật, đối chiếu với thực tiễn công tác quản lý và triển khai tại địa phương để đóng góp ý kiến sát thực tế, có trọng tâm, trọng điểm. Trong đó, cần làm rõ những nội dung còn vướng mắc, bất cập; phân tích nguyên nhân và đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung cụ thể, bảo đảm các quy định khi ban hành có tính đồng bộ, khả thi, phù hợp với điều kiện thực tiễn, nhất là địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Đồng chí khẳng định, Đoàn ĐBQH tỉnh sẽ tiếp thu, tổng hợp đầy đủ các ý kiến, kiến nghị tại hội nghị để nghiên cứu, tham gia hoàn thiện các dự án luật, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới.

    Tin, ảnh: Thanh Phúc

    Nguồn https://baomoi.com/doan-dbqh-tinh-tuyen-quang-lay-y-kien-tham-gia-xay-dung-4-du-an-luat-c56252849.epi

  • TP Bắc Ninh kiên quyết xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo

    Trên địa bàn hiện có hơn 150 doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh dịch vụ quảng cáo. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ động tham mưu ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, tăng cường quản lý hoạt động quảng cáo; đồng thời đôn đốc các địa phương rà soát, chấn chỉnh những tồn tại, vi phạm.

    Tuy nhiên, hoạt động quảng cáo ngoài trời vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như: Công tác rà soát, xử lý vi phạm về biển hiệu, quảng cáo, nhất là các biển hiệu có chữ nước ngoài còn gặp một số khó khăn do số lượng cơ sở kinh doanh lớn, chủ sở hữu thường xuyên thay đổi, dễ phát sinh vi phạm mới. Một số cơ sở sử dụng biển vẫy, biển quảng cáo di động không đúng quy định, có trường hợp chủ động thu dọn khi có đoàn kiểm tra.

    Lực lượng chức năng tỉnh Bắc Ninh xử lý các vi phạm về biển quảng cáo.

    Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, hướng dẫn và xử lý vi phạm tại các cơ sở do người nước ngoài làm chủ còn gặp khó khăn do bất đồng ngôn ngữ; các lỗi vi phạm chủ yếu liên quan đến kích thước biển hiệu, thiếu thông tin bắt buộc, sai chính tả và sử dụng chữ nước ngoài không đúng tỷ lệ, vị trí so với chữ tiếng Việt… Công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm tại một số địa phương chưa thường xuyên, chưa quyết liệt, dẫn đến vi phạm chậm được khắc phục, có nguy cơ tái diễn.

    Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề xuất tiếp tục tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn, tập huấn nghiệp vụ và kiểm tra, xử lý vi phạm; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương. Trong tháng 10/2026, UBND các xã, phường cần tổ chức đợt cao điểm rà soát, kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh và xử lý nghiêm các vi phạm về quảng cáo trên địa bàn.

    Cùng với đó, cần đầu tư hệ thống cột treo, giá treo băng-rôn, bố trí địa điểm quảng cáo rao vặt phù hợp, củng cố đội kiểm tra liên ngành và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng, góp phần bảo đảm mỹ quan đô thị, an toàn giao thông và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quảng cáo ngoài trời.

    Chủ tịch UBND TP Bắc Ninh Phạm Hoàng Sơn yêu cầu UBND các xã, phường khẩn trương rà soát, kiểm tra, xử lý dứt điểm các vi phạm về biển hiệu, quảng cáo, trật tự đô thị và an toàn giao thông; hoàn thành việc rà soát, chấn chỉnh trong tuần tới.

    Đồng thời triển khai đợt cao điểm trong tháng 10/2026. Quá trình thực hiện phải bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, đúng quy định pháp luật, kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, vận động, nhắc nhở với xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm, tạo chuyển biến rõ nét trong công tác quản lý đô thị trên địa bàn.

    Chủ tịch UBND TP Bắc Ninh nhấn mạnh việc chấn chỉnh hoạt động quảng cáo không chỉ xuất phát từ những thông tin phản ánh trên báo chí mà phải được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, gắn với trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp, các ngành và chính quyền cơ sở.

    Đối với các biển hiệu có chữ nước ngoài, cần tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân, hộ kinh doanh thực hiện đúng quy định về sử dụng tiếng Việt, bảo đảm chữ tiếng Việt được đặt trước hoặc phía trên, có kích thước lớn hơn chữ nước ngoài. Việc xử lý cần thực hiện kiên trì, có lộ trình và thời hạn cụ thể.

    Trước hết, tập trung tuyên truyền, vận động, nhắc nhở để các cơ sở tự giác khắc phục, sau đó áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định đối với những trường hợp không chấp hành hoặc cố tình tái phạm. Mục tiêu là nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, bảo đảm mỹ quan đô thị nhưng không gây ảnh hưởng không cần thiết đến hoạt động thương mại, dịch vụ và môi trường đầu tư, kinh doanh.

