Author: bachdn

  • Thu hẹp khoảng cách cấp nước sạch trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

    Dự án chậm triển khai, người dân vẫn chờ nước sạch

    Xã Yên Ninh nằm trong vùng quy hoạch cấp nước của Nhà máy nước sạch khu vực Kiểu, đặt tại xã Yên Trường, có công suất thiết kế 10.000 m3/ngày, đêm; phục vụ các xã Yên Phú, Quý Lộc, Yên Trường, Yên Ninh và Yên Định. Tuy nhiên, gần 10 năm qua, dự án vẫn chưa được triển khai. Đến hết thời hạn gia hạn cuối cùng, ngày 30/9/2026, chủ đầu tư vẫn chưa hoàn thành hồ sơ thuê đất.

    Mặt bằng Dự án Nhà máy nước sạch khu vực Kiểu, xã Yên Trường sau hơn 10 năm chưa triển khai.

    Do chưa có nguồn cấp nước sạch tập trung, người dân xã Yên Ninh vẫn phải sử dụng nước ngầm tự khai thác. Kết quả kiểm nghiệm hai mẫu nước lấy ngẫu nhiên tại giếng khoan và giếng đào của hai hộ dân trên địa bàn vào tháng 10/2025 đều không đạt yêu cầu.

    Cả hai mẫu có hàm lượng mangan vượt giới hạn cho phép và bị ô nhiễm vi sinh. Đáng chú ý, chỉ số Coliform trong một mẫu cao gấp 1.000 lần giới hạn cho phép.

    Kết quả kiểm nghiệm cho thấy 2 mẫu nước lấy trực tiếp từ giếng khoan, giếng đào tại xã Yên Ninh không đạt tiêu chuẩn (Mẫu số 02 và 03).

    Chị Trịnh Thị Phương, ở thôn Châu Thôn 1, xã Yên Ninh cho biết: Gia đình đã thau giếng, vệ sinh nguồn nước nhưng vì chưa có nguồn cung cấp nước sạch nên vẫn phải sử dụng nước ngầm, tự xử lý qua máy lọc.

    Chị Trịnh Thị Phương, thôn Châu Thôn 1, xã Yên Ninh.

    Trong khi đó, việc khai thác nước ngầm ở một số nơi ngày càng khó khăn. Tại khu vực trụ sở UBND xã Yên Phú, từ năm 2017 đến nay, xã đã phải khoan giếng 4 lần, có lần khoan sâu 80m nhưng vẫn không có nước. Đầu năm 2026, xã phải đào giếng và đầu tư gần 60 triệu đồng xây dựng hệ thống xử lý nước phục vụ sinh hoạt.

    Công trình giếng và hệ thống lọc nước tại trụ sở UBND xã Yên Phú.

    Tại Trường Mầm non Yên Phú, cả 4 điểm trường đều phải tự trang bị hệ thống lọc nước phục vụ sinh hoạt, nấu ăn hằng ngày cho hơn 1.000 trẻ.

    Cô giáo Phạm Thị Nhung, Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Yên Phú, cho biết: “Dù trường đã đầu tư hệ thống lọc nước và hằng năm vào đầu năm học đều lấy mẫu nước đi kiểm nghiệm; nhưng vẫn mong sớm có nguồn nước sạch để bảo đảm an toàn cho trẻ”.

    Trường Mầm non Yên Phú sử dụng nước ngầm qua máy lọc phục vụ sinh hoạt, ăn uống cho hơn 1.000 học sinh.

    Thực tế này cho thấy, khoảng cách giữa quy hoạch và khả năng tiếp cận nước sạch vẫn còn lớn. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 56 xã chưa được cung cấp nước sạch (trong đó, có 37 xã đã có quy hoạch nhà máy nước sạch nhưng chưa có dự án đầu tư và 19 xã không có quy hoạch nhà máy nước sạch), chủ yếu tại khu vực miền núi.

    Địa hình chia cắt, dân cư phân tán, nhu cầu sử dụng nước thấp trong khi chi phí đầu tư và vận hành cao là những yếu tố khiến việc thu hút đầu tư vào các khu vực này gặp khó khăn.

    Bên cạnh đó, một số nhà máy chậm đầu tư hoàn thiện hạ tầng theo đúng vùng phục vụ được chấp thuận, dẫn đến bất cập trong phân vùng cấp nước. Có dự án đã có quyết định chấm dứt đầu tư gần 10 năm nhưng địa phương vẫn chưa có dự án mới xây dựng nhà máy nước sạch. Điển hình như dự án cấp nước sạch tại phường Tân Dân, chấm dứt đầu tư từ năm 2018. Đến nay, hơn 22.000 người dân trên địa bàn vẫn phải sử dụng nước từ giếng khoan, giếng đào. Trong khi đó, trên địa bàn phường đang triển khai 4 dự án đầu tư du lịch, có dự án sắp đi vào hoạt động nhưng vẫn chưa có nguồn nước sạch phục vụ.

    Nhiều dự án trên địa bàn phường Tân Dân chưa có nguồn cung cấp nước sạch.

    Có nhà máy nhưng hiệu quả khai thác còn thấp

    Trong khi người dân ở nhiều nơi vẫn mong chờ nước sạch, thì tại một số khu vực đã có nhà máy cấp nước tập trung, nhưng hiệu quả khai thác và chất lượng phục vụ vẫn còn hạn chế.

