Author: bachdn

  • Đường dây 220kV Thanh Hóa – Bỉm Sơn được chấp thuận nhà đầu tư

    Phối cảnh mặt bằng tuyến đường dây từ phía Trạm biến áp 220kV Bỉm Sơn (Ảnh: EVNNPT).

    Dự án có quy mô xây dựng đường dây 220kV mạch kép, điểm đầu từ Trạm biến áp (TBA) 500kV Thanh Hóa, điểm cuối tại TBA 220kV Bỉm Sơn, với tổng chiều dài hơn 34 km và các thiết bị đồng bộ tại hai đầu trạm.

    Trong đó, dự án xây dựng mới tuyến đường dây 220kV trên không từ vị trí G8A đến TBA 220kV Bỉm Sơn, chiều dài khoảng 21,82km. Đoạn tuyến từ thanh cái 220kV TBA 500kV Thanh Hóa đến vị trí G8A được đầu tư trong Dự án đường dây 220kV Thanh Hóa – Hậu Lộc.

    Tuyến đường dây đi qua địa bàn các xã, phường: Thiệu Hóa, Thiệu Quang, Định Hòa, Biện Thượng, Tống Sơn, Hà Long và Quang Trung, tỉnh Thanh Hóa.

    Diện tích đất dự kiến chiếm dụng phục vụ dự án khoảng hơn 5,5ha; diện tích ảnh hưởng trong hành lang bảo vệ an toàn tuyến đường dây hơn 82,5ha.

    Dự án đường dây 220kV Thanh Hóa – Bỉm Sơn thuộc quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện trong Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 153/QĐ-TTg ngày 27/02/2023, điều chỉnh tại Quyết định số 1575/QĐ-UBND ngày 30/5/2026 của Chủ tịch UBND tỉnh.

    Sau khi hoàn thành, dự án sẽ góp phần tăng cường năng lực truyền tải của lưới điện hiện hữu, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phụ tải phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; tăng cường liên kết giữa các khu vực trong hệ thống điện quốc gia, nâng cao độ ổn định, an toàn trong vận hành. Đồng thời, công trình góp phần giảm tổn thất điện năng trên lưới truyền tải, nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống điện.

    Phối cảnh mặt bằng tuyến của dự án.

    Quyết định chấp thuận nhà đầu tư là cơ sở để EVNNPT thực hiện các thủ tục về quy hoạch, đất đai, lâm nghiệp, xây dựng, điện lực, môi trường, phòng cháy và chữa cháy, lao động, bảo hiểm, đấu nối, giấy phép hoạt động điện lực và các thủ tục pháp lý khác theo quy định.

    Trong quá trình triển khai, tỉnh Thanh Hóa giao EVNNPT có trách nhiệm rà soát, bố trí vị trí móng cột phù hợp; thực hiện đầy đủ thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, đất rừng; bảo đảm hành lang an toàn đường bộ, tĩnh không tại các vị trí giao cắt và hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp; không để ảnh hưởng đến các công trình, dự án và quy hoạch có liên quan.

    EVNNPT cũng được yêu cầu phối hợp chặt chẽ với chính quyền các xã, phường và cơ quan liên quan trong xác định ranh giới, vị trí thực hiện dự án, làm cơ sở cập nhật vào quy hoạch theo quy định; thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo tiến độ, giám sát, đánh giá đầu tư và kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc phát sinh.

    UBND tỉnh giao các sở, ngành, địa phương liên quan hướng dẫn, phối hợp giải quyết kịp thời các hồ sơ, thủ tục, tạo điều kiện triển khai dự án theo đúng quy định; đồng thời báo cáo, tham mưu cấp có thẩm quyền xử lý những khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền.

    Công nhân kiểm tra, rà soát các khiếm khuyết tiềm ẩn trên lưới tại Trạm biến áp 220kV Nông Cống.

    Hiện, lưới điện truyền tải 220kV trên địa bàn Thanh Hóa có 5 trạm biến áp gồm: Bỉm Sơn, Nông Cống, Ba Chè, Nghi Sơn và Khu Kinh tế Nghi Sơn, với tổng công suất 2.500 MVA; tổng chiều dài đường dây 220kV gần 578 km.

    Cùng với Dự án Trạm biến áp 220kV Sầm Sơn và đường dây đấu nối 220kV Thanh Hóa – Sầm Sơn đang chuẩn bị hoàn thành, Dự án đường dây 220kV Thanh Hóa – Bỉm Sơn vừa được chấp thuận nhà đầu tư sẽ tiếp tục tăng cường năng lực truyền tải, khả năng liên kết và độ tin cậy của hệ thống điện trên địa bàn; đáp ứng nhu cầu vận hành của nhiều khu công nghiệp, dự án sản xuất mới chuẩn bị đi vào hoạt động.

    Tùng Lâm

    Nguồn https://baomoi.com/duong-day-220kv-thanh-hoa-bim-son-duoc-chap-thuan-nha-dau-tu-c55851873.epi

  • Phú Thọ dự chi 77 tỷ đồng phát triển điện mặt trời mái nhà công sở

    7 tháng đầu năm 2026, Công ty Điện lực Phú Thọ đã ghi nhận phát triển được 1.322 khách hàng lắp đặt điện mặt trời mái nhà với tổng công suất 61,77 MW.

    Theo báo cáo của Sở Công Thương Phú Thọ, cơ quan chủ trì xây dựng Đề án phát triển điện mặt trời mái nhà tại các tòa nhà công sở cấp tỉnh, quá trình khảo sát, rà soát hiện trạng đã được triển khai tại 65 cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh.

    Việc khảo sát tập trung đánh giá hiện trạng công trình, diện tích và kết cấu mái, điều kiện đấu nối, khả năng lắp đặt hệ thống điện mặt trời cùng các yếu tố kỹ thuật liên quan.

    Qua rà soát, Sở Công Thương đã lựa chọn 37 cơ quan, đơn vị đáp ứng đầy đủ các điều kiện để triển khai điện mặt trời mái nhà trong giai đoạn đầu.

    Theo phương án đề xuất, tổng diện tích mái dự kiến được sử dụng để lắp đặt hệ thống điện mặt trời đạt hơn 42.000 m². Tổng công suất thiết kế khoảng 4,28 MWp, với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 77 tỷ đồng.

    Dự án được dự kiến triển khai theo hai giai đoạn trong các năm 2026 và 2027. Việc phân kỳ đầu tư nhằm phù hợp với điều kiện thực tế của từng cơ quan, đơn vị, đồng thời tạo cơ sở để từng bước mở rộng việc khai thác nguồn điện mặt trời tại các công trình công sở.

    Phát triển điện mặt trời mái nhà tại khu vực công sở được kỳ vọng góp phần tận dụng hiệu quả diện tích mái hiện có, bổ sung nguồn điện tại chỗ và giảm nhu cầu sử dụng điện từ hệ thống trong thời gian cao điểm. Đây cũng là hướng đi phù hợp với yêu cầu thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và phát triển các nguồn năng lượng sạch.

    Với quy mô 37 cơ quan, đơn vị trong giai đoạn đầu, Đề án của Phú Thọ không chỉ đặt mục tiêu hình thành thêm nguồn điện phân tán mà còn có thể tạo mô hình để đánh giá hiệu quả đầu tư, vận hành và nhân rộng điện mặt trời mái nhà tại các công trình công cộng trên địa bàn trong thời gian tới.

    Diệu Đan

    Nguồn https://baomoi.com/phu-tho-du-chi-77-ty-dong-phat-trien-dien-mat-troi-mai-nha-cong-so-c55851632.epi

  • Đến hết năm 2027, cơ bản hoàn thành Hệ thống thông tin quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai

    Đến hết năm 2027, cơ bản hoàn thành Hệ thống thông tin quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai

    Mục đích, yêu cầu Kế hoạch đặt ra là việc xây dựng, sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan phải được thực hiện đồng bộ, thống nhất, bảo đảm kế thừa các quy định còn phù hợp, tăng cường tham vấn chuyên gia, nhà khoa học, người dân, cộng đồng doanh nghiệp và các đối tượng chịu tác động để bảo đảm chất lượng chính sách và tính khả thi của văn bản pháp luật.