    Cùng với quản lý hoạt động quảng cáo, Chủ tịch UBND TP Bắc Ninh yêu cầu các địa phương xác định công tác chỉnh trang, lập lại trật tự đô thị là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Việc chỉnh trang phải được triển khai đồng bộ, không chỉ tập trung ở các trục đường chính, khu vực trung tâm mà cần quan tâm cả các tuyến đường nhánh, ngõ, ngách, khu vực dân cư; gắn với bảo đảm vệ sinh môi trường, thu gom rác thải đúng giờ, đúng quy định, sắp xếp phương tiện giao thông và giữ gìn không gian công cộng sạch đẹp, văn minh.

    Đối với hệ thống chiếu sáng, cây xanh và hạ tầng đô thị, Chủ tịch UBND TP Bắc Ninh yêu cầu các xã, phường chủ động triển khai những nội dung thuộc thẩm quyền, bảo đảm cảnh quan đô thị ngày càng sáng, xanh, sạch, đẹp hơn. Đồng thời, nghiên cứu kỹ lưỡng, có cơ sở khoa học về các giải pháp cải tạo cảnh quan tại những vị trí phù hợp như gầm cầu, trụ cầu, lan can, khu vực bê tông hóa, góp phần tăng diện tích xanh và nâng cao chất lượng không gian đô thị.

    Về lâu dài, Chủ tịch UBND TP Bắc Ninh yêu cầu các xã, phường quan tâm quy hoạch không gian công cộng, bố trí các vị trí quảng cáo phù hợp và đầu tư hệ thống khung, cột treo băng-rôn bảo đảm mỹ quan, an toàn, có thể sử dụng nhiều lần.

    Thay thế dần các hình thức treo băng-rôn, pano thiếu đồng bộ bằng hệ thống hạ tầng được thiết kế bài bản, phục vụ linh hoạt cả nhiệm vụ tuyên truyền chính trị, sự kiện văn hóa, xã hội và nhu cầu quảng cáo thương mại. Thành phố cũng định hướng khuyến khích ứng dụng các hình thức quảng cáo hiện đại, trong đó có màn hình điện tử, tăng hiệu quả khai thác hạ tầng và tạo điều kiện huy động nguồn lực xã hội hóa phục vụ công tác tuyên truyền.

    Chủ tịch UBND TP Bắc Ninh yêu cầu nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương trong quản lý trật tự đô thị, quảng cáo và vệ sinh môi trường; tăng cường kiểm tra, giám sát thường xuyên, tránh tình trạng chỉ tập trung xử lý trong các đợt cao điểm nhưng thiếu duy trì sau đó; đồng thời khai thác hệ thống camera để phát hiện, xem xét xử lý các trường hợp vi phạm, nhất là những hành vi cố tình sử dụng biển quảng cáo di động, biển vẫy sai quy định hoặc tái phạm sau khi đã được nhắc nhở.

    Chủ tịch UBND TP Bắc Ninh giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ động, tích cực hơn trong công tác tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và đôn đốc các địa phương thực hiện quy định về quảng cáo ngoài trời, nhất là trong đợt cao điểm tháng 10. Sở Xây dựng Bắc Ninh tăng cường hướng dẫn chuyên môn về chỉnh trang đô thị, chiếu sáng, cây xanh và các giải pháp bảo đảm an toàn hạ tầng; phối hợp với các địa phương rà soát, nghiên cứu phương án xử lý những bất cập về tổ chức giao thông, dải phân cách, vòng xuyến và các hạng mục liên quan, bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, phù hợp thực tiễn. Các địa phương chủ động xử lý những vấn đề thuộc thẩm quyền, kịp thời báo cáo, đề xuất thành phố đối với những nội dung cần bổ sung nguồn lực hoặc vượt thẩm quyền giải quyết.

    Thu Anh

    Nguồn https://baomoi.com/tp-bac-ninh-kien-quyet-xu-ly-vi-pham-trong-hoat-dong-quang-cao-c56252842.epi

  • HĐND TP Hồ Chí Minh chuẩn bị họp bàn Quy hoạch tổng thể với tầm nhìn 100 năm

    Ngày 12/10/2026, Thường trực HĐND và UBND TP Hồ Chí Minh tổ chức phiên họp nghe báo cáo công tác chuẩn bị Kỳ họp thứ sáu (chuyên đề) HĐND TP Hồ Chí Minh khóa XI. Tham dự có Chủ tịch HĐND TP Hồ Chí Minh Võ Văn Minh, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Được cùng đại diện lãnh đạo các cơ quan liên quan.

