Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thi “Điểm đến du lịch nông thôn Việt Nam tốt nhất” năm 2026 trên phạm vi toàn quốc, dưới sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia và Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam là các đơn vị thực hiện.
Suối nước nóng Bò Ấm nằm ở bản Phụ Mẫu, xã Chiềng Yên, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La (Ảnh: Báo Xây dựng).
Trao đổi với Báo Xây dựng, đại diện ban tổ chức cho biết mục tiêu của cuộc thi là biểu dương, tôn vinh các mô hình du lịch nông thôn gắn với bản sắc văn hóa, sản phẩm du lịch hấp dẫn, phát triển theo hướng xanh, bền vững; đồng thời khơi dậy tiềm năng về nông nghiệp, văn hóa truyền thống, tri thức bản địa, nghề thủ công và tài nguyên sinh thái.
Qua đó, du lịch nông thôn được định hướng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân; thúc đẩy các địa phương, cộng đồng nâng chất lượng sản phẩm, dịch vụ, kỹ năng làm du lịch và năng lực quản trị điểm đến.
Theo kế hoạch tổ chức cuộc thi, đối tượng tham gia là “Điểm đến du lịch nông thôn” được UBND cấp tỉnh lựa chọn và đề cử bằng văn bản. Điểm đến phải nằm trên địa bàn một đơn vị hành chính cấp xã, có tài nguyên du lịch mang đặc trưng nông thôn, được tổ chức quản lý, có sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan, có khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ phục vụ khách du lịch theo hướng phát triển bền vững.
Các điểm đến được Ban Giám khảo đánh giá dựa trên hồ sơ, tài liệu minh chứng và thẩm định thực tế tại địa phương; đồng thời được cộng đồng bình chọn qua ứng dụng và một số nền tảng mạng xã hội. Các nhóm chỉ tiêu tập trung vào sản phẩm du lịch đặc sắc, giá trị cộng đồng, phát triển bền vững và quản lý rủi ro, xúc tiến du lịch và chuyển đổi số.
Hội thi có hai hạng mục: 5 điểm đến được Ban Giám khảo đánh giá theo Thể lệ sẽ được công nhận “Điểm đến du lịch nông thôn Việt Nam tốt nhất”; 3 điểm đến được cộng đồng bình chọn nhiều nhất được công nhận “Điểm đến du lịch nông thôn Việt Nam được cộng đồng bình chọn”. Hồ sơ tham gia gửi về Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 10/10/2026.
Lễ trao giải dự kiến diễn ra từ ngày 3-6/12 tại Lễ khai mạc Festival OCOP Việt Nam năm 2026 ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Hạ tầng mở đường kết nối nông thôn
Để các vùng sản xuất, làng nghề, thôn bản và điểm có tài nguyên văn hóa, sinh thái tiếp cận thuận lợi hơn với thị trường và du khách, kết nối giao thông là một điều kiện hạ tầng quan trọng.
Giai đoạn 2021 – 2025, tỉnh Lào Cai đã kiên cố hóa trên 3.843km đường giao thông nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, nâng cao đời sống người dân vùng cao, vùng sâu, vùng xa.
Theo tài liệu Hội nghị tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn I (2021-2025), đến tháng 8/2025, Chương trình đã hỗ trợ đầu tư 6.018 công trình giao thông nông thôn phục vụ sản xuất, kinh doanh và dân sinh; 8.673km đường giao thông được nhựa hóa, bê tông hóa hoặc cứng hóa. Cùng với giao thông, 442 công trình cung cấp điện, 1.787 nhà sinh hoạt cộng đồng, 629 công trình trường, lớp học đạt chuẩn và 986 công trình thủy lợi nhỏ được đầu tư, cải tạo hoặc xây mới.
Ở địa phương, quy mô đầu tư cho giao thông nông thôn cũng cho thấy những thay đổi cụ thể. Theo Bộ Xây dựng, giai đoạn 2021-2025, Lào Cai huy động, lồng ghép khoảng 4.598 tỷ đồng đầu tư hệ thống giao thông nông thôn; qua đó kiên cố hóa 3.850km đường và mở mới nền đường gần 500km.
Yêu cầu kết nối tiếp tục được đặt ra trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 ban hành kèm Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg. Theo đó, hệ thống đường giao thông nông thôn trên địa bàn xã phải bảo đảm kết nối và được bảo trì hằng năm; tỷ lệ đường xã đạt chuẩn theo quy hoạch đạt 100%. Với xã nhóm 2, tỷ lệ đường thôn, ngõ, xóm được cứng hóa phải đạt từ 90% trở lên.
Những con số về đường giao thông, điện, trường học, thủy lợi cho thấy diện mạo hạ tầng nông thôn đang tiếp tục được hoàn thiện. Khi đường từ thôn, bản và vùng sản xuất kết nối thuận lợi hơn với mạng lưới giao thông bên ngoài, điều kiện vận chuyển hàng hóa, tiếp cận dịch vụ và tổ chức các hoạt động du lịch tại khu vực nông thôn cũng được mở rộng.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, hệ thống hạ tầng thương mại đã có những bước phát triển vượt bậc. Các trung tâm thương mại (TTTM), siêu thị quy mô lớn và các chợ truyền thống được nâng cấp xuất hiện ngày càng nhiều. Đây không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động giao thương, mua bán hàng hóa mà còn là điểm tập trung đông người, phục vụ nhu cầu sinh hoạt, giải trí, mua sắm hàng ngày của người dân.
Tuy nhiên, đặc thù của loại hình chợ, TTTM, siêu thị là nơi tập trung khối lượng khổng lồ các loại hàng hóa, vật liệu dễ cháy (quần áo, đồ nhựa, chất lỏng cháy, thiết bị điện tử, bao bì, bìa carton…). Lượng hàng hóa, vật liệu dễ cháy lớn kết hợp với lưu lượng người ra vào đông đúc, hệ thống thiết bị điện hoạt động liên tục với công suất cao làm gia tăng nguy cơ xảy ra sự cố cháy, nổ. Thực tiễn các vụ cháy xảy ra tại các chợ, TTTM, siêu thị trong thời gian qua cho thấy, đám cháy thường bùng phát nhanh, tỏa ra nhiều khói, khí độc và nhiệt lượng lớn, gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng về người, tài sản và ảnh hưởng lớn đến an sinh xã hội, trật tự an toàn tại địa phương.
