Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Cần thiết tích hợp thực chất 4 chương trình mục tiêu quốc gia hiện hành

    Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày tờ trình về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035 – Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc 

    Khắc phục chồng chéo, dàn trải, thu gọn đầu mối quản lý

    Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh mục tiêu, quan điểm và phương án tổ chức lại 4 chương trình mục tiêu quốc gia hiện hành.

    Theo đó, việc tổ chức lại nhằm cơ cấu Chương trình theo các nhóm vấn đề cần giải quyết, khắc phục tình trạng chồng chéo, dàn trải; thu gọn đầu mối quản lý, đơn giản hóa thủ tục, tăng khả năng lồng ghép nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, đồng thời bảo đảm hoàn thành đầy đủ các mục tiêu đã được Quốc hội quyết nghị.

    Quan điểm tích hợp là không thực hiện theo hướng “cơ học”, không làm thay đổi, thu hẹp hoặc sai lệch mục tiêu của 4 chương trình hiện hành mà chỉ cơ cấu lại nhiệm vụ để tránh trùng lặp. Chương trình được tổ chức theo các nhóm vấn đề, có cơ chế chuyển tiếp để bảo đảm các nhiệm vụ không bị gián đoạn; thiết kế theo một logic chính sách chung, chuẩn hóa về mục tiêu, đối tượng, địa bàn, nguồn lực và sản phẩm đầu ra.

    Theo phương án trình, Chương trình gồm 7 nhóm nhiệm vụ: (1) phát triển hạ tầng thiết yếu, bảo vệ môi trường; (2) phát triển kinh tế nông thôn, sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, việc làm và thu nhập; (3) hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và nguồn nhân lực; (4) chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển; (5) bảo tồn và phát triển văn hóa; (6) chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, ưu tiên nhà ở, đất ở, nước sinh hoạt, tái định cư, đất sản xuất, chuyển đổi nghề, vùng dược liệu; (7) quản lý, vận hành cơ sở dữ liệu dùng chung, chuyển đổi số, kiểm tra, đánh giá và truyền thông.

    Về cơ chế quản lý, Chương trình được tổ chức trên cơ sở dữ liệu dùng chung, theo dõi đồng bộ mục tiêu, nguồn lực, dự án, tiến độ, giải ngân, quyết toán, đối tượng thụ hưởng và sản phẩm đầu ra. Kết quả thực hiện là căn cứ để phân bổ, điều chuyển nguồn lực và đánh giá trách nhiệm.

    Các cơ chế, chính sách đặc thù được rà soát, hợp nhất theo nguyên tắc kế thừa; chỉ mở rộng đối với những nội dung có tính chất tương đồng và bảo đảm phù hợp pháp luật chuyên ngành. Đồng thời, xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra bằng các chỉ số lượng hóa về mức độ hoàn thành mục tiêu, tiến độ, giải ngân, chế độ báo cáo và mức độ hài lòng của người dân.

    Việc tổ chức thực hiện được đẩy mạnh phân cấp theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, gắn với giám sát, đánh giá kết quả. Mục tiêu là giảm đầu mối, văn bản và thủ tục trung gian, tập trung nguồn lực cho đầu tư phát triển và các nhiệm vụ trực tiếp tạo ra kết quả.

    Về các nhiệm vụ chuyển tiếp, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, các nhiệm vụ đã được phê duyệt, bố trí vốn và triển khai trong năm 2026 tiếp tục được thực hiện, thanh toán, quyết toán theo quy định đã ban hành, bảo đảm không làm gián đoạn Chương trình.

    Dự toán và kế hoạch vốn năm 2027 được lập theo quy định hiện hành để trình Quốc hội. Sau khi được giao dự toán, các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương rà soát, phân bổ chi tiết, điều chỉnh, điều chuyển hoặc dừng các nhiệm vụ không còn phù hợp theo phân cấp.

    Trên cơ sở đó, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình giai đoạn 2026 – 2035 theo đề xuất tại mục IV; giao Chính phủ quyết định cơ cấu các nguồn vốn trong tổng nguồn lực 808.558 tỷ đồng, đồng thời ban hành một Nghị quyết quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình theo hướng đơn giản hóa thủ tục, rõ tiêu chí đầu ra, phân cấp mạnh và xử lý đầy đủ các vấn đề chuyển tiếp.

    HĐDT: Cần thiết tích hợp thực chất 4 chương trình mục tiêu quốc gia

    Thẩm tra nội dung này, Hội đồng Dân tộc (HĐDT) thống nhất với Chính phủ về sự cần thiết tích hợp thực chất 4 chương trình mục tiêu quốc gia hiện hành thành một chương trình tổng thể nhằm sử dụng nguồn lực hiệu quả, đầu tư đồng bộ, tăng quyền chủ động và trách nhiệm của địa phương, chuyển từ quản lý theo quy trình sang quản lý theo kết quả đầu ra.

    Theo HĐDT, việc tích hợp cũng nhằm khắc phục tình trạng nhiều đầu mối, khó lồng ghép nguồn lực, chậm phân bổ và giải ngân. Thực tiễn giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy giải ngân ngân sách Trung ương mới đạt 76,8%, kinh phí thường xuyên đạt 70,2%; vốn kéo dài sang năm 2026 đến ngày 31/7/2026 mới giải ngân khoảng 23%. Do đó, cùng với tích hợp, cần xử lý đồng bộ các hạn chế về thiết kế chính sách, chuẩn bị nhiệm vụ, khả năng hấp thụ vốn, thủ tục và cơ chế phối hợp.

    Về hoàn thiện hồ sơ, nguyên tắc tích hợp và tính khả thi, HĐDT cho rằng Chính phủ đã cơ bản tiếp thu ý kiến tại Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chuyển cách tiếp cận từ “thống nhất” 4 chương trình sang trình Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư một chương trình mới; hồ sơ cũng đã chuẩn hóa số liệu, làm rõ hơn nội dung kế thừa, sửa đổi, bổ sung. Hồ sơ cơ bản đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, quyết định.

    HĐDT đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát, bảo đảm thống nhất giữa Tờ trình, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội và Nghị quyết của Chính phủ, nhất là về nguồn lực, nhiệm vụ và tổ chức quản lý.

    HĐDT nhất trí nguyên tắc tích hợp không làm thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng, quyền lợi và mức độ ưu tiên của các chương trình hiện hành, không làm giảm các chính sách và mục tiêu bắt buộc. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nguyên tắc “ưu tiên ở mức cao nhất” cần được bảo đảm xuyên suốt từ phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện đến giám sát.

    Đồng thời, HĐDT đề nghị lượng hóa hiệu quả sau tích hợp, nhất là mức giảm đầu mối, thời gian phân bổ, tỷ lệ nguồn lực dành cho địa bàn khó khăn, hỗ trợ trực tiếp, sinh kế và phát triển sản xuất.

    Theo baochinhphu.vn

    Nguồn https://baomoi.com/can-thiet-tich-hop-thuc-chat-4-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-hien-hanh-c55865191.epi

  • Đẩy mạnh phân cấp, bảo đảm người dân được hưởng lợi

    Ngày 19/8, tiếp tục đợt 2 Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội thảo luận tại tổ về việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035.

    Giúp người dân vươn lên một cách ổn định, bền vững

    Tham gia góp ý kiến, ĐBQH Nguyễn Khánh Ngọc (đoàn Tp.Đà Nẵng) đồng tình với việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 Chương trình mục tiêu quốc gia. Song đại biểu lưu ý cách viết, cách thể hiện về mục tiêu, đối tượng, cách thức tổ chức thực hiện cần có sự gắn kết với nhau.

    Bên cạnh đó, đại biểu cũng bày tỏ băn khoăn về tính thực chất, hiệu quả của các chương trình mục tiêu quốc gia. Đại biểu chia sẻ, qua tiếp xúc với cử tri tại nhiều địa bàn, nhiều xã, cử tri đề đạt nguyện vọng, mong muốn làm sao Nhà nước có sự hỗ trợ, đem lại việc làm ổn định cho người dân ở những vùng khó khăn.