    Tại phiên họp, các đại biểu thảo luận, cho ý kiến đối với 60 nội dung dự kiến trình tại Kỳ họp, gồm 38 dự thảo Nghị quyết quy phạm pháp luật và 22 dự thảo Nghị quyết cá biệt. Trong đó, có 25 dự thảo Nghị quyết liên quan đến triển khai Luật Phát triển đô thị, tập trung vào các cơ chế huy động nguồn lực, thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng, quản lý đô thị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

     Thường trực HĐND và UBND TP Hồ Chí Minh tổ chức phiên họp nghe báo cáo công tác chuẩn bị Kỳ họp thứ sáu (chuyên đề) HĐND TP Hồ Chí Minh khóa XI. (Ảnh: Phương Chi).

    Đáng chú ý, Kỳ họp dự kiến xem xét, quyết nghị Quy hoạch tổng thể TP Hồ Chí Minh thời kỳ 2025–2050, tầm nhìn 100 năm. Đây là một trong những nội dung quan trọng trong định hướng phát triển dài hạn của thành phố.

    Bên cạnh đó, các đại biểu dự kiến xem xét cơ chế hỗ trợ lãi suất đối với các dự án đầu tư được Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước TP Hồ Chí Minh cho vay thuộc lĩnh vực ưu tiên phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn Thành phố sau sáp nhập; quy định tiêu chí, điều kiện và hình thức lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu đối với các dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP).

    Một số nội dung khác liên quan đến huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu dự án, trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị, trái phiếu xanh và vay từ các tổ chức tài chính trong nước để triển khai các dự án đầu tư của Thành phố.

    Kỳ họp cũng dự kiến xem xét cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với các ngành, lĩnh vực phát triển kinh tế biển; cơ chế về khu thương mại tự do và khu logistics tích hợp; chính sách thu hút, trọng dụng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, người có tài năng làm việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn.

    Ngoài ra, các nội dung dự kiến trình HĐND thành phố còn có quy định mức miễn tiền thuê đất đối với cơ sở thực hiện xã hội hóa theo Nghị định số 230/2025/NĐ-CP ngày 19/8/2025 của Chính phủ; sửa đổi Điều 3 Nghị quyết số 71/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của HĐND Thành phố về cơ chế, chính sách cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác từ nguồn ngân sách Thành phố.

     Kỳ họp thứ sáu (chuyên đề) HĐND TP Hồ Chí Minh khóa XI dự kiến xem xét 60 nội dung, trong đó có Quy hoạch tổng thể Thành phố thời kỳ 2025–2050, tầm nhìn 100 năm. (Ảnh: Xuân Trường).

    Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Được yêu cầu các sở, ngành rà soát kỹ các nội dung dự kiến trình HĐND thành phố, ưu tiên những chính sách đã đủ điều kiện, có cơ sở thực tiễn và có thể triển khai ngay. Những nội dung chưa hoàn thiện cần tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung trước khi trình xem xét, quyết định.

    Ông Nguyễn Văn Được nhấn mạnh việc xây dựng, ban hành chính sách phải lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, bảo đảm các cơ chế khi được thông qua đáp ứng yêu cầu phát triển và mang lại hiệu quả thiết thực. Các sở, ngành cần chủ động phối hợp với các Ban HĐND thành phố, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, bảo đảm chất lượng và tiến độ.

    Kết luận phiên họp, Chủ tịch HĐND TP Hồ Chí Minh Võ Văn Minh đề nghị các cơ quan liên quan tiếp tục rà soát danh mục dự thảo nghị quyết, xác định rõ những nội dung đủ điều kiện trình thông qua, tránh dồn công việc vào cuối năm.

    Ông Võ Văn Minh cũng yêu cầu tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành và các Ban HĐND thành phố ngay từ khâu xây dựng, thẩm tra dự thảo Nghị quyết; rà soát kỹ số liệu, tiến độ và kế hoạch trình các nội dung. Đối với những vấn đề khó, còn ý kiến khác nhau, các cơ quan cần chủ động trao đổi, tháo gỡ từ sớm.

    Đặc biệt, đối với các cơ chế, chính sách có phạm vi tác động lớn, cần thực hiện đầy đủ quy trình tham vấn, lấy ý kiến các bộ, ngành Trung ương và tuân thủ các chỉ đạo của Ban Thường vụ Thành ủy trước khi trình HĐND thành phố xem xét, quyết định.

    Xuân Trường

    Nguồn https://baomoi.com/hdnd-tp-ho-chi-minh-chuan-bi-hop-ban-quy-hoach-tong-the-voi-tam-nhin-100-nam-c56252957.epi

  • Cơ quan thuế phải phản hồi thông tin giải thể doanh nghiệp trong 2 ngày làm việc

    Bộ Tài chính vừa có Công văn số 16148/BTC-DNTN ngày 12/10/2026 gửi Sở Tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc đẩy nhanh tiến độ xử lý thủ tục giải thể doanh nghiệp, nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục đăng ký giải thể.