Để bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy và hạn chế thiệt hại do cháy, nổ, QCVN 10:2025/BCA – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trang bị phương tiện PCCC và CNCH cho nhà và công trình quy định cụ thể các yêu cầu về trang bị, thiết kế, lắp đặt phương tiện, hệ thống PCCC đối với nhà, công trình sử dụng làm chợ, TTTM, siêu thị. Quy chuẩn đã đưa ra các tiêu chí rõ ràng về quy mô diện tích, số tầng, phân loại chợ (hạng 1, hạng 2, hạng 3) và các đặc điểm kết cấu để lựa chọn giải pháp kỹ thuật tối ưu.
Mặc dù vậy, trong thực tế, không ít chủ đầu tư, ban quản lý chợ, đơn vị tư vấn thiết kế và doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn khi xác định công trình thuộc diện bắt buộc trang bị hệ thống PCCC nào, áp dụng theo quy mô ra sao, nhất là với các công trình có nhiều hạng mục, công năng hỗn hợp. Căn cứ QCVN 10:2025/BCA và các tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan, các nội dung về xác định quy mô, lựa chọn, trang bị phương tiện PCCC cho chợ, TTTM, siêu thị được làm rõ, kèm bảng tra cứu nhanh và một số khuyến nghị để tổ chức, cá nhân thuận lợi trong quá trình áp dụng.
Lực lượng chức năng kiểm tra công tác PCCC tại siêu thị Co.opmart Hà Tĩnh.
1. Xác định đúng quy mô công trình – Bước đầu tiên để lựa chọn phương tiện phòng cháy, chữa cháy phù hợp
Việc trang bị phương tiện, hệ thống PCCC cho công trình chợ, TTTM, siêu thị không thể áp dụng một công thức chung cho tất cả mà phải dựa trên cơ sở phân tích quy mô, công năng và tính chất nguy hiểm cháy, nổ cụ thể của từng công trình. Trước khi xác định công trình phải trang bị những phương tiện hoặc hệ thống PCCC nào, cần thực hiện đầy đủ các bước sau:
Thứ nhất,xác định đúng mục đích sử dụng và công năng của công trình. Đối tượng áp dụng bao gồm chợ (được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch), TTTM, siêu thị hoặc nhà dân dụng khác có bố trí khu vực, gian phòng có công năng tương tự. Đối với công trình có nhiều hạng mục nhà độc lập mà mỗi nhà có mục đích sử dụng và công năng khác nhau thì căn cứ trên mục đích sử dụng và công năng của từng nhà để trang bị, bố trí hệ thống PCCC phù hợp với hạng mục đó.
Thứ hai, xác định quy mô công trình. Các thông số cần xem xét bao gồm số tầng, tổng diện tích sàn, diện tích từng gian phòng và khối tích công trình. Đây là những tiêu chí quan trọng để xác định công trình có thuộc diện phải trang bị hệ thống báo cháy tự động, hệ thống chữa cháy tự động, họng nước chữa cháy trong nhà hoặc các phương tiện khác theo quy định hay không.
Thứ ba, kiểm tra các khu vực và gian phòng đặc thù. Trong nhiều trường hợp, mặc dù toàn bộ công trình chưa thuộc diện phải trang bị một số hệ thống PCCC, nhưng nếu trong công trình có các khu vực hoặc gian phòng có tính chất nguy hiểm cháy cao, hoặc có quy mô thuộc đối tượng quy định tại QCVN 10:2025/BCA thì vẫn phải xem xét trang bị hệ thống PCCC tương ứng cho chính khu vực đó. Ví dụ như kho 50 m2, kho lạnh 300 m2, phòng máy chủ 24 m2, phòng biến áp… trang bị phương tiện, hệ thống PCCC theo Bảng A.3 Phụ lục A QCVN 10:2025/BCA. Đây là nguyên tắc quan trọng nhằm bảo đảm mọi khu vực có nguy cơ cháy cao đều được bảo vệ phù hợp.
Việc xác định đúng quy mô công trình không chỉ giúp chủ đầu tư lựa chọn đầy đủ các phương tiện, hệ thống PCCC cần trang bị mà còn tránh tình trạng đầu tư không cần thiết hoặc phải điều chỉnh thiết kế trong quá trình triển khai. Trên cơ sở các tiêu chí này, chủ đầu tư, đơn vị tư vấn thiết kế và cơ quan quản lý có thể xác định chính xác công trình thuộc trường hợp nào để áp dụng các quy định về bình chữa cháy, phương tiện chiếu sáng sự cố, biển báo thoát nạn, hệ thống báo cháy tự động, hệ thống họng nước chữa cháy trong nhà và hệ thống chữa cháy tự động theo đúng quy định của QCVN 10:2025/BCA.
2. Nguyên tắc lựa chọn phương tiện và hệ thống PCCC phải trang bị cho nhà, công trình sử dụng với mục đích chợ, TTTM, siêu thị
Sau khi xác định được quy mô và đặc điểm của công trình, việc lựa chọn phương tiện và hệ thống PCCC cần tuân thủ nguyên tắc bảo đảm phù hợp với mức độ nguy hiểm cháy của công trình. Chợ, TTTM, siêu thị là nơi có mật độ chất cháy rất lớn và tập trung đông người, hệ thống PCCC phải được lựa chọn để phát hiện cháy ngay từ giai đoạn ban đầu, tổ chức hướng dẫn thoát nạn nhanh chóng và khống chế đám cháy hiệu quả trước khi cháy lan diện rộng.
Đối với nhà, công trình sử dụng với mục đích chợ, TTTM, siêu thị, các phương tiện PCCC được trang bị theo nhiều cấp độ khác nhau. Những phương tiện cơ bản như bình chữa cháy, phương tiện chiếu sáng sự cố, biển báo an toàn là yêu cầu chung đối với hầu hết các công trình. Trong khi đó, các hệ thống chữa cháy tự động, họng nước chữa cháy trong nhà, cấp nước chữa cháy ngoài nhà hay dụng cụ phá dỡ thô sơ được quy định cụ thể theo phân cấp chợ (hạng 1, hạng 2) hoặc theo diện tích, chiều cao công trình.
Một nguyên tắc quan trọng khác là việc xác định yêu cầu trang bị không chỉ áp dụng ở phạm vi toàn bộ công trình mà còn phải xem xét đối với từng hạng mục, từng khu vực hoặc từng gian phòng có tính chất sử dụng riêng biệt. Bất kỳ gian phòng nào thuộc diện bắt buộc tại Bảng A.3 QCVN 10:2025/BCA đều phải được trang bị hệ thống tương ứng.
