Nguồn https://baomoi.com/video-gia-thue-phong-tro-ha-noi-tang-vot-khien-nguoi-thue-khon-don-c55863343.epi
Author: bachdn
-
Tích hợp các chương trình nhưng không để ‘hòa loãng’ mục tiêu
Sáng 19/8, Tổ 9 (gồm Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ và các tỉnh Hà Tĩnh, Lai Châu) thảo luận về định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) và việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình.
Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH TP. Cần Thơ Đỗ Thanh Bình điều hành phiên thảo luận tại Tổ 9
Theo Tờ trình của Chính phủ, 4 chương trình mục tiêu quốc gia được đề xuất tích hợp thành Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035, với tổng nguồn lực dự kiến khoảng 808.558 tỷ đồng. Chính phủ xác định việc tích hợp không làm thay đổi, thu hẹp mục tiêu đã được Quốc hội quyết nghị, đồng thời đổi mới phương thức phân bổ vốn và tăng phân cấp cho địa phương.
ĐBQH Vũ Minh Đạo (Lai Châu) cơ bản nhất trí với sự cần thiết đổi mới phương thức quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia, song cho rằng quá trình tích hợp cần được thiết kế thận trọng, bảo đảm cơ sở pháp lý, giữ vững mục tiêu chính sách và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
ĐBQH Vũ Minh Đạo (Lai Châu) phát biểu
Theo đại biểu, thực tiễn thời gian qua cho thấy việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia còn nhiều hạn chế như phân tán đầu mối, chồng chéo nội dung, giải ngân chậm, hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa cao. Vì vậy, nghiên cứu cách tiếp cận mới là phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
“Việc tích hợp các Chương trình là hướng đi đúng, nhưng cần được thiết kế thận trọng, bảo đảm vững chắc về pháp lý, không làm thay đổi mục tiêu chính sách và đặc biệt phải nâng cao hiệu quả thực thi”, đại biểu nói.
Làm rõ cơ sở pháp lý, giữ vững mục tiêu chính sách
Theo Tờ trình của Chính phủ, 4 chương trình mục tiêu quốc gia được đề xuất tích hợp thành Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035.
Chính phủ xác định việc tích hợp không thực hiện “cơ học”, không làm thay đổi, thu hẹp hoặc sai lệch các mục tiêu đã được Quốc hội quyết nghị, mà cơ cấu lại nhiệm vụ theo nhóm vấn đề. Tổng nguồn lực dự kiến giữ nguyên khoảng 808.558 tỷ đồng.
Góp ý về cơ sở pháp lý, ĐBQH Vũ Minh Đạo cho rằng “tích hợp các Chương trình” là vấn đề mới, trong khi Luật Đầu tư công hiện chủ yếu quy định các trường hợp thay đổi mục tiêu, quy mô, tổng mức đầu tư.
“Nếu không làm rõ, khi triển khai rất dễ phát sinh cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan”, đại biểu nói và đề nghị Ban soạn thảo “làm rõ bản chất pháp lý của việc tích hợp, xác định rõ đây là đổi mới phương thức quản lý hay có yếu tố điều chỉnh chủ trương đầu tư, để bảo đảm tính thống nhất và thuận lợi khi thực hiện”.
Một vấn đề khác được đại biểu lưu ý là các chương trình hiện bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có những lĩnh vực khó lượng hóa như văn hóa, phát triển con người. Khi tích hợp, nếu thiếu cơ chế ràng buộc rõ ràng, các mục tiêu này có thể bị “hòa loãng”, thậm chí bị lấn át bởi những mục tiêu dễ đo đếm hơn.
“Do đó, cần quy định rõ các mục tiêu, chỉ tiêu cốt lõi mang tính bắt buộc, đồng thời có cơ chế bảo đảm nguồn lực tương ứng để giữ vững định hướng chính sách đã được Quốc hội quyết nghị”, đại biểu đề nghị.
Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu tại phiên thảo luận tổ sáng 19/8
Phân cấp phải đi đôi với kiểm soát
Về phân bổ nguồn lực gắn với phân cấp, ĐBQH Vũ Minh Đạo đánh giá việc chuyển sang phân bổ theo “năng lực thực hiện” và tăng cường phân cấp cho địa phương là hướng đi đúng. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào năng lực thực hiện có thể làm gia tăng chênh lệch giữa các địa phương, trong khi phân cấp mạnh nhưng thiếu kiểm soát cũng tiềm ẩn rủi ro trong quản lý.
“Vì vậy, tôi đề nghị cần thiết kế tiêu chí phân bổ hài hòa giữa năng lực và mức độ khó khăn, đồng thời hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình để bảo đảm phân cấp đi đôi với kiểm soát”, đại biểu Vũ Minh Đạo nói.
Đề cập việc tổ chức thực hiện, đại biểu cho rằng một trong những điểm nghẽn hiện nay là có nhiều đầu mối, nhiều văn bản hướng dẫn, gây khó khăn cho địa phương. Nếu vấn đề này không được xử lý triệt để, việc tích hợp các chương trình khó mang lại hiệu quả thực chất.
Việc chuyển sang mô hình mới từ năm 2027 cũng là thay đổi lớn, cần có sự chuẩn bị kỹ. Do đó, đại biểu đề nghị làm rõ giải pháp cắt giảm đầu mối, tinh giản hệ thống văn bản, đồng thời quy định cụ thể cơ chế chuyển tiếp, bảo đảm không gián đoạn các chương trình, dự án và quyền lợi của người dân.
“Nếu tiếp tục hoàn thiện theo các nội dung nêu trên, Tờ trình sẽ bảo đảm tốt hơn cả về pháp lý, chính sách và tính khả thi trong thực tiễn, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực nhà nước”, đại biểu Vũ Minh Đạo nhấn mạnh.
Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn: Tích hợp 4 chương trình, tăng quyền chủ động cho địa phương
ĐBQH Lâm Văn Mẫn (TP. Cần Thơ), Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, phát biểu
Trao đổi về những vấn đề ĐBQH nêu tại phiên thảo luận của Tổ 9, ĐBQH Lâm Văn Mẫn (TP. Cần Thơ), Chủ tịch Hội đồng Dân tộc – cơ quan thẩm tra nội dung tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia – cho biết, mục tiêu của việc tích hợp là tạo ra một chương trình tổng thể, thực chất, khắc phục tình trạng trùng lặp, giao thoa, dàn trải và tập trung nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm.
Về bản chất pháp lý, Quốc hội sẽ ban hành một nghị quyết mới thay thế 4 nghị quyết hiện hành. Việc tích hợp không thu hẹp nguồn lực, đối tượng thụ hưởng và phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các mục tiêu đã đề ra.
Đối với cơ chế chuyển tiếp – vấn đề được ĐBQH Vũ Minh Đạo lưu ý – Chủ tịch Hội đồng Dân tộc cho biết, đây cũng là nội dung được cơ quan thẩm tra và Chính phủ thống nhất cần tính toán kỹ, nhằm bảo đảm quá trình chuyển từ 4 chương trình sang chương trình mới diễn ra liên tục.
Theo đó, nguồn vốn đã được phân bổ trong năm 2026 tiếp tục thực hiện theo cơ chế hiện hành. Từ năm 2027, khi có dự toán mới, việc triển khai sẽ chuyển sang cơ chế mới.
Việc bố trí giai đoạn chuyển tiếp như vậy nhằm bảo đảm không tạo khoảng trống chính sách, không ảnh hưởng đến quyền lợi của đối tượng thụ hưởng cũng như các dự án dở dang, dự án đang triển khai.
Một điểm mới khác, theo Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn, là tăng mạnh phân cấp cho địa phương. Theo đó, Trung ương quyết định tổng mức, cơ cấu nguồn lực, ban hành các nguyên tắc, tiêu chí; địa phương căn cứ nhu cầu và điều kiện thực tế để chủ động điều chỉnh, điều chuyển nguồn lực trong phạm vi được giao.