    Nhà máy nước An Bình tại xã Quảng Ngọc, có công suất 10.000 m3/ngày đêm, cấp nước cho xã Quảng Ngọc và một phần các xã Quảng Chính, Quảng Yên. Tuy nhiên, sau gần 10 năm hoạt động, nhà máy mới khai thác từ 35% đến 40% so với công suất thiết kế.

    Nhà máy nước An Bình, xã Quảng Ngọc.

    Theo ông Phạm Thanh Hoàng, Giám đốc Công ty CP Đầu tư cấp nước An Bình, dù hệ thống hạ tầng đã được đầu tư lớn, công suất khai thác vẫn còn thấp do khách hàng sử dụng nhiều nguồn nước khác nhau, trong đó nước sạch chủ yếu được dùng cho ăn uống.

    Thói quen sử dụng nhiều nguồn nước là một trong những nguyên nhân khiến nhu cầu đấu nối, sử dụng nước sạch chưa cao. Tuy nhiên, chất lượng phục vụ cũng ảnh hưởng trực tiếp đến lựa chọn của người dân.

    Nhiều hộ dân ở thôn Ngoc Đức, xã Tiên Trang vẫn sử dụng nước ngầm, nước mưa.

    Tại thôn Ngọc Đức, xã Tiên Trang thuộc khu vực cấp nước của Công ty CP Cấp nước Miền Trung, người dân phản ánh tình trạng nước yếu, thiếu nước vào giờ cao điểm thường xuyên xảy ra.

    Anh Nguyễn Văn Thịnh, người dân trong thôn, cho biết gia đình vẫn phải dùng nước mưa và nước ngầm.

    Nước sạch đến đâu, an toàn đến đó

    Khu vực nông thôn hiện có 19 nhà máy nước đang hoạt động, với tổng công suất thiết kế trên 84.000 m3/ngày đêm, nhưng công suất thực tế mới đạt hơn 32.000 m3/ngày đêm, chưa tới 40%. Trong khi đó, có hơn 91.000 hộ dân đang sử dụng nước sạch tập trung, chiếm trên 60% tổng số hộ dân thuộc vùng cấp nước khu vực nông thôn.

    Thực tế này cho thấy, giải bài toán thu hẹp khoảng cách cấp nước không chỉ là xây thêm nhà máy, mà còn phải phát huy hiệu quả những công trình đã có, đẩy nhanh các dự án chậm triển khai, mở rộng mạng lưới đường ống và tăng khả năng đấu nối đến từng hộ dân. Cùng với đó, cần kiểm soát chặt chẽ chất lượng nguồn nước, nâng cao chất lượng phục vụ và kịp thời giải quyết những phản ánh của khách hàng. Có như vậy, các công trình cấp nước mới phát huy hiệu quả, bảo đảm người dân được sử dụng nguồn nước sạch an toàn, ổn định trong sinh hoạt hằng ngày.

    Ngày 30/9/2026, đồng chí Tô Anh Dũng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì hội nghị đánh giá thực trạng, giải pháp khắc phục tình trạng ngập úng, bảo đảm an toàn cấp nước và nâng cao hiệu quả thu gom, xử lý nước thải trên địa bàn tỉnh.

    Tại hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ rõ: An toàn cấp nước khu vực trung tâm chưa được bảo đảm bền vững; nhiều dự án cấp nước chậm kéo dài, chỉ đạo nhiều lần chưa dứt điểm. Cấp nước sạch nông thôn, miền núi còn khoảng cách lớn; hiệu quả khai thác và chất lượng nước tại một số công trình chưa bảo đảm. Một số công trình xử lý nước thải đầu tư nhưng chưa phát huy hiệu quả; thiếu đồng bộ từ thu gom, đấu nối đến xử lý và còn tồn tại về pháp lý, kỹ thuật.

    Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, địa phương, chủ đầu tư và các đơn vị liên quan nghiêm túc nhìn nhận, làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân đối với từng tồn tại; khắc phục dứt điểm, không để kéo dài, không để tái diễn.

    Vấn đề an toàn cấp nước khu vực trung tâm chưa được bảo đảm bền vững như chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh, Báo điện tử Thanh Hóa sẽ làm rõ trong bài viết sau.

    Cẩm Tú

    Nguồn https://baomoi.com/thu-hep-khoang-cach-cap-nuoc-sach-tren-dia-ban-tinh-thanh-hoa-c56265404.epi

  • Thanh tra Chính phủ lấy ý kiến về Bộ tiêu chí đánh giá trách nhiệm giải trình

    Sáng 14/10, Thanh tra Chính phủ tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc góp ý về dự thảo Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của thanh tra chính phủ. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hồ Huy Thành và lãnh đạo Thanh tra tỉnh chủ trì điểm cầu Hà Tĩnh.

    Quang cảnh điểm cầu Hà Tĩnh.

    Việc xây dựng Bộ tiêu chí được thực hiện trên cơ sở Nghị định số 184/2026/NĐ-CP ngày 25/5/2026 của Chính phủ và Thông tư số 02/2026/TT-TTCP ngày 30/6/2026 của Thanh tra Chính phủ quy định khung tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

    Theo dự thảo, Bộ tiêu chí gồm 5 nhóm với tổng thang điểm 100, trong đó: tính đầy đủ, chính xác, kịp thời được tính 30 điểm; tuân thủ trình tự, thủ tục 20 điểm; công khai, minh bạch 15 điểm; đáp ứng yêu cầu của người yêu cầu giải trình 25 điểm và xử lý vi phạm 10 điểm.