Trên cơ sở các nguyên tắc nêu trên, chủ đầu tư và đơn vị tư vấn thiết kế có thể xác định đầy đủ các phương tiện và hệ thống cần trang bị đối với từng công trình cụ thể.
3. Một số nội dung hướng dẫn trang bị các phương tiện, hệ thống PCCC đối với nhà, công trình sử dụng với mục đích chợ, TTTM, siêu thị
Bảng tổng hợp yêu cầu trang bị phương tiện, hệ thống PCCC
– Bình chữa cháy: Bình chữa cháy là phương tiện chữa cháy ban đầu có vai trò quan trọng trong việc xử lý các đám cháy mới phát sinh. Mọi nhà và công trình sử dụng với mục đích chợ, trung tâm thương mại, siêu thị không phụ thuộc vào quy mô đều phải trang bị, bố trí bình chữa cháy xách tay. Bình chữa cháy phải được bố trí tại vị trí dễ quan sát, dễ tiếp cận và thuận tiện cho việc sử dụng khi có sự cố xảy ra. Việc lựa chọn chủng loại, số lượng bình và khoảng cách bố trí cần tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành.
– Phương tiện chiếu sáng sự cố và chỉ dẫn thoát nạn: Trong điều kiện xảy ra cháy, nguồn điện của công trình có thể bị cắt hoặc bị hư hỏng, làm giảm khả năng quan sát và gây khó khăn cho việc thoát nạn. Vì vậy, các công trình sử dụng với mục đích chợ, TTTM, siêu thị đều phải được bố trí hệ thống chiếu sáng sự cố, biển chỉ dẫn lối ra và chỉ hướng thoát nạn nhằm giúp người trong công trình nhanh chóng nhận biết lối thoát an toàn; đối với các tầng có diện tích lớn hơn 1.000 m² hoặc có từ hai lối thoát nạn trở lên, cần bố trí thêm sơ đồ chỉ dẫn thoát nạn để người sử dụng xác định nhanh vị trí hiện tại và lựa chọn lối thoát phù hợp khi xảy ra sự cố.
– Hệ thống loa thông báo và hướng dẫn thoát nạn:Khi xảy ra sự cố cháy, đặc biệt tại các khu vực tập trung đông người như chợ, TTTM hay siêu thị, hệ thống loa thông báo và hướng dẫn thoát nạn đóng vai trò quan trọng trong việc thông báo, điều hướng mọi người sơ tán. Đối với công trình sử dụng với mục đích chợ, TTTM, siêu thị cao trên 10 tầng hoặc có từ 2 tầng hầm trở lên đều phải trang bị hệ thống loa thông báo và hướng dẫn thoát nạn.
– Hệ thống báo cháy tự động: Đối với các công trình có quy mô lớn, mật độ chất cháy rất lớn và tập trung đông người, việc phát hiện cháy ngay từ giai đoạn đầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hệ thống báo cháy tự động giúp phát hiện các dấu hiệu cháy ngay khi mới xuất hiện, truyền tín hiệu cảnh báo để mọi người kịp thời thoát nạn và tạo điều kiện cho lực lượng chữa cháy triển khai các biện pháp xử lý trước khi đám cháy phát triển lớn. Tất cả các công trình sử dụng với mục đích chợ (được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch), trung tâm thương mại, siêu thị đều được bố trí hệ thống báo cháy tự động.
– Hệ thống họng nước chữa cháy trong nhà: Theo QCVN 10:2025/BCA, chợ hạng 1, chợ hạng 2, TTTM, siêu thị (ngoại trừ các nhà trưng bày bán xe ô tô, xe máy) phải được trang bị hệ thống họng nước chữa cháy trong nhà. Đây là phương tiện chữa cháy cố định, giúp triển khai chữa cháy kịp thời ngay từ giai đoạn đầu, góp phần khống chế đám cháy và hạn chế cháy lan.
– Hệ thống chữa cháy tự động: Cùng với hệ thống báo cháy tự động, hệ thống chữa cháy tự động có vai trò khống chế hoặc dập tắt đám cháy ngay từ khi mới phát sinh, hạn chế cháy lan và giảm thiểu thiệt hại. Việc xác định yêu cầu trang bị hệ thống chữa cháy tự động được thực hiện theo nguyên tắc tương tự hệ thống báo cháy tự động, căn cứ trên quy mô công trình, số tầng, tổng diện tích sàn. Ngoài việc xem xét toàn bộ công trình, cần tiếp tục đánh giá từng hạng mục, từng khu vực và từng gian phòng để xác định chính xác phạm vi phải bảo vệ bằng hệ thống chữa cháy tự động.
Đối với khu vực trưng bày xoong nồi, thiết bị, hàng hóa, vật liệu không cháy; khu vực lưu trữ và chế biến để bán thịt, cá, trái cây và rau quả (trong bao bì không cháy) đáp ứng đầy đủ các điều kiện an toàn PCCC, chủ đầu tư được phép không trang bị hệ thống chữa cháy tự động. Việc này vừa bảo đảm an toàn PCCC, vừa tránh đầu tư không cần thiết đối với các công trình có mức độ nguy hiểm cháy thấp.
– Hệ thống chữa cháy ngoài nhà: Đối với chợ hạng 1, chợ hạng 2, TTTM phải được trang bị hệ thống họng nước chữa cháy ngoài nhà theo quy định của QCVN 10:2025/BCA. Hệ thống chữa cháy ngoài nhà bảo đảm nguồn cung cấp nước liên tục và dồi dào, bao gồm trụ nước chữa cháy ngoài nhà hoặc bến lấy nước, hố thu nước từ các nguồn nước tự nhiên hoặc nhân tạo như ao, hồ, sông và bể nước.
4. Một số khuyến nghị khi áp dụng quy định
Thứ nhất, chủ đầu tư, đơn vị tư vấn thiết kế cần thực hiện đầy đủ 3 bước xác định quy mô công trình trước khi lựa chọn giải pháp trang bị phương tiện, hệ thống PCCC; tránh chỉ căn cứ vào diện tích hoặc số tầng của công trình để xác định yêu cầu trang bị.
Thứ hai, đối với công trình có nhiều hạng mục nhà độc lập hoặc có nhiều khu vực với các công năng khác nhau (như siêu thị kết hợp rạp chiếu phim, khu vui chơi, khu ẩm thực, tầng hầm để xe), việc xác định yêu cầu trang bị phải được thực hiện riêng cho từng hạng mục theo đúng mục đích sử dụng. Điều này giúp bảo đảm giải pháp PCCC phù hợp với mức độ nguy hiểm cháy của từng khu vực trong công trình.