    ĐBQH Nguyễn Khánh Ngọc (Ảnh: Hữu Thắng).

    Thay vì chỉ hỗ trợ mang tính chất đột xuất, tức thời, mong muốn của người dân là có việc làm ổn định ngay tại quê hương của mình. Cùng với đó, cần có định hướng cụ thể để người dân biết nên trồng cây gì, nuôi con gì phù hợp, qua đó tạo sinh kế, từng bước thoát nghèo.

    Đồng thời, cần có chính sách đủ sức thu hút doanh nghiệp đầu tư vào các vùng khó khăn, tạo thêm việc làm và cơ hội phát triển, giúp người dân vươn lên một cách ổn định, bền vững.

    Đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc cho biết thêm, trong dự thảo Nghị quyết cũng đưa ra khá nhiều chỉ tiêu, song đề nghị cân nhắc kỹ tránh hình thức như chỉ tiêu xây dựng được bao nhiêu bảo tàng, trung tâm văn hóa, thư viện… làm sao những thiết chế này khi được thiết lập mục đích cuối cùng là người dân phải được thụ hưởng. Phải có những sinh hoạt nâng cao đời sống văn hóa, vật chất, tinh thần của người dân.

    Đẩy mạnh phân cấp để địa phương chủ động thực hiện

    Tham gia thảo luận, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho rằng, qua thực tiễn triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia thời gian qua, cần rà soát lại cách thức tổ chức thực hiện, đặc biệt là các tầng nấc trung gian và cơ chế quản lý.

    Theo Bộ trưởng, một trong những bất cập hiện nay là các chương trình được chia thành nhiều dự án, tiểu dự án với danh mục nhỏ lẻ. Khi xuống địa phương, từng dự án, tiểu dự án lại phải thực hiện nhiều quy trình về đầu tư công, đấu thầu và các thủ tục khác.

    Chính vì vậy, từ việc giải ngân đến hiệu quả của các dự án, tiểu dự án trong thời gian qua, theo Bộ trưởng nhìn nhận là không đạt.

    Từ thực tế tại địa phương, Bộ trưởng Trần Hồng Minh dẫn chứng lĩnh vực giao thông nông thôn, có nơi mỗi huyện phải triển khai hàng trăm dự án, trong đó nhiều dự án chỉ có quy mô từ 1-3 tỷ đồng.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh (Ảnh: Hoàng Bích).

    Nhiều công trình thực hiện không tuân theo tiêu chuẩn, quy trình rõ ràng, dẫn đến khi làm xong, hiệu quả đầu tư chưa tương xứng, chất lượng chưa bảo đảm như kỳ vọng.

    Tương tự, đối với các chương trình bảo đảm nước sạch, có địa phương quy định xây dựng bể chứa, có nơi hỗ trợ thiết bị chứa nước cho người dân. Tuy nhiên, với những khoản mua sắm nhỏ, địa phương vẫn phải thực hiện quy trình đấu thầu, dẫn tới khó khăn trong việc đưa chính sách đến người dân.

    “Chương trình mục tiêu là để bảo đảm mục tiêu người dân được hưởng lợi”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

    Theo Bộ trưởng, đây là chương trình chính sách có ý nghĩa đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số và các địa bàn còn nhiều khó khăn, vì vậy phương thức thực hiện phải thực sự phù hợp với điều kiện thực tế.

    Từ thực tiễn trên, Bộ trưởng Trần Hồng Minh đề nghị thực hiện mạnh mẽ hơn nữa chủ trương phân cấp, phân quyền.

    Theo đó, Trung ương nên tập trung xây dựng khung chương trình, trên cơ sở đó, địa phương được chủ động lựa chọn những nội dung cần ưu tiên đầu tư, phù hợp với điều kiện và những vấn đề cấp thiết của từng địa bàn.

    Theo Bộ trưởng, với mô hình chính quyền địa phương hiện nay, cần phát huy vai trò của cấp ủy, HĐND và UBND địa phương, trao quyền chủ động nhưng đồng thời gắn với trách nhiệm về kết quả.

    “Phải thực hiện triệt để nội dung phân cấp, phân cấp cho địa phương”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

    Bộ trưởng Trần Hồng Minh cũng đề nghị nghiên cứu cơ chế thực hiện đặc thù đối với một số dự án, tiểu dự án và khoản mua sắm quy mô nhỏ trong các chương trình mục tiêu quốc gia.

    Theo Bộ trưởng, nếu các dự án nhỏ vẫn phải tuân thủ toàn bộ quy trình đầu tư công, đấu thầu như hiện nay thì địa phương sẽ tiếp tục gặp khó khăn, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực.

    Do đó, cần nghiên cứu các phương thức thực hiện linh hoạt, trong đó có thể áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với một số trường hợp mua sắm, dự án nhỏ phù hợp, đồng thời bảo đảm đúng quy định pháp luật, công khai và minh bạch.

    Góp ý kiến, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh (đoàn Tuyên Quang) đánh giá cao việc dự thảo nghị quyết chú trọng phân cấp, phân quyền cho địa phương. 

    Theo đại biểu, phân cấp mạnh sẽ giúp giảm khâu trung gian, rút ngắn thủ tục và nâng cao hiệu quả triển khai. Tuy nhiên, phân cấp phải đi liền với trách nhiệm. 

    Địa phương được quyền chủ động điều chỉnh nguồn lực, cách thức thực hiện nhưng không được làm ảnh hưởng đến đối tượng thụ hưởng cốt lõi hoặc khiến mục tiêu chung không đạt được.

    Ông lấy ví dụ, nếu địa phương điều chỉnh nguồn lực khiến đồng bào dân tộc thiểu số không còn được hưởng đầy đủ chính sách đã được xác định thì địa phương phải chịu trách nhiệm.

    Theo đó, cần thiết lập rõ các nguyên tắc “khóa” để địa phương có không gian chủ động nhưng vẫn bảo đảm mục tiêu, đối tượng và hiệu quả chung của chương trình.

    Hoàng Bích – Hữu Thắng

    Nguồn https://baomoi.com/day-manh-phan-cap-bao-dam-nguoi-dan-duoc-huong-loi-c55865242.epi

  • Hướng tới mục tiêu mọi người đều có chỗ ở ổn định, bảo đảm an sinh xã hội

    Phát triển đa dạng các loại nhà ở

    Tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, sáng 19/8, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến, Quốc hội đã nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh.

    Trình bày Tờ trình tóm tắt định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, việc sửa đổi Luật Nhà ở nhằm tiếp tục thể chế hóa đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, gần nhất là Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương về hoàn thiện môi trường pháp lý về phát triển nhà ở.

    Các quan điểm sửa đổi chủ yếu bao gồm: Thứ nhất, phát triển nhà ở hướng tới mục tiêu mọi người đều có chỗ ở ổn định, bảo đảm an sinh xã hội; phát triển đa dạng các loại nhà ở, trong đó nhà ở cho thuê được xác định là phân khúc chiến lược dài hạn phục vụ đông đảo người dân.

    Thứ hai, luật hóa các nghị quyết liên quan đến nhà ở đã được kiểm chứng trong thực tiễn.

    Thứ ba, thực hiện phân cấp, phân quyền, cắt giảm và đơn giản hóa điều kiện đầu tư kinh doanh, thủ tục hành chính.

    Thứ tư, tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc thực tiễn hướng tới kiến tạo phát triển.

    Thứ năm, luật quy định các vấn đề khung thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

    Về nội dung phân cấp, phân quyền, cắt giảm và đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính: Rà soát và phân quyền, phân cấp triệt để cho chính quyền địa phương, trong đó có 20/21 thủ tục sẽ thuộc thẩm quyền của địa phương. Cắt giảm 3/4 điều kiện kinh doanh và đơn giản hóa các thành phần thủ tục hồ sơ hành chính.

    Về nội dung dự thảo, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho hay, bổ sung định hướng phát triển 4 nhóm nhà ở và chính sách áp dụng tương ứng đối với từng nhóm bao gồm: Nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở công vụ và nhà ở chính sách. 