Chủ tịch Hội đồng Dân tộc dẫn thực tế thời gian qua, có trường hợp ngân sách Trung ương phân bổ kinh phí thực hiện một nhiệm vụ, chẳng hạn đào tạo nghề, nhưng địa phương không còn đủ đối tượng thụ hưởng. Do không được chủ động điều chuyển sang nhiệm vụ khác, phần kinh phí không sử dụng hết cuối cùng phải hoàn trả Trung ương.
Tương tự, trước đây có những danh mục dự án cụ thể do Trung ương quyết định, khiến địa phương hạn chế khả năng điều chỉnh theo nhu cầu thực tế. Cơ chế mới được thiết kế để khắc phục tình trạng này, trao quyền chủ động hơn cho địa phương trong sử dụng nguồn lực.
Chẳng hạn, nếu một địa phương được phân bổ 100 tỷ đồng cho đào tạo nghề nhưng nhu cầu thực tế chỉ cần 10 tỷ đồng, địa phương có thể điều chỉnh 90 tỷ đồng còn lại sang các mục tiêu, nhiệm vụ khác thuộc Chương trình, thay vì để vốn không sử dụng được và phải hoàn trả Trung ương.
Chương trình mới gồm 7 nhóm nhiệm vụ
Theo đề xuất của Chính phủ, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035 gồm 7 nhóm nhiệm vụ, bao quát các lĩnh vực hạ tầng, môi trường; kinh tế nông thôn, sinh kế và việc làm; giáo dục và nguồn nhân lực; y tế, dân số; văn hóa; chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu, kiểm tra và đánh giá.
Một điểm mới là phương thức phân bổ ngân sách chuyển từ “phân bổ theo nhu cầu đăng ký” sang kết hợp nhu cầu với kết quả thực hiện mục tiêu, giải ngân, năng lực và điều kiện sẵn sàng. Chương trình cũng tăng phân cấp theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”; địa phương chủ động lựa chọn danh mục, thứ tự ưu tiên, phân bổ, điều chỉnh nguồn lực và chịu trách nhiệm về hiệu quả thực hiện.
Nguồn https://baomoi.com/tich-hop-cac-chuong-trinh-nhung-khong-de-hoa-loang-muc-tieu-c55863441.epi
-
Quy định mới ‘chung cư có thời hạn’ và bảo đảm quyền tài sản
Sáng 19/8, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình Quốc hội Tờ trình Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi).
Nghĩa vụ tài chính để xây chung cư mới khi hết thời hạn
Một trong những điểm đáng lưu ý, là Dự thảo luật lần đầu tiên đưa vào quy định “chung cư có thời hạn” gắn với thời hạn sử dụng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật xây dựng, gắn với bảo đảm quyền tài sản. Chủ sở hữu căn hộ chung cư được quyền thực hiện nghĩa vụ tài chính để xây dựng mới chung cư theo quy định khi hết thời hạn.
Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng, quy định này nhằm cụ thể hóa quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 21-NQ/TW2.
Bộ trưởng Trần Hồng Minh. Ảnh: Như Ý
Dự thảo luật sửa đổi cũng bổ sung quy định mới về 4 loại hình nhà ở và chính sách tương ứng. Trong đó, có nhà ở thương mại, nhà cho thuê, nhà ở công vụ và nhà ở chính sách.
Đặc biệt, Dự thảo luật đã bổ sung chương mới về phát triển nhà ở cho thuê, bao gồm nhà ở cho thuê được đầu tư xây dựng bằng vốn của Nhà nước. Trong đó, quy định đối tượng được thuê nhà ở là công dân Việt Nam có khó khăn về nhà ở hoặc có nhu cầu thuê nhà ở.
Theo quy định của Dự thảo, nhà ở cho thuê gồm: nhà ở cho thuê được đầu tư, tạo lập bằng vốn nhà nước, vốn ngoài nhà nước; nhà lưu trú cho công nhân trong khu công nghiệp, nhà lưu trú cho chuyên gia, người lao động ngoài khu công nghiệp.
Theo đó, Nhà nước đầu tư xây dựng, tạo lập nhà ở cho thuê thông qua Quỹ nhà ở, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là cơ quan chủ quản dự án đầu tư xây dựng nhà ở cho thuê bằng nguồn tài chính Công đoàn.
Nguồn vốn của Quỹ nhà ở được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước cấp, tiền trích từ số tiền tương đương giá trị quỹ đất đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật để xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở, từ tiền bán nhà ở thuộc tài sản công, từ tiền đấu giá quyền sử dụng đất của quỹ đất dành để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại theo quy định của pháp luật…
Kiểm soát, ngăn chặn tình trạng đầu cơ nhà ở
Nêu ý kiến của cơ quan thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật – Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu bày tỏ nhất trí với 6 nhóm chính sách đã xác định. Cơ quan thẩm tra đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo phân định rõ khái niệm về “nhà ở chính sách” và “nhà ở xã hội”; chính sách “ưu tiên” phát triển loại hình nhà ở cho thuê so với các loại hình nhà ở khác.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật – Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu. Ảnh: Như Ý
Về quy định “chung cư có thời hạn”, cơ quan thẩm tra cho rằng, Dự thảo luật đã đưa ra khái niệm mới, nhưng các điều còn lại không sử dụng thuật ngữ này mà chỉ quy định về “thời hạn sử dụng nhà chung cư”.
Theo Ủy ban Pháp luật – Tư pháp, khái niệm về “thời hạn sử dụng nhà chung cư” và các chính sách về cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư tại chương VII của Dự thảo luật về cơ bản là kế thừa các quy định tại luật Nhà ở năm 2023. Do đó, cơ quan thẩm tra đề nghị cân nhắc việc bổ sung khái niệm “chung cư có thời hạn” trong Dự thảo luật để tránh có cách hiểu khác nhau liên quan đến “thời hạn sử dụng nhà chung cư”.
Ủy ban Pháp luật – Tư pháp cũng đề nghị tiếp tục nghiên cứu, làm rõ: Trong trường hợp tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam thì có được sở hữu nhà ở riêng lẻ thông qua việc thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại Việt Nam hay không?
Về nhà ở thương mại, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục nghiên cứu, bổ sung quy định về việc sử dụng các công cụ quản lý về quy hoạch, xác định giá đất, yêu cầu về hạ tầng… để xác định việc phát triển nhà ở thương mại theo từng phân khúc (cao cấp, trung cấp, bình dân) với lợi nhuận hợp lý, phù hợp với nhu cầu của người dân.
Ủy ban cũng đề nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, có cơ chế “kiểm soát chặt chẽ, minh bạch các trường hợp được hưởng chính sách ưu tiên về nhà ở, không để xảy ra tình trạng trục lợi chính sách; kiểm soát, ngăn chặn tình trạng đầu cơ nhà ở”. Tiếp tục rà soát, đề xuất chính sách để bảo đảm tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn đã được chỉ ra, đặc biệt là những bất cập trong quản lý, sử dụng nhà chung cư như: tranh chấp về phần sở hữu chung – sở hữu riêng của nhà chung cư, hoạt động của ban quản trị, ban quản lý nhà chung cư…
Nguồn https://baomoi.com/quy-dinh-moi-chung-cu-co-thoi-han-va-bao-dam-quyen-tai-san-c55863462.epi
-
Sửa Luật Nhà ở: Hạn chế tối đa phân lô bán nền, ưu tiên nhà chung cư
Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày tờ trình về định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở. Ảnh: Media Quốc hội
Sáng ngày 19/8, Chính phủ trình Quốc hội việc sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023. Trình bày tờ trình về định hướng chính sách sửa đổi Luật, Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, Luật Nhà ở năm 2023 được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2023, có hiệu lực từ ngày 1/8/2024, đã góp phần thúc đẩy phát triển nhà ở, bảo đảm tính công khai, minh bạch và sự thống nhất với các pháp luật liên quan.