Thứ ba, khi xác định yêu cầu trang bị hệ thống báo cháy và chữa cháy tự động, cần tuân thủ đầy đủ nguyên tắc quy định tại Điều 1.5.9 và Điều 1.5.10 của QCVN 10:2025/BCA, bảo đảm xem xét đồng thời toàn bộ công trình, từng khu vực, từng gian phòng và các thiết bị có liên quan. Việc áp dụng đúng nguyên tắc này sẽ bảo đảm xác định đầy đủ các đối tượng phải được bảo vệ bằng hệ thống báo cháy tự động và hệ thống chữa cháy tự động theo quy định.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quách Tất Liêm kiểm tra thực địa Dự án cải tạo, mở rộng Quốc lộ 2 đoạn qua xã Hội Thịnh.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Xây dựng và UBND tỉnh, chủ đầu tư, các địa phương và đơn vị liên quan đang tập trung giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, di chuyển hạ tầng kỹ thuật điện, nước, tạo điều kiện để các nhà thầu tổ chức thi công đồng bộ, bảo đảm tiến độ dự án.
Theo báo cáo, đến ngày 19/8, xã Hội Thịnh đã di chuyển 330/833,37 m đường ống cấp nước, phấn đấu hoàn thành việc bàn giao phần mặt bằng còn lại trong tháng 8/2026. Xã Tề Lỗ đã hoàn thành di chuyển 135/135 m đường ống cấp nước. Xã Vĩnh An đã bàn giao mặt bằng 4/37 vị trí móng cột điện; đang hoàn thiện phương án bồi thường 106,8 m2 đất ở cho hộ dân. Xã Vĩnh Hưng đã di chuyển 900/3.300 m đường ống cấp nước, bàn giao mặt bằng 18/80 vị trí móng cột điện. Xã Vĩnh Thành đang tập trung đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng, di chuyển đường ống cấp nước; đồng thời hoàn thiện phương án di chuyển, hạ ngầm hệ thống điện để báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quách Tất Liêm kiểm tra tại hiện trường Dự án cải tạo, mở rộng Quốc lộ 2 đoạn qua xã Vĩnh Hưng.
Qua kiểm tra thực tế tại các vị trí thi công, đồng chí Quách Tất Liêm yêu cầu các sở, ngành, chủ đầu tư, đơn vị thi công và các địa phương tăng cường phối hợp, rà soát cụ thể từng vị trí, từng phần việc; tập trung giải quyết dứt điểm những khó khăn, vướng mắc liên quan đến giải phóng mặt bằng và di chuyển hạ tầng kỹ thuật.
Đồng chí yêu cầu các địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận của người dân; chủ động hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng, bảo đảm bàn giao theo tiến độ. Việc di chuyển các công trình hạ tầng kỹ thuật cần được triển khai đồng bộ, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến quá trình thi công.
Chủ đầu tư tăng cường phối hợp với đơn vị liên quan hỗ trợ các hộ dân tháo dỡ, di chuyển tài sản tại các vị trí thực hiện giải phóng mặt bằng. Các nhà thầu chủ động xây dựng phương án thi công linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế, thời tiết; tranh thủ mặt bằng được giải phóng đến đâu tổ chức thi công đến đó, bảo đảm thi công liên tục, không để phát sinh thời gian chờ đợi.
Nhấn mạnh đây là dự án giao thông trọng điểm, có ý nghĩa quan trọng trong hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của tỉnh, đồng chí Quách Tất Liêm yêu cầu các đơn vị liên quan xác định rõ trách nhiệm, tiến độ hoàn thành đối với từng nhiệm vụ; những khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền phải kịp thời báo cáo UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo giải quyết.
Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các đơn vị tập trung cao độ, phối hợp chặt chẽ, xử lý công việc theo tinh thần rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, không để những vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, di chuyển hạ tầng kỹ thuật làm ảnh hưởng đến tiến độ chung; phấn đấu hoàn thành Dự án cải tạo, mở rộng Quốc lộ 2, đoạn Vĩnh Yên – Việt Trì trước ngày 31/12/2026.
Một góc cánh rừng được cấp chứng chỉ FCS ở xã Nghĩa Tá.
Kết quả này giúp tỉnh vượt 91,6% so với kế hoạch được giao từ đầu năm. Tính đến thời điểm hiện tại, tổng diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC trên địa bàn toàn tỉnh đạt trên 45.190ha.
Thời gian tới, các Hạt Kiểm lâm tiếp tục phối hợp chặt chẽ để quản lý tốt diện tích rừng đã được cấp chứng chỉ. Công tác kiểm tra, giám sát các chủ rừng trong việc thực hiện phương án quản lý rừng bền vững đã cam kết cũng sẽ được tăng cường.
Đồng thời, ngành Kiểm lâm tích cực rà soát, đánh giá để tiếp tục mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ mới. Qua đó, góp phần nâng cao giá trị kinh tế lâm nghiệp và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững cho địa phương.
Kế hoạch trên nhằm triển khai kịp thời, đồng bộ và có hiệu quả Nghị quyết số 44/NQ-HĐND của HĐND Thành phố. Đồng thời, Thành phố xây dựng và giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành Thành phố và UBND các xã, phường (nơi còn vướng mắc về đất dịch vụ, đất ở) để giải quyết vướng mắc về thực hiện hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng hình thức giao đất dịch vụ, đất ở.
Xã Quang Minh (Hà Nội) tổ chức bốc thăm giao đất dịch vụ cho các hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện được giao đất tại thôn Đồng (Ảnh: PV).
Theo đó, UBND các xã, phường: Thanh Liệt, Định Công, Hoài Đức, Dương Hòa, Sơn Đồng, An Khánh, Bình Minh, Tam Hưng, Dân Hòa, Quốc Oai, Hưng Đạo, Kiều Phú, Hà Đông, Dương Nội, Yên Nghĩa, Phú Lương và Kiến Hưng (thuộc địa bàn 5 quận, huyện trước sắp xếp: Hà Đông, Thanh Oai, Quốc Oai, Hoài Đức, Thanh Trì) được áp dụng các văn bản của UBND cấp tỉnh hoặc cấp huyện trước đây, được ban hành trước ngày 1/10/2009 để làm căn cứ giải quyết các vướng mắc trên địa bàn các xã, phường.