    Kết quả đánh giá là cơ sở đo lường, xếp loại mức độ thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân trong thực thi công vụ; phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, thanh tra, kiểm tra và đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Qua đó, góp phần phòng ngừa việc lợi dụng nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi, hạn chế tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và công tác phòng, chống tham nhũng. Đồng thời, xây dựng văn hóa giải trình và cải thiện chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

    Cùng với Bộ tiêu chí, Thanh tra Chính phủ cũng đã xây dựng dự thảo văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện, trong đó quy định cụ thể quy trình đánh giá, chấm điểm, xếp loại, tổng hợp dữ liệu và báo cáo kết quả. Qua đó, tạo cơ sở để các bộ, ngành và địa phương triển khai thống nhất, bảo đảm việc đánh giá trách nhiệm giải trình được thực hiện đúng quy định, có căn cứ kiểm chứng và phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

    Các đại biểu theo dõi hội nghị trực tuyến tại điểm cầu Hà Tĩnh.

    Tại hội nghị, các đại biểu tập trung góp ý, hoàn thiện dự thảo Bộ tiêu chí cùng văn bản hướng dẫn, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với thực tiễn và thống nhất trong quá trình triển khai đánh giá trên phạm vi toàn quốc.

    Thanh tra Chính phủ đánh giá cao các ý kiến đóng góp tâm huyết, trách nhiệm của đại biểu; đồng thời, tiếp thu, giải trình và chỉ đạo cơ quan soạn thảo hoàn thiện dự thảo Bộ tiêu chí, văn bản hướng dẫn, bảo đảm tính khả thi, phù hợp thực tiễn.

    Trần Vũ

    Nguồn https://baomoi.com/thanh-tra-chinh-phu-lay-y-kien-ve-bo-tieu-chi-danh-gia-trach-nhiem-giai-trinh-c56265511.epi

  • 17 hộ dân được hỗ trợ di dời nhà cửa khỏi sạt lở

    Khẩn trương di dời 17 hộ dân khỏi khu vực sạt lở

    Những ngày này, tại bản Thanh Sơn, xã Quan Sơn (Thanh Hóa) các hộ dân có nhà cửa, đất ở bị ảnh hưởng bởi sạt lở đất đang khẩn trương tháo dỡ nhà, bàn giao mặt bằng để triển khai dự án xử lý khẩn cấp sạt lở đất.

    Khu vực sạt lở ở Quan Sơn

    Đồng hành cùng người dân, chính quyền địa phương đã huy động các lực lượng hỗ trợ tháo dỡ nhà ở, vận chuyển vật liệu đến khu tái định cư mới.

    Trước đó, do ảnh hưởng của cơn bão số 4, mưa lớn kéo dài đã gây sạt lở đất tại 2 khu vực dân cư thuộc bản Thanh Sơn, đe dọa trực tiếp đến an toàn tính mạng và tài sản của người dân. Trước tình hình đó, 17 hộ dân nằm trong vùng bị ảnh hưởng đã phải khẩn cấp di dời người và tài sản đến nơi an toàn.

    17 hộ dân bị ảnh hưởng bởi sạt lở

    Để khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm an toàn lâu dài cho người dân, UBND tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt dự án xử lý khẩn cấp sạt lở đất tại 2 khu vực trên, với tổng mức đầu tư hơn 27 tỷ đồng.

    Các hộ thuộc diện di dời đã được chính quyền địa phương bố trí đất ở tại khu tái định cư mới an toàn ở bản Thanh Sơn và phương án tái định cư xen ghép trong các khu dân cư, phù hợp với điều kiện thực tế.

    Chung tay tháo dỡ nhà, vận chuyển vật liệu đến nơi ở mới

    Xác định việc di dời nhà cửa là công việc cấp bách, đồng thời cũng là khó khăn lớn đối với các hộ dân, nhất là những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, chính quyền xã Quan Sơn đã chủ động huy động lực lượng cùng chung tay hỗ trợ người dân.

    Huy động nhân lực hỗ trợ di dời nhà cửa cho người dân vùng sạt lở

    Các lực lượng tham gia gồm công an, quân sự, dân quân tự vệ, đoàn thanh niên, các tổ chức chính trị – xã hội, Ban Quản lý bản Thanh Sơn và đông đảo bà con nhân dân. Mỗi người một việc, người hỗ trợ tháo dỡ nhà, người thu gom, vận chuyển vật liệu, người giúp các hộ dân sắp xếp công việc để sớm bàn giao mặt bằng phục vụ thi công dự án.

    Sự có mặt, động viên kịp thời của lãnh đạo địa phương cùng tinh thần trách nhiệm của các lực lượng đã góp phần tiếp thêm động lực cho các hộ dân vượt qua khó khăn, nhanh chóng di chuyển đến nơi ở mới an toàn.

    Hỗ trợ người dân di dời, xây dựng lại nhà cửa sớm ổn định đời sống

    Tại khu dân cư thuộc dự án xử lý khẩn cấp sạt lở đất ở bản Thanh Sơn, không khí lao động diễn ra khẩn trương, nhộn nhịp. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ, đoàn viên thanh niên và người dân cùng nhau tháo dỡ nhà, vận chuyển từng cấu kiện, vật liệu xây dựng lên xe đã tạo nên hình ảnh đẹp về tình đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng.