    Quá trình tổ chức thực hiện phải gắn kết chặt chẽ giữa hoàn thiện thể chế với cải cách hành chính, chuyển đổi số, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và bảo đảm nguồn lực thực hiện; phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương trên cơ sở tăng cường kiểm tra, giám sát của Trung ương. 

    Tăng cường công khai, minh bạch, ứng dụng công nghệ số trong quản lý, sử dụng đất; bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, doanh nghiệp; nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan báo chí và Nhân dân đối với việc thực hiện Nghị quyết.

    Nhằm đạt được mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 21-NQ/TW và Kế hoạch số 07-KH/TW, trong thời gian tới, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần cụ thể hóa và quyết liệt tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ.

    Tuyên truyền, phổ biến, thống nhất nhận thức về quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    Trong đó, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tiễn của từng cơ quan, địa phương; bảo đảm việc triển khai đồng bộ, thống nhất, hiệu quả từ trung ương đến địa phương.

    Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức tuyên truyền theo hướng lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; tăng cường ứng dụng nền tảng số, hệ thống truyền thông đa phương tiện, báo chí, xuất bản để phổ biến kịp thời các chủ trương, chính sách mới về đất đai.

    Tập trung tuyên truyền làm rõ các nội dung cốt lõi của Nghị quyết, nhất là nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; quyền, trách nhiệm của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; yêu cầu sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, bền vững; phát huy nguồn lực đất đai cho phát triển nhưng đồng thời phải bảo đảm công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

    Đẩy mạnh phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp thực hiện công tác quản lý đất đai; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu đối với đội ngũ làm công tác xây dựng pháp luật, quy hoạch, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất, định giá đất, đăng ký đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai.

    Hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý và sử dụng đất đồng bộ với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    Các bộ, ngành, địa phương khẩn trương rà soát toàn diện Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; đánh giá đầy đủ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành; xác định rõ các nội dung cần sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

    Tập trung xây dựng dự án Luật Đất đai (sửa đổi) theo đúng tiến độ được cấp có thẩm quyền giao; bảo đảm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về đổi mới công tác quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giá đất, tài chính đất đai, thị trường quyền sử dụng đất, quản lý đất nông nghiệp, đất đa mục đích, đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế và các cơ chế xử lý các hạn chế vướng mắc về đất đai do lịch sử để lại.

    Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về đất đai

    Mục tiêu nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, theo đó, đổi mới căn bản phương thức quản lý nhà nước về đất đai theo hướng quản trị hiện đại về đất đai, công khai, minh bạch, dựa trên dữ liệu số; xây dựng hệ thống quản lý đất đai thống nhất từ trung ương đến địa phương; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực; tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận đất đai và thực hiện thủ tục hành chính. Đến hết năm 2027, cơ bản hoàn thành Hệ thống thông tin quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

    Các bộ, ngành và địa phương tiếp tục rà soát, đơn giản hóa trình tự, thủ tục hành chính về quy hoạch, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, giá đất, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các thủ tục hành chính khác có liên quan; cắt giảm tối đa các khâu trung gian, loại bỏ những quy định không còn phù hợp, giảm thời gian giải quyết hồ sơ và chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.

    Xây dựng, vận hành Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiện đại, đa mục tiêu; bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu chuyên ngành về quy hoạch, thuế, công chứng, ngân hàng, bất động sản… cập nhật đầy đủ, kịp thời các biến động đất đai, đảm bảo yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung” nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước, hoạch định chính sách và cung cấp dịch vụ công.

    Ưu tiên bố trí nguồn lực để đảm bảo đến hết năm 2027 cơ bản hoàn thành công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai.

    Ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong công tác quản lý đất đai.

    Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai

    Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên, hiệu quả trong quản lý và sử dụng đất; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội và tăng cường niềm tin của Nhân dân.

    Tập trung giải quyết cơ bản những hạn chế, khuyết điểm, vướng mắc kéo dài trong quản lý, sử dụng đất

    Rà soát toàn diện hiện trạng quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh; xác định rõ diện tích không đầu tư, giao khoán không đúng đối tượng, bị lấn, chiếm, tranh chấp; phân định rõ diện tích do công ty nông, lâm nghiệp tiếp tục sử dụng với diện tích giao địa phương quản lý; giải quyết dứt điểm tình trạng chồng lấn, tranh chấp, khiếu kiện; xây dựng phương án thu hồi đất để giao cho địa phương quản lý, thực hiện giao đất, cho thuê đất theo quy định, phù hợp với điều kiện từng địa phương, vùng, miền; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

    Bên cạnh đó, rà soát quỹ đất cơ quan, trụ sở dôi dư, đất sau cổ phần hóa, thoái vốn, dự án tồn đọng, kéo dài; đất của các cơ sở sản xuất, đơn vị sự nghiệp đã di dời khỏi trung tâm đô thị lớn. Có cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả quỹ đất này bảo đảm thực hiện công khai, minh bạch việc thu hồi, giao đất, cho thuê đất, đấu giá, đấu thầu theo quy hoạch; kiên quyết thu hồi các khu đất sử dụng sai mục đích, để hoang hóa, lãng phí hoặc chậm đưa vào sử dụng.

    Đồng thời, triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất và sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo các chương trình mục tiêu quốc gia.

    DANH MỤC NHIỆM VỤ TRONG TÂM THỰC HIỆN KẾ HOẠCH./.

    Nguồn https://baomoi.com/den-het-nam-2027-co-ban-hoan-thanh-he-thong-thong-tin-quoc-gia-va-co-so-du-lieu-quoc-gia-ve-dat-dai-c55851642.epi

  • Phiên họp thứ 5 UBTV Quốc hội: Không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc.

    Quang cảnh phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 17/8. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Tự công bố, tự chịu trách nhiệm gắn với quy trình, quy phạm, quy chuẩn

    Theo Báo cáo của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng trình bày, tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm tra, Chính phủ chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục rà soát và dự kiến hoàn thiện dự thảo luật, dự thảo văn bản quy định chi tiết theo hướng bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật. Việc cắt giảm các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh được thực hiện dựa trên nguyên tắc: không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết, không rõ mục tiêu quản lý và quản lý dựa trên rủi ro, dữ liệu.

    Đối với việc phân quyền thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính gắn với nâng cao năng lực thực thi của địa phương, Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương khẩn trương chuẩn bị đầy đủ các điều kiện bảo đảm thi hành, ban hành kịp thời các văn bản quy định chi tiết, quy chuẩn kỹ thuật, tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ và triển khai các giải pháp nâng cao năng lực thực thi của chính quyền địa phương, bảo đảm việc phân quyền được thực hiện thống nhất, hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tiễn.

    Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Trần Văn Khải trình bày báo cáo ý kiến đối với nội dung cơ quan trình dự kiến tiếp thu, giải trình và chỉnh lý các dự thảo. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Trần Văn Khải cho biết, Thường trực Ủy ban thống nhất với tiếp thu, giải trình của Chính phủ về ý kiến đối với quy định chấp thuận trao đổi quốc tế nguồn gen giống vật nuôi; đề nghị quản lý thức ăn chăn nuôi phải bảo đảm thống nhất với pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, hàng hóa; xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử, quản lý rủi ro trong hậu kiểm, công khai kết quả kiểm tra, truy xuất nguồn gốc; hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo cán bộ địa phương và người chăn nuôi; phân định hoạt động kiểm dịch có tính chất địa phương với hoạt động liên vùng, xuất nhập khẩu.

    Cho ý kiến về nội dung này, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến nhấn mạnh, việc cắt giảm thủ tục hành chính và ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhằm khơi thông nguồn lực, tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng, thúc đẩy các thành phần kinh tế đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh.

    Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội nêu rõ, việc này không có nghĩa là bỏ vai trò quản lý của cơ quan Nhà nước, mà chuyển sang hai hình thức khác phù hợp hơn. Theo đó, hình thức thứ nhất là chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, phát huy vai trò của chủ thể kinh doanh. Điều kiện này chỉ áp dụng được khi cơ quan Nhà nước ban hành quy trình, quy phạm, quy chuẩn.

    Hình thức thứ hai là tự công bố và chịu trách nhiệm, chịu sự giám sát của cơ quan Nhà nước. Cơ quan Nhà nước có quyền đình chỉ bất cứ giai đoạn nào khi phát hiện có vi phạm. Ngoài ra còn chịu sự giám sát của xã hội và người tiêu dùng.