    Theo đó, Bộ Tài chính đề nghị Sở Tài chính các tỉnh, thành phố chỉ đạo cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh phối hợp với cơ quan thuế khẩn trương rà soát, đẩy nhanh tiến độ và rút ngắn thời hạn xử lý hồ sơ đăng ký giải thể doanh nghiệp theo quy định.

    Đối với doanh nghiệp nộp hồ sơ đăng ký giải thể, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh thực hiện xử lý hồ sơ và gửi thông tin cho cơ quan thuế trong thời hạn 1 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ.

    Trường hợp nhận được ý kiến của cơ quan thuế xác nhận doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp sang trạng thái “Đã giải thể” trong thời hạn 1 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến.

    Trường hợp không nhận được ý kiến của cơ quan thuế trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày gửi thông tin, cơ quan đăng ký kinh doanh thực hiện chuyển trạng thái pháp lý của doanh nghiệp theo quy định.

    Đối với trường hợp doanh nghiệp không nộp hồ sơ đăng ký giải thể, sau thời hạn 180 ngày kể từ ngày cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nhận được nghị quyết, quyết định giải thể hoặc thông báo doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, nếu không nhận được hồ sơ đăng ký giải thể, hồ sơ chấm dứt hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh và không có ý kiến phản đối bằng văn bản của cơ quan quản lý thuế hoặc tổ chức, cá nhân liên quan, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp sang trạng thái “Đã giải thể”.

    Việc chuyển trạng thái phải được thực hiện trong thời hạn 1 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn 180 ngày nêu trên.

    Bộ Tài chính cũng yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh và cơ quan thuế chủ động phối hợp, trao đổi thông tin khi phát sinh sự cố kỹ thuật hoặc giao dịch chưa được truyền, nhận kịp thời, bảo đảm cơ quan thuế phản hồi trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin và cơ quan đăng ký kinh doanh xử lý hồ sơ đúng thời hạn quy định.

    Việc triển khai nghiêm túc các quy định về thời hạn tiếp nhận, phối hợp và xử lý hồ sơ giải thể doanh nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, đồng thời nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế.

    Thanh Hà

    Nguồn https://baomoi.com/co-quan-thue-phai-phan-hoi-thong-tin-giai-the-doanh-nghiep-trong-2-ngay-lam-viec-c56252900.epi

  • HĐND tỉnh Thái Nguyên sẽ tổ chức Kỳ họp thứ Chín vào ngày 14/10

    Tại kỳ họp này, HĐND tỉnh sẽ thảo luận, xem xét, quyết định đối với 7 nội dung do UBND tỉnh trình. Trong đó, tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị quyết: Nghị quyết số 62/2026/NQ-HĐND ngày 17/7/2026 của HĐND tỉnh quy định mức hỗ trợ đất ở theo hình thức xen ghép và nhà ở; Nghị quyết số 63/2026/NQ-HĐND ngày 17/7/2026 của HĐND tỉnh quy định mức hỗ trợ cho 01 dự án, định mức hỗ trợ các đối tượng tham gia dự án phát triển sản xuất; Nghị quyết số 79/2026/NQ-HĐND ngày 13/8/2026 của HĐND tỉnh ban hành Quy định nội dung, mức hỗ trợ kinh phí chi thường xuyên ngân sách nhà nước thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;

    Toàn cảnh Hội nghị thống nhất các nội dung trình tại Kỳ họp thứ Chín (Kỳ họp chuyên đề) Ảnh: Duccuong

    Nghị quyết Quy định định mức hỗ trợ cho các chủ dự án (đơn vị chủ trì liên kết, các bên liên kết, cộng đồng dân cư) trực tiếp sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ để đưa vào thực hiện dự án phát triển sản xuất giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Quy định nội dung, mức chi hỗ trợ người dân tham gia học xóa mù chữ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026 – 2030; Quy định chế độ, chính sách hỗ trợ người giám định tư pháp, người giúp việc cho người giám định tư pháp hưởng lương từ ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Về việc bổ sung danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

    Tại Hội nghị Thường trực HĐND tỉnh thống nhất các nội dung trình tại kỳ họp trước đó, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bùi Văn Lương đề nghị UBND tỉnh, các sở, ban, ngành rà soát, hoàn thiện các nội dung trình Kỳ họp thứ Chín, bảo đảm đúng quy định, đúng thẩm quyền; đề nghị các Ban HĐND tỉnh trong quá trình thẩm tra phải thực hiện nghiêm quy định, đánh giá khách quan, chặt chẽ. Đối với những nội dung, dự án chưa đủ cơ sở hoặc chưa đáp ứng yêu cầu phải tiếp tục rà soát, làm rõ trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét nhằm đạt sự đồng thuận, thống nhất cao trước khi trình ra kỳ họp xem xét, quyết định.