    Nhờ sự chung sức của các lực lượng, nhiều hộ dân đã hoàn thành việc tháo dỡ nhà ở và vận chuyển vật liệu đến khu tái định cư mới trong thời gian ngắn, góp phần đẩy nhanh tiến độ bàn giao mặt bằng cho dự án.

    Quan tâm hỗ trợ người dân ổn định cuộc sống sau thiên tai

    Bên cạnh việc hỗ trợ ngày công tháo dỡ, vận chuyển nhà cửa, công tác bảo đảm điều kiện tái định cư và ổn định đời sống cho các hộ dân cũng là vấn đề được địa phương quan tâm.

    Theo thông tin từ địa phương, các hộ thuộc diện di dời được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước theo quy định. Đồng thời, đơn vị thi công cùng các nhà hảo tâm đã chung tay hỗ trợ người dân. Tổng mức hỗ trợ tối đa lên tới 95 triệu đồng/hộ, tùy thuộc vào phương án xây dựng nhà ở mà từng hộ lựa chọn tại khu tái định cư.

    Tuy nhiên, với những hộ phải di chuyển nhà sàn, xây dựng lại nhà ở tại nơi mới, chi phí vật liệu và nhân công xây dựng tăng cao đang tạo thêm áp lực không nhỏ. Để có nơi ở ổn định, an toàn sau thiên tai, các gia đình vẫn phải nỗ lực khắc phục khó khăn, cân đối nguồn lực và từng bước dựng lại nhà cửa.

    Trong hoàn cảnh đó, sự hỗ trợ về ngày công, phương tiện vận chuyển và tinh thần của cấp ủy, chính quyền, các lực lượng chức năng cùng nhân dân có ý nghĩa thiết thực, giúp giảm bớt gánh nặng cho các hộ dân, nhất là những gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

    Việc triển khai dự án xử lý khẩn cấp sạt lở đất không chỉ góp phần khắc phục hậu quả thiên tai mà còn hướng tới bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản, tạo điều kiện để người dân an cư tại nơi ở mới.

    Thanh Phương

    Nguồn https://baomoi.com/17-ho-dan-duoc-ho-tro-di-doi-nha-cua-khoi-sat-lo-c56265324.epi

  • Hà Nội siết quản lý chiều cao, mật độ xây dựng và kiến trúc nhà ở riêng lẻ

    Kiểm soát chiều cao, mật độ xây dựng theo từng khu vực

    Theo hồ sơ dự thảo Quy chế quản lý kiến trúc thành phố Hà Nội, việc tổ chức không gian đô thị được định hướng theo mô hình chùm đô thị đa cực, đa trung tâm, kết hợp phát triển đô thị nén với bảo vệ không gian xanh và các khu vực có giá trị di sản.

    Các công trình trong phạm vi vành đai 2, đặc biệt khu vực nội đô lịch sử sẽ được kiểm soát nghiêm ngặt về kiến trúc, xây dựng. (Ảnh: Kế Toại).

    Theo đó, công trình cao tầng được định hướng tập trung tại các khu vực đô thị nén, dọc những trục động lực phát triển và các đầu mối giao thông công cộng theo mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD). 

    Ngược lại, tại các nêm xanh, vành đai sinh thái và khu vực bảo tồn, chiều cao và mật độ xây dựng cần được kiểm soát chặt chẽ.

    Một nội dung đáng chú ý là quy định đối với những thửa đất nhỏ, đất còn lại sau giải phóng mặt bằng. Theo nội dung dự thảo được trích trong hồ sơ, không xây dựng công trình trên lô đất nhỏ hơn 15m² tiếp giáp mặt đường, phố. Đối với lô đất trên 15m² nhưng có một cạnh thửa nhỏ hơn 3m, công trình chỉ được xây dựng một tầng, chiều cao dưới 4,5m.

    Một số trường hợp đặc biệt nhằm hoàn thiện tính liên tục của tuyến phố có thể được xem xét riêng, với điều kiện bảo đảm sự thống nhất kiến trúc với các công trình liền kề.

    Đáng chú ý, khu vực nội đô lịch sử được xác định là không gian cần có yêu cầu quản lý đặc thù. 

    Dự thảo đặt mục tiêu kiểm soát nghiêm ngặt mật độ cư trú và tầng cao xây dựng trong phạm vi Vành đai 2, hạn chế tối đa công trình cao tầng làm phá vỡ cấu trúc không gian di sản.

    Các công trình điểm nhấn cao tầng chỉ được xem xét tại một số vị trí đặc biệt theo quy hoạch, thiết kế đô thị hoặc phương án tái thiết được cấp có thẩm quyền phê duyệt. 

    Việc xem xét còn gắn với yêu cầu đáp ứng năng lực hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và bảo đảm an toàn hàng không.

    Định hướng này cho thấy dự thảo không đặt mục tiêu phát triển cao tầng đồng đều trên toàn thành phố, mà hướng tới phân bổ chiều cao theo chức năng đô thị, điều kiện hạ tầng và giá trị cảnh quan của từng khu vực.