Tuy nhiên sau hai năm thực hiện, Luật đã bộc lộ một số nội dung cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để phù hợp với yêu cầu mới về phát triển kinh tế – xã hội và các chủ trương mới. Các vấn đề được Chính phủ đặt ra gồm chính sách nhà ở liên quan đến phân loại đô thị; chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở; phát triển nhà ở thương mại, nhà ở công vụ, nhà ở phục vụ tái định cư; cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư; nhà ở xã hội; chính sách tài chính; quản lý sử dụng nhà ở, nhà chung cư và giao dịch nhà ở.
Một trong những định hướng lớn của dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) là phát triển nhà ở hướng tới mục tiêu mọi người đều có chỗ ở, gắn với bảo đảm an sinh xã hội. Trong đó, chính sách sẽ tập trung phát triển nhà ở cho thuê với giá phù hợp, đáp ứng nhu cầu chỗ ở của người dân; hạn chế tối đa phân lô bán nền tại khu vực đô thị và ưu tiên chủ yếu phát triển nhà chung cư.
Nhà nước không bao cấp về nhà ở nhưng cũng không hoàn toàn để thị trường tự điều tiết. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua thể chế, chính sách, quy hoạch và các công cụ tài chính – tín dụng để thị trường phát triển lành mạnh, minh bạch; thu hút doanh nghiệp tham gia với lợi nhuận hợp lý, bảo đảm người dân được tiếp cận chỗ ở ổn định, lâu dài, an toàn và phù hợp khả năng chi trả.
Bổ sung riêng một chương về nhà ở cho thuê
Dự thảo bổ sung quy định về 4 loại hình nhà ở cùng chính sách pháp luật tương ứng, gồm nhà ở thương mại; nhà ở cho thuê; nhà ở công vụ và nhà ở chính sách. Trong đó bổ sung một chương riêng về phát triển nhà ở cho thuê, gồm nhà ở cho thuê được đầu tư xây dựng bằng vốn Nhà nước và nhà ở cho thuê được đầu tư xây dựng không bằng vốn Nhà nước.
Đối với nhà ở cho thuê đầu tư bằng vốn Nhà nước, đối tượng được thuê là công dân Việt Nam có khó khăn về nhà ở hoặc có nhu cầu thuê nhà ở. Nhà nước đầu tư xây dựng, tạo lập nhà ở cho thuê thông qua Quỹ nhà ở; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là cơ quan chủ quản dự án đầu tư xây dựng nhà ở cho thuê bằng nguồn tài chính công đoàn.
Nguồn vốn của Quỹ nhà ở được hình thành từ ngân sách Nhà nước cấp; tiền trích từ số tiền tương đương giá trị quỹ đất đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật để xây dựng nhà ở xã hội; tiền bán nhà ở thuộc tài sản công; tiền đấu giá quyền sử dụng đất của quỹ đất dành để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trong dự án nhà ở thương mại; nguồn hỗ trợ tự nguyện, đóng góp của tổ chức, cá nhân và các nguồn huy động hợp pháp khác.
Đối với nhà ở cho thuê được đầu tư xây dựng không bằng vốn Nhà nước, dự thảo quy định việc phát triển có thể thông qua doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoặc hợp tác kinh doanh.
Tại các phường thuộc đô thị loại đặc biệt, loại I, loại II và loại III, nhà ở cho thuê là nhà chung cư. Đối với các khu vực còn lại, UBND cấp tỉnh quyết định loại hình nhà ở cho thuê phù hợp với quy định pháp luật và thực trạng địa phương.
Chủ đầu tư dự án được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, tiền thu sử dụng đất; được dành một tỷ lệ diện tích đất trong phạm vi dự án để xây dựng nhà ở thương mại để bán, dành một tỷ lệ diện tích đất hoặc sàn nhà ở để làm công trình kinh doanh dịch vụ, thương mại; được vay vốn với lãi suất ưu đãi thông qua tổ chức tín dụng, vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam cùng một số ưu đãi khác.
Dự thảo cũng bổ sung quy định về nhà lưu trú cho chuyên gia, người lao động ngoài khu công nghiệp. Đây là công trình xây dựng do doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập đầu tư để bố trí cho chuyên gia, người lao động của mình ở trong thời gian làm việc.
Theo tính toán trong tờ trình của Chính phủ, tổng nguồn vốn dành cho phát triển nhà ở cho thuê dự kiến khoảng 87.597 tỷ đồng, tương ứng khoảng 145.889 căn. Trong đó, ngân sách địa phương dự kiến 11.700 tỷ đồng, tương ứng khoảng 29.178 căn; vốn tư nhân dự kiến 75.897 tỷ đồng, tương ứng khoảng 116.711 căn.
Một nội dung mới khác trong định hướng sửa đổi Luật Nhà ở là quy định “chung cư có thời hạn” theo thời hạn sử dụng công trình xây dựng theo pháp luật về xây dựng, gắn với bảo đảm quyền tài sản. Theo định hướng này, chủ sở hữu căn hộ chung cư được quyền thực hiện nghĩa vụ tài chính để xây dựng mới chung cư theo quy định khi hết thời hạn. Quy định này nhằm cụ thể hóa quan điểm tại Nghị quyết số 21-NQ/TW.
Trong tờ trình, Chính phủ cập nhật kết quả triển khai thực hiện đề án một triệu căn nhà ở xã hội:
Lũy kế đến nay, cả nước có 875 dự án nhà ở xã hội đang được triển khai, quy mô 771.971 căn. Đã hoàn thành 289 dự án, 197.319 căn. Đã khởi công, đang triển khai 270 dự án, 269.409 căn. Được chấp thuận chủ trương đầu tư 316 dự án, 305.243 căn.
Tổng số dự án đã hoàn thành, khởi công và được chấp thuận chủ trương đầu tư đạt 77% chỉ tiêu của đề án một triệu căn nhà ở xã hội.
Riêng 6 tháng đầu năm 2026, cả nước có 62 dự án khởi công, quy mô 65.065 căn, gồm 56.001 căn để bán và 9.064 căn để cho thuê. Có 14 địa phương có khả năng hoàn thành và vượt chỉ tiêu được giao, 27 địa phương đã khởi công đủ hoặc vượt chỉ tiêu năm 2026. Khả năng hoàn thành đến nay là 89.178/158.723 căn, tương đương 56% chỉ tiêu.
Xác định rõ các đối tượng được ưu tiên thụ hưởng chính sách nhà ở cho thuê
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu trình bày báo cáo thẩm tra. Ảnh: Media Quốc hội
Đại diện cơ quan thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu cho biết, Ủy ban tán thành với sự cần thiết xây dựng Luật Nhà ở (sửa đổi). Cơ quan thẩm tra đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo bám sát, kịp thời cập nhật các nội dung, định hướng sửa đổi tại một số dự án luật có liên quan như Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) đang được trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp này để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Riêng đối với các loại hình nhà ở cho thuê, cơ quan thẩm tra đề nghị nghiên cứu, hoàn thiện để xác định rõ các đối tượng được “ưu tiên” thụ hưởng chính sách nhà ở cho thuê; nghiên cứu, rà soát quy định về nguồn vốn của “Quỹ nhà ở”.
Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cũng đề nghị rà soát các quy định về quản lý, sử dụng nhà ở cho thuê được đầu tư xây dựng bằng vốn Nhà nước và các quy định về quản lý, sử dụng nhà ở thuộc tài sản công; làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn của việc đề xuất chính sách về “nhà lưu trú cho chuyên gia, người lao động ngoài khu công nghiệp” và các điều kiện, đối tượng, hình thức hỗ trợ đối với dự án, chủ đầu tư dự án.