    Kim Thu

    Nguồn https://baomoi.com/hdnd-tinh-thai-nguyen-se-to-chuc-ky-hop-thu-chin-vao-ngay-14-10-c56252804.epi

  • Lâm Đồng rà soát, đề xuất sắp xếp các hội thuộc lĩnh vực nông nghiệp và môi trường

    Việc rà soát, sắp xếp các hội thuộc lĩnh vực nông nghiệp và môi trường nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, phù hợp với tổ chức hành chính mới và nhu cầu thực tiễn của địa phương – Ảnh minh họa

    Theo đó, việc rà soát được thực hiện trên cơ sở chỉ đạo của UBND tỉnh và yêu cầu đánh giá tình hình tổ chức, hoạt động, hiệu quả thực tế cũng như mức độ phù hợp của các hội với tôn chỉ, mục đích và yêu cầu quản lý hiện nay.

    Đối với lĩnh vực làm vườn, các hội tại ba địa phương trước khi sắp xếp đơn vị hành chính đều gặp khó khăn trong duy trì hoạt động và kiện toàn tổ chức. Hội Làm vườn tỉnh Đắk Nông đã chính thức chấm dứt hoạt động từ ngày 15/7/2021 theo quyết định giải thể của UBND tỉnh ban hành trước đó.

    Trong khi đó, Hội Làm vườn tỉnh Bình Thuận thuộc diện giải thể do không thể kiện toàn nhân sự và quá thời hạn tổ chức đại hội nhiệm kỳ. UBND tỉnh Bình Thuận đã ban hành Thông báo số 406/TB-UBND ngày 27/12/2024 về việc chuẩn bị giải thể. Theo thông tin từ Chủ tịch Hội được Sở Nông nghiệp và Môi trường dẫn lại, tổ chức này đã có văn bản đề nghị giải thể và dừng hoạt động, nhưng hiện không tra cứu được bản gốc do thất lạc hồ sơ lưu trữ.

    Với Hội Làm vườn tỉnh Lâm Đồng, hoạt động đã ngừng từ lâu, nhiệm kỳ đại hội gần nhất là giai đoạn 2003–2008. Từ đó đến nay, Hội không tổ chức đại hội để kiện toàn bộ máy, trong khi toàn bộ thành viên Ban Chấp hành đều đã nghỉ hưu.

    Từ thực trạng này, Sở Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Sở Nội vụ xem xét, tham mưu UBND tỉnh quyết định giải thể Hội Làm vườn tại Lâm Đồng và Bình Thuận trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, bảo đảm đúng thẩm quyền và quy định pháp luật.

    Đối với lĩnh vực thủy sản, báo cáo đề cập hai tổ chức tại Bình Thuận trước đây là Hội Nghề cá và Hiệp hội Thủy sản. Đây đều là những tổ chức đang gặp vướng mắc về thủ tục tổ chức đại hội, kiện toàn bộ máy hoặc xử lý theo quy định.

    Hội Nghề cá tỉnh Bình Thuận từng chuẩn bị hồ sơ tổ chức đại hội nhiệm kỳ trong năm 2024 và có văn bản giải trình các ý kiến góp ý của cơ quan chuyên môn. Tuy nhiên, do thời gian triển khai theo yêu cầu của UBND tỉnh quá ngắn, Hội không kịp triệu tập thành viên và đã được đề nghị gia hạn thời gian tổ chức đại hội vào tháng 1/2025. Sau đó, Sở Nội vụ đề nghị xem xét phương án giải thể do có vi phạm. Theo báo cáo, các thủ tục liên quan chưa được tiến hành trong bối cảnh sáp nhập sở, sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và nhân sự chưa ổn định.

    Đối với Hiệp hội Thủy sản tỉnh Bình Thuận, tổ chức này thuộc diện giải thể do quá thời hạn tổ chức đại hội nhiệm kỳ, dù đã được cơ quan chuyên môn và UBND tỉnh đôn đốc. Hiệp hội cũng nằm trong danh sách được đề cập tại Thông báo số 406/TB-UBND ngày 27/12/2024 về việc chuẩn bị giải thể.

    Tuy nhiên, thay vì đề xuất giải thể cả hai tổ chức thủy sản, Sở Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị Sở Nội vụ xem xét, tham mưu cấp có thẩm quyền phương án sắp xếp, tổ chức lại theo hướng tinh gọn và hiệu quả, phù hợp với địa giới hành chính mới. Theo cơ quan này, dù các tổ chức thuộc diện giải thể theo quy định, nhu cầu liên kết và hỗ trợ trong chuỗi ngành thủy sản, từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến và dịch vụ, vẫn rất lớn đối với ngư dân và doanh nghiệp.