    Đối với nhà ở riêng lẻ, dự thảo yêu cầu công trình phải tuân thủ quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị và thiết kế đô thị được duyệt. Các nhà liền kề trên cùng tuyến phố được khuyến khích thống nhất về mặt tiền, mái, chiều cao và tầng cao, tạo diện mạo kiến trúc hài hòa, hạn chế tình trạng xây dựng chắp vá.

    Với nhà trong ngõ có mặt cắt ngang dưới 6m, việc xác định tầng cao và khoảng lùi cần căn cứ điều kiện không gian xung quanh cùng các quy định liên quan.

    Đối với biệt thự xây dựng mới, dự thảo nêu các chỉ tiêu gồm mật độ xây dựng tối đa 60%, tầng cao tối đa 4 tầng. Khoảng lùi so với chỉ giới đường đỏ không nhỏ hơn 3m; khoảng lùi so với ranh giới đất tối thiểu 2m. Biệt thự song lập có ngoại lệ tại cạnh tiếp giáp hợp khối với công trình bên cạnh theo nội dung dự thảo.

    Dự thảo đồng thời không cho phép cơi nới, xây chen làm phá vỡ cảnh quan kiến trúc khuôn viên biệt thự. Các chỉ tiêu này cần được xem xét theo đúng loại hình công trình, vị trí và quy hoạch được duyệt, không mặc nhiên áp dụng đồng loạt cho mọi nhà ở riêng lẻ tại Hà Nội.

    Bảo tồn di sản, tăng không gian xanh và cảnh quan đô thị

    Theo Sở Xây dựng Hà Nội, bảo vệ di sản và bản sắc kiến trúc là một trong những nội dung xuyên suốt của dự thảo. Hồ sơ đề cập việc quản lý các công trình đã được xếp hạng theo pháp luật về di sản văn hóa và các công trình thuộc danh mục kiến trúc có giá trị đã được phê duyệt.

    Quy chế quản lý kiến trúc mới nhất thành phố Hà Nội đề cao yếu tố bảo tồn di sản, cảnh quan và bản sắc kiến trúc. (Ảnh: Kế Toại).

    Đối với công trình kiến trúc có giá trị loại I, dự thảo nêu yêu cầu bảo tồn nguyên trạng mật độ xây dựng, số tầng, chiều cao và hình thức kiến trúc. Khi cải tạo, các đặc điểm kiến trúc gốc cần được giữ gìn; việc cải tạo nội thất không được làm mất hình dáng không gian và các chi tiết trang trí có giá trị.

    Tại khu phố cổ, việc sử dụng vật liệu truyền thống như gỗ, ngói, tường gạch xây và vữa vôi cũng được đề cập trong những trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh.

    Đối với dự án cải tạo, xây dựng có khả năng ảnh hưởng đến di tích, chủ đầu tư phải khảo sát hiện trạng và đánh giá nguy cơ tác động đến yếu tố gốc cấu thành di tích, cảnh quan văn hóa, kết cấu, độ ổn định và tính toàn vẹn của di tích.

    Không chỉ tập trung vào công trình riêng lẻ, dự thảo còn định hướng bảo vệ cấu trúc làng xóm hiện hữu, làng nghề truyền thống và cảnh quan văn hóa. 

    Đồng thời, tổ chức các vùng đệm nhằm hạn chế tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa.

    Song song với bảo tồn, Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, dự thảo cũng hướng tới gia tăng diện tích cây xanh, mặt nước, quảng trường, vườn hoa và các không gian công cộng có khả năng kết nối liên hoàn. 

    Các công trình xây dựng mới được định hướng tăng diện tích bề mặt thấm nước, sử dụng vật liệu lát rỗng, bố trí thảm cỏ, vườn mưa và giải pháp thu trữ nước mưa tại chỗ nhằm giảm áp lực cho hệ thống thoát nước đô thị.

    Đối với các khu chung cư cũ, tập thể xuống cấp, dự thảo đề cập phương án tổ chức lại không gian xây dựng, có thể tập trung tầng cao tại khối tháp theo quy hoạch chi tiết, đồng thời giảm mật độ xây dựng khối đế để dành thêm quỹ đất cho cây xanh, sân chơi, bãi đỗ xe và các tiện ích công cộng.

    Kế Toại

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-siet-quan-ly-chieu-cao-mat-do-xay-dung-va-kien-truc-nha-o-rieng-le-c56265220.epi

  • Tập trung tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm việc với Tổ công tác, Tổ giúp việc và các đơn vị liên quan về tình hình triển khai tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật.

    Triển khai tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật và xử lý văn bản chịu sự tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, các sở, ban, ngành đã tổ chức rà soát lại các văn bản thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý; tham mưu cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, ban hành mới hoặc bãi bỏ văn bản theo phương án đã đề xuất. Sở Tư pháp đã thực hiện theo dõi, tổng hợp tình hình xử lý văn bản của các cơ quan; đồng thời hướng dẫn về hình thức xử lý, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành và bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật theo quy định.

    Đến ngày 13/10/2026, các sở, ban, ngành đã tham mưu cấp có thẩm quyền hoàn thành xử lý 69/160 văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh (đạt tỷ lệ 43%). Trong đó, hoàn thành xử lý 31/75 văn bản đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, tạm ngưng hiệu lực hoặc bãi bỏ một phần; ban hành 13/32 văn bản đề xuất ban hành mới; hoàn thành xử lý 25/53 văn bản cần bãi bỏ toàn bộ.

    Lãnh đạo Sở Tư pháp phát biểu tại cuộc làm việc.