Với nhà ở thương mại, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục nghiên cứu, bổ sung quy định về việc sử dụng các công cụ quản lý về quy hoạch, xác định giá đất, yêu cầu về hạ tầng… để xác định việc phát triển nhà ở thương mại theo từng phân khúc cao cấp, trung cấp, bình dân với lợi nhuận hợp lý, phù hợp nhu cầu của người dân.
Nguồn https://baomoi.com/sua-luat-nha-o-han-che-toi-da-phan-lo-ban-nen-uu-tien-nha-chung-cu-c55863212.epi
-
Hướng tới mục tiêu mọi người đều có chỗ ở
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về 02 nội dung: Định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023 và Định hướng chính sách sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, Luật Nhà ở năm 2023 được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2023 và có hiệu lực từ ngày 01/8/2024, đã góp phần thúc đẩy phát triển nhà ở, đồng thời bảo đảm tính công khai, minh bạch và sự thống nhất với các pháp luật liên quan như đầu tư, đất đai, quy hoạch…
Sau 2 năm thực hiện, Luật Nhà ở năm 2023 đã bộc lộ một số nội dung cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để phù hợp với yêu cầu mới về phát triển kinh tế – xã hội và chủ trương của Đảng, Nhà nước, liên quan đến phân loại đô thị, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở… Cụ thể, việc sắp xếp đơn vị hành chính và bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp trong thời gian vừa qua dẫn đến thay đổi về các căn cứ ban hành, nội dung, thẩm quyền xây dựng chiến lược phát triển nhà ở quốc gia, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở cấp tỉnh. Do đó, cần rà soát, sửa đổi bổ sung các quy định về chiến lược phát triển nhà ở quốc gia, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở cấp tỉnh để đảm bảo phù hợp với đơn vị hành chính mới, cũng như đảm bảo đơn giản hóa trình tự, thủ tục xây dựng chương trình, kế hoạch, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc phát triển nhà ở.
Việc sửa đổi, bổ sung Luật Nhà ở năm 2023 nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hoàn thiện môi trường pháp lý thuận lợi, minh bạch, an toàn, chi phí tuân thủ thấp; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong đầu tư xây dựng; có chính sách phát triển nhà ở để hướng tới mục tiêu mọi người đều có chỗ ở tạo điều kiện bình đẳng cho người dân, doanh nghiệp; khắc phục các bất cập trong thực tiễn và bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.
Luật Nhà ở (sửa đổi) kế thừa các quy định còn phù hợp; đồng thời sửa đổi, bổ sung theo hướng thể chế đầy đủ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước: Phát triển nhà ở hướng tới mục tiêu mọi người đều có chỗ ở, gắn với bảo đảm an sinh xã hội, trong đó tập trung phát triển nhà ở cho thuê với giá phù hợp đáp ứng nhu cầu chỗ ở cho nhân dân, hạn chế tối đa phân lô bán nền tại khu vực đô thị, ưu tiên chủ yếu nhà chung cư. Nhà nước không bao cấp về nhà ở nhưng cũng không hoàn toàn để thị trường tự điều tiết.
Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua thể chế, chính sách, quy hoạch và công cụ tài chính – tín dụng để thị trường phát triển lành mạnh, minh bạch và thu hút doanh nghiệp tham gia với lợi nhuận hợp lý, bảo đảm người dân được tiếp cận chỗ ở ổn định, lâu dài, an toàn, phù hợp khả năng chi trả. Huy động đa dạng nguồn lực, không chỉ ngân sách nhà nước; tập trung khơi thông dòng vốn tư nhân, dòng vốn dài hạn từ các quỹ đầu tư, tổ chức tín dụng; sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước để dẫn dắt, thúc đẩy thị trường, tạo động lực huy động nguồn lực tư nhân tham gia đầu tư, phát triển nhà ở để cho thuê.
Thông tin về các nội dung bổ sung mới, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết, bổ sung mới quy định về 4 loại hình nhà ở và chính sách pháp luật tương ứng đối với từng loại hình, gồm: các loại nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê (gồm nhà ở cho thuê được đầu tư, tạo lập bằng vốn nhà nước, vốn ngoài nhà nước; nhà lưu trú cho công nhân trong khu công nghiệp, nhà lưu trú cho chuyên gia, người lao động ngoài khu công nghiệp), nhà ở công vụ; nhà ở chính sách (bao gồm nhà ở cho cán bộ cao cấp của Đảng, nhà ở xã hội, nhà cho lực lượng vũ trang nhân dân, nhà ở hỗ trợ thông qua chương trình mục tiêu quốc gia, nhà ở phục vụ tái định cư) để thể chế hóa quan điểm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Thông báo số 64 của Văn phòng Trung ương.
Về phát triển nhà ở cho thuê, bổ sung chương mới về phát triển nhà ở cho thuê, bao gồm nhà ở cho thuê được đầu tư xây dựng bằng vốn của Nhà nước và được đầu tư xây dựng không bằng vốn của Nhà nước. Trong đó quy định đối tượng được thuê nhà ở đầu tư xây dựng bằng vốn của Nhà nước là công dân Việt Nam có khó khăn về nhà ở hoặc có nhu cầu thuê nhà ở; Nhà nước đầu tư xây dựng, tạo lập nhà ở cho thuê thông qua Quỹ nhà ở, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là cơ quan chủ quản dự án đầu tư xây dựng nhà ở cho thuê bằng nguồn tài chính công đoàn.
Dự luật quy định “chung cư có thời hạn” theo thời hạn sử dụng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật xây dựng, gắn với bảo đảm quyền tài sản, chủ sở hữu căn hộ chung cư được quyền thực hiện nghĩa vụ tài chính để xây dựng mới chung cư theo quy định khi hết thời hạn nhằm cụ thế hóa quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 21-NQ/TW.
Dự luật đã rà soát lược bỏ nội dung quy định hành vi nghiêm cấm; một số nội dung trùng lắp với một số luật liên quan; bỏ quy định về sở hữu nhà ở riêng lẻ của tổ chức, cá nhân nước ngoài; bỏ quy định Ngân hàng Chính sách xã hội cho chủ đầu tư vay ưu đãi để xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân.
Tán thành với sự cần thiết xây dựng Luật Nhà ở (sửa đổi), Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cho rằng, 6 nhóm chính sách và nội dung của dự thảo Luật về cơ bản đã thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng; bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan; đáp ứng yêu cầu về quốc phòng, an ninh và yêu cầu đẩy mạnh phân quyền, phân cấp, cải cách thủ tục hành chính…
Ủy ban đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo bám sát, kịp thời cập nhật các nội dung, định hướng sửa đổi tại một số dự án luật có liên quan như: Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) cũng được trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp này để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Về chính sách sở hữu nhà ở, dự thảo luật đã đưa ra khái niệm mới là “chung cư có thời hạn”. Tuy nhiên, các điều còn lại của dự thảo luật không sử dụng thuật ngữ này mà chỉ quy định về “thời hạn sử dụng nhà chung cư. Khái niệm về “thời hạn sử dụng nhà chung cư” và các chính sách về cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư tại Chương VII của dự thảo Luật về cơ bản là kế thừa các quy định tại Luật Nhà ở năm 2023. Do đó, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị cân nhắc việc bổ sung khái niệm “chung cư có thời hạn” trong dự thảo luật để tránh có cách hiểu khác nhau liên quan đến “thời hạn sử dụng nhà chung cư”.
Về sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài, theo quy định tại Điều 7 của dự thảo luật về hình thức phát triển nhà ở, dự án đầu tư xây dựng nhà ở bao gồm cả dự án đầu tư xây dựng một công trình nhà ở độc lập hoặc một cụm công trình nhà ở (nhà ở riêng lẻ), do đó, đề nghị tiếp tục nghiên cứu, làm rõ trong trường hợp tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam thì có được sở hữu nhà ở riêng lẻ thông qua việc thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại Việt Nam hay không?