Việc tổ chức thực hiện bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, công bằng giữa các hộ có đất nông nghiệp bị thu hồi; bảo đảm ổn định an ninh, trật tự xã hội, không làm phát sinh các điểm nóng, tiềm ẩn nguy cơ phức tạp kéo dài; không mở rộng chính sách, không để lợi dụng chính sách, không làm phát sinh nội dung phức tạp mới và không phát sinh khiếu nại, tố cáo liên quan.
Về nghĩa vụ tài chính, tính thu tiền sử dụng đất được triển khai thực hiện căn cứ quy định, chính sách từng thời kỳ đảm bảo phù hợp tình hình thực tiễn trên địa bàn, quyết định, đề án, phương án đã được cơ quan nhà nước phê duyệt, chấp thuận. Giá thu tiền sử dụng đất khi giao đất không thấp hơn giá đất cùng mục đích tương ứng tại Bảng giá đất do UBND cấp tỉnh quy định nhân (x) hệ số điều chỉnh giá đất K=1,3 và được xác định tại thời điểm quyết định thu hồi đất thực hiện Dự án đất dịch vụ/đất ở mà hộ dân được giao.
Đối với các trường hợp (thuộc dự án Khu đô thị mới Tây Nam Kim Giang I trên địa bàn huyện Thanh Trì trước đây và dự án Cụm công nghiệp Phùng Xá trên địa bàn huyện Quốc Oai trước đây) đã nhận hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm bằng tiền đến nay được giao đất theo Nghị quyết số 44/NQ-HĐND thì ngoài việc hoàn trả lại ngân sách số tiền đã nhận hỗ trợ, người sử dụng đất phải nộp thêm một khoản tiền bổ sung được tính bằng mức thu bổ sung 3,6%/năm tính trên số tiền đã nhận hỗ trợ; thời gian để tính khoản tiền bổ sung được tính từ thời điểm người sử dụng đất nhận tiền hỗ trợ đến thời điểm được giao đất và theo cách tính được quy định tại điểm b khoản 18 Điều 1 Nghị định số 291/2025/NĐ-CP ngày 6 tháng 11 năm 2025 của Chính phủ.
Về trình tự thực hiện, UBND cấp xã thành lập Tổ rà soát thực hiện (thành phần gồm: Chủ tịch UBND cấp xã là Tổ trưởng; đại diện các cơ quan thuộc Đảng ủy cấp xã, HĐND cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các thành phần khác do Chủ tịch UBND cấp xã quyết định)
Trên cơ sở kết quả rà soát, UBND cấp xã xác định cụ thể danh mục các văn bản, chính sách của UBND cấp tỉnh, cấp huyện trước đây được ban hành trước ngày 1/10/2009 được tiếp tục áp dụng trên địa bàn, thể hiện trong Đề án tổng thể và chịu trách nhiệm về căn cứ pháp lý áp dụng.
UBND cấp xã xây dựng Đề án tổng thể giải quyết việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng hình thức giao đất dịch vụ, đất ở trên địa bàn (bao gồm các nội dung chính: Phạm vi; đối tượng; văn bản pháp lý; tiêu chuẩn đất dịch vụ, đất ở được giao; quỹ đất dịch vụ, đất ở…) và công khai Đề án.
Sau khi kết thúc thời hạn công khai, trường hợp có thắc mắc, kiến nghị của hộ gia đình, cá nhân, UBND cấp xã giải quyết kiến nghị trong thời hạn không quá ba ngày làm việc và báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp trên các nội dung vượt thẩm quyền (nếu có).
Sau khi Đề án tổng thể được thông qua, UBND cấp xã phê duyệt Đề án và ban hành Kế hoạch chi tiết, cụ thể để tổ chức thực hiện và hoàn thiện hồ sơ, trình Chủ tịch UBND cấp xã quyết định việc giao đất dịch vụ, đất ở theo thẩm quyền.
Việc xác định vị trí thửa đất giao cho từng hộ gia đình, cá nhân được thực hiện thông qua hình thức bốc thăm công khai, có sự tham gia, chứng kiến của đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các hộ gia đình, cá nhân có liên quan; kết quả bốc thăm được lập thành biên bản và niêm yết công khai tại trụ sở UBND cấp xã.
Trường hợp quỹ đất dịch vụ, đất ở đã được xác định tại các văn bản của cấp có thẩm quyền nhưng không thuộc địa bàn xã, phường nơi thu hồi đất nông nghiệp, UBND cấp xã nơi có đất nông nghiệp bị thu hồi phối hợp cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan cho UBND cấp xã nơi có quỹ đất dịch vụ, đất ở để thực hiện việc giao đất dịch vụ, đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân theo thẩm quyền.
Sau khi người được giao đất hoàn thành nghĩa vụ tài chính, UBND cấp xã tổ chức bàn giao đất tại thực địa; hướng dẫn, giải quyết ngay thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; niêm yết công khai kết quả giải quyết tại trụ sở UBND cấp xã và trên Cổng thông tin điện tử của xã, phường.
Thành phố cũng đặt mục tiêu hoàn thành việc rà soát, phê duyệt Đề án tổng thể trước ngày 30/11/2026; phấn đấu hoàn thành việc thực hiện hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng hình thức giao đất dịch vụ, đất ở trong năm 2027.
ĐBQH Chamaléa Thị Thủy cơ bản tán thành Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Hội đồng Dân tộc. Đại biểu cho rằng, việc tích hợp 4 Chương trình mục tiêu quốc gia thành một chương trình tổng thể là bước đi cần thiết, phù hợp với thực tiễn và giải quyết những bất cập được cử tri, nhất là cử tri vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phản ánh nhiều năm qua về tình trạng chồng chéo, phân tán nguồn lực.
ĐBQH Chamaléa Thị Thủy (Khánh Hòa) phát biểu tại Hội trường. Ảnh: Lâm Hiển
Xác định địa bàn ưu tiên đến cấp xã
Góp ý về nguyên tắc phân bổ ngân sách trung ương tại khoản 6 Điều 1, đại biểu nhận thấy dự thảo đã thiết kế ba lớp nguyên tắc bổ trợ cho nhau. Trong đó, điểm a xác định ngân sách nhà nước tập trung ưu tiên phân bổ ở mức cao nhất cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo; điểm d quy định tiêu chí phân bổ phải gắn với mức độ thiếu hụt dịch vụ cơ bản của từng địa bàn.