    Đối với văn bản quy phạm pháp luật cấp xã, UBND cấp xã đã hoàn thành xử lý 19/19 văn bản. Trong đó, hoàn thành xử lý 11/11 văn bản QPPL đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ một phần; hoàn thành xử lý 8/8 văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND các xã, phường trước khi sắp xếp.

    Đại diện phòng Tham mưu Công an tỉnh phát biểu tại cuộc làm việc.

    Đối với xử lý văn bản chịu sự tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, tổng số cần xử lý 6 văn bản, các sở, ban, ngành đã hoàn thành 5 văn bản, còn 1 văn bản đang trình UBND tỉnh xem xét ban hành. Về tình hình xử lý văn bản quy phạm pháp luật quy định về doanh nghiệp, điều kiện đầu tư kinh doanh chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành, tổng số văn bản quy phạm pháp luật chưa phù hợp 3 văn bản, trong đó đã xử lý xong 1 văn bản; đang trình UBND tỉnh xem xét ban hành 1 văn bản; đang xử lý 1 văn bản.

    Đồng chí Đặng Ngọc Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu tại cuộc làm việc.

    Phát biểu tại cuộc làm việc, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị các sở, ban, ngành, UBND cấp xã tiếp tục thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh bảo đảm đúng nội dung, nhiệm vụ, tiến độ theo kế hoạch và chỉ đạo của UBND tỉnh; khẩn trương gửi báo cáo chính thức kết quả rà soát về Sở Tư pháp, đồng thời cập nhật báo cáo và các phụ lục trên phần mềm hỗ trợ kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật. Tập trung nguồn lực, khẩn trương xử lý dứt điểm các văn bản thuộc trách nhiệm được giao, nhất là nhiệm vụ đã đến hạn, quá hạn và các văn bản ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND cấp xã chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh về tiến độ, chất lượng xử lý văn bản; trực tiếp chỉ đạo, phân công rõ đơn vị, cá nhân thực hiện và nghiêm túc chế độ báo cáo định kỳ. Đối với các văn bản chưa hoàn thành, phải xác định rõ tiến độ, nguyên nhân, khó khăn, vướng mắc, trách nhiệm và thời hạn hoàn thành…

    Thủy Ngân

    Nguồn https://baomoi.com/tap-trung-tong-ra-soat-he-thong-van-ban-quy-pham-phap-luat-c56265207.epi

  • Giao hơn 5.300m² đất xây dựng nhà ở xã hội Khu B cầu Thăng Long

    Ảnh minh họa.

    Theo Quyết định số 5716/QĐ-UBND ngày 13-10-2026 do Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Bùi Duy Cường ký ban hành, khu đất được giao thuộc ô đất ký hiệu CT-02, nằm trong quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu dân cư cầu Thăng Long, xã Vĩnh Thanh.

    Khu đất có diện tích 5.337m², được xác định theo bản vẽ điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết đã được UBND xã Vĩnh Thanh phê duyệt ngày 28-7-2026. Mục đích sử dụng là đất ở tại đô thị, phục vụ triển khai dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội Khu B cầu Thăng Long.

    Công ty cổ phần Đầu tư địa ốc HK được sử dụng đất trong thời hạn 50 năm kể từ ngày ký quyết định giao đất. Đối với người mua căn hộ, quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được chứng nhận theo quy định, với thời hạn sử dụng ổn định lâu dài.

    Đáng chú ý, dự án được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất nhưng chủ đầu tư được miễn khoản tiền này theo chính sách ưu đãi phát triển nhà ở xã hội. Việc giao đất thực hiện không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, phù hợp các quy định pháp luật hiện hành.

    UBND thành phố yêu cầu chủ đầu tư liên hệ các cơ quan chức năng để hoàn thiện thủ tục liên quan, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng đất. Các sở, ngành có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai dự án theo thẩm quyền.

    Việc giao đất cho dự án Khu B cầu Thăng Long là bước triển khai cụ thể trong quá trình phát triển quỹ nhà ở xã hội của Hà Nội, trong bối cảnh nhu cầu nhà ở dành cho người thu nhập thấp vẫn ở mức cao. Thành phố đang tiếp tục rà soát, bổ sung quỹ đất và thúc đẩy các dự án nhằm tăng nguồn cung nhà ở xã hội trong những năm tới.

    Bảo Hân

    Nguồn https://baomoi.com/giao-hon-5-300m2-dat-xay-dung-nha-o-xa-hoi-khu-b-cau-thang-long-c56265135.epi

  • Khu đất vàng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang cũ sẽ trở thành công viên cây xanh

    Khu đất Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang cũ nằm tại vị trí mặt tiền 4 tuyến đường.

    Theo Công văn số 3348, UBND tỉnh giao Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp tỉnh Đồng Tháp tham mưu dự thảo tờ trình của Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh để trình Thường trực Tỉnh ủy xem xét phương án đầu tư công viên cây xanh tại khu đất Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang cũ. Đồng thời, đơn vị phối hợp, làm việc với UBND phường Mỹ Tho để thống nhất bằng văn bản về nội dung điều chỉnh các quy hoạch có liên quan.

    UBND phường Mỹ Tho được giao khẩn trương thực hiện trình tự, thủ tục điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quy hoạch có liên quan đối với khu đất này (nếu có), bảo đảm đúng quy định.