Nguồn https://baomoi.com/huong-toi-muc-tieu-moi-nguoi-deu-co-cho-o-c55863300.epi
-
Từ quê hương cách mạng đến chính quyền phục vụ Nhân dân
Truyền thống được tiếp nối
Nằm bên dòng sông Chu, xã Thiệu Tiến được hình thành trên cơ sở hợp nhất địa giới và dân cư của các xã: Thiệu Tiến, Thiệu Thành, Thiệu Ngọc và Thiệu Vũ. Đây là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng, nơi còn lưu giữ nhiều di tích, địa danh gắn với phong trào đấu tranh cách mạng của quê hương Thanh Hóa.
Ông Nguyễn Chí Thanh, Bí thư Chi bộ thôn Thiệu Vũ, xã Thiệu Tiến cho biết: “Nơi đây có Di tích lịch sử cách mạng – Nhà lưu niệm đồng chí Lê Chủ – người từng giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa qua nhiều giai đoạn. Tại chính ngôi nhà này, nhiều hội nghị quan trọng của Tỉnh ủy đã được tổ chức, góp phần lãnh đạo phong trào cách mạng Thanh Hóa trong thời kỳ 1930-1945”.
Bên trong Di tích lịch sử cách mạng – Nhà lưu niệm đồng chí Lê Chủ.
Với người dân Thiệu Vũ hôm nay, truyền thống cách mạng không chỉ hiện diện trong những câu chuyện về lớp người đi trước hay được lưu giữ tại các di tích. Truyền thống ấy đang được tiếp nối bằng tinh thần trách nhiệm với cộng đồng và sự chung sức xây dựng quê hương.
Theo ông Nguyễn Chí Thanh, “điều quan trọng nhất khi triển khai các công việc chung của thôn là tạo được sự đồng thuận trong Nhân dân. Để có sự đồng thuận ấy, mọi chủ trương phải được công khai, minh bạch, người dân được biết, được bàn và thấy rõ lợi ích của mình cũng như của cộng đồng”.
Sau khi thôn Yên Lộ và thôn Cẩm Vân được sáp nhập thành thôn Thiệu Vũ mới, tinh thần ấy tiếp tục được phát huy. Chi bộ, cán bộ, đảng viên trong thôn tiếp tục vận động Nhân dân hiến đất mở rộng đường, bê tông hóa các tuyến giao thông và chỉnh trang cảnh quan khu dân cư.
Mỗi mét đất người dân tự nguyện hiến, mỗi đoạn đường được mở rộng từ sự chung tay của cộng đồng không chỉ làm đổi thay diện mạo thôn Thiệu Vũ, mà còn thể hiện rõ sự đồng thuận giữa ý Đảng với lòng dân. Qua đó, bài học “lấy dân làm gốc” trên vùng quê cách mạng tiếp tục được phát huy bằng những việc làm cụ thể trong cuộc sống hôm nay.
Đưa chính quyền đến gần dân hơn
Nếu ở thôn Thiệu Vũ, tinh thần “lấy dân làm gốc” được thể hiện qua việc khơi dậy sức dân để xây dựng quê hương, thì tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Thiệu Tiến, tinh thần ấy được cụ thể hóa bằng việc đổi mới cách thức phục vụ người dân hằng ngày.
Người dân được hướng dẫn thực hiện thủ tục tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Thiệu Tiến.
Trung bình mỗi ngày Trung tâm Phục vụ hành chính công xã tiếp nhận khoảng 100 hồ sơ trực tiếp và trực tuyến. Khối lượng công việc lớn, trong khi nhiều người dân, nhất là người cao tuổi còn chưa thành thạo các thao tác trên môi trường số. Bởi vậy, cán bộ không chỉ tiếp nhận mà còn phải hướng dẫn cụ thể từng thủ tục, giúp người dân hoàn thiện hồ sơ ngay từ khâu đầu tiên.
“Với đội ngũ cán bộ ở đây, yêu cầu “hết việc chứ không hết giờ” đang gắn với một yêu cầu quan trọng hơn, đó là làm sao để mỗi người dân khi đến thực hiện thủ tục được hướng dẫn đầy đủ, giải quyết công việc nhanh chóng, thuận lợi và hạn chế phải đi lại nhiều lần”, chị Lê Mỹ Hướng, cán bộ Trung tâm cho biết .
Trực tiếp đến Trung tâm thực hiện thủ tục hành chính, anh Hoàng Văn Thắng ở xã Thiệu Tiến cảm nhận rõ sự thay đổi trong cách phục vụ người dân. Theo anh, cán bộ Trung tâm hướng dẫn tận tình, chi tiết; hồ sơ thiếu nội dung nào đều được chỉ rõ để người dân kịp thời bổ sung.
Theo ông Ngô Văn Thắng, Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Thiệu Tiến, “từ khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đến ngày 30/7, Trung tâm đã tiếp nhận trên 5.104 hồ sơ, giải quyết 5.080 hồ sơ, đạt tỷ lệ 99,5%; trong đó, tỷ lệ hồ sơ được giải quyết trước hạn và đúng hạn đạt 99,74%. Tiến độ giải quyết hồ sơ được công khai trên hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính. Đối với những trường hợp phát sinh vướng mắc, cán bộ trực tiếp giải thích, hướng dẫn để người dân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ”.
Cán bộ xã Thiệu Tiến về khu dân cư hướng dẫn, hỗ trợ người dân thực hiện thủ tục hành chính trong mô hình “Dịch vụ công lưu động”.
Không dừng lại ở việc chờ người dân đến trụ sở, từ tháng 8/2026 xã Thiệu Tiến triển khai mô hình “Dịch vụ công lưu động”, đưa cán bộ về các khu dân cư để hướng dẫn, tiếp nhận và hỗ trợ giải quyết một số thủ tục hành chính thiết yếu. Cùng với đó, cán bộ trực tiếp hỗ trợ người dân tạo lập tài khoản định danh điện tử, tích hợp các tiện ích trên VNeID và sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
Từ chỗ người dân phải tìm đến cơ quan hành chính, nay cán bộ chủ động đến với người dân. Sự thay đổi ấy không chỉ rút ngắn khoảng cách đi lại mà còn cho thấy rõ hơn tinh thần của một chính quyền hướng về cơ sở, lấy sự thuận tiện và hài lòng của người dân làm mục tiêu phục vụ.
Đưa cán bộ xuống cơ sở hỗ trợ thủ tục hành chính là cách xã Thiệu Tiến cụ thể hóa tinh thần chính quyền gần dân, phục vụ Nhân dân.
Có thể thấy, nếu 81 năm trước, sức mạnh Nhân dân góp phần làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, thì hôm nay, sự đồng thuận và niềm tin của người dân tiếp tục là nền tảng để Thiệu Tiến phát triển, xây dựng chính quyền ngày càng gần dân, trọng dân và phục vụ Nhân dân.
Nguồn https://baomoi.com/tu-que-huong-cach-mang-den-chinh-quyen-phuc-vu-nhan-dan-c55863344.epi
-
Đề xuất mở rộng Nhà máy chế biến thực phẩm VFI Sơn La
Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm việc về đề xuất mở rộng đầu tư Nhà máy chế biến thực phẩm VFI Sơn La.
Các đại biểu dự cuộc làm việc.
Dự cuộc làm việc có đồng chí Đào Tài Tuệ, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Xây dựng; lãnh đạo các sở, ban, ngành và các đơn vị liên quan.
Đại diện Công ty CP Sản xuất thương mại đầu tư VFI báo cáo đề xuất tại cuộc làm việc.