Tuy nhiên, điểm c lại quy định ngân sách trung ương ưu tiên các địa phương nhận bổ sung cân đối từ 70% tổng chi cân đối ngân sách địa phương trở lên; các địa phương tự cân đối ngân sách có trách nhiệm bố trí nguồn lực thực hiện Chương trình. Theo đại biểu, ngưỡng 70% được xác định trên cơ sở cân đối ngân sách cấp tỉnh, trong khi đối tượng ưu tiên tại điểm a là xã, thôn.
ĐBQH Chamaléa Thị Thủy cho rằng, giữa các quy định này vẫn còn khoảng trống chưa thực sự đồng bộ. Trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, nếu khái niệm “địa bàn” tại điểm d được hiểu là cấp tỉnh thì các xã khó khăn nằm trong tỉnh có khả năng tự cân đối ngân sách tốt có thể bị “hòa lẫn” vào bức tranh chung, không được thụ hưởng đúng mức ưu tiên đã xác định.
Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung tại điểm d khoản 6 Điều 1 nội dung: “Mức độ thiếu hụt dịch vụ cơ bản của từng địa bàn, trong đó địa bàn được xác định đến cấp xã, phường, đặc khu”.
Theo đại biểu, việc làm rõ nội dung này không làm phát sinh nguyên tắc mới mà cụ thể hóa định hướng đã được xác định tại điểm a, tạo căn cứ pháp lý để Chính phủ quy định chi tiết. Đây cũng là cơ sở để theo dõi, báo cáo riêng kết quả thực hiện chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phục vụ hoạt động giám sát.
Đối với địa bàn biên giới, hải đảo và đặc khu, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo xác định đây là những khu vực được ưu tiên xuyên suốt. Tuy nhiên, nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe tại điểm d khoản 7 Điều 1 mới tập trung vào đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và đào tạo bác sĩ chuyên khoa, chưa thể hiện rõ đặc thù của mô hình quân dân y kết hợp tại các xã, đặc khu.
Đây là những địa bàn có dân cư sinh sống xen kẽ với lực lượng vũ trang, điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế khác biệt so với các xã, phường trên đất liền. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung nội dung ưu tiên mô hình quân – dân y kết hợp, tạo căn cứ pháp lý riêng khi Chính phủ quy định chi tiết, tránh phải vận dụng những quy định chung dành cho địa bàn đất liền.
Phát huy vai trò của chính quyền cơ sở và cộng đồng
Quan tâm đến việc bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số tại chỗ, ĐBQH Chamaléa Thị Thủy đề nghị Chính phủ khi ban hành danh mục chi tiết cần bố trí nguồn lực phù hợp cho cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của từng vùng, miền. Việc đầu tư không nên chỉ tập trung vào các di tích quy mô lớn, dễ nhận diện mà cần quan tâm đến những di sản có quy mô nhỏ, phân tán nhưng gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng.
Về phân cấp, dự thảo quy định HĐND cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp cho HĐND cấp xã quyết định phân bổ chi tiết nguồn lực. Đại biểu đề nghị quy định rõ hơn trách nhiệm của cấp xã đối với những nội dung mang tính đặc thù cộng đồng cao, như lập danh sách nghệ nhân và người thực hành di sản văn hóa phi vật thể.
Theo đại biểu, sự tham gia đề xuất của cấp xã cần được xác định là trách nhiệm bắt buộc, không nên chỉ dừng ở quy định tùy nghi “có thể phân cấp”. Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, chính quyền xã là cấp gần dân, nắm rõ nhất những người đang gìn giữ và thực hành di sản tại cộng đồng. Quy định này cũng phù hợp với yêu cầu phát huy vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng.
Đề cập mức đối ứng của ngân sách địa phương tại Phụ lục I, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo phân chia thành 5 bậc, tương ứng với khả năng cân đối ngân sách của từng nhóm tỉnh. Cách thiết kế này sát thực tiễn hơn so với phương án chỉ quy định hai mức như trước đây.
Tuy nhiên, các mức đối ứng vẫn được xác định theo khả năng cân đối ngân sách của cấp tỉnh. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, một số tỉnh có khả năng tự cân đối ngân sách khá tốt nhưng vẫn còn nhiều xã khó khăn, nguồn thu tại chỗ hạn chế. Nếu áp dụng một mức đối ứng thống nhất cho toàn tỉnh, chính quyền cấp xã có thể gặp khó khăn khi trực tiếp triển khai các dự án.
Từ thực tế đó, ĐBQH Chamaléa Thị Thủy đề nghị, bổ sung quy định cho phép HĐND cấp tỉnh chủ động, linh hoạt phân bổ tỷ lệ đối ứng khác nhau giữa các xã trong nội bộ tỉnh. Qua đó, mức đối ứng sẽ phù hợp hơn với điều kiện thực tế của từng địa bàn, đồng thời bảo đảm nguồn lực của Chương trình được tập trung đúng đối tượng, không để các xã khó khăn bị giảm mức ưu tiên chỉ vì nằm trong một tỉnh có khả năng tự cân đối ngân sách.
Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU và chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND TP Hà Nội về tập trung khắc phục các điểm nghẽn úng ngập, công tác thoát nước của thành phố đã chuyển mạnh từ cách xử lý tình huống tại từng điểm sang triển khai đồng bộ các giải pháp theo lưu vực. Trong thời gian ngắn, nhiều công trình khẩn cấp, dự án chống úng ngập cục bộ đã được hoàn thành hoặc cơ bản hoàn thành, kịp thời đưa vào vận hành trong mùa mưa năm 2026.
Từ đầu năm 2026 đến nay, Thành phố tập trung hoàn thành 10 dự án đầu tư xây dựng công trình khẩn cấp, gồm 5 dự án về hệ thống thoát nước và 5 dự án hồ điều hòa. Các hạng mục đã đủ điều kiện được tiếp nhận, tạm bàn giao và đưa vào quản lý, khai thác ngay nhằm bảo đảm công trình sớm phát huy hiệu quả.
Dự án cải tạo 5 hồ điều hòa tăng khả năng chống ngập úng trên địa bàn TP Hà Nội.
Các công trình tập trung vào những khu vực thường xuyên xảy ra úng ngập, với nhiều nhóm giải pháp như cải tạo, nâng công suất các trạm bơm hiện có; bổ sung trạm bơm dã chiến; xây dựng các tuyến cống, rãnh thoát nước; cải tạo hệ thống thoát nước tại các khu đô thị; bổ sung trạm bơm hồ, bể điều tiết và các tuyến ống thoát nước tại lưu vực Tô Lịch, Tả Nhuệ.