    Đối với hiện trạng các công trình tại bệnh viện cũ, UBND tỉnh giao Sở Xây dựng rà soát, báo cáo cụ thể tình trạng các công trình, hạng mục như: Khoa, phòng, trung tâm…. Đồng thời, đề xuất những công trình đủ niên hạn tháo dỡ trong năm 2026. Sở Y tế chủ trì, phối hợp Sở Tài chính và Sở Xây dựng xây dựng kế hoạch triển khai tháo dỡ các công trình, hạng mục đủ điều kiện.

    Bên cạnh đó, Sở Tài chính được yêu cầu khẩn trương tham mưu UBND tỉnh bố trí vốn chuẩn bị đầu tư dự án công viên cây xanh tại khu đất Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang cũ theo quy định.

    Trước đó, ngày 4-11-2025, Thường trực Tỉnh ủy đã ban hành Thông báo số 45, thống nhất chủ trương chuyển chức năng sử dụng khu đất Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang cũ thành công viên cây xanh.

    Khu đất có diện tích khoảng 27.493 m², nằm tại vị trí trung tâm phường Mỹ Tho, tiếp giáp các tuyến đường Hùng Vương, Rạch Gầm, Thủ Khoa Huân và Trương Định. Với vị trí đắc địa, việc chuyển đổi công năng khu đất thành công viên cây xanh được kỳ vọng góp phần bổ sung không gian xanh, tạo cảnh quan đô thị và nâng cao chất lượng không gian công cộng phục vụ người dân.

    ANH THƯ

    Nguồn https://baomoi.com/khu-dat-vang-benh-vien-da-khoa-tinh-tien-giang-cu-se-tro-thanh-cong-vien-cay-xanh-c56265012.epi

  • Đô thị Vĩnh Hưng: Định hướng tái định cư tại chỗ cho 7.250 hộ dân

    Dự án cải tạo và tái thiết đô thị phường Vĩnh Hưng với tổng vốn đầu tư dự kiến gần 186.000 tỷ đồng đang triển khai lấy ý kiến cộng đồng. Đồ án quy hoạch đặt trọng tâm vào phương án tái định cư tại chỗ qua hệ thống chung cư cao tầng, kết hợp không gian thương mại khối đế nhằm bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân.

    Thông tin từ UBND phường Vĩnh Hưng (Hà Nội) cho biết, địa phương đang tổ chức niêm yết công khai hồ sơ dự thảo quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 đối với dự án cải tạo, chỉnh trang và tái thiết đô thị trên địa bàn. Quá trình lấy ý kiến cộng đồng dân cư đối với đồ án này diễn ra từ ngày 12/10 đến hết ngày 1/11, thu hút sự quan tâm lớn của người dân và giới đầu tư kinh tế.

    Đề xuất dành 14,39 ha đất tái định cư tại dự án chỉnh trang đô thị Vĩnh Hưng gần 186.000 tỷ đồng

    Theo thuyết minh tóm tắt đồ án, khu vực nghiên cứu lập quy hoạch có quy mô khoảng 447ha, tương ứng với toàn bộ ranh giới hành chính phường Vĩnh Hưng. Dự án có tổng mức đầu tư dự kiến lên tới gần 186.000 tỷ đồng, do Công ty TNHH Đầu tư Tập đoàn Mặt Trời tổ chức lập quy hoạch.

    Cơ cấu không gian toàn phường được chia thành hai phân vùng chính: Khu vực cải tạo, tái thiết chiếm 206,1ha (tương đương 46,08%) và khu vực cải tạo, chỉnh trang chiếm 240,9ha (tương đương 53,92%). Sau khi hoàn thành quá trình tái thiết, quy mô dân số dự kiến của toàn phường đạt khoảng 186.896 người.

    Bản vẽ quy hoạch tái thiết đô thị Vĩnh Hưng

    Một trong những nội dung nhận được sự quan tâm nhiều nhất từ người dân là phương án bố trí chỗ ở và duy trì sinh kế cho các hộ dân thuộc diện giải phóng mặt bằng.

    Theo quy hoạch, khoảng 14,39ha đất được bố trí dành riêng cho tái định cư và nhà ở xã hội. Đồ án định hướng bố trí tái định cư tại chỗ cho khoảng 7.250 hộ dân bị ảnh hưởng, tương đương khoảng 20.000 nhân khẩu. Cụ thể, người dân sẽ được chuyển lên sinh sống tại các tổ hợp chung cư cao tầng hiện đại, đồng bộ về hạ tầng.

    Bên cạnh giải pháp về nhà ở, bài toán sinh kế cho các hộ kinh doanh lâu năm cũng được đặt ra trong phương án thiết kế đô thị. Đối với các hộ từng có nguồn thu nhập từ kinh doanh mặt tiền trước đây, đồ án đề xuất ưu tiên bố trí không gian thương mại linh hoạt tại khối đế các tòa chung cư.

    Các hộ dân này sẽ được quyền thuê hoặc sở hữu những không gian thương mại này với chi phí ưu đãi nhằm duy trì hoạt động kinh doanh và ổn định đời sống.

    Song song với việc tái thiết nhà ở, đồ án quy hoạch chú trọng đến việc tái cấu trúc không gian đô thị và nâng cấp hạ tầng xã hội. Theo tính toán, diện tích đất dành cho hạ tầng xã hội tại khu vực này sẽ tăng gấp 3,5 lần so với hiện trạng, đạt khoảng 83,68ha.