    Nhấn mạnh “việc cấm vẫn phải cấm”, bởi nếu không cấm thì sau này sẽ không có căn cứ pháp luật để xử lý các hành vi vi phạm, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội đề nghị trong báo cáo cần lưu ý đến việc hậu kiểm và việc tự công bố, tự chịu trách nhiệm phải gắn với quy trình, quy phạm, quy chuẩn.

    Làm rõ tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng băng tần khi cấp lại giấy phép

    Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường và ý kiến của các đại biểu Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân trình bày.

    Theo Báo cáo, về cấp giấy phép sử dụng băng tần đối với doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh (khoản 2 Điều 1), nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội đồng tình với quy định tăng thời hạn giấy phép sử dụng băng tần từ 3 năm lên 5 năm và đưa thời điểm đánh giá hiệu quả Đề án từ 3 tháng lên 9 tháng trước khi giấy phép hết hạn vì đầu tư hạ tầng viễn thông cần thời gian và nguồn lực lớn nên thời hạn 3 năm chưa phù hợp để đánh giá đầy đủ hiệu quả triển khai Đề án.

    Chính phủ ghi nhận và đánh giá cao các ý kiến đồng tình, thống nhất của đại biểu. Việc điều chỉnh này là cần thiết, phù hợp với đặc thù đầu tư hạ tầng viễn thông có quy mô lớn, thời gian triển khai và thu hồi vốn dài, tạo điều kiện để có đủ cơ sở, dữ liệu đánh giá khách quan, toàn diện hiệu quả sử dụng băng tần, hiệu quả đầu tư và kết quả thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, qua đó bảo đảm việc xem xét tiếp tục thực hiện Đề án được thực hiện trên cơ sở đầy đủ thông tin và phù hợp với thực tiễn triển khai.

    Báo cáo ý kiến về việc tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trần Văn Khải cho biết, Thường trực Ủy ban đề nghị làm rõ thêm về tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng băng tần khi cấp lại giấy phép (khoản 5 Điều 1 dự thảo Luật). Hiệu quả sử dụng băng tần đã được kiểm soát qua cam kết triển khai mạng và chế tài thu hồi giấy phép; tuy nhiên, đề nghị Chính phủ quy định rõ trình tự, thời điểm thu hồi và phương án tái phân bổ công khai, minh bạch băng tần sau thu hồi; rà soát quy hoạch hạ tầng viễn thông thụ động.

    Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thảo luận ở tổ và tại hội trường của các đại biểu Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc do Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày.

    Theo đó, về bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc (sửa đổi, thay thế Điều 5) và yêu cầu đối với kiến trúc đô thị, kiến trúc nông thôn (sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 11), Chính phủ đã rà soát, chỉnh lý Điều 11 về yêu cầu đối với kiến trúc đô thị, kiến trúc nông thôn và Điều 12 về thiết kế kiến trúc theo hướng quy định kiến trúc tại đô thị, nông thôn phải kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, đồng thời phát triển phong cách kiến trúc hiện đại, tiên tiến, hài hòa với không gian kiến trúc, cảnh quan của khu vực xây dựng công trình.

    Đối với các ý kiến đề nghị bổ sung quy định về kiến trúc xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, vật liệu thân thiện môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, pháp luật về kiến trúc đã quy định tại Điều 6 về chính sách của Nhà nước trong hoạt động kiến trúc, bao gồm xây dựng định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam; xây dựng cơ sở dữ liệu, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về kiến trúc và mẫu thiết kế kiến trúc đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, thân thiện với môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai.

    Báo cáo ý kiến về việc tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trần Văn Khải cho biết, những nội dung về thi tuyển phương án kiến trúc (Điều 17); cải cách Chứng chỉ hành nghề (Điều 21, 24, 27);  quy định khung tiêu chí đối với “Bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc” (Điều 5) đã được tiếp thu, chỉnh lý.

    Bên cạnh việc Cơ quan chủ trì soạn thảo có nhiều nỗ lực trong việc tiếp thu, chỉnh lý để hoàn thiện dự thảo Luật, Thường trực Ủy ban nhận thấy vẫn còn 4 vấn đề cần cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo tính khả thi, gồm: việc phân cấp ban hành Quy chế quản lý kiến trúc gắn với cơ chế kiểm soát (Điều 14, Điều 15); rút ngắn thời gian thẩm định quy hoạch (sửa khoản 4 Điều 40 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn); vai trò của tổ chức xã hội – nghề nghiệp; áp lực lên hệ thống văn bản dưới luật.

    Tăng cường hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc

    Qua thảo luận, các Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cơ bản nhất trí với nhiều nội dung giải trình, tiếp thu, chỉnh lý của Chính phủ đối với 3 dự án Luật.

    Đối với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát, chỉnh lý, bổ sung cơ chế quản lý thay thế bảo đảm đủ mạnh và khả thi khi bãi bỏ điều kiện buôn bán giống cây trồng, phân bón.

    Cùng với đó, tăng cường công tác hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát hàng giả, hàng kém chất lượng, bảo đảm quyền lợi của người dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chỉnh lý, hoàn thiện cơ chế rà soát, đánh giá lại định kỳ và đột xuất danh mục thuốc bảo vệ thực vật đã được cấp phép lưu hành; kịp thời quyết định hạn chế sử dụng hoặc loại bỏ các danh mục thuốc không còn bảo đảm an toàn, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường.

    Đối với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 luật trong lĩnh vực khoa học công nghệ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu rà soát, bổ sung quy định hoặc giải trình làm rõ trình tự, thời điểm thu hồi và phương án xử lý, tái phân bổ băng tần sau thu hồi bảo đảm kịp thời, công khai, minh bạch và hiệu quả sử dụng tài nguyên tần số, không để thất thoát, lãng phí; tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy hoạch hạ tầng viễn thông thụ động bảo đảm đồng bộ, tiết kiệm nguồn lực, tránh đầu tư trùng lặp và tạo thuận lợi cho sử dụng chung cơ sở hạ tầng viễn thông…

    Đối với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát kỹ lưỡng, chỉnh lý hoàn thiện các quy định về phân cấp việc lập, ban hành quy chế quản lý kiến trúc cho chính quyền cấp xã gắn với cơ chế kiểm soát chuyên môn của cơ quan quản lý cấp tỉnh. Việc cắt giảm thời gian thẩm định đồ án quy hoạch cần bảo đảm tính khả thi, tránh nguy cơ thẩm định hình thức. Cùng với đó bổ sung lộ trình chuyển giao chức năng quản lý chứng chỉ hành nghề kiến trúc cho các tổ chức xã hội – nghề nghiệp chuyên ngành nhằm đẩy mạnh xã hội hóa và giảm tải cho cơ quan quản lý nhà nước…

    Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua 3 dự thảo luật nêu trên sau khi được tiếp thu, chỉnh lý theo kết luận chính thức của phiên họp.

    Phan Phương (TTXVN )

    Nguồn https://baomoi.com/phien-hop-thu-5-ubtv-quoc-hoi-khong-can-thiep-vao-hoat-dong-san-xuat-kinh-doanh-cua-doanh-nghiep-c55851646.epi

  • Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi)

    Chiều 17/8, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).

    Dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).

    Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp

    Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng đã trình bày Báo cáo tóm tắt về việc tiếp thu, giải trình ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội (ĐBQH) thảo luận tại Tổ, tại Hội trường và ý kiến thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội đối với dự án Luật.

    Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết, đa số các ĐBQH tán thành về sự cần thiết ban hành Luật nhằm kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phát triển ngành dầu khí, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế biển.

    Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng khẳng định, dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ với hệ thống pháp luật, điều ước quốc tế, yêu cầu quốc phòng – an ninh; đồng thời, cắt giảm thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.

    Thông tin về một số nội dung các ĐBQH quan tâm, cho ý kiến trong thời gian qua, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh lý các nội dung:

    Thứ nhất, về thu giữ, lưu trữ carbon (CCS) và công trình năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí.