    Bên cạnh đó, bổ sung chương mới về phát triển nhà ở cho thuê, trong đó quy định về đối tượng được thuê và hình thức phát triển thông qua vốn nhà nước, vốn ngoài nhà nước; yêu cầu đối với dự án và thủ tục đầu tư dự án; chính sách ưu đãi cho chủ đầu tư dự án, giá nhà ở cho thuê và công tác quản lý nhà ở cho thuê. Đồng thời, bổ sung mới quy định mới về nhà lưu trú cho chuyên gia và người lao động ngoài khu công nghiệp để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

    Dự thảo cũng Luật hóa nội dung của Nghị quyết số 201/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết 66.15/2026/NQ-CP của Chính phủ về phát triển nhà ở xã hội; bổ sung hình thức BT trong việc cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư góp phần bổ sung phương thức huy động thêm nguồn lực để thực hiện cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư.

    Bổ sung mô hình thuê đơn vị chuyên nghiệp thực hiện một số nhiệm vụ của Ban quản trị nhà chung cư nhằm nâng cao chất lượng quản lý nhà chung cư.

    Sửa đổi, bổ sung quy định để tháo gỡ khó khăn thực tiễn về sở hữu nhà, phát triển nhà ở xã hội, nhà phục vụ tái định cư, nhà ở riêng lẻ của cá nhân, cải tạo xây dựng lại nhà chung cư, tài chính cho phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà ở, quản lý sử dụng nhà chung cư và các giao dịch nhà ở… nhằm đảm bảo phù hợp, thống nhất với các luật mới được ban hành và phù hợp với thực tiễn.

    Đặc biệt, bỏ quy định về sở hữu nhà ở riêng lẻ tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước ngoài.

    Bảo đảm tháo gỡ các điểm nghẽn

    Trình bày Báo cáo tóm tắt thẩm tra dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu cho biết, nội dung của dự thảo Luật phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013, cơ bản đảm bảo tính thống nhất với hệ thống pháp luật.

    Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu.

    Bên cạnh đó, đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo bám sát, kịp thời cập nhật các nội dung, định hướng sửa đổi tại một số dự án luật có liên quan như: Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) cũng được trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp này để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật.

    Dự thảo Luật dự kiến luật hóa nhiều nội dung thí điểm tại Nghị quyết số 201/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết 66.15/2026/NQ-CP của Chính phủ. Do đó, đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục đánh giá kỹ lưỡng tác động, làm rõ kết quả, hạn chế của việc thí điểm để có cơ sở đánh giá tính hợp lý, hiệu quả, dự kiến nguồn lực thực hiện, đồng thời, sửa đổi quy định tại các luật có liên quan để bảo đảm tính thống nhất của dự thảo Luật với hệ thống pháp luật.

    Ủy ban Pháp luật và Tư pháp nhận thấy trình tự, thủ tục xây dựng hồ sơ, dự án đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; hồ sơ định hướng chính sách đáp ứng yêu cầu theo kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đủ điều kiện để trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến.

    Ông Phan Chí Hiếu cũng nêu, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cơ bản nhất trí với 6 nhóm chính sách đã xác định. Đồng thời, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục: Rà soát, thể chế hóa đầy đủ các chỉ đạo của Đảng về định hướng phân loại phát triển nhà ở theo 4 nhóm, phân định rõ khái niệm về “nhà ở chính sách” và “nhà ở xã hội”; nghiên cứu, làm rõ chính sách “ưu tiên” phát triển loại hình nhà ở cho thuê so với các loại hình nhà ở khác; rà soát, đề xuất chính sách để bảo đảm tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn đã được chỉ ra trong Báo cáo tổng kết thi hành và thực tiễn triển khai Luật Nhà ở năm 2023.

    Về yêu cầu chung về phát triển nhà ở (trong nhóm chính sách 1): Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị tiếp tục nghiên cứu, rà soát các quy định về quy hoạch, chiến lược, chương trình phát triển nhà ở, làm rõ mối quan hệ giữa chiến lược, chương trình phát triển nhà ở với các loại quy hoạch có liên quan để bảo đảm thực hiện yêu cầu rút ngắn các thủ tục về đầu tư, quy hoạch, giao đất, cấp phép xây dựng…, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với quy định của các luật có liên quan.

    Về nhà ở thương mại (trong nhóm chính sách 3): Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị tiếp tục nghiên cứu, bố sung quy định về việc sử dụng các công cụ quản lý về quy hoạch, xác định giá đất, yêu cầu về hạ tầng… để xác định việc phát triển nhà ở thương mại theo từng phân khúc (cao cấp, trung cấp, bình dân) với lợi nhuận hợp lý, phù hợp với nhu cầu của người dân để thể chế hóa yêu cầu tại Kết luận số 224- KL/TW của Bộ Chính trị và Thông báo số 64/TB-VPTW.

    Về chính sách đối với các loại hình nhà ở cho thuê (trong nhóm chính sách 3): Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị tiếp tục nghiên cứu một số nội dung sau: Nghiên cứu, hoàn thiện để xác định rõ các đối tượng được “ưu tiên” thụ hưởng chính sách nhà ở cho thuê; nghiên cứu, rà soát quy định về nguồn vốn của “quỹ nhà ở”; rà soát các quy định về quản lý, sử dụng nhà ở cho thuê (được đầu tư xây dựng bằng vốn của nhà nước) và các quy định về quản lý, sử dụng nhà ở thuộc tài sản công; làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn của việc đề xuất chính sách về “nhà lưu trú cho chuyên gia, người lạo động ngoài khu công nghiệp” và các điều kiện, đối tượng, hình thức hỗ trợ… đối với dự án, chủ đầu tư dự án; nghiên cứu, bổ sung các quy định nhằm “ưu tiên” phát triển loại hình nhà ở cho thuê…

    Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tán thành với sự cần thiết xây dựng Luật Nhà ở (sửa đổi) và nhận thấy 6 nhóm chính sách và nội dung của dự thảo Luật về cơ bản đã thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng; bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế có liền quan; đáp ứng yêu cầu về quốc phòng, an ninh và yêu cầu đẩy mạnh phân quyền, phân cấp, cải cách thủ tục hành chính…

    Quỳnh Nga

    Nguồn https://baomoi.com/huong-toi-muc-tieu-moi-nguoi-deu-co-cho-o-on-dinh-bao-dam-an-sinh-xa-hoi-c55865189.epi

  • Lâm Đồng chính thức khai thác trở lại Cảng hàng không quốc tế Liên Khương

    Nâng khả năng chịu tải, sẵn sàng đón nhiều loại tàu bay

    Chuyến bay đầu tiên hạ cánh, đánh dấu thời khắc sân bay Liên Khương chính thức hoạt động trở lại sau hơn 5 tháng tạm dừng khai thác. Ảnh: PV

    Dự án Sửa chữa đường cất hạ cánh, đường lăn Cảng hàng không quốc tế Liên Khương do Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) làm chủ đầu tư, được khởi công ngày 4/3/2026 tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, với tổng mức đầu tư 1.032 tỷ đồng. Đây là công trình giao thông hàng không cấp I.

    Hạng mục trọng tâm của dự án là nâng cấp toàn diện đường cất hạ cánh 09 – 27, có kích thước 3.250m x 45m, cùng hệ thống đường lăn, dải bảo hiểm và các hạng mục hạ tầng kỹ thuật phụ trợ.

    Khung cảnh sân bay Liên Khương trong ngày đầu khai thác trở lại. Ảnh: PV

    Đáng chú ý, sức chịu tải của đường cất hạ cánh được nâng lên mức 830/R/C/W/T, qua đó chấm dứt tình trạng hạn chế tải trọng trong khai thác, tạo điều kiện để Liên Khương tiếp nhận an toàn các loại tàu bay Code C và Code D như A321, A320, B757, B737, A300, ATR72…

    Sau khi hoạt động trở lại, Cảng hàng không quốc tế Liên Khương tiếp tục duy trì tiêu chuẩn cấp sân bay 4D, khai thác dùng chung dân dụng – quân sự. Đây cũng là nền tảng để địa phương hướng tới mục tiêu quy hoạch sân bay đạt cấp 4E vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

    Kỳ vọng đón hơn 800.000 lượt khách trong 4 tháng cuối năm

    Ngay trong giai đoạn đầu khai thác trở lại, Liên Khương dự kiến duy trì tần suất khoảng 36 – 40 chuyến bay/ngày, phục vụ khoảng 6.800 lượt hành khách/ngày.

    Lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng chụp ảnh lưu niệm cùng những hành khách đầu tiên đến sân bay Liên Khương sau hơn 5 tháng tạm ngừng khai thác. Ảnh: PV

    Với công suất khai thác này, trong 4 tháng cuối năm 2026, sản lượng hành khách qua cảng được dự báo đạt khoảng 816.000 lượt.

    Hiện mạng đường bay nội địa kết nối Đà Lạt với các trung tâm lớn như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Vinh, Hải Phòng và Cần Thơ.

    Ở mạng bay quốc tế, đường bay Đà Lạt – Kuala Lumpur (Malaysia) được khai thác với tần suất 4 chuyến/tuần. Đường bay Đà Lạt – Singapore dự kiến được khôi phục từ tháng 12/2026 với tần suất 3 chuyến/tuần.

    Lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng cùng đại diện các đơn vị thực hiện nghi thức cắt băng khánh thành Cảng hàng không quốc tế Liên Khương. Ảnh: PV

    Việc Liên Khương mở cửa trở lại được kỳ vọng tạo cú hích cho du lịch Lâm Đồng, nhất là khi địa phương chuẩn bị bước vào mùa lễ hội cuối năm với nhiều sự kiện lớn như Festival Hoa Đà Lạt – Lâm Đồng lần thứ XI, Lễ hội Văn hóa Thổ cẩm Việt Nam lần thứ III và Festival Âm nhạc quốc tế Lang Biang 2026.

    Mở lại “mạch kết nối” cho không gian phát triển mới

    Phát biểu tại lễ khánh thành, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Hồ Văn Mười, nhấn mạnh sự trở lại của Liên Khương không chỉ là sự kiện của ngành hàng không mà còn mở lại nhịp kết nối về du lịch, đầu tư, thương mại và giao lưu giữa Lâm Đồng với các địa phương trong nước và quốc tế.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Hồ Văn Mười phát biểu tại lễ khánh thành Cảng hàng không quốc tế Liên Khương. Ảnh: PV

    Theo Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, đây là sự khởi đầu cho một không gian phát triển mới của Lâm Đồng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng hình ảnh “Lâm Đồng mới – xanh hơn, rộng mở hơn và giàu khát vọng phát triển”.

    Lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng khẳng định sẽ tiếp tục đồng hành, tạo điều kiện thuận lợi để các hãng hàng không, doanh nghiệp du lịch và nhà đầu tư khai thác hiệu quả tiềm năng của địa phương, qua đó thúc đẩy du lịch, thương mại và đầu tư phát triển.

    Lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng trao Bằng khen cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong quá trình triển khai dự án. Ảnh: PV

    Dịp này, UBND tỉnh Lâm Đồng trao tặng Bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong quá trình triển khai dự án sửa chữa, nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Liên Khương.

    Lê Cung – Duy Anh

    Nguồn https://baomoi.com/lam-dong-chinh-thuc-khai-thac-tro-lai-cang-hang-khong-quoc-te-lien-khuong-c55865243.epi

  • TPHCM rà soát 3 dự án điện gió gần bờ, tổng công suất 250MW

    Sáng 19-8, Sở Công thương TPHCM làm việc với Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Môi trường, UBND các xã Bình Châu, Xuyên Mộc, Hồ Tràm, Trung Nam Group và đơn vị tư vấn VATEC để rà soát danh mục các khu đất đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư cho 3 dự án điện gió gần bờ trên địa bàn thành phố.

    Buổi làm việc giữa Sở Công thương TPHCM với các đơn vị liên quan. Ảnh: ĐÌNH DƯ

    Cụ thể, Dự án Nhà máy điện gió Công Lý Bà Rịa – Vũng Tàu (giai đoạn 1) đi qua xã Xuyên Mộc và Bình Châu, có diện tích khảo sát khoảng 1.858ha, công suất 103MW, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 768/QĐ-TTg.

    Dự án Nhà máy điện gió Xuyên Mộc (giai đoạn 2) đi qua xã Bình Châu, có diện tích khảo sát khoảng 583ha, công suất 47MW, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 262/QĐ-TTg và Quyết định số 1682/QĐ-TTg.

    Dự án Nhà máy điện gió Xuyên Mộc (giai đoạn 3) đi qua xã Xuyên Mộc và Hồ Tràm, có diện tích khảo sát khoảng 1.474ha, công suất 100MW, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 768/QĐ-TTg.

    Tại buổi làm việc, bà Nguyễn Thị Kim Ngọc, Phó Giám đốc Sở Công thương TPHCM, yêu cầu các đơn vị liên quan và doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ để hoàn thiện hồ sơ.

    “Mục tiêu là sớm hoàn thiện danh mục dự án có sử dụng đất để UBND thành phố trình HĐND thành phố tại kỳ họp tháng 11 tới. Đây là cơ sở pháp lý để triển khai các bước tiếp theo, trong đó có đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư”, bà Nguyễn Thị Kim Ngọc cho biết.

    ĐÌNH DƯ

    Nguồn https://baomoi.com/tphcm-ra-soat-3-du-an-dien-gio-gan-bo-tong-cong-suat-250mw-c55865151.epi

  • Tháo gỡ những vướng mắc cho Chương trình mục tiêu quốc gia

    Đại biểu Cil Bri (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) phát biểu. Ảnh: Viết Tôn

    Khắc phục những vướng mắc kéo dài

    Đại biểu Cil Bri (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) cho rằng, chủ trương này có ý nghĩa khắc phục những vướng mắc kéo dài trong giai đoạn 2021- 2025, đó là tình trạng nguồn lực manh mún, dàn trải, phân tán qua nhiều đầu mối quản lý, có chương trình liên quan từ 8 đến 20 đầu mối; số lượng văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn trung gian quá lớn, giai đoạn trước lên tới gần 250 văn bản.

    Đồng thời, phương thức phân bổ nguồn lực được chuyển từ căn cứ chủ yếu vào nhu cầu đăng ký sang căn cứ vào năng lực và điều kiện sẵn sàng thực hiện, qua đó tăng quyền chủ động cho chính quyền địa phương.

    Để chủ trương này được triển khai hiệu quả, đại biểu Cil Bri đề nghị quan tâm đến quy định rõ tỷ lệ ngân sách tối thiểu dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

    Việc thống nhất 4 chương trình thành một chương trình tổng thể mang lại nhiều lợi ích trong quản lý và điều phối nguồn lực. Tuy nhiên, khi địa phương được phân cấp mạnh hơn, có thể phát sinh tình trạng nguồn lực tập trung vào các công trình hạ tầng nông thôn mới dễ thực hiện, dễ giải ngân tại những địa bàn thuận lợi, làm giảm nguồn lực dành cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS.

    Vì vậy, đại biểu Cil Bri đề nghị bổ sung tại khoản 2 Điều 1 dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định bảo đảm một mức phân bổ ngân sách tối thiểu, dự kiến trong khoảng 35% – 40% tổng nguồn vốn ngân sách trung ương của Chương trình, để trực tiếp thực hiện các nội dung, chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào DTTS và miền núi quy định tại Điều 11. Quy định rõ tỷ lệ này là cần thiết để việc thống nhất các chương trình không làm giảm nguồn lực và mức độ ưu tiên dành cho những địa bàn khó khăn nhất.

    Về cơ cấu nguồn vốn, cơ chế điều phối và phân cấp thực hiện; Khoản 2 Điều 1 dự thảo Nghị quyết của Quốc hội và Điều 5 dự thảo Nghị quyết của Chính phủ định hướng cơ cấu ngân sách gồm 75% vốn đầu tư công và 25% kinh phí thường xuyên; Bộ Tài chính giữ vai trò chủ trì tổng hợp nguồn lực.