    Không gian đô thị được bổ sung hệ thống cây xanh, các công trình công cộng và mở rộng hệ thống giao thông, đường ngõ chính trong khu dân cư đạt mặt cắt tối thiểu khoảng 7m. Về giao thông đối ngoại, khu vực Vĩnh Hưng dự kiến kết nối với 4 tuyến đường sắt đô thị gồm các tuyến số 4, số 8, số 10 và số 15, qua đó tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội cho toàn khu vực phía Nam Thủ đô khi đồ án chính thức đi vào triển khai.

    Trang Nguyễn

    Nguồn https://baomoi.com/do-thi-vinh-hung-dinh-huong-tai-dinh-cu-tai-cho-cho-7-250-ho-dan-c56264827.epi

  • Trách nhiệm của đại biểu HĐND trong việc tiếp công dân

    Công dân phản ánh, kiến nghị tại buổi tiếp công dân định kỳ tháng 9 của đồng chí Nguyễn Hồng Phong, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh.

    Mới đây, tại trụ sở tiếp công dân tỉnh, đồng chí Nguyễn Hồng Phong, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đã có buổi tiếp công dân định kỳ hằng tháng, để lắng nghe và giải quyết những vấn đề mà người dân quan tâm. Tại buổi tiếp, công dân đã phản ánh, kiến nghị với đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, như: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao đất khi đã trúng đấu giá quyền sử dụng đất, miễn tiền sử dụng đất khi giao đất tái định cư… Tất cả những vấn đề, vụ việc mà công dân phản ánh tồn tại đã lâu, nhiều vụ việc đã được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhiều lần, nhưng vẫn chưa đạt được sự đồng thuận cuối cùng.

    Trên cơ sở hồ sơ phản ánh và đối thoại trực tiếp với công dân, đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh yêu cầu các cơ quan liên quan và lãnh đạo địa phương làm rõ nội dung phản ánh, trách nhiệm từng cấp, từng ngành trong việc tham mưu, đề xuất phương án xử lý. Trong đó, đối với kiến nghị của hộ gia đình ông Phạm Khắc Chiến, ở thôn Đồng Tâm, xã Sao Vàng kiến nghị UBND xã Thọ Bình và các đơn vị có liên quan tiếp nhận và giải quyết việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình, đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đã giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh kiểm tra, rà soát lại quá trình sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Chiến, đồng thời báo cáo kết quả thực hiện về HĐND tỉnh để theo dõi, giám sát.

    Xác định công tác tiếp công dân, giải quyết đơn, thư KNTC là một trong những nhiệm vụ quan trọng, Thường trực HĐND các cấp trong tỉnh đã tổ chức quán triệt, triển khai tới các ban HĐND, đại biểu HĐND thông qua các phiên họp của thường trực HĐND và các kỳ họp thường lệ của HĐND. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tiếp công dân, giải quyết đơn, thư của công dân cho đại biểu HĐND. Công tác phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đơn vị và các ngành, các cấp trong việc tổ chức tiếp công dân và xử lý đơn được quan tâm, thực hiện thường xuyên. Hằng tháng, Thường trực HĐND các cấp ban hành lịch tiếp công dân theo quy định pháp luật; đồng thời bố trí địa điểm tiếp công dân, đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất và các trang thiết bị cần thiết phục vụ tốt cho hoạt động tiếp công dân.

    Tại các buổi tiếp công dân định kỳ, công dân được trao đổi thẳng thắn những khúc mắc; được hướng dẫn, giúp đỡ thực hiện quyền KNTC, đơn thư của công dân được tiếp nhận để chuyển đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. Thông qua các buổi tiếp công dân, các đại biểu HĐND còn tiến hành giải thích, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, từ đó góp phần nâng cao hiểu biết, kiến thức pháp luật cho người dân. Cùng với tiếp công dân, thường trực HĐND, các vị đại biểu HĐND luôn quan tâm, chú trọng đến công tác tiếp nhận, xử lý đơn, thư của công dân gắn với việc giải quyết. Trong đó, thường xuyên chỉ đạo kịp thời việc nghiên cứu, phân loại, tham mưu chuyển đến đúng cơ quan, đơn vị, địa phương có thẩm quyền xem xét, giải quyết. Đồng thời theo dõi, giám sát đối với những đơn của công dân đang trong quá trình giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền. Do đó, các đơn của công dân đều được nghiên cứu, tham mưu xử lý kịp thời, đảm bảo theo quy định của pháp luật.

    Theo Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Lê Tiến Lam, công tác tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn KNTC của HĐND các cấp, các đại biểu HĐND thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực. Nhiều vụ việc tồn đọng, bức xúc kéo dài trong Nhân dân đã được giải quyết. Tình trạng khiếu kiện đông người, khiếu kiện tại trụ sở các cơ quan chính quyền đã được phối hợp giải quyết kịp thời. Chất lượng xử lý các kiến nghị của cử tri, đơn, thư KNTC của công dân được nâng lên, góp phần quan trọng thực hiện nhiệm vụ chính trị ở các địa phương.

    Bài và ảnh: Quốc Hương

    Nguồn https://baomoi.com/trach-nhiem-cua-dai-bieu-hdnd-trong-viec-tiep-cong-dan-c56265016.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!