Công ty CP Sản xuất thương mại đầu tư VFI đã đầu tư và xây dựng dự án Nhà máy chế biến thực phẩm VFI Sơn La, tại Khu công nghiệp Mai Sơn với diện tích gần 5.000 m2 và khánh thành đưa vào sử dụng từ cuối năm 2025. Tuy nhiên trong quá trình sản xuất, kinh doanh, đơn vị đang gặp khó khăn do diện tích hiện tại hẹp, không đủ không gian để phân tách luồng nguyên liệu, kho bãi, hạ tầng xử lý nước thải và đảm bảo an toàn phòng cháy, chữa cháy. Do đó, doanh nghiệp đề xuất được nghiên cứu mở rộng sang lô liền kề với diện tích hơn 7.800 m2 để nâng tổng diện tích dự án lên khoảng 12.800 m2. Việc mở rộng nhà máy dự kiến sẽ tăng sản lượng từ 200-300 tấn thành phẩm mỗi năm, tiêu thụ thêm 2.000 tấn nông sản tươi, tạo thêm 40-60 việc làm tại địa phương và đóng góp 1-2 tỷ đồng tiền thuế mỗi năm vào ngân sách tỉnh.
Đồng chí Giám đốc Sở Xây dựng phát biểu tại cuộc làm việc.
Tại cuộc làm việc, các đại biểu đã thảo luận các phương án để thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, vấn đề bảo vệ môi trường, qua đó nhanh chóng giúp nhà đầu tư mở rộng nhà máy đảm bảo kế hoạch sản xuất, kinh doanh.
Đồng chí Nguyễn Thành Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu kết luận cuộc làm việc.
Phát biểu kết luận cuộc làm việc, đồng chí Nguyễn Thành Công đánh giá cao quyết tâm đầu tư, mở rộng sản xuất của doanh nghiệp, nhất là việc chủ động đề xuất phương án tháo gỡ khó khăn, huy động nguồn lực và cam kết tiến độ triển khai dự án. Đồng chí đề nghị Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, xây dựng kế hoạch cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó xác định rõ từng công việc, thời gian hoàn thành, đơn vị thực hiện và trách nhiệm của từng cơ quan; tập trung tháo gỡ vướng mắc về giải phóng mặt bằng, đất đai và các thủ tục pháp lý. Các sở, ngành theo chức năng chủ động hướng dẫn, giải quyết kịp thời các thủ tục liên quan, tăng cường phối hợp, đồng hành cùng doanh nghiệp. Đồng thời, yêu cầu thực hiện cơ chế cam kết tiến độ hai chiều: Doanh nghiệp cam kết tiến độ đầu tư, hoàn thiện các thủ tục thuộc trách nhiệm; các cơ quan của tỉnh cam kết tiến độ giải quyết thủ tục, hỗ trợ dự án, từ đó hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp khi tham gia sản xuất, kinh doanh tại tỉnh Sơn La.
Nguồn https://baomoi.com/de-xuat-mo-rong-nha-may-che-bien-thuc-pham-vfi-son-la-c55863372.epi
-
Đề xuất người có đất ở bị thu hồi được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tại chỗ
Trình Quốc hội về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, sáng 19/8, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết, việc sửa đổi lần này nhằm giải quyết kịp thời những vấn đề cấp bách phát sinh từ thực tiễn thi hành Luật Đất đai.
Đồng thời, tháo gỡ căn bản các điểm nghẽn về thể chế, khơi thông nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn mới.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng. (Ảnh: Quốc hội Media)
“Xây dựng mô hình quản lý đất đai hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả thông qua đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu tổ chức chính quyền địa phương hai cấp”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Trên cơ sở quan điểm, định hướng được Trung ương thông qua cũng như kết quả tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2024, Chính phủ đã thông qua 7 nhóm chính sách.
Trong đó, đáng chú ý là chính sách hoàn thiện cơ chế thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo hướng quy định rõ hơn tiêu chí dự án, phạm vi thu hồi đất; bổ sung quy định thu hồi đất, phát triển quỹ đất vùng phụ cận, các công trình kết cấu hạ tầng.
“Chuyển mạnh từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang tư duy “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất’” ưu tiên cho người có đất ở bị thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tại chỗ; không quy định cứng là việc thu hồi đất chỉ thực hiện sau khi đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và hoàn thành bố trí tái định cư”, tờ trình của Chính phủ nêu.
Chính sách tiếp theo là đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hướng kết hợp giữa phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất với tổ chức không gian phát triển, phân vùng sử dụng đất và khoanh định các khu vực cần bảo vệ; xác định chức năng sử dụng đất của từng khu vực.
Chính phủ đề xuất sắp xếp hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hướng tinh gọn, giảm số lượng tiến tới chỉ xây dựng một quy hoạch thống nhất trong phạm vi một đơn vị hành chính; nâng cao chất lượng quy hoạch, kiểm soát chặt việc điều chỉnh quy hoạch.
Chính sách thứ ba là hoàn thiện cơ chế giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất theo hướng công khai, minh bạch, cạnh tranh, lựa chọn nhà đầu tư có đủ năng lực và sử dụng đất hiệu quả; quy định rõ các trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất; quy định đầy đủ căn cứ, điều kiện, tiêu chí, trình tự, trách nhiệm và cơ chế kiểm tra, giám sát đối với từng phương thức tiếp cận đất đai.
Theo tờ trình của Chính phủ, hoàn thiện cơ chế giao đất, cho thuê đất để phát triển nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, nhà ở cho thuê, nhà ở chính sách, nhà ở thương mại và nhà ở phục vụ tái định cư; khai thác quỹ đất cơ quan, trụ sở dôi dư; kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất; tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Chính sách thứ tư là đổi mới cơ chế tài chính đất đai và giá đất theo hướng giá đất do Nhà nước quyết định dựa trên dữ liệu, phương pháp khoa học, công khai, minh bạch, kết nối liên thông giữa dữ liệu đất đai với các dữ liệu chuyên ngành có liên quan.
Chính phủ nhấn mạnh việc không để bị thao túng giá, hình thành giá ảo; điều tiết hợp lý giá trị tăng thêm từ đất; chính sách hợp lý về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với đất sản xuất kinh doanh, đất phát triển dự án nhà ở cho thuê với giá phù hợp…
Chính sách tiếp theo là hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chế độ sử dụng đất theo hướng khơi thông nguồn lực tài nguyên đất thông qua mở rộng cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích nhưng có cơ chế quản lý, kiểm soát; hoàn thiện quy định về công trình trên không, công trình ngầm, đất hình thành từ hoạt động lấn biển, thúc đẩy tập trung, tích tụ đất đai.
Chính sách thứ sáu là đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và phân cấp, phân quyền trong quản lý đất đai; hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; xử lý các tồn tại lịch sử trong cấp Giấy chứng nhận; đơn giản hóa trình tự, thủ tục hành chính phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp gắn với nâng cao trách nhiệm của địa phương và tăng cường kiểm tra, giám sát của Trung ương.
Chính sách thứ bảy là đổi mới, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo; khắc phục bằng được tình trạng không sử dụng đất, để đất hoang hóa, ô nhiễm, suy thoái; các tồn tại lịch sử trong quản lý, sử dụng đất, trong đó bao gồm đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai.
Quang cảnh phiên họp sáng 19/8. (Ảnh: Quốc hội Media)
Quy định rõ tính “thật sự cần thiết” trong thu hồi đất phát triển kinh tế – xã hội
Trình bày báo cáo tóm tắt ý kiến về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Nguyễn Ngọc Bảo cho biết Ủy ban tán thành với sự cần thiết, cấp bách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.
Về nội dung giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, ông Nguyễn Ngọc Bảo đề nghị báo cáo làm rõ trường hợp nhà đầu tư thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất nhưng không có đất ở và quy mô dự án chưa đạt đến khu đô thị thì tiếp tục thực hiện thí điểm theo Nghị quyết 171/2024 của Quốc hội hay đã được luật hóa tại điều khoản nào của dự thảo Luật, đồng thời cung cấp thông tin về thực tiễn về trường hợp này.