Trao đổi với phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc, ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Trung tâm Quản lý hạ tầng kỹ thuật TP Hà Nội cho biết, qua các dự án, hệ thống thoát nước được bổ sung tổng công suất bơm khoảng 33,08 m3/s. Trong đó, 4 trạm bơm được bổ sung tại khu vực Đại lộ Thăng Long; 19 hồ điều hòa được bổ sung hệ thống bơm, khai thác thêm khoảng 1,4 triệu m3 dung tích tham gia điều tiết.
Thành phố cũng hoàn thành lắp đặt bổ sung hơn 10,5 km cống thoát nước và 2 bể điều tiết ngầm tại chợ Hàng Da, gầm chui đường sắt Bắc Đuống với tổng dung tích khoảng 4.300m3.
Song song với các công trình trên, 7 dự án do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật và nông nghiệp Thành phố làm chủ đầu tư cũng cơ bản hoàn thành các hạng mục chính phục vụ tiêu thoát nước và được đưa vào khai thác. Các dự án như cải tạo tuyến hạ lưu Kim Ngưu kết nối sông Tô Lịch với Trạm bơm Yên Sở; cải tạo tuyến kênh Thụy Phương; xây dựng hồ điều hòa Thụy Phương, Phú Đô, Yên Nghĩa 1 và 2, Đồng Bông 2 đã bổ sung khoảng 83 ha hồ điều hòa, tăng thêm khoảng 3,4 triệu m3 dung tích điều tiết cho hệ thống thoát nước.
“Hiệu quả của những công trình này được thể hiện rõ hơn qua thực tế các trận mưa đầu mùa. Đặc biệt, trận mưa ngày 28/7 ghi nhận lượng mưa tại Phú Thượng lên tới 195,1 mm, Hai Bà Trưng 150,8 mm, Gia Lâm 137 mm, Phúc Lợi 113,6 mm, Bồ Đề 102,9 mm và Ba Đình 102,2 mm. Trong điều kiện mưa lớn như vậy, qua theo dõi tại các khu vực được đầu tư, 34/71 điểm trong danh mục đã cơ bản được kiểm soát”, ông Nguyễn Đức Hưng chia sẻ.
Theo ông Nguyễn Đức Hưng, những kết quả này cho thấy việc đưa các công trình vào vận hành đúng thời điểm đã tạo chuyển biến rõ rệt tại nhiều điểm thường xuyên úng ngập. Không chỉ tăng khả năng tiêu thoát, các công trình còn giúp hệ thống chủ động hơn trong việc lưu giữ, điều tiết và phân bổ dòng nước trong thời điểm mưa lớn.
Bể ngầm góp phần chống ngập cục bộ
Tại những khu vực có cao độ nền thấp, Hà Nội đã triển khai đồng thời nhiều giải pháp nhằm tăng khả năng lưu giữ, điều tiết và tiêu thoát nước. Dự án chống úng ngập cục bộ đã hoàn thành trục thoát nước Quang Trung – Quán Sứ, cải tạo, nạo vét hồ Ba Mẫu và lắp đặt các trạm bơm tại hồ Bảy Mẫu, Linh Quang, Văn Chương, Trung Tự.
Cùng với đó, các bể điều tiết ngầm được xây dựng tại nhiều vị trí trong khu vực nội đô. Bể tại phố Nguyễn Khuyến, trong khuôn viên Trường THCS Lý Thường Kiệt có dung tích 2.000 m3; bể tại khu vực ngã năm Bát Đàn – Đường Thành – Nhà Hỏa, trước chợ Hàng Da có dung tích 2.500 m3; bể tại đường Thiên Đức, khu vực gầm chui đường sắt Bắc Đuống có dung tích 1.800 m3.
Hồ điều hòa đưa vào vận hành giúp giảm điểm ngập úng trên địa bàn TP Hà Nội trong mùa mưa năm 2026.
Theo đánh giá của Sở Xây dựng Hà Nội, việc đưa các công trình này vào vận hành đồng bộ đã bước đầu góp phần cơ bản khắc phục tình trạng úng ngập tại những khu vực trên.
Một điểm đáng chú ý trong quá trình vận hành các công trình chống ngập năm nay là việc TP Hà Nội đã chủ động chỉ đạo Công ty Thoát nước hạ mực nước tại các sông, mương và hồ điều hòa trước mưa, tạo dung tích trữ nước. Các hồ điều hòa, trạm bơm, cửa phai, sông, mương và tuyến cống được vận hành liên thông, linh hoạt theo từng lưu vực.
Đại diện Sở Xây dựng Hà Nội cho rằng, cách vận hành này giúp phát huy tốt hơn hiệu quả của từng công trình thay vì để các hạng mục hoạt động riêng lẻ. Sau mỗi trận mưa, kết quả vận hành được theo dõi, đánh giá để điều chỉnh phương án và xử lý những điểm nghẽn còn tồn tại.
Trước mỗi trận mưa lớn, công tác ứng trực cũng được Công ty Thoát nước Hà Nội tổ chức đến từng địa bàn, từng điểm có nguy cơ úng ngập, theo phương châm “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ địa bàn, rõ thời gian và rõ chế độ thông tin, báo cáo. Lực lượng, phương tiện, thiết bị được bố trí sẵn sàng, các đầu mối liên lạc và đường dây nóng duy trì 24/24 giờ để kịp thời xử lý tình huống phát sinh.
Từ những kết quả bước đầu có thể thấy, các công trình chống ngập khẩn cấp đã góp phần nâng cao năng lực tiêu thoát nước, tăng dung tích điều hòa và khả năng kết nối, vận hành liên thông theo lưu vực. Quan trọng hơn, nhiều điểm ngập từng gây ảnh hưởng kéo dài đến giao thông, đời sống người dân đã được kiểm soát hoặc giảm đáng kể thời gian ngập.
Lãnh đạo UBND phường Đông Kinh phát biểu tại chương trình
Lãnh đạo UBND phường Đông Kinh và đơn vị tài trợ trao biểu trưng hỗ trợ kinh phí cho hộ ông Hà Văn Minh
Tại chương trình, lãnh đạo UBND phường Đông Kinh và đơn vị tài trợ (Công ty TNHH Mai Pha Peninsula) đã trao kinh phí 30 triệu đồng cho gia đình ông Hà Văn Minh, khối Yên Sơn để thực hiện các giải pháp giảm nghèo.