    Đại biểu Cil Bri đề nghị Chính phủ làm rõ cơ cấu này là định hướng chung hay được áp dụng thống nhất cho tất cả địa phương. Thực tế, đối với các nội dung về giảm nghèo bền vững và phát triển văn hóa, nhu cầu kinh phí thường xuyên để hỗ trợ sinh kế, đào tạo, tuyên truyền thường cao hơn.

    Cơ cấu 75% vốn đầu tư công và 25% kinh phí thường xuyên phù hợp với yêu cầu phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, trong các lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, y tế cơ sở và bảo tồn văn hóa, nhiều nhiệm vụ phi công trình như đào tạo nghề, bảo tồn văn hóa phi vật thể, trợ giúp pháp lý, duy trì đội ngũ cộng tác viên y tế, dân số và hỗ trợ sinh kế hộ gia đình phụ thuộc vào nguồn kinh phí thường xuyên.

    Do đó, đại biểu Cil Bri đề nghị Chính phủ làm rõ căn cứ khoa học và thực tiễn của cơ cấu 75%-25%; đồng thời, giao HĐND cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế của địa phương được điều chỉnh linh hoạt cơ cấu giữa vốn đầu tư công và kinh phí thường xuyên trong một biên độ phù hợp.

    Khi các nhóm đối tượng nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số được tích hợp vào cùng một chương trình, cũng cần phòng ngừa nguy cơ nguồn lực chủ yếu được phân bổ cho các dự án hạ tầng dễ thực hiện, dễ giải ngân như đường, trường, trạm, trong khi các dự án sinh kế khó triển khai, khó lượng hóa kết quả không được quan tâm đúng mức. Vì vậy, đề nghị dự thảo quy định tỷ lệ tối thiểu bắt buộc dành cho hỗ trợ phát triển sản xuất, sinh kế trực tiếp đối với hộ gia đình, bảo đảm mục tiêu an sinh thực chất.

    Về tiến độ thực hiện, tính đến tháng 7/2026, tỷ lệ giải ngân nguồn vốn năm 2025 được kéo dài sang năm 2026 mới đạt 31% đối với vốn đầu tư công và 19,4% đối với kinh phí thường xuyên. Khi thống nhất thành một chương trình tổng thể, đề nghị làm rõ cơ chế xử lý tình trạng “vốn chờ thủ tục” và chậm ban hành hướng dẫn liên bộ.

    Hiện nay, có nhiều bộ, cơ quan cùng tham gia thực hiện Chương trình. Do đó, cần xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm điều phối chung; phân định cụ thể trách nhiệm của Bộ Tài chính với tư cách cơ quan chủ trì tổng hợp nguồn lực và trách nhiệm của các bộ quản lý chuyên ngành. Nếu xảy ra chậm trễ, phải xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm chính trước Quốc hội.

    Đại biểu Cil Bri đề nghị nghiên cứu quy định trong Nghị quyết của Quốc hội việc thành lập một Ban điều phối chung có đủ thẩm quyền, thay cho việc duy trì các văn phòng điều phối riêng rẽ, nhằm khắc phục tình trạng thẩm quyền phân tán, trách nhiệm chưa rõ ràng. “Tôi đồng tình với chủ trương đẩy mạnh phân cấp theo phương châm ‘địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm’. Tuy nhiên, phân cấp phải gắn với năng lực thực hiện. Tại các tỉnh nghèo, miền núi, năng lực thẩm định và tổ chức triển khai của cấp xã còn hạn chế. Nếu phân cấp trọn gói nhưng không có cẩm nang, quy trình hướng dẫn mẫu và cơ chế bảo vệ cán bộ thì dễ dẫn đến tâm lý sợ sai, không dám làm, tiếp tục gây ách tắc dòng vốn”, đại biểu Cil Bri phát biểu.

    Về phân cấp mạnh hơn trong thực hiện dự án đặc thù và hỗ trợ phát triển sản xuất, Phụ lục III dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định các dự án có quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, có sự tham gia của cộng đồng và tổng mức đầu tư dưới 500 triệu đồng thì giao cộng đồng tự thực hiện. Tuy nhiên, với mặt bằng giá cả và biến động chi phí vật liệu hiện nay, hạn mức 500 triệu đồng còn tương đối thấp, chưa thực sự khuyến khích tính tự chủ của cộng đồng và cơ sở.

    “Tôi đề nghị nâng hạn mức đối với dự án đặc thù giao cộng đồng tự thực hiện tại các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS từ dưới 500 triệu đồng lên dưới 1 tỷ đồng”, đại biểu Cil Bri phát biểu.

    Đối với Phụ lục IV về hỗ trợ phát triển sản xuất, đề nghị bổ sung quy định áp dụng hình thức thanh toán khoán theo sản phẩm đầu ra đối với các mô hình sinh kế quy mô hộ gia đình; giảm tối đa yêu cầu về chứng từ chi tiết cấu thành, tránh gây khó khăn, phiền hà cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Về bổ sung chính sách và kinh phí cho công tác tôn giáo gắn với công tác dân tộc, tại các tỉnh Tây Nguyên nói chung và tỉnh Lâm Đồng nói riêng, công tác dân tộc và công tác tôn giáo có mối quan hệ chặt chẽ. Chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo là người DTTS có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn an ninh, trật tự và vận động Nhân dân phát triển kinh tế.

    Vì vậy, đại biểu Cil Bri đề nghị bổ sung cụm từ “chức sắc, chức việc, nhà tu hành của các tôn giáo” vào nhóm đối tượng được thụ hưởng chính sách hỗ trợ, bồi dưỡng kiến thức, tuyên truyền pháp luật, biểu dương và khen thưởng tại khoản 6 Điều 11 dự thảo Nghị quyết của Chính phủ.

    Về xem xét lại tiêu chí phân bổ vốn hằng năm căn cứ vào tỷ lệ giải ngân, Phần B Phụ lục I dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định giảm nguồn vốn năm sau đối với địa phương có tỷ lệ giải ngân năm trước thấp. Việc áp dụng tiêu chí này có thể dẫn đến tình trạng địa phương né tránh các dự án khó, nhất là các dự án tại vùng đồng bào DTTS và miền núi, thường gặp vướng mắc về đất rừng, địa hình, thời tiết khắc nghiệt và thủ tục đất đai; từ đó lựa chọn các dự án dễ thực hiện tại khu vực đô thị, đồng bằng để bảo đảm tỷ lệ giải ngân.

    Do đó, đại biểu Cil Bri đề nghị bổ sung quy định miễn trừ hoặc không cắt giảm trần vốn trung hạn đối với các dự án triển khai tại xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS và miền núi nếu tiến độ giải ngân chậm do nguyên nhân khách quan như thiên tai, điều kiện địa hình hoặc vướng mắc về thủ tục đất đai.

    Khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực

    Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) cơ bản thống nhất với chủ trương hợp nhất các Chương trình mục tiêu quốc gia, qua đó hướng tới khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, chồng chéo về nhiệm vụ và đầu mối tổ chức thực hiện; đồng thời tăng cường phân cấp, phân quyền và chuyển mạnh từ quản lý theo đầu vào sang quản trị theo kết quả.

    Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) phát biểu ý kiến tại phiên họp.

    Tuy nhiên, qua nghiên cứu dự thảo Nghị quyết và đối chiếu với kết quả thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025, đại biểu Nguyễn Văn Huy cho rằng, Chương trình không chỉ cần xác định tổng kinh phí đầu tư là bao nhiêu mà phải làm rõ nguồn lực nào thực sự chắc chắn, khả năng hấp thụ đến đâu và kết quả tạo ra là như thế nào.