Về thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, đại diện Ủy ban Kinh tế và Tài chính dẫn Điều 35 dự thảo Luật quy định các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
“Tuy nhiên, một số trường hợp chưa thể hiện rõ và thuyết phục về tính chất ‘thật cần thiết’ theo khoản 3 Điều 32 Hiến pháp, tiềm ẩn nguy cơ bị lạm dụng như: dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, dự án thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất, dự án tạo quỹ đất để thanh toán dự án theo hợp đồng BT…”, ông Nguyễn Bảo Ngọc nói.
Theo cơ quan thẩm tra, đối với trường hợp thu hồi đất để thực hiện dự án tái định cư, nếu như nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng thành dự án thành phần độc lập thì có thể dẫn đến thu hồi đất 2 lần, 2 khu vực mà chỉ để triển khai 1 dự án đầu tư.
Từ đó, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ báo cáo làm rõ về sự cần thiết, căn cứ, tiêu chí để đề xuất các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với các dự án đầu tư kinh doanh mới được bổ sung.
Đồng thời, theo cơ quan thẩm tra, cần quy định rõ ràng về tiêu chí dự án thuộc phạm vi thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Đặc biệt, cơ quan thẩm tra đề nghị rà soát kỹ lưỡng những trường hợp cho phép thu hồi đất trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất trước khi hoàn thành việc bố trí tái định cư, bảo đảm thật sự cần thiết, cấp bách, vì lợi ích chung do chưa rõ cơ chế để bảo đảm lợi ích hợp pháp và giảm thiểu rủi ro cho người sử dụng đất trong trường hợp này.
Về tài chính về đất đai, giá đất, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị tiếp tục nghiên cứu xây dựng cơ chế xác định giá đất cho sản xuất, kinh doanh bảo đảm hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thúc đẩy đầu tư, phát triển doanh nghiệp, tạo việc làm và đóng góp tăng trưởng, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Đi kèm đó là cần quy định rõ, khả thi về bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất và các tỷ lệ đều có thể điều chỉnh tăng hoặc điều chỉnh giảm để phù hợp với mục tiêu huy động nguồn lực đất đai cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ. Tách bạch xác định giá đất với cơ chế bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
“Tiếp tục nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng và chỉ quy định tại Luật những nội dung mang tính nguyên tắc về giá đất, giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tiễn và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của từng thời kỳ trong quá trình tổ chức thực hiện”, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính nói thêm.
-
Để ‘nhẹ’ tiền trọ mỗi tháng
Nhu cầu tìm phòng trọ của sinh viên tại Hà Nội tăng cao, nhất là tại các khu vực tập trung nhiều trường đại học. Ảnh minh họa.
Đi xa hơn để giảm tiền trọ
Giữa tháng 8, khi mùa tuyển sinh đại học bước vào giai đoạn cao điểm, trên nhiều hội nhóm tìm nhà trọ tại Hà Nội, các bài đăng tìm phòng của sinh viên và phụ huynh xuất hiện dày hơn. Yêu cầu thường khá giống nhau: Phòng khép kín, an ninh bảo đảm, có chỗ để xe, giá khoảng 2,5-3 triệu đồng/tháng. Đáng chú ý, nhiều người không còn đặt nặng việc phải ở sát trường, miễn thuận tiện xe buýt hoặc đường sắt đô thị.
Với sinh viên học tại khu vực Cầu Giấy, thay vì chỉ tìm quanh Cầu Giấy, Xuân Thủy, Trần Thái Tông… bán kính thuê trọ có thể mở rộng về Mỹ Đình, Mễ Trì. Nếu phòng gần trường có giá 3,5-4 triệu đồng/tháng, chưa kể điện, nước và dịch vụ, việc tìm được phòng xa hơn với giá khoảng 2,5-3 triệu đồng có thể giúp giảm từ vài trăm nghìn đến hơn 1 triệu đồng mỗi tháng.
Nguyễn Thị Hòa, tân sinh viên quê Phú Thọ học tại khu vực Cầu Giấy là trường hợp như vậy. “Ban đầu, gia đình ưu tiên tìm phòng trong bán kính 1-2km để em có thể đi bộ hoặc xe đạp tới trường. Tuy nhiên, sau khi khảo sát giá, hai mẹ con chuyển hướng tìm về phía Nam Từ Liêm. Với lựa chọn này, quãng đường đến trường dài thêm vài cây số nhưng khoản tiền tiết kiệm mỗi tháng đủ để gia đình trang trải một phần đáng kể tiền ăn và sinh hoạt”, Hòa kể.
Tại khu vực Nguyễn Trãi – Thanh Xuân, Trần Thịnh Tân, nam tân sinh viên quê Thanh Hóa cũng bỏ tiêu chí “đi bộ đến trường” sau khi cùng gia đình tìm hiểu giá thuê. Phương án được tính tới là thuê phòng tại Hà Đông, ưu tiên vị trí gần tuyến xe buýt hoặc đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông. Khoảng cách xa hơn, nhưng nếu thời gian đi lại chỉ khoảng 30-40 phút và đổi lại giảm được đáng kể tiền thuê, gia đình vẫn coi đây là lựa chọn hợp lý.
Ở ghép cũng là cách nhiều sinh viên tính toán để giảm áp lực. Hai tân sinh viên học tại các trường khác nhau ở Cầu Giấy và Thanh Xuân có thể chọn một khu vực thuận tiện cho cả hai, thuê chung căn phòng khoảng 3-3,5 triệu đồng/tháng. Chia đôi, mỗi người chỉ phải trả khoảng 1,5-1,75 triệu đồng tiền thuê.
Thậm chí, với những gia đình ở ngoại thành, phương án không thuê trọ mà đi phương tiện công cộng hằng ngày cũng được cân nhắc. Những lựa chọn trên cho thấy cách tìm nhà của sinh viên đang thay đổi. Thay vì chỉ tính khoảng cách từ phòng trọ tới giảng đường, nhiều gia đình bắt đầu cân đối đồng thời tiền thuê, chi phí đi lại và thời gian di chuyển. Khi khoản tiết kiệm có thể lên tới cả triệu đồng mỗi tháng, đi xa thêm vài cây số trở thành sự đánh đổi có thể chấp nhận.
Với nhiều tân sinh viên, vì thế, một phòng trọ xa trường nhưng vừa túi tiền và gần điểm xe buýt, nhà ga đôi khi lại phù hợp hơn một căn phòng đắt đỏ ngay sát giảng đường.
“Bản đồ” nhà trọ mở rộng theo giao thông công cộng
Việc tân sinh viên chấp nhận ở xa trường không đơn thuần xuất phát từ thay đổi thói quen mà trước hết là một cách thích ứng với mặt bằng giá thuê ngày càng cao. Khảo sát trên các nền tảng rao bán, cho thuê bất động sản cho thấy, vào mùa nhập học, những căn phòng có vị trí thuận tiện quanh các trường đại học luôn nhận được sự quan tâm lớn. Trong khi đó, nguồn phòng có mức giá phù hợp với khả năng chi trả của sinh viên ngày càng hạn chế.
Theo dữ liệu đăng tải trên trang web “Nhà Tốt”, tháng 8-2026, giá phòng trọ tại Hà Nội phổ biến trong khoảng 2,8-6,8 triệu đồng/tháng, mức bình quân khoảng 3,8 triệu đồng/tháng và tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước. Với sinh viên, ngoài tiền thuê phòng còn có điện, nước, internet, gửi xe và các khoản sinh hoạt khác. Chỉ cần tiền nhà tăng thêm vài trăm nghìn đồng mỗi tháng cũng tạo ra áp lực đáng kể đối với nhiều gia đình.
Điểm đáng chú ý là khoảng cách từ nhà trọ tới trường đang được nhìn nhận theo một cách khác. Thay vì chỉ tính bằng số km, nhiều sinh viên tính bằng thời gian và chi phí di chuyển. Một căn phòng cách trường 7-8km nhưng nằm gần ga đường sắt đô thị hoặc có tuyến xe buýt đi thẳng đôi khi thuận tiện hơn căn phòng cách 3-4km nhưng phải đổi nhiều chặng.