    Theo Bộ trưởng, Chính phủ đã tiếp thu, chỉnh lý theo hướng điều chỉnh hoạt động CCS và các công trình năng lượng ngoài khơi gắn trực tiếp với hoạt động dầu khí. Đồng thời, làm rõ quyền của nhà thầu đối với tín chỉ carbon; trách nhiệm giám sát, quan trắc và khắc phục sự cố sau khi đóng mỏ. Cùng với đó, khuyến khích dùng chung hạ tầng sẵn có nhưng phải bảo đảm an toàn và không ảnh hưởng đến hoạt động dầu khí.

    Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng trình bày Báo cáo tóm tắt về việc tiếp thu, giải trình ý kiến của các ĐBQH và ý kiến thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội đối với dự án Luật.

    Thứ hai, dịch vụ dầu khí kỹ thuật công nghệ cao. Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, Chính phủ đã thu hẹp phạm vi áp dụng đối với các dịch vụ công nghệ cao phục vụ trực tiếp cho điều tra cơ bản và hoạt động dầu khí thượng nguồn.

    Bổ sung các tiêu chí xác định cụ thể, đồng thời tăng ưu đãi về đầu tư, thuế, đất đai thực hiện theo pháp luật chuyên ngành; tập trung khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng, làm chủ và chuyển giao công nghệ.

    Thứ ba, về phân cấp, phân quyền và vai trò của Petrovietnam.

    Chính phủ đã tiếp thu, chỉnh lý theo hướng phân định rõ chức năng của Petrovietnam, tách bạch giữa hoạt động điều tra cơ bản, vai trò nhà đầu tư và các chức năng đặc thù do Nhà nước giao.

    Đồng thời, bổ sung cơ chế hậu kiểm, yêu cầu Petrovietnam báo cáo định kỳ cho cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động dầu khí – Bộ Công Thương.

    Ngoài ra, các nội dung liên quan đến quốc phòng, an ninh, bất khả kháng vẫn do cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí phê duyệt để bảo đảm sự kiểm soát trực tiếp.

    Thứ tư, về chính sách ưu đãi và khai thác tận thu.

    Chính phủ tiếp tục giữ nguyên các mức ưu đãi đặc thù để bảo đảm tính ổn định và khả năng dự báo môi trường đầu tư. Đồng thời, làm rõ thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ đối với dự án đặc biệt quan trọng; quy định ưu đãi nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR) không quá 10% chi phí thu hồi bổ sung. Và bổ sung cơ chế xử lý quỹ đối với khai thác tận thu, bảo đảm nghĩa vụ thu dọn và trách nhiệm môi trường.

    Thứ năm, về hợp đồng dầu khí.

    Chính phủ làm rõ nguyên tắc phân định trường hợp điều chỉnh hợp đồng và thời hạn gia hạn (không quá 15 năm đối với nâng cao hệ số thu hồi dầu). Các quy định về thu hồi chi phí, chấm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp được kế thừa từ pháp luật hiện hành nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà thầu.

    Thứ sáu, về kế hoạch phát triển mỏ (ODP, EDP, FDP).

    Chính phủ khẳng định đây là các hồ sơ đặc thù của ngành dầu khí, có thể thay thế Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi/khả thi để tránh trùng lặp, nhưng vẫn phải tuân thủ pháp luật về đất đai, môi trường, quốc phòng – an ninh.

    Thứ bảy, về xử lý chi phí của Petrovietnam. Chính phủ đã làm rõ nguồn kinh phí điều tra cơ bản, tách bạch tài chính doanh nghiệp và bổ sung cơ chế chuyển tiếp xử lý chi phí phát sinh trước khi Luật Dầu khí 2022 có hiệu lực.

    Sớm hoàn thiện khung pháp lý toàn diện về hoạt động CCS

    Trình bày báo cáo tóm tắt ý kiến đối với nội dung tiếp thu, giải trình, chỉnh lý của dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi), ông Nguyễn Ngọc Bảo, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cho biết, Thường trực Uỷ ban cơ bản tán thành với dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đã được chỉnh lý trên cơ sở tiếp thu tối đa ý kiến của các ĐBQH và ý kiến thẩm tra của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.

    Ông Nguyễn Ngọc Bảo, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội trình bày báo cáo tóm tắt ý kiến đối với nội dung tiếp thu, giải trình, chỉnh lý của dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).

    Song, về phân cấp, phân quyền cho Bộ Công Thương và giao quyền cho Petrovietnam, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề xuất với Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ chú trọng chỉ đạo việc xây dựng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật này bảo đảm quy định rõ ràng về cơ chế, quy trình phối hợp; gắn phân quyền quyết định với phân quyền trách nhiệm của Bộ Công Thương nhưng vẫn phải bảo đảm thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan có liên quan.

    Thường trực Ủy ban cũng đề xuất Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ chỉ đạo công tác tổ chức thực hiện bảo đảm thực sự thuận lợi, hiệu quả, thông suốt việc triển khai các hoạt động dầu khí, bảo đảm các dự án nhanh chóng đi vào triển khai thực hiện trong thực tế, đặc biệt là đối với dự án phát triển mỏ dầu khí có chuỗi đồng bộ các hạng mục công trình, thiết bị dầu khí trên đất liền và trên biển.

    Về quy định trong hoạt động thu giữ, xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ carbon (hoạt động CCS), Thường trực Ủy ban đề xuất Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, quy định đầy đủ, cụ thể việc triển khai thực hiện hoạt động CCS gắn với hoạt động dầu khí, đặc biệt là giai đoạn sau khi kết thúc hoạt động khai thác dầu khí bảo đảm đầy đủ cơ sở pháp lý và tính khả thi.

    Thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật này, các đại biểu đánh giá cao tinh thần cầu thị của cơ quan chủ trì soạn thảo và Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính trong việc nghiên cứu, tiếp thu nghiêm túc ý kiến của các ĐBQH để hoàn thiện dự thảo luật trình Quốc hội xem xét, thông qua.

    Sớm xây dựng văn bản hướng dẫn chi tiết

    Phát biểu tiếp thu và giải trình tại phiên họp, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo trân trọng cảm ơn các ý kiến đóng góp sâu sắc, trách nhiệm của Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính, các Ủy ban của Quốc hội và các đại biểu.

    Bộ trưởng nhấn mạnh một số nội dung trọng tâm Chính phủ sẽ tập trung thực hiện trong những ngày tới:

    Một là, xây dựng văn bản hướng dẫn chi tiết. Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ khẩn trương xây dựng Nghị định quy định chi tiết thi hành luật, cụ thể hóa các nội dung phân cấp, phân quyền cho Bộ Công Thương và Petrovietnam, đi kèm cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực chặt chẽ.

    Hai là, xử lý minh bạch chi phí. Quy định rõ nguyên tắc xử lý chi phí minh bạch đối với Petrovietnam khi thực hiện nhiệm vụ thay nước chủ nhà, rà soát dứt điểm các vướng mắc phát sinh trước năm 2022.

    Ba là, nghiên cứu khung pháp lý CCS. Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý toàn diện cho hoạt động CCS và các dự án năng lượng ngoài khơi độc lập, tạo nền tảng thu hút đầu tư mới.

    Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên phát biểu kết luận phiên họp.

    Phát biểu kết luận phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đánh giá cao sự phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm giữa cơ quan chủ trì soạn thảo (Bộ Công Thương) và cơ quan thẩm tra (Ủy ban Kinh tế và Tài chính) trong việc tiếp thu tối đa ý kiến của các ĐBQH.

    Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành phối hợp với Bộ Tư pháp rà soát, hoàn thiện dự thảo luật và khẩn trương dự thảo các văn bản hướng dẫn thi hành. Bảo đảm cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí theo Quy định 178-QĐ/TW của Bộ Chính trị.

    Trên cơ sở kết quả phiên họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) sau khi được tiếp thu, chỉnh lý theo kết luận của phiên họp này. Chính phủ chịu trách nhiệm toàn diện đối với việc tiếp thu, chỉnh lý hoàn thiện dự thảo Luật, bảo đảm tiến độ cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp trình Quốc hội tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.

    Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định tiến bộ của Luật Dầu khí năm 2022 (hiện hành) và cụ thể hóa 5 nhóm chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 81/NQ-CP ngày 3/4/2026, bao gồm: đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân quyền, giao quyền; hoàn thiện quy định về hợp đồng và hoạt động dầu khí; chính sách ưu đãi đầu tư; phát triển chuỗi giá trị dầu khí, dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi; quy định khung cho việc giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ carbon.