    Cơ bản thống nhất với việc dự thảo xác định tổng nguồn lực dự kiến thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 – 2030 là 808.558 tỷ đồng. Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Văn Huy đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ hơn tính khả thi của con số này, nhất là cơ cấu và mức độ chắc chắn của từng nguồn lực. Theo đó, khi xác định nguồn lực cho giai đoạn 2026 – 2030, Chính phủ không chỉ thuyết minh tổng số vốn mà cần làm rõ nguồn nào đã có cơ sở chắc chắn; nguồn nào phụ thuộc vào khả năng cân đối ngân sách hằng năm; nguồn nào là nguồn huy động từ xã hội; khả năng huy động và khả năng hấp thụ của từng nhóm nguồn đến đâu; đồng thời đánh giá sự phù hợp giữa quy mô nguồn lực với từng nhóm mục tiêu, nhiệm vụ.

    Đặc biệt, trong tổng nguồn lực dự kiến giai đoạn 2026 – 2030, ngân sách địa phương là 395.392 tỷ đồng, cao hơn cả ngân sách trung ương 345.000 tỷ đồng. Trong khi đó, khả năng cân đối ngân sách giữa các địa phương là rất khác nhau. Vì vậy, cần làm rõ cơ chế bảo đảm để việc huy động nguồn lực địa phương và các nguồn lực hợp pháp khác không trở thành yếu tố làm gia tăng chênh lệch về khả năng thực hiện và mức độ thụ hưởng giữa các địa phương.

    Đại biểu Nguyễn Văn Huy đề nghị quán triệt một nguyên tắc nguồn lực phải được tính toán trên cơ sở khả năng huy động thực tế, khả năng hấp thụ và kết quả đầu ra; không nên chỉ dừng ở việc xác định một con số nguồn lực rất lớn trên giấy tờ. Đồng thời, đối với các mục tiêu rất cao mà dự thảo đặt ra đến năm 2030 và 2035, cần rà soát để bảo đảm có đủ nguồn lực và điều kiện thực hiện.

    Nếu trong quá trình thực hiện xuất hiện chênh lệch lớn giữa nguồn lực dự kiến và nguồn lực thực tế, Nghị quyết cũng cần có cơ chế chủ động điều chỉnh thứ tự ưu tiên, mục tiêu hoặc phạm vi hỗ trợ, tránh tình trạng địa phương phải thực hiện quá nhiều mục tiêu nhưng nguồn lực lại bị dàn trải và hiệu quả không cao.

    Về phân cấp, phân quyền, đại biểu Nguyễn Văn Huy đánh giá cao việc dự thảo chuyển mạnh theo hướng phân cấp, phân quyền, trao quyền chủ động cho địa phương trong lựa chọn danh mục, thứ tự ưu tiên, phân bổ và điều chỉnh nguồn lực. Đây là hướng đi cần thiết để khắc phục cơ chế quản lý nhiều tầng nấc và giúp chính sách phù hợp hơn với đặc điểm của từng địa bàn.

    Đại biểu Nguyễn Văn Huy cho rằng, việc phân cấp càng mạnh thì yêu cầu về nguyên tắc thống nhất và trách nhiệm giải trình càng phải rõ. Dự thảo đã đặt ra giới hạn đối với địa phương, như không được thay đổi những điều kiện thụ hưởng cốt lõi, giảm mức ưu tiên tối thiểu, loại bỏ chính sách bắt buộc hoặc điều chuyển nguồn lực làm ảnh hưởng đến mục tiêu tối thiểu do Quốc hội quyết định. 

    Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, các khái niệm như “điều kiện thụ hưởng cốt lõi”, “mức ưu tiên tối thiểu”, “mục tiêu tối thiểu” nếu không được lượng hóa, xác định rõ thì có thể dẫn tới cách hiểu và vận dụng khác nhau giữa các địa phương. Khi đó, cùng một chính sách do Quốc hội quyết định nhưng mức độ tiếp cận và thụ hưởng của người dân có thể rất khác nhau, tùy thuộc vào khả năng ngân sách và quyết định phân bổ của từng địa phương.

    Do đó, đại biểu đề nghị Nghị quyết cần xác định rõ hơn: những mục tiêu nào là bắt buộc trên phạm vi cả nước; nhóm đối tượng nào phải được ưu tiên thống nhất; mức hỗ trợ tối thiểu nào phải được bảo đảm; nội dung nào địa phương được tự quyết và giới hạn của quyền tự quyết đó đến đâu.

    Đồng thời, đã phân cấp thì phải gắn phân cấp với trách nhiệm giải trình. Địa phương phải được quyền quyết định cách làm phù hợp với điều kiện thực tế, nhưng phải chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng; không thể vừa được trao quyền rộng, vừa thiếu cơ chế đo lường kết quả và quy trách nhiệm khi mục tiêu không đạt. 

    “Vì vậy, tôi đề nghị dự thảo cần quy định rõ nguyên tắc: Địa phương được chủ động về cách làm, nhưng không được làm thay đổi những mục tiêu, đối tượng. Phân cấp về tổ chức thực hiện không đồng nghĩa với phân tán chuẩn chính sách”, đại biểu Nguyễn Văn Huy phát biểu.

    V.T/Báo Tin tức và Dân tộc

    Nguồn https://baomoi.com/thao-go-nhung-vuong-mac-cho-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-c55865337.epi

  • Chủ tịch TPHCM ‘thúc’ tiến độ loạt dự án hạ tầng giao thông ở cửa ngõ phía Tây

    Sáng 19/8, Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được cùng đoàn công tác đã khảo sát, kiểm tra thực tế dự án xây dựng đường trục Đông – Tây (đường Võ Văn Kiệt nối dài) và dự án nâng cấp, mở rộng quốc lộ 1 (đường Lê Khả Phiêu), đoạn từ đường Kinh Dương Vương đến ranh tỉnh Tây Ninh.

    “Cái nào xong trước, đủ điều kiện thì làm trước”

    Sau đó, tại trụ sở UBND xã Tân Nhựt, Chủ tịch UBND TPHCM nghe báo cáo tiến độ một số dự án trọng điểm khác như Bờ Nam kênh Đôi, mở rộng quốc lộ 13, nút giao Tân Vạn…

    Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được (trái) và Phó Chủ tịch UBND TPHCM Hoàng Nguyên Dinh làm việc tại trụ sở UBND xã Tân Nhựt. Ảnh: Nguyễn Tiến

    Sau khi nghe báo cáo, ông Nguyễn Văn Được yêu cầu các sở, ban ngành và địa phương tập trung xử lý những điểm nghẽn đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ, nhất là giải phóng mặt bằng, tái định cư và thủ tục đầu tư.

    Đối với dự án nâng cấp, mở rộng quốc lộ 1, Chủ tịch UBND TPHCM yêu cầu các địa phương tiếp tục đẩy nhanh công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và di dời hạ tầng kỹ thuật.

    Theo báo cáo tại buổi làm việc, phần lớn mặt bằng trên địa bàn TPHCM đã được xử lý, song vẫn còn một số vị trí cần tiếp tục hoàn tất. Đây là những phần việc cần được tập trung giải quyết để nhà thầu có thể tổ chức thi công liên tục.

    Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được kiểm tra dự án mở rộng quốc lộ 1. Ảnh: Nguyễn Tiến

    Ông Được yêu cầu các địa phương rà soát cụ thể từng trường hợp, không để một vài vị trí còn vướng làm ảnh hưởng đến cả dự án. “Cái nào xong trước, đủ điều kiện thì làm trước”, ông Được yêu cầu.

    Theo Chủ tịch UBND TPHCM, các dự án, hạng mục đã đủ điều kiện về hồ sơ, mặt bằng và thủ tục cần được chủ động triển khai, không nhất thiết phải chờ toàn bộ các phần việc khác hoàn tất.

    Đối với dự án đường Võ Văn Kiệt nối dài, Sở Xây dựng đã trình hồ sơ lên Hội đồng thẩm định, trong đó Sở Tài chính là cơ quan thường trực. Hiện Sở Tài chính đang thực hiện thẩm định, dự kiến hoàn tất và trình UBND TPHCM phê duyệt trong tháng 8/2026.

    Dự án đường Võ Văn Kiệt nối dài hiện còn đang dang dở. Ảnh: Nguyễn Tiến

    Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được cho biết hồ sơ dự án đã được các đơn vị chuẩn bị đầy đủ, đồng thời yêu cầu Sở Tài chính khẩn trương tham mưu UBND TPHCM để trình HĐND TPHCM trong tháng 8. Ông yêu cầu phấn đấu khởi công dự án đường Võ Văn Kiệt nối dài trong quý 4/2026.