Sự phát triển của mạng lưới giao thông công cộng vì thế đang tạo thêm lựa chọn cho thị trường nhà ở sinh viên. Hai tuyến đường sắt đô thị đang khai thác cùng mạng lưới xe buýt rộng khắp giúp người thuê có thể tìm kiếm chỗ ở trên phạm vi lớn hơn. Với những khu vực có khả năng kết nối thuận lợi, mức giá thuê thấp hơn khu vực sát trường trở thành lợi thế để thu hút sinh viên.
Tuy nhiên, bài toán “ở xa để tiết kiệm” cũng cần được tính toán kỹ. Một căn phòng rẻ hơn 700.000 đồng đến 1 triệu đồng/tháng chưa chắc đã thực sự tiết kiệm nếu sinh viên phải đổi nhiều tuyến xe, mất quá nhiều thời gian hoặc phát sinh chi phí đi lại lớn. Chưa kể việc học buổi tối, tham gia hoạt động ngoại khóa hay đi làm thêm có thể khiến nhu cầu di chuyển khác xa lịch học thông thường.
“Trước khi quyết định thuê phòng, sinh viên nên tính tổng chi phí thực tế thay vì chỉ nhìn vào tiền thuê. Khoản này bao gồm tiền nhà, điện, nước, dịch vụ, gửi xe và chi phí đi lại hằng tháng. Đồng thời, cần đi thử tuyến đường từ nơi dự định thuê đến trường vào giờ cao điểm để biết thời gian di chuyển thực tế, kiểm tra điểm xe buýt hoặc nhà ga gần nhất cũng như khả năng trở về phòng vào buổi tối.
Với tân sinh viên lần đầu sống xa gia đình, yếu tố an toàn cũng không nên bị đánh đổi để lấy mức giá thấp. Phòng trọ cần có hợp đồng rõ ràng, kiểm tra kỹ tiền đặt cọc, giá điện, nước và các khoản phí trước khi chuyển tiền. Những căn phòng được quảng cáo rẻ bất thường nhưng yêu cầu đặt cọc ngay khi chưa xem phòng cần đặc biệt thận trọng”, ông Nguyễn Đăng Hòa (56 tuổi, chủ một khu nhà trọ cho sinh viên thuê khu vực Cầu Giấy) chia sẻ.
Với một sinh viên, khoản tiết kiệm 700.000 đồng hay 1 triệu đồng mỗi tháng có thể là tiền ăn của nhiều ngày, tiền giáo trình hoặc một phần học phí. Bởi vậy, giữa lựa chọn “gần trường” và “vừa túi tiền”, không ít tân sinh viên chấp nhận đi xa hơn một chút. Khi ấy, một điểm xe buýt thuận tiện hay một nhà ga gần phòng trọ cũng trở thành tiêu chí quan trọng không kém khoảng cách từ nơi ở tới giảng đường.
Mùa nhập học năm nay vì thế không chỉ làm nóng thị trường nhà trọ mà còn cho thấy một sự thay đổi trong lựa chọn nơi ở của sinh viên. Khi giá thuê khu vực gần trường ngày càng tạo áp lực, “bản đồ” tìm nhà đang được kéo rộng hơn theo những tuyến xe buýt và đường sắt đô thị.
Nguồn https://baomoi.com/de-nhe-tien-tro-moi-thang-c55863112.epi
-
Lâm Đồng họp thẩm định phương án thành lập Khu dự trữ thiên nhiên Tà Kóu
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lâm Đồng Lê Trọng Yên chủ trì cuộc họp thẩm định phương án thành lập Khu dự trữ thiên nhiên Tà Kóu
Sáng 19/8, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lâm Đồng Lê Trọng Yên chủ trì cuộc họp thẩm định phương án thành lập Khu dự trữ thiên nhiên Tà Kóu.
Theo phương án, Khu dự trữ thiên nhiên Tà Kóu được nghiên cứu thành lập tại xã Hàm Thuận Nam và xã Tân Thành, với diện tích 8.408 ha. Trong đó, rừng tự nhiên hơn 7.342 ha. Khu dự trữ gồm 3 phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phục hồi sinh thái và dịch vụ – hành chính. Vùng đệm rộng khoảng 9.290 ha.
Lãnh đạo Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu báo cáo về phương án thành lập Khu dự trữ thiên nhiên Tà Kóu
Phương án nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời xác lập rõ ranh giới, diện tích, phân khu chức năng và tổ chức quản lý khu rừng đặc dụng. Khu vực được định hướng bảo tồn hệ sinh thái rừng, đa dạng sinh học, các loài nguy cấp, quý, hiếm và phục hồi những diện tích rừng suy thoái.
Tại cuộc họp, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Trọng Yên yêu cầu làm rõ sự phù hợp của phương án với Quy hoạch tỉnh và các quy hoạch quốc gia đã được phê duyệt. Việc rà soát phải gắn với hiện trạng quản lý, sử dụng đất, hoạt động dân sinh, hành lang an toàn đường bộ và quy hoạch chung cấp xã.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lâm Đồng Lê Trọng Yên yêu cầu làm rõ các nội dung liên quan đến quy hoạch, hiện trạng trong phương án thành lập Khu dự trữ thiên nhiên Tà Kóu
Lãnh đạo UBND tỉnh cũng yêu cầu làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của phương án, nhất là các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái rừng đặc dụng. Cùng với đó là định hướng xây dựng, cập nhật thường xuyên cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ quản lý.
Các nội dung liên quan đến khu dịch vụ, quy chế quản lý rừng đặc dụng và tác động đến đời sống người dân cần được rà soát, đánh giá đầy đủ, bảo đảm phương án vừa đúng quy định vừa phù hợp thực tế.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng Lê Thanh Sơn làm rõ một số nội dung trong phương án thành lập Khu dự trữ thiên nhiên Tà Kóu
Lãnh đạo UBND tỉnh cũng yêu cầu hoàn thiện phương án tổ chức bộ máy, nhân lực và nguồn lực thực hiện. Trong đó, cơ cấu tổ chức phải phù hợp quy định về đơn vị sự nghiệp công lập, chỉ tiêu biên chế được giao và chủ trương quản lý biên chế của tỉnh.
Nhu cầu kinh phí và cơ cấu nguồn lực cũng phải được rà soát, bảo đảm phù hợp quy định về ngân sách nhà nước, đầu tư công và các cơ chế, chính sách hiện hành.
Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng Võ Thành Huy góp ý về phương án thành lập Khu dự trữ thiên nhiên Tà Kóu
Theo phương án, công tác bảo vệ rừng sẽ gắn với phục hồi rừng suy thoái, tăng cường tuần tra, phòng cháy, chữa cháy rừng và huy động cộng đồng tham gia bảo vệ rừng. Khu vực cũng được định hướng phát triển nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái theo quy định.
Phó Giám đốc Sở Nội vụ Lâm Đồng Nguyễn Đức Vũ trao đổi về phương án tổ chức bộ máy, nhân lực và nguồn lực
Các chính sách hỗ trợ sinh kế vùng đệm được lồng ghép nhằm giảm áp lực lên tài nguyên rừng và tăng sự tham gia của người dân trong bảo tồn. Giai đoạn 2026 – 2030, phương án dự kiến cần hơn 75,86 tỷ đồng từ ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác.
Trên cơ sở các ý kiến tại cuộc họp, phương án sẽ tiếp tục được hoàn thiện về pháp lý, đất đai, ranh giới, phân khu chức năng, vùng đệm và các giải pháp tổ chức thực hiện trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét.
Phó Giám đốc Sở Xây dựng Bùi Trường Sơn tham gia góp ý đối với phương án thành lập Khu dự trữ thiên nhiên Tà Kóu