    Hoàng Hòa

    Nguồn https://baomoi.com/bo-truong-le-manh-hung-giai-trinh-tiep-thu-chinh-ly-du-thao-luat-dau-khi-sua-doi-c55851505.epi

  • Từ cơ sở xuống cấp đến cuộc tái cấu trúc thể thao Tây Ninh

    Các công trình thể thao tại cơ sở 2 Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh Tây Ninh hiện đang hoạt động, cơ bản bảo đảm phục vụ tập luyện và tổ chức các giải thể thao cấp tỉnh và khu vực. Ảnh: Giang Phương – TTXVN

    Lộ trình này gắn với yêu cầu hoàn thiện cơ sở vật chất, bảo đảm điều kiện ăn, ở, học văn hóa, tập luyện và thi đấu cho lực lượng thể thao của tỉnh.

    Từng bước tập trung huấn luyện, thi đấu tại cơ sở 2

    Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh, Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh hiện quản lý cơ sở vật chất tại hai cơ sở, phục vụ gần 745 huấn luyện viên, vận động viên các đội thể thao tập luyện; tổ chức các giải thể thao cấp tỉnh, khu vực và quốc gia.

    Tại cơ sở 1 ở phường Long An, hiện tập trung 395 huấn luyện viên, vận động viên thuộc các môn Điền kinh, Bóng đá, Bóng chuyền, Vật, Bơi, Cờ vua, Bóng bàn… Tuy nhiên, nhiều công trình thể thao tại đây đã xuống cấp, không đạt chuẩn. Đáng chú ý, sân vận động chính với diện tích 23.527 m², phục vụ tập luyện, thi đấu của nhiều đội tuyển và tổ chức các giải Bóng đá, Điền kinh, được Sở Xây dựng đánh giá đang ở trạng thái nguy hiểm, cấp nguy hiểm là cấp C.

    Nhà thi đấu thể thao đa năng diện tích 3.340 m² cần xử lý, sửa chữa phần mái tôn, trần nhà sau 30 năm đưa vào sử dụng; hồ bơi và hệ thống lọc nước diện tích 1.783 m² đã xuống cấp sau 40 năm sử dụng.

    Sân thi đấu bóng đá tại cơ sở 2 Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh Tây Ninh được đầu tư đồng bộ, đáp ứng yêu cầu tập luyện và tổ chức các giải thi đấu thể thao quy mô lớn. Ảnh: Giang Phương – TTXVN

    Trước đây, cơ sở 1 tại phường Long An tận dụng gầm khán đài và các phòng của Nhà thi đấu làm khu nghỉ và học tập văn hóa cho vận động viên. Thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh, Sở đã tiến hành cải tạo, sửa chữa một phần Khu ký túc xá của Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh để làm nơi ăn, nghỉ và học văn hóa tập trung cho vận động viên của Trường Thể dục thể thao; đồng thời cải tạo, sửa chữa trụ sở cũ của Sở Nông nghiệp và Môi trường để di dời toàn bộ vận động viên tuyển trẻ và tuyển tỉnh do Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao quản lý về đây ăn, nghỉ.

    Tuy nhiên, đây mới chỉ bảo đảm nơi ăn, nghỉ và học tập văn hóa tạm thời cho vận động viên; cơ sở vật chất phục vụ tập luyện thường xuyên và tổ chức các giải thể thao vẫn phải sử dụng các công trình trong khu vực sân vận động hiện hữu đã xuống cấp.

    Trong khi đó, cơ sở 2 tại xã Châu Thành, dành cho việc tập luyện các môn Bóng đá (hạng Nhì, U15), Điền kinh, các môn võ với hơn 250 huấn luyện viên, vận động viên. Cơ sở đang quản lý, sử dụng 7,5 ha đất, với sân thi đấu bóng đá có khán đài 1.000 chỗ, sân tập bóng đá có đường chạy nhựa tổng hợp 400 m, sân bóng đá 7 và 11 người cỏ nhân tạo, hồ bơi đạt chuẩn có khán đài 500 chỗ, nhà tập thể thao đa năng, nhà tập 6 môn võ thuật, 2 dãy ký túc xá và 2 nhà ăn tập thể phục vụ 300 vận động viên. Ngoài ra, cơ sở 2 còn có nhà thi đấu sức chứa 2.500 chỗ ngồi. Các công trình hiện đang hoạt động, cơ bản đáp ứng nhu cầu tập luyện và tổ chức thi đấu các giải thể thao cấp tỉnh.

    Sân tập bóng đá tại cơ sở 2 có đường chạy nhựa tổng hợp 400 m, phục vụ công tác huấn luyện, tập luyện. Ảnh: Giang Phương – TTXVN

    Theo ông Lê Quang Chánh, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh, việc bố trí huấn luyện viên, vận động viên về cơ sở 2 được thực hiện theo từng đợt, xây dựng lộ trình phù hợp với điều kiện thực tế. Đợt 1 đã bố trí 100 huấn luyện viên, vận động viên tập trung, tập luyện tại cơ sở 2. Đợt 2 tiếp tục bố trí 150 huấn luyện viên, vận động viên năng khiếu các môn thuộc Trường Thể dục thể thao và đội Bóng chuyền nữ VTV Bình Điền Long An. Sau đợt này, cơ sở 2 sẽ có tổng cộng 410 huấn luyện viên, vận động viên ăn, ở, tập luyện, trong đó có 292 vận động viên học văn hóa.

    Đợt 3, dự kiến triển khai vào đầu tháng 10/2026, ngành Thể thao sẽ sắp xếp, bố trí 127 huấn luyện viên, vận động viên các môn Bóng đá tuyển (dự Giải hạng Nhì quốc gia), Bóng chuyền tuyển nam, Bóng chuyền trẻ nam, Bóng chuyền trẻ nữ, Bóng chuyền bãi biển và Vật về cơ sở 2. Các vận động viên đã hoàn tất chương trình học văn hóa, đang chờ bố trí nơi ăn, nghỉ và tập luyện để thực hiện di dời. Trường hợp cơ sở vật chất tại cơ sở 2 chưa đủ điều kiện bố trí chỗ ở tập trung, các huấn luyện viên, vận động viên sẽ tạm thời tiếp tục ở tập trung tại trụ sở cũ của Sở Nông nghiệp và Môi trường.

    Hoàn thiện cơ sở vật chất, bàn giao sân vận động

    Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh Tây Ninh thường xuyên tổ chức các giải thi đấu thể thao quy mô lớn. Ảnh: Giang Phương – TTXVN

    Theo lộ trình, đến tháng 10/2026, Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh Tây Ninh và sân vận động tại phường Long An chỉ còn Đội Bóng đá Long An, dự Giải hạng Nhất quốc gia, tiếp tục tập luyện và thi đấu. Khi phường Long An triển khai phương án tại khu vực sân vận động, đội bóng sẽ di dời và thuê địa điểm tập luyện, thi đấu trong thời gian chờ xây dựng khán đài 5.000 chỗ ngồi và hệ thống chiếu sáng sân bóng đá tại cơ sở 2, bảo đảm đủ điều kiện tổ chức thi đấu Giải hạng Nhất quốc gia.

    Cùng với việc sắp xếp huấn luyện viên, vận động viên, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh đang triển khai các thủ tục liên quan đến cơ sở nhà, đất. Sở phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện Kết luận của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đoàn Trung Kiên trước đó về việc bàn giao Trường Trung cấp Kinh tế – Kỹ thuật cho Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao; đồng thời thực hiện các thủ tục bàn giao sân vận động Long An theo quy định.

    Hồ bơi tại Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh Tây Ninh được đầu tư đồng bộ, đáp ứng yêu cầu tổ chức các giải đấu cấp quốc gia. Ảnh: Giang Phương – TTXVN

    Đối với khu vực sân vận động Long An, Sở đã chỉ đạo Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao thông báo kết thúc hợp đồng đối với 27 hộ thuê mặt bằng kinh doanh, trả lại mặt bằng trước ngày 1/9/2026. Sở cũng đã mời UBND phường Long An khảo sát, bàn giao sân vận động; dự kiến đến ngày 1/10/2026 bàn giao cơ sở nhà, đất cho UBND phường Long An.