    Đối với dự án mở rộng quốc lộ 13, ông Được yêu cầu rà soát, hoàn thiện hồ sơ, thiết kế và các thủ tục liên quan để sớm trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định.

    Ông giao Sở Xây dựng, Sở Tài chính phối hợp xử lý các phần việc thuộc trách nhiệm của mình, hạn chế tình trạng hồ sơ phải chờ đợi qua nhiều khâu. “Những việc có thể trao đổi, phối hợp thì phải chủ động làm ngay”, ông Được nói.

    Chủ tịch UBND TPHCM cũng yêu cầu các dự án đang triển khai hoặc chuẩn bị triển khai phải được tổ chức thực hiện theo kế hoạch trong năm. Những hạng mục có điều kiện hoàn thành trước cần được ưu tiên thực hiện trước, thay vì chờ đồng loạt.

    Tái định cư phải đi trước một bước

    Cùng với mặt bằng, ông Được đặc biệt lưu ý công tác tái định cư. Theo ông, nếu chưa chuẩn bị chỗ ở cho người dân thì rất khó đẩy nhanh giải phóng mặt bằng.

    Chủ tịch UBND TPHCM giao Sở Xây dựng rà soát toàn bộ quỹ nhà tái định cư hiện có, tận dụng tối đa những căn hộ đã hoàn thành để bố trí cho người dân bị ảnh hưởng bởi các dự án.

    Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được “thúc” tiến độ bàn giao mặt bằng cho các dự án trọng điểm. Ảnh: Nguyễn Tiến

    Đối với các khu tái định cư đang triển khai, ông yêu cầu đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành trong khoảng hai năm. Các thủ tục phải được thực hiện song song, phần việc nào có thể làm trước thì phải triển khai trước. “Phải làm sao tái định cư tới đâu thì giải phóng mặt bằng tới đó”, ông Được nhấn mạnh.

    Liên quan dự án ven kênh rạch, ông Được yêu cầu nghiên cứu lại phương án giải phóng mặt bằng theo hướng giảm tối đa số hộ dân bị ảnh hưởng nhưng vẫn bảo đảm mục tiêu chỉnh trang, tạo không gian công cộng ven kênh.

    Chủ tịch UBND TPHCM kiểm tra thực tế các dự án trọng điểm ở cửa ngõ phía tây TPHCM. Ảnh: Nguyễn Tiến

    Theo ông, thay vì áp dụng một ranh giải phóng mặt bằng cứng cho toàn bộ khu vực, cần nghiên cứu điều chỉnh phù hợp với thực tế, ưu tiên phương án hạn chế ảnh hưởng đến nhà dân và giảm chi phí bồi thường.

    Một điểm đáng chú ý là ông Được yêu cầu gắn việc chỉnh trang kênh rạch với phát triển không gian xanh. Theo đó, phần đất ven kênh sau khi chỉnh trang cần được nghiên cứu tổ chức thành công viên, không gian sinh hoạt cộng đồng phục vụ người dân.

    Ông Được yêu cầu nội dung này phải được tính toán ngay trong quá trình rà soát quy hoạch, thiết kế dự án, thay vì đến khi triển khai mới điều chỉnh. Bên cạnh đó, các cơ quan chuyên môn phải thông tin rõ cho người dân về phạm vi thu hồi đất, phương án chỉnh trang và những lợi ích sau khi dự án hoàn thành.

    Hữu Huy – Nguyễn Tiến

    Nguồn https://baomoi.com/chu-tich-tphcm-thuc-tien-do-loat-du-an-ha-tang-giao-thong-o-cua-ngo-phia-tay-c55865063.epi

  • Nỗi lo tại các khu đất dịch vụ ở Hà Nội: Có đất nhưng thiếu đủ thứ, người dân khó an cư

    Có đất nhưng chưa thể an cư

    Đất dịch vụ được bố trí nhằm bảo đảm quyền lợi, tạo điều kiện để người dân có thêm nguồn lực ổn định đời sống khi bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ các dự án phát triển kinh tế – xã hội. Về nguyên tắc, đây không chỉ là những ô đất được phân chia trên bản đồ mà cần đi kèm hệ thống hạ tầng thiết yếu để người dân có thể xây dựng nhà ở, kinh doanh và sinh hoạt.

    Thế nhưng, thực tế nhiều khu đất dịch vụ tại một số xã, phường ở Hà Nội cho thấy khoảng cách giữa việc có đất và có một nơi ở ổn định vẫn còn khá lớn. Nhiều khu đã được phân lô, xác định vị trí nhưng hạ tầng kỹ thuật chưa hoàn thiện đồng bộ; có nơi đường giao thông nội bộ chưa được đầu tư hoàn chỉnh; hệ thống thoát nước còn thiếu; điện chiếu sáng chưa đáp ứng yêu cầu. Đáng chú ý, nước sạch – nhu cầu thiết yếu nhất đối với đời sống dân cư vẫn là bài toán chưa được giải quyết dứt điểm tại một số khu vực.

    Hạ tầng giao thông tại khu đất dịch vụ thôn Yên Vĩnh, xã Hoài Đức sau cơn mưa. Ảnh: NDCC

    Như tại xã Hoài Đức, người dân phản ánh tình trạng đường sá tại khu đất dịch vụ thôn Yên Vĩnh hiện nay chưa được hoàn thiện nên xuống cấp và rất khó khăn cho giao thông và sinh hoạt, trời mưa thì ngập lụt, trời nắng thì bụi bẩn, các cơ sở phá dỡ thì chở vật liệu rác thải, trạc gạch đổ trái phép khắp nơi và ngay cả trên đường đi. Hệ thống điện, nước cũng không đảm bảo.

    Anh N.V.T, người dân ở khu đất dịch vụ thôn Yên Vĩnh (xã Hoài Đức) chia sẻ: “Người dân đã nộp tiền làm đường nhưng tới bây giờ hơn 10 năm đường vẫn chưa làm xong. Chúng tôi rất mong chính quyền sẽ giải quyết dứt điểm vấn đề nước, điện, rồi đường giao thông cho người dân sớm ổn định cuộc sống”.

    Tương tự, tạikhu đất dịch vụ X3 Yên Lũng (xã An Khánh), người dân phản ánh đã được Nhà nước giao đất cho các hộ dân từ tháng 4-2020, tuy nhiên đến nay các cơ sở hạ tầng tối thiểu vẫn chưa được hoàn thiện; đường chưa trải nhựa, chưa có vỉa hè và chưa lắp hệ thống nước sạch.

    Khu đất dịch vụ X3 Yên Lũng, xã An Khánh. Ảnh: NDCC

    Về việc này, Ban Quản lý dự án Đầu tư – Hạ tầng xã An Khánh thừa nhận các hạng mục hạ tầng kỹ thuật tại khu đất dịch chưa được đầu tư đồng bộ; đơn vị đã tổng hợp và báo cáo UBND xã sớm triển khai các hạng mục tiếp theo của dự án.

    Khi hạ tầng chưa hoàn chỉnh, người dân có tâm lý e ngại xây dựng nhà ở. Những khu đất vốn được kỳ vọng trở thành các khu dân cư mới vì thế có thể rơi vào tình trạng xây dựng lác đác, xen kẽ đất trống, thiếu sức sống. Người đã có đất nhưng chưa thể sử dụng hiệu quả, trong khi khu vực xung quanh chưa hình thành đầy đủ các điều kiện phục vụ đời sống.

    Đây là nghịch lý cần được nhìn nhận rõ – trao đất dịch vụ mới chỉ là bước đầu; để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, phải bảo đảm người dân có thể sử dụng đất và sinh sống thuận lợi trên chính khu đất đó.