    Việc rà soát, sắp xếp các hội quần chúng đặt ra yêu cầu vừa bảo đảm kỷ cương tổ chức, hoạt động theo quy định pháp luật, vừa tính đến nhu cầu liên kết nghề nghiệp và hỗ trợ sản xuất trong thực tế. Với lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, phương án tổ chức phù hợp có thể góp phần tăng cường kết nối giữa người sản xuất, doanh nghiệp và các chủ thể trong chuỗi giá trị, qua đó hỗ trợ phát triển sản xuất, sử dụng hiệu quả tài nguyên và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức hội trên địa bàn tỉnh./.

    Minh Mười

    Nguồn https://baomoi.com/lam-dong-ra-soat-de-xuat-sap-xep-cac-hoi-thuoc-linh-vuc-nong-nghiep-va-moi-truong-c56252783.epi

  • Đắk Lắk chấp thuận dự án điện mặt trời hơn 21.000 tỷ đồng

    Bốn nhà máy điện mặt trời, tổng công suất 1.000 MW

    Theo quyết định do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Đào Mỹ ký, dự án Nhà máy điện mặt trời Ia Rvê được đầu tư nhằm sản xuất điện từ nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, phục vụ nhu cầu điện của khu vực và hòa vào lưới điện quốc gia. Năm doanh nghiệp được chấp thuận làm nhà đầu tư gồm Công ty cổ phần Ea Súp Solar, Công ty cổ phần Năng lượng tái tạo Ea Súp, Công ty cổ phần Tây Nguyên Solar, Công ty cổ phần Ia Rvê Solar và Công ty TNHH Xuân Thiện Đắk Lắk.

    Dự án có tổng diện tích sử dụng đất khoảng 1.337,72 ha, gồm 4 nhà máy điện mặt trời và hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ đấu nối, truyền tải điện. Trong đó, Nhà máy điện mặt trời Ia Rvê 1, Ia Rvê 2 và Ia Rvê 3 có cùng công suất 300 MW mỗi nhà máy; Ia Rvê 4 có công suất 100 MW.

    Đắk Lắk chấp thuận dự án điện mặt trời 1.000 MW, vốn hơn 21.100 tỷ đồng.

    Diện tích dự kiến dành cho Ia Rvê 1 là 397,1 ha, Ia Rvê 2 khoảng 406,45 ha, Ia Rvê 3 khoảng 399,97 ha và Ia Rvê 4 khoảng 134,2 ha. Các nhà máy được đầu tư hệ thống đường vận hành nội bộ, nhà quản lý vận hành, cáp điện một chiều và xoay chiều kết nối nội bộ, cùng các trạm biến áp và đường dây đấu nối tương ứng.

    Điểm đáng chú ý là dự án được bố trí hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS) với tổng công suất khoảng 100 MW, dung lượng lưu trữ 200 MWh. Trong đó, ba nhà máy Ia Rvê 1, Ia Rvê 2 và Ia Rvê 3 mỗi nhà máy có hệ thống lưu trữ 30 MW/60 MWh; Ia Rvê 4 có hệ thống 10 MW/20 MWh.

    Việc tích hợp hệ thống lưu trữ giúp tăng khả năng điều tiết nguồn điện tái tạo, hỗ trợ dịch chuyển một phần sản lượng điện sang các thời điểm phù hợp hơn với nhu cầu hệ thống. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào phương án vận hành, điều kiện đấu nối và khả năng giải tỏa công suất của lưới điện.

    Về hạ tầng đấu nối, dự án bao gồm các trạm biến áp 35 (22)/110 kV tại từng nhà máy, hệ thống đường dây 110 kV và hạng mục mở rộng Trạm biến áp 500 kV Xuân Thiện – Ea Súp. Phần mở rộng dự kiến lắp đặt một máy biến áp 500/110 kV công suất 600 MVA cùng các ngăn lộ, thiết bị phân đoạn và hạng mục đấu nối liên quan.

    Điện sản xuất từ dự án dự kiến được bán cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam thông qua điểm đấu nối vào hệ thống truyền tải điện quốc gia. Do đó, bên cạnh tiến độ xây dựng các nhà máy, việc hoàn thiện hạ tầng đấu nối và đáp ứng yêu cầu giải tỏa công suất là điều kiện quan trọng để dự án có thể vận hành hiệu quả.

    Vốn chủ sở hữu chiếm hơn 30%, tiến độ 18 tháng

    Tổng vốn đầu tư dự án khoảng 21.137 tỷ đồng. Trong đó, Nhà máy điện mặt trời Ia Rvê 1 có vốn đầu tư khoảng 6.361 tỷ đồng; Ia Rvê 2 khoảng 6.332 tỷ đồng; Ia Rvê 3 khoảng 6.328 tỷ đồng và Ia Rvê 4 khoảng 2.115 tỷ đồng.

    Vốn góp của các nhà đầu tư đạt khoảng 6.410 tỷ đồng, tương đương 30,33% tổng vốn đầu tư. Phần vốn huy động khoảng 14.727 tỷ đồng, chiếm 69,67%. Năm doanh nghiệp sẽ góp vốn bằng tiền mặt theo tiến độ triển khai dự án.