    Tại khu vực hồ bơi đường Hoàng Lê Kha, phường Tân Ninh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp khảo sát hiện trạng, thống nhất danh mục tài sản, phương pháp tính khấu hao và giá trị tài sản còn lại. Hai đơn vị đang hoàn chỉnh hồ sơ để trình UBND tỉnh.

    Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh Lê Quang Chánh cho biết, thời gian tới, Sở tiếp tục hoàn tất phương án sắp xếp, bố trí huấn luyện viên, vận động viên về cơ sở 2 xã Châu Thành trong tháng 9/2026; cải tạo, sửa chữa và xây dựng các công trình phục vụ ăn, ở, tập luyện và thi đấu tại cơ sở 2; thực hiện các thủ tục bàn giao sân vận động Long An và hoàn thiện hồ sơ bàn giao hồ bơi đường Hoàng Lê Kha trình UBND tỉnh.

    Vận động viên thi đấu tại Giải Bơi – Lặn Vô địch các Câu lạc bộ Quốc gia năm 2026 tổ chức tại Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh Tây Ninh (cơ sở 2, xã Châu Thành). Ảnh: Giang Phương – TTXVN

    Để bảo đảm các điều kiện cần thiết phục vụ việc sắp xếp, bố trí huấn luyện viên, vận động viên từ cơ sở 1 về cơ sở 2, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch kiến nghị UBND tỉnh thống nhất chủ trương giao Sở làm chủ đầu tư dự án cải tạo các công trình thể thao sau khi tiếp nhận bàn giao cơ sở vật chất của Trường Trung cấp Kinh tế – Kỹ thuật Tây Ninh; đồng thời khẩn trương bố trí vốn để triển khai dự án, bảo đảm tiến độ cải tạo, sửa chữa các hạng mục, đáp ứng nhu cầu ăn, nghỉ, tập luyện và sinh hoạt cho khoảng 350 huấn luyện viên, vận động viên được bố trí về cơ sở 2.

    Sở cũng kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ bàn giao khu đất của Tổng công ty Bưu điện Việt Nam, phần đất do Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh quản lý và khu đất 7 ha của Công ty Cổ phần Công trình giao thông cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, phục vụ công tác quy hoạch, triển khai Khu liên hợp thể thao tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2027 – 2030.

    Giang Phương/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/tu-co-so-xuong-cap-den-cuoc-tai-cau-truc-the-thao-tay-ninh-c55851523.epi

  • Ban Bí thư ban hành quy định mới về quản lý hồ sơ cán bộ

    Công tác quản lý hồ sơ cán bộ phải tuân thủ các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; bảo đảm hồ sơ đầy đủ, rõ ràng, chính xác, được cập nhật kịp thời và quản lý, sử dụng thống nhất.

    Một điểm đáng chú ý là mỗi cán bộ chỉ có một hồ sơ cán bộ dùng chung trong toàn hệ thống chính trị. Cơ quan, đơn vị nơi cán bộ được tuyển dụng lần đầu có trách nhiệm lập hồ sơ gốc; đồng thời việc quản lý hồ sơ phải xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm, người được phân công, thời hạn thực hiện và kết quả cụ thể.

    Trường hợp hồ sơ bị thất lạc, hư hỏng hoặc dữ liệu điện tử bị mất, sai lệch thì việc lập lại, phục hồi hồ sơ phải được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, có sự chỉ đạo của người đứng đầu và được thẩm tra, xác minh đầy đủ.

    Một nội dung quan trọng được quy định là hồ sơ cán bộ bao gồm hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử, có giá trị pháp lý như nhau.

    Việc ban hành Quy định số 211 tạo cơ sở để chuẩn hóa công tác quản lý hồ sơ cán bộ trong toàn hệ thống chính trị, đồng thời từng bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý dựa trên dữ liệu số. Ảnh: Nguyễn Huế

    Việc quản lý hai loại hồ sơ được thực hiện kết hợp theo lộ trình, tiến tới thay thế cơ bản hồ sơ giấy bằng hồ sơ điện tử khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về kỹ thuật và hạ tầng.

    Hồ sơ cán bộ điện tử phải được số hóa theo chuẩn dữ liệu thống nhất, lưu trữ trên hệ thống bảo đảm an toàn, bảo mật và phân quyền truy cập theo thẩm quyền. Đồng thời, dữ liệu hồ sơ cán bộ được định hướng kết nối, liên thông với các hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác cán bộ.

    Quy định đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ hồ sơ và dữ liệu hồ sơ cán bộ, trong đó nghiêm cấm việc truy cập, khai thác, sao chụp, cung cấp, chia sẻ, chỉnh sửa, làm sai lệch hoặc hủy bỏ hồ sơ, dữ liệu trái thẩm quyền hoặc sử dụng không đúng mục đích.

    Với tài liệu điện tử được đưa vào hồ sơ cán bộ, tài liệu phải là bản số hóa từ tài liệu giấy hợp lệ hoặc tài liệu điện tử được tạo lập, ký số, xác thực theo quy định; đồng thời phải thể hiện rõ nguồn gốc, thời điểm cập nhật, người cập nhật và trạng thái pháp lý của tài liệu.

    Thành phần hồ sơ cán bộ

    Các thành phần cơ bản trong hồ sơ cán bộ gồm: quyển lý lịch cán bộ; lý lịch tóm tắt; sơ yếu lý lịch; phiếu bổ sung lý lịch; các quyết định về nhân sự; các bản tự kiểm điểm, nhận xét, đánh giá, xếp loại cán bộ; kê khai tài sản, thu nhập đối với trường hợp thuộc diện phải kê khai; các kết luận kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra liên quan đến cán bộ và các tài liệu khác theo quy định; kết luận về tiêu chuẩn chính trị (với các trường hợp phải kết luận tiêu chuẩn chính trị); các tài liệu khác: Bản sao giấy khai sinh, giấy chứng nhận sức khỏe của cơ quan có thẩm quyền, văn bằng, chứng chỉ về chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, bồi dưỡng chức danh lãnh đạo, quản lý, ngoại ngữ, tin học, bồi dưỡng nghiệp vụ…

    Theo quy định, Ban Tổ chức Trung ương quản lý hồ sơ cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý thống nhất dữ liệu hồ sơ cán bộ trong hệ thống chính trị; chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành chuẩn dữ liệu, cấu trúc dữ liệu, mã định danh, quy chế kết nối, chia sẻ, đồng bộ, khai thác dữ liệu hồ sơ cán bộ.

    Ban Tổ chức Trung ương cũng tổ chức tích hợp, liên thông dữ liệu giữa cơ sở dữ liệu hồ sơ cán bộ của Đảng với cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức, viên chức của Nhà nước và các cơ sở dữ liệu liên quan theo đúng thẩm quyền, phạm vi, mục đích, yêu cầu bảo mật và quy định về bảo vệ bí mật nhà nước; khắc phục tình trạng phân tán, cát cứ dữ liệu, bảo đảm dữ liệu thống nhất, đầy đủ, kịp thời.

    Ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy quản lý hồ sơ của cán bộ thuộc diện ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy quản lý và cơ sở dữ liệu hồ sơ cán bộ trong hệ thống chính trị của địa phương theo phân cấp.

    Cơ quan, đơn vị tham mưu về tổ chức cán bộ cấp xã, phường, đặc khu và tương đương quản lý hồ sơ cán bộ thuộc diện cấp mình quản lý; thực hiện cập nhật, khai thác, chuyển giao, lưu trữ hồ sơ cán bộ theo phân cấp và hướng dẫn của cấp trên.

    Cơ quan (bộ phận) tổ chức cán bộ của các ban, bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương; các ban, sở, ngành, đoàn thể tỉnh và tương đương quản lý hồ sơ cán bộ và cơ sở dữ liệu hồ sơ cán bộ thuộc diện quản lý của cơ quan, đơn vị mình.

    Trần Thường

    Nguồn https://baomoi.com/ban-bi-thu-ban-hanh-quy-dinh-moi-ve-quan-ly-ho-so-can-bo-c55851487.epi

  • UBTVQH thống nhất trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi)

    Chiều 17/8, tại Phiên họp thứ 5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi). Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên thảo luận.

    Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật

    Trước khi thảo luận, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Nguyễn Ngọc Bảo trình bày báo cáo ý kiến về các nội dung cơ quan soạn thảo dự kiến tiếp thu, giải trình.