    Thiếu nước sạch, thiếu hạ tầng thiết yếu

    Trong các bất cập tại khu đất dịch vụ, câu chuyện nước sạch đặc biệt đáng quan tâm. Khi dân cư bắt đầu chuyển đến sinh sống, nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt tăng lên nhanh chóng. Nếu chưa có hệ thống cấp nước sạch tập trung, người dân phải tìm giải pháp tạm thời, vừa bất tiện vừa phát sinh thêm chi phí.

    Đối với một khu dân cư mới, nước sạch không thể được xem là hạng mục có thể hoàn thiện sau cùng. Cùng với điện, đường giao thông và hệ thống thoát nước, đây là điều kiện tối thiểu để bảo đảm chất lượng cuộc sống và sức khỏe cộng đồng.

    Cảnh nhếch nhác tại Khu đất dịch vụ X2 Song Phương (xã Sơn Đồng)

    Như Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội đã phản ánh, thời gian qua, tại Khu đất dịch vụ X2 Song Phương (xã Sơn Đồng) đã có rất nhiều hộ dân tiến hành xây dựng nhà cửa và sinh sống ổn định nhiều năm. Tuy nhiên, hạ tầng cấp nước sạch vẫn chưa được triển khai và đấu nối đến khu vực của người dân.

    Do đó, người dân đề nghị chính quyền xã Sơn Đồng và các cấp có thẩm quyền sớm có phương án thi công, đấu nối mạng lưới nước sạch cho Khu đất dịch vụ X2 Song Phương để đảm bảo quyền lợi và sức khỏe cho người dân.

    Ông Đinh Quốc Thái, Trưởng phòng Kinh tế xã Sơn Đồng cho biết, hiện nay chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể việc triển khai đầu tư hệ thống cấp nước sạch bằng nguồn vốn đầu tư công.

    UBND xã Sơn Đồng đã có các văn bản gửi UBND thành phố, Sở Xây dựng Hà Nội để được hướng dẫn triển khai đầu tư hệ thống cấp nước tại các khu đất dịch vụ. Bên cạnh đó, UBND xã cũng đã làm việc với Công ty CP nước sạch Tây Hà Nội và đề nghị đơn vị khảo sát, nghiên cứu đề xuất các hình thức đầu tư xã hội hóa… làm cơ sở tuyên truyền vận động nhân dân và báo cáo UBND thành phố xem xét chỉ đạo.

    Cũng trong tình cảnh tương tự, tại khu đất đấu giá, dịch vụ Đắc Sở (xã Dương Hòa), người dân phản ánh họ đã sinh sống ổn định tại khu vực này được hơn 3 năm nhưng chưa có đường ống cấp nước sạch, các hộ dân trong khu vực phải sử dụng nguồn nước tự khai thác hoặc các nguồn nước khác, chất lượng chưa được kiểm định, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe và chưa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hằng ngày.

    Đại diện Phòng Kinh tế xã Dương Hòa xác nhận đối với khu đất đấu giá, dịch vụ Đắc Sở hiện trạng chưa được đầu tư xây dựng hệ thống đường ống cung cấp nước sạch; đơn vị sẽ tiếp tục tham mưu UBND xã phối hợp với Công ty nước sạch Tây Hà Nội để giải quyết theo quy định.

    Không để đất dịch vụ trở thành những khu dân cư “nửa vời”

    Không chỉ thiếu nước sạch, tại một số khu đất dịch vụ, việc thiếu đồng bộ về hạ tầng còn kéo theo nhiều hệ lụy. Hệ thống thoát nước chưa hoàn chỉnh có thể khiến việc tiêu thoát nước gặp khó khăn khi mưa lớn. Đường nội khu chưa được hoàn thiện ảnh hưởng đến việc đi lại, vận chuyển và tiếp cận của các phương tiện cứu hộ, cứu nạn. Hệ thống chiếu sáng thiếu cũng làm giảm mức độ an toàn vào ban đêm.

    Để giải quyết căn cơ vấn đề, các chuyên gia quy hoạch cho rằng, trước hết cần rà soát tổng thể từng khu đất dịch vụ, xác định rõ hạng mục nào đã hoàn thành, hạng mục nào còn thiếu, trách nhiệm thuộc đơn vị nào và thời hạn hoàn thành ra sao. Không nên chỉ nhìn vào việc đã giao đất hay chưa, mà cần đánh giá đầy đủ khả năng đưa đất vào sử dụng thực tế.

    Trong đó, ưu tiên trước hết phải là những hạng mục hạ tầng thiết yếu, nhất là cấp nước sạch, giao thông, thoát nước và điện chiếu sáng. Với những khu vực đã có người dân sinh sống hoặc chuẩn bị xây dựng nhà ở, cần có phương án kết nối hạ tầng phù hợp, tránh để người dân tự xoay xở bằng những giải pháp tạm thời.

    Cùng với đầu tư hạ tầng, chính quyền các cấp cần tăng cường phối hợp với các đơn vị chuyên ngành để tháo gỡ những vướng mắc liên quan đến đấu nối, nguồn vốn, giải phóng mặt bằng hoặc thủ tục đầu tư. Những khó khăn kéo dài nhiều năm cần được phân loại, xác định rõ nguyên nhân để có lộ trình xử lý cụ thể, thay vì để tình trạng “chờ hạ tầng” tiếp tục kéo dài.

    Về lâu dài, việc phát triển các khu đất dịch vụ cần được đặt trong tổng thể quy hoạch đô thị. Khi người dân được bố trí đất, điều họ cần không chỉ là một vị trí trên giấy mà là một môi trường sống có hạ tầng đầy đủ, an toàn và thuận tiện.

    Có thể thấy, đất dịch vụ chỉ thực sự phát huy ý nghĩa khi người dân có thể sử dụng đất để ổn định cuộc sống trong một môi trường có hạ tầng đồng bộ. Vì vậy, việc hoàn thiện đường giao thông, hệ thống thoát nước, điện chiếu sáng, đặc biệt là cấp nước sạch, không nên được xem là phần việc bổ sung mà phải là điều kiện căn bản để các khu đất dịch vụ đi vào cuộc sống.

    Với những khu vực còn dang dở, cần sớm rà soát, xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm và lộ trình hoàn thành từng hạng mục. Không để tình trạng người dân đã được giao đất nhưng vẫn phải chờ đợi những điều kiện tối thiểu để có thể an cư. Khi hạ tầng được hoàn thiện, giá trị của đất dịch vụ mới được bảo đảm, chính sách hỗ trợ người dân mới thực sự trọn vẹn và những khu đất trên bản đồ mới có thể trở thành những khu dân cư sống động, văn minh.

    Hậu Lộc

    Nguồn https://baomoi.com/noi-lo-tai-cac-khu-dat-dich-vu-o-ha-noi-co-dat-nhung-thieu-du-thu-nguoi-dan-kho-an-cu-c55865126.epi

  • Đông Giang bàn giao nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo

    Lãnh đạo xã Đông Giang và Đoàn Thanh niên xã trao hỗ trợ kinh phí xây dựng nhà Đại đoàn kết cho gia đình ông A Lăng Rấu. Ảnh: NGỌC VY

    Gia đình ông A Lăng Rấu thuộc diện hộ nghèo của xã, cuộc sống nhiều năm qua gặp nhiều khó khăn. Ngôi nhà cũ đã xuống cấp nghiêm trọng song điều kiện kinh tế eo hẹp khiến gia đình chưa có khả năng sửa chữa, xây mới.

    Từ sự kết nối của Thành đoàn Đà Nẵng, Đoàn Thanh niên xã Đông Giang đã vận động Ngân hàng BIDV – Chi nhánh Thanh Xuân hỗ trợ 60 triệu đồng giúp gia đình ông A Lăng Rấu xây nhà; còn lại gia đình huy động, người thân và hàng xóm đóng góp thêm 40 triệu đồng

    Sau gần 2 tháng thi công, ngôi nhà cấp 4 lợp tôn, lát gạch có diện tích sử dụng 36m2 của hộ ông A Lăng Rấu hoàn thành, giúp gia đình có nơi ở ổn định, an tâm lao động, sản xuất.

    NGỌC VY

    Nguồn https://baomoi.com/dong-giang-ban-giao-nha-dai-doan-ket-cho-ho-ngheo-c55865118.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!