    Theo quyết định số 3259, vốn góp của các nhà đầu tư đạt khoảng 6.410 tỷ đồng.

    Theo quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, thời hạn hoạt động của dự án là 50 năm kể từ ngày có quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất. Tiến độ thực hiện các mục tiêu hoạt động chủ yếu, xây dựng cơ bản và đưa công trình vào khai thác là 18 tháng kể từ thời điểm đáp ứng điều kiện về đất đai nêu trên.

    Trước khi triển khai, các nhà đầu tư phải hoàn thành thủ tục bảo đảm thực hiện dự án, đồng thời thực hiện đầy đủ các quy định liên quan đến quy hoạch, đất đai, xây dựng, điện lực, môi trường và lâm nghiệp. Sở Tài chính được giao làm đầu mối theo dõi hoạt động đầu tư, kiểm tra việc góp vốn, huy động vốn, tiến độ và việc chấp hành các nội dung đã được phê duyệt.

    Đáng chú ý, quyết định đặt ra yêu cầu rà soát kỹ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp trong toàn bộ khu vực đề xuất dự án. Nếu phát hiện rừng tự nhiên trong phạm vi triển khai, nhà đầu tư phải điều chỉnh vị trí, đưa toàn bộ diện tích này ra khỏi ranh giới dự án để bảo vệ theo quy định. Nhà đầu tư cũng phải thực hiện các thủ tục chuyển mục đích sử dụng rừng, trồng rừng thay thế nếu thuộc trường hợp phải thực hiện.

    Cùng với đó, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng phải tuân thủ quy định pháp luật, hạn chế ảnh hưởng đến đời sống người dân và bảo đảm an ninh trật tự tại địa phương. Chính quyền hai xã Ia Rvê và Ia Lốp có trách nhiệm giám sát việc triển khai, đặc biệt đối với yêu cầu không để các hạng mục công trình và tuyến đường dây đấu nối đi qua khu tái định cư hoặc khu vực quy hoạch đất sản xuất cấp cho đồng bào dân tộc thiểu số.

    Nhà đầu tư phải phối hợp với đơn vị quản lý, vận hành hệ thống điện để hoàn thiện phương án đấu nối, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và chịu trách nhiệm nếu dự án không được giải tỏa hết công suất. Đồng thời, doanh nghiệp có trách nhiệm bố trí đủ vốn theo tiến độ, ưu tiên đào tạo và tuyển dụng lao động địa phương theo cam kết.

    Với quy mô 1.000 MW và tổng vốn đầu tư hơn 21.100 tỷ đồng, dự án Nhà máy điện mặt trời Ia Rvê là một dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn tại Đắk Lắk. Tuy nhiên, để chuyển từ chấp thuận chủ trương đầu tư sang triển khai thực tế, dự án vẫn phải hoàn tất các thủ tục chuyên ngành, đáp ứng điều kiện về đất đai, môi trường, rừng và bảo đảm khả năng đấu nối, giải tỏa công suất theo quy định.

    Đình Khương

    Nguồn https://baomoi.com/dak-lak-chap-thuan-du-an-dien-mat-troi-hon-21-000-ty-dong-c56252834.epi

  • Hà Nội ban hành danh mục dữ liệu mở và dữ liệu dùng chung

    Hai danh mục bao quát nhiều lĩnh vực từ sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ đến y tế, giáo dục, quy hoạch, giao thông, tài chính, tạo cơ sở kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành và nhu cầu tra cứu của tổ chức, cá nhân.

    Ảnh minh họa.

    Dữ liệu mở bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống

    Theo Quyết định, danh mục ban hành kèm theo gồm Danh mục dữ liệu mở tại Phụ lục 01 và Danh mục dữ liệu dùng chung tại Phụ lục 02.

    Danh mục dữ liệu mở tập hợp các nhóm thông tin do các sở, ngành quản lý, trong đó có nhiều dữ liệu gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất, kinh doanh và nhu cầu tra cứu của người dân, doanh nghiệp. Trong lĩnh vực công thương, dữ liệu về chợ cung cấp thông tin tên, địa chỉ, tọa độ, hạng chợ, nhóm ngành hàng kinh doanh chính và tình trạng hoạt động. Dữ liệu về quy hoạch cụm công nghiệp thể hiện địa điểm, ranh giới, diện tích, ngành nghề thu hút đầu tư, chủ đầu tư hạ tầng và diện tích đất còn khả năng bố trí, thu hút đầu tư.

    Các thông tin về siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng bán lẻ xăng dầu, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp công nghiệp chủ lực cũng được đưa vào danh mục. Đáng chú ý, dữ liệu về doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có thông tin về lĩnh vực hoạt động, nhóm sản phẩm cung ứng, sản phẩm chính, website và thông tin liên hệ công khai, góp phần hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp tìm kiếm thông tin phục vụ kết nối giao thương.

    Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, danh mục có dữ liệu về hoạt động chứng nhận, thử nghiệm, giám định, công nhận và đánh giá sự phù hợp; dữ liệu về công bố hợp chuẩn, hợp quy; doanh nghiệp được cấp phép hoạt động bưu chính và sản phẩm công nghệ thông tin sản xuất trong nước được ưu tiên đầu tư, thuê, mua sắm bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

    Danh mục còn bao gồm dữ liệu về nhiều lĩnh vực khác như: Tài chính, y tế, giáo dục, xây dựng, giao thông, văn hóa và du lịch. Các thông tin được xác định theo từng tập dữ liệu, kèm mô tả, thời điểm cung cấp lần đầu, tần suất cung cấp và định dạng dữ liệu.

    94 nhóm dữ liệu dùng chung phục vụ quản lý, điều hành

    Khác với dữ liệu mở, Danh mục dữ liệu dùng chung tại Phụ lục 02 xác định cụ thể tên dữ liệu, đơn vị chủ trì và mục đích sử dụng. Danh mục gồm 94 nhóm dữ liệu, phục vụ theo dõi tình hình kinh tế – xã hội, quản lý chuyên ngành và hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành của thành phố.

    Trong lĩnh vực công thương, dữ liệu dùng chung về xăng dầu, than, thương mại điện tử, cụm công nghiệp và doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp phục vụ theo dõi nguồn cung năng lượng, hoạt động sản xuất và sự phát triển của kinh tế số.

    Đối với khoa học và công nghệ, dữ liệu về nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp, kết quả nghiên cứu, sản phẩm và tổ chức khoa học và công nghệ được sử dụng để theo dõi hoạt động đổi mới sáng tạo, kết nối doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hỗ trợ hoạch định chính sách phát triển công nghệ cao.

    Lĩnh vực tài chính có các nhóm dữ liệu về đầu tư công, thu – chi ngân sách nhà nước, dự án và vốn đầu tư ngoài ngân sách, doanh nghiệp trên địa bàn, tài sản công, giá thị trường, đấu thầu và vốn đầu tư có yếu tố nước ngoài. Những dữ liệu này phục vụ theo dõi tiến độ giải ngân, tổng hợp tình hình ngân sách, giám sát hoạt động mua sắm công và phân tích biến động kinh tế.

    Trong các lĩnh vực dân sinh, danh mục có dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức; an sinh xã hội và việc làm; dịch bệnh truyền nhiễm; cơ sở khám, chữa bệnh; ngộ độc thực phẩm; trường lớp, học sinh, giáo viên và kết quả tuyển sinh, thi tốt nghiệp trung học phổ thông. Đây là cơ sở phục vụ quản lý chuyên ngành, theo dõi tình hình thực hiện chính sách và hỗ trợ người dân tra cứu thông tin.

    Đối với quản lý đô thị, các nhóm dữ liệu đáng chú ý gồm quy hoạch xây dựng và quy hoạch đô thị; nhà ở, thị trường bất động sản; tiến độ các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm; điểm sạt lở, úng ngập trong tình huống thiên tai; điểm đỗ xe công cộng, trông giữ xe và giá dịch vụ. Danh mục cũng có dữ liệu giao thông theo thời gian thực, gồm camera quan sát, điểm ùn tắc và bảng thông tin giao thông điện tử, phục vụ theo dõi tình hình giao thông và cảnh báo ùn tắc cho người dân.

    Bên cạnh đó, dữ liệu về di tích, di sản văn hóa, lễ hội, doanh nghiệp lữ hành và hướng dẫn viên du lịch hỗ trợ công tác bảo tồn, quảng bá du lịch. Các nhóm dữ liệu về khí tượng thủy văn, điện năng, cấp nước sạch và tài nguyên, môi trường cũng được xác định rõ đơn vị chủ trì, mục đích sử dụng.

    Ảnh minh họa.

    UBND thành phố giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai Quyết định; hướng dẫn kết nối, chia sẻ, khai thác, sử dụng dữ liệu; quản lý, vận hành Cổng dữ liệu thành phố Hà Nội và cung cấp dữ liệu mở của các đơn vị trên hệ thống. Các cơ quan, đơn vị rà soát, cập nhật danh mục thuộc phạm vi quản lý định kỳ 6 tháng một lần, trước ngày 20-6 và 20-12 hằng năm; gửi Sở Khoa học và Công nghệ tổng hợp, tham mưu UBND thành phố ban hành quyết định cập nhật.

    Quyết định số 5695/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

    Thu Hằng

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-ban-hanh-danh-muc-du-lieu-mo-va-du-lieu-dung-chung-c56252838.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!