    Theo báo cáo, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản đồng tình với dự thảo sau khi đã được chỉnh lý trên cơ sở tiếp thu tối đa ý kiến của đại biểu Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Chính phủ cũng đã rà soát, giải trình các nội dung theo nguyên tắc được xác định tại Kết luận số 101/KL-UBTVQH16 ngày 14/7/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Dự thảo luật được chỉnh sửa trên nhiều nhóm vấn đề quan trọng, gồm khái niệm “hoạt động dầu khí”; phân định thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương và Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PETROVIETNAM); hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon (CCS) gắn với hoạt động dầu khí; phát triển công trình ngoài khơi; chính sách ưu đãi; khai thác tận thu đối với mỏ, cụm mỏ, lô dầu khí; hợp đồng dầu khí và cơ chế xử lý chi phí cho Tập đoàn.

    Phân quyền gắn với trách nhiệm

    Đối với việc phân cấp, phân quyền, Chính phủ tiếp tục hoàn thiện các quy định về thẩm quyền của Thủ tướng, Bộ Công Thương và PETROVIETNAM theo nguyên tắc đã nêu trong hồ sơ trình dự án luật.

    Chính phủ cũng giải trình và bảo lưu phương án giao Bộ Công Thương chấp thuận chủ trương thực hiện dự án phát triển mỏ dầu khí có chuỗi đồng bộ các hạng mục, công trình, thiết bị dầu khí trên đất liền và trên biển tại Điều 31.

    Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ khi xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành phải làm rõ cơ chế, quy trình phối hợp giữa các cơ quan. Việc phân quyền quyết định cho Bộ Công Thương cần đi đôi với phân định trách nhiệm, đồng thời không làm ảnh hưởng đến thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan liên quan.

    Cùng với đó, quá trình tổ chức thực hiện phải bảo đảm các hoạt động dầu khí được triển khai thông suốt, nhất là những dự án phát triển mỏ có chuỗi công trình, thiết bị đồng bộ trên đất liền và ngoài khơi. Các vướng mắc phát sinh cần được các bộ, ngành và PETROVIETNAM kịp thời báo cáo để xử lý, tránh kéo dài gây lãng phí nguồn lực.

    Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Chí Hiếu nhất trí với chủ trương phân quyền và phương án Chính phủ đề xuất, đồng thời lưu ý cần xây dựng cơ chế kiểm soát phù hợp trong bối cảnh mô hình quản lý và thẩm quyền đối với hoạt động dầu khí thượng nguồn có nhiều thay đổi.

    Làm rõ cơ chế xử lý chi phí cho PETROVIETNAM

    Một nội dung đáng chú ý khác là cơ chế xử lý các khoản chi phí của PETROVIETNAM, được quy định tại Điều 60 và khoản 5 Điều 62.

    Dự thảo đã tiếp thu, hoàn thiện các quy định liên quan. Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ chỉ đạo ban hành các quy định hướng dẫn theo hướng đầy đủ, rõ ràng, có cơ chế kiểm tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ.

    Đặc biệt, các khoản chi phí mà PETROVIETNAM thực hiện thay nghĩa vụ của nước chủ nhà cần được xử lý minh bạch, đúng quy định. Đối với những nghĩa vụ đã được PETROVIETNAM thực hiện thay trước khi Luật Dầu khí năm 2022 có hiệu lực nhưng đến nay chưa được xử lý, các cơ quan liên quan phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm báo cáo và xin ý kiến cấp có thẩm quyền theo quy định chuyển tiếp.

    Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đồng tình với cơ chế này, song lưu ý phải phân định rõ nguồn thu của Nhà nước với hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Việc xác định giá trị và xử lý từng khoản phải có căn cứ, chứng từ hạch toán riêng, được kiểm tra, kiểm toán đầy đủ và chỉ áp dụng đối với những nhóm nghĩa vụ được luật quy định.

    Đối với các nghĩa vụ phát sinh trước Luật Dầu khí năm 2022, cần rà soát, chốt số liệu và xử lý dứt điểm sau khi được cấp có thẩm quyền chấp thuận, tránh hình thành một cơ chế xử lý kéo dài.

    Tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cho CCS

    Với hoạt động thu giữ, xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ carbon dioxide (CCS), Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng, dự thảo luật quy định theo hướng nguyên tắc, tạo cơ sở pháp lý ban đầu để Chính phủ tiếp tục quy định chi tiết, qua đó bảo đảm tính linh hoạt trong triển khai một lĩnh vực mới.

    Tuy nhiên, Chính phủ được đề nghị nghiên cứu và quy định cụ thể hơn về tổ chức thực hiện CCS gắn với hoạt động dầu khí, đặc biệt là giai đoạn sau khi kết thúc khai thác. Đây là yêu cầu nhằm bảo đảm các dự án có đầy đủ cơ sở pháp lý và khả năng triển khai trong thực tế.

    Các ý kiến tại phiên họp cơ bản đồng tình với hướng tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và đánh giá cao tinh thần nghiêm túc, cầu thị của cơ quan soạn thảo cũng như sự phối hợp giữa cơ quan soạn thảo với Ủy ban Kinh tế và Tài chính.

    Đối với CCS và công trình năng lượng ngoài khơi, các đại biểu đề nghị tiếp tục khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý, nhất là đối với các dự án CCS và năng lượng ngoài khơi độc lập, theo hướng tổng thể, dài hạn và có cơ sở pháp lý vững chắc.

    Trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất

    Kết luận phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên ghi nhận nỗ lực của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc nghiên cứu, giải trình và tiếp thu các ý kiến của đại biểu Quốc hội cũng như các cơ quan thẩm tra.

    Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên kết luận phiên họp

    Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ chỉ đạo cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với Bộ Tư pháp tiếp tục rà soát, tiếp thu đầy đủ ý kiến tại phiên họp để hoàn thiện dự thảo. Đồng thời, Chính phủ cần khẩn trương xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, bảo đảm thống nhất với các chính sách mang tính nguyên tắc của Luật Dầu khí (sửa đổi) và hệ thống pháp luật có liên quan.

    Một yêu cầu trọng tâm là phải làm rõ cơ chế, quy trình phối hợp, bảo đảm mô hình quản lý hoạt động dầu khí thượng nguồn vận hành thông suốt, hiệu quả sau khi thay đổi cách thức phân cấp, phân quyền và giao quyền cho Bộ Công Thương và PETROVIETNAM.

    Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng yêu cầu bảo đảm các dự án dầu khí, đặc biệt là dự án phát triển mỏ có chuỗi công trình, thiết bị đồng bộ trên đất liền và trên biển, được triển khai thuận lợi, qua đó góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ chủ quyền biển đảo.

    Đối với cơ chế xử lý chi phí của PETROVIETNAM, dự thảo cần quy định rõ nguyên tắc xác định trách nhiệm, cách thức xử lý từng khoản, cùng cơ chế kiểm tra, giám sát và kiểm soát nhằm phòng ngừa thất thoát, lãng phí, tiêu cực, phù hợp với tinh thần Quy định 178 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật.

    Chính phủ cũng có trách nhiệm báo cáo, xin ý kiến cấp thẩm quyền đối với từng trường hợp cụ thể trước khi xem xét, quyết định, nhất là những khoản PETROVIETNAM đã thực hiện thay nghĩa vụ của Nhà nước với nước chủ nhà nhưng chưa được xử lý theo tinh thần Nghị quyết 31 của Quốc hội.

    Riêng với CCS, Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, quy định đầy đủ và cụ thể về triển khai hoạt động này gắn với hoạt động dầu khí, đặc biệt sau khi kết thúc khai thác, bảo đảm tính khả thi và thống nhất với các quy định mang tính nguyên tắc trong dự thảo luật.

    Trên cơ sở kết quả phiên họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) sau khi được tiếp thu, chỉnh lý theo kết luận của Phiên họp thứ 5.

    Chính phủ chịu trách nhiệm toàn diện về việc tiếp thu, chỉnh lý và hoàn thiện dự thảo, bảo đảm tiến độ, chất lượng nội dung và kỹ thuật lập pháp. Dự thảo phải được trình Quốc hội chậm nhất ngày 21/8/2026 để Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua theo chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất.

    Mạnh Tưởng

    Nguồn https://baomoi.com/ubtvqh-thong-nhat-trinh-quoc-hoi-xem-xet-bieu-quyet-thong-qua-du-thao-luat-dau-khi-sua-doi-c55851431.epi

  • Sơn La gấp rút hoàn thiện trường nội trú liên cấp vùng biên ở Lóng Phiêng

    Ngày 17/8, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La Đặng Ngọc Hậu chủ trì cuộc họp với các cơ quan, đơn vị về công tác chuẩn bị Lễ khánh thành Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học – THCS Lóng Phiêng.

    Theo báo cáo, công trình hiện đã hoàn thành khoảng 94% khối lượng. Khoảng 200 công nhân đang được duy trì trên công trường, tập trung hoàn thiện các hạng mục còn lại để bảo đảm tiến độ.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La Đặng Ngọc Hậu chủ trì cuộc họp. Ảnh SNews

    Theo kế hoạch, Lễ khánh thành Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học – THCS Lóng Phiêng sẽ diễn ra vào 8 giờ ngày 22/8/2026 tại xã Lóng Phiêng, tỉnh Sơn La.

    Đây là một trong 2 trường trong tổng số 13 trường phổ thông nội trú liên cấp được đầu tư tại các xã biên giới của Sơn La được lựa chọn tổ chức khánh thành đầu tiên trên địa bàn tỉnh.

    Hoàn thiện công trình, bảo đảm điều kiện đưa vào sử dụng

    Tại cuộc họp, các sở, ngành, đơn vị và địa phương đã rà soát tiến độ công trình, đồng thời báo cáo phương án tổ chức lễ khánh thành.

    Các nội dung được tập trung chuẩn bị gồm đón tiếp đại biểu; trang trí, khánh tiết; tuyên truyền; lễ tân, hậu cần; y tế; bảo đảm an ninh trật tự, phòng cháy, chữa cháy, vệ sinh môi trường; cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ chương trình.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La Đặng Ngọc Hậu yêu cầu các cơ quan, đơn vị tập trung cao độ, chủ động phối hợp, không để phát sinh bị động trong những ngày cuối trước lễ khánh thành.

    Ban Quản lý các công trình nông nghiệp và Phát triển nông thôn, với vai trò chủ đầu tư, được yêu cầu tiếp tục đôn đốc nhà thầu hoàn thiện các hạng mục còn lại, trong đó có cây xanh, hệ thống chiếu sáng và vệ sinh công nghiệp, bảo đảm hoàn thành trước ngày 20/8.

    Văn phòng UBND tỉnh phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo rà soát, chốt danh sách khách mời; đồng thời phối hợp với xã Lóng Phiêng chuẩn bị các điều kiện đón tiếp đại biểu.

    Các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp tục rà soát toàn bộ kịch bản, chương trình, khánh tiết, lễ tân, hậu cần và phương án bảo đảm an toàn để lễ khánh thành được tổ chức trang trọng, thiết thực, an toàn và hiệu quả.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La Đặng Ngọc Hậu kết luận cuộc họp. Ảnh SNews

    Thêm cơ hội học tập cho học sinh vùng biên

    Kết luận cuộc họp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La Đặng Ngọc Hậu nhấn mạnh Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học – THCS Lóng Phiêng là công trình có ý nghĩa quan trọng, góp phần cụ thể hóa chủ trương của Bộ Chính trị về đầu tư xây dựng trường học tại các xã biên giới.

    Không chỉ bổ sung cơ sở vật chất cho ngành giáo dục, mô hình trường nội trú liên cấp còn hướng tới giải quyết tốt hơn nhu cầu học tập, sinh hoạt của học sinh tại địa bàn vùng biên, nơi điều kiện tiếp cận giáo dục còn nhiều khó khăn.

    Việc đầu tư các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới được tỉnh Sơn La xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực tại cơ sở. Trước đó, đến đầu tháng 8/2026, tiến độ thi công 13 trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới của tỉnh đạt từ 76% đến 97%; tổng nguồn vốn được duyệt cho 13 công trình gần 3.300 tỷ đồng.

    Đối với Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học – THCS Lóng Phiêng, việc hoàn thành các hạng mục cuối cùng đúng tiến độ không chỉ bảo đảm yêu cầu tổ chức lễ khánh thành, mà quan trọng hơn là sớm đưa công trình vào phục vụ việc dạy và học, tạo môi trường học tập, sinh hoạt ổn định cho học sinh vùng biên.

    Theo yêu cầu của lãnh đạo UBND tỉnh Sơn La, các đơn vị liên quan phải tiếp tục bám sát tiến độ, bảo đảm chất lượng công trình và hoàn thiện đồng bộ các điều kiện cần thiết trước khi đưa trường vào sử dụng.

    Kỳ Anh

    Nguồn https://baomoi.com/son-la-gap-rut-hoan-thien-truong-noi-tru-lien-cap-vung-bien-o-long-phieng-c55851415.epi

  • Giải quyết đúng quy định, dứt điểm các kiến nghị của công dân

    Buổi tiếp công dân được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến từ Trụ sở Tiếp công dân tỉnh đến điểm cầu xã Đại Phúc và Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông và nông nghiệp phía Bắc.

    Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên Vương Quốc Tuấn tiếp công dân định kỳ tháng 8-2026.

    Công dân Nguyễn Thị Thu Thủy (địa chỉ tại phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội) đề nghị giải quyết việc thu hồi, bồi thường đất của gia đình bà tại thửa đất số 319, tờ bản đồ số 47 để thực hiện Dự án Khu dân cư số 1A, thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ (nay là xã Đại Phúc, tỉnh Thái Nguyên), do Công ty Cổ phần BCD Group là chủ đầu tư.

    Vụ việc kéo dài từ năm 2016. UBND huyện Đại Từ (trước sắp xếp) đã thống kê kiểm đếm tài sản trên đất nhưng chưa có quyết định phê duyệt phương án bồi thường. Dự án Khu dân cư số 1A Hùng Sơn là một trong các dự án có khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ. Hiện nay, Dự án đã được Sở Tài chính gia hạn tiến độ thực hiện đến quý IV/2029.

    Đại diện các sở báo cáo, đề xuất phương án giải quyết.

    Sau khi nghe ý kiến công dân và báo cáo của đại diện các sở, ngành, địa phương, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Vương Quốc Tuấn giao UBND xã Đại Phúc chủ trì, phối hợp với Chi nhánh Trung tâm Phát triển quỹ đất khu vực II, Công ty Cổ phần BCD Group và các cơ quan, đơn vị liên quan khẩn trương hoàn thành công tác bồi thường, hỗ trợ, thu hồi đất đối với hộ bà Nguyễn Thị Thu Thủy theo đúng quy định pháp luật; thời hạn hoàn thành trước ngày 20/9/2026.

    Đối với kiến nghị của công dân về bố trí tái định cư, đồng chí giao chính quyền địa phương và chủ đầu tư xem xét phương án đảm bảo quy định của pháp luật.

    Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Vương Quốc Tuấn phát biểu tại buổi tiếp công dân.

    Vụ việc thứ hai, công dân Lê Thị Hường (địa chỉ tại tổ 8B, phường Bắc Kạn) đề nghị xem xét, giải quyết chế độ, chính sách theo Nghị định số 154 ngày 15/6/2025 của Chính phủ do dôi dư sau sắp xếp tổ chức bộ máy. Đây là kiến nghị liên quan trực tiếp đến chế độ, quyền lợi của viên chức sau sắp xếp tổ chức bộ máy.

    Các đại biểu và công dân dự tại điểm cầu Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông và nông nghiệp phía Bắc.

    Trên cơ sở ý kiến giải trình làm rõ, đề xuất phương án giải quyết của các sở, ngành liên quan, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh giao Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông và nông nghiệp phía Bắc (nơi công dân Lê Thị Hường từng công tác) đến ngày 25/8/2026 hoàn thiện rà soát hồ sơ của công dân để trình Sở Nội vụ, các ngành liên quan thẩm định; đề xuất Chủ tịch UBND tỉnh phương án giải quyết trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của công dân và theo đúng quy định của pháp luật.

    Thu Trà – Văn Huyến

    Nguồn https://baomoi.com/giai-quyet-dung-quy-dinh-dut-diem-cac-kien-nghi-cua-cong-dan-c55851338.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!