Lãnh đạo UBND phường Đông Kinh và đơn vị tài trợ thăm hỏi gia đình bà Phùng Thị Chénh
Tiếp đó, UBND phường Đông Kinh đã phối hợp với Công ty TNHH phát triển đô thị Yên Sơn tổ chức bàn giao công trình sửa chữa, nâng cấp nhà ở cho gia đình bà Phùng Thị Chénh, khối Yên Sơn.
Gia đình bà Phùng Thị Chénh thuộc diện hộ nghèo, trước đây, căn nhà của gia đình bà đã xuống cấp, không đảm bảo an toàn. Để hỗ trợ gia đình bà Chénh ổn định nhà ở, UBND phường đã huy động nguồn lực xã hội hóa từ doanh nghiệp trên địa bàn. Theo đó, Công ty TNHH phát triển đô thị Yên Sơn là đơn vị trực tiếp thi công công trình. Sau một thời gian thi công, đến tháng 8/2026, ngôi nhà của gia đình bà Chénh đã được hoàn thiện và bàn giao đưa vào sử dụng với diện tích khoảng 50 m2 gồm 2 phòng ngủ, 1 phòng bếp, tổng giá trị thi công là 65 triệu đồng.
Tại đây, Hội Liên hiệp Phụ nữ phường cũng hỗ trợ một số vật dụng thiết yếu cho gia đình bà Phùng Thị Chénh.
Lãnh đạo UBND phường Đông Kinh và Công ty TNHH Phát triển đô thị Yên Sơn bàn giao công trình cải tạo, nâng cấp nhà ở cho gia đình bà Phùng Thị Chénh
Được biết năm nay, UBND phường Đông Kinh lựa chọn 8 hộ nghèo để triển khai các giải pháp hỗ trợ giảm nghèo phù hợp với điều kiện, nhu cầu của từng hộ như: sửa chữa nhà ở, tạo việc làm… Để có nguồn kinh phí, UBND phường đã huy động nguồn lực xã hội hóa từ các doanh nghiệp, cá nhân, nhà hảo tâm để hỗ trợ các hộ nghèo trên địa bàn.
Đại diện Hội Liên hiệp Phụ nữ phường Đông Kinh trao biểu trưng hỗ trợ một số vật dụng thiết yếu cho gia đình bà Phùng Thị Chénh
Việc huy động nguồn lực xã hội hỗ trợ hộ nghèo góp phần giúp các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn cải thiện điều kiện sống, nhà ở, từng bước ổn định sinh kế, vươn lên thoát nghèo. Đồng thời phát huy vai trò chung tay của chính quyền, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong thực hiện công tác an sinh xã hội trên địa bàn.
Chủ tịch HĐND thành phố Nguyễn Đức Dũng phát biểu tại buổi tiếp công dân. Ảnh: NGỌC PHÚ
Tại buổi làm việc, lãnh đạo HĐND thành phố đã nghe công dân Nguyễn An trình bày kiến nghị; đại diện các cơ quan chuyên môn và địa phương trao đổi, làm rõ những vấn đề liên quan quá trình quản lý, sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân liên quan.
Phát biểu tại buổi làm việc, Chủ tịch HĐND thành phố Nguyễn Đức Dũng ghi nhận tinh thần trách nhiệm của các ban HĐND, sở, ngành và địa phương trong việc tiếp nhận, giải quyết kiến nghị của công dân. Qua trao đổi, nhiều nội dung đã được làm rõ trên cơ sở các quy định của pháp luật.
Chủ tịch HĐND thành phố đề nghị UBND phường Hội An Tây tiếp thu đầy đủ ý kiến của các cơ quan chuyên môn và Ban Pháp chế HĐND thành phố; những nội dung thực hiện chưa đúng hoặc chưa phù hợp phải được rà soát, điều chỉnh theo quy định.
Cùng với đó, đề nghị Thanh tra thành phố và Sở Tư pháp tiếp tục theo dõi, hướng dẫn về mặt pháp lý để địa phương có căn cứ giải quyết chặt chẽ, đúng quy trình.
Chủ tịch HĐND thành phố cũng đề nghị công dân phối hợp với chính quyền địa phương trên tinh thần cầu thị. Đồng thời khẳng định, việc giải quyết kiến nghị phải được thực hiện trên cơ sở pháp luật.
Sở Xây dựng TP Hà Nội ngày 19/8 công bố thông tin dự án nhà ở xã hội Đồng Trúc – Thạch Thất do Công ty TNHH Xây dựng Tiến Đạt làm chủ đầu tư, nằm tại xã Hạ Bằng, gần đại lộ Thăng Long và cách khu công nghệ cao Hòa Lạc khoảng 5 km, trung tâm Hà Nội gần 30 km.
Công trình được xây dựng trên khu đất rộng hơn 4.100 m2, quy mô gồm một tòa nhà cao 8 tầng và một tầng hầm. Dự án cung cấp tổng cộng 231 căn hộ, trong đó dành 207 căn để bán, 12 căn cho thuê và 12 căn cho thuê mua. Tổng mức đầu tư của dự án đạt hơn 325 tỷ đồng.
Về mặt bằng giá, giá bán bình quân dự kiến của dự án là 23,5 triệu đồng/m2 (gồm VAT), tương đương một căn có giá từ 870 triệu đồng. Mức giá cho thuê mua là 178.000 đồng/m2 một tháng, còn giá thuê là 89.000 đồng/m2.
Thời gian bắt đầu tiếp nhận hồ sơ đăng ký dự kiến trong quý 3/2026. Dự án có thể được đưa vào sử dụng vào quý 4/2027.
Về thông tin chủ đầu tư, Công ty TNHH Xây dựng Tiến Đạt (Tiến Đạt Building) thành lập năm 2003. Doanh nghiệp là chủ đầu tư một số khu nhà xã hội như dự án Tân Xã – Thạch Thất (Hà Nội), Bảo Ninh 1, Lộc Ninh 1 (Quảng Trị).
Theo UBND TP Hà Nội, hiện thành phố có 121 dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội (dân dụng) đã được cấp có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư và giao chủ đầu tư. Hà Nội cũng đang thực hiện 23 dự án nhà ở cho lực lượng vũ trang Công an nhân dân; đồng thời triển khai 3 dự án nhà ở cho lực lượng vũ trang trong quân đội, với tổng quy mô sử dụng đất của toàn bộ 147 dự án này đạt khoảng 583,3 ha, tương ứng khoảng 132.000 căn hộ.
Trong số này, có 30 dự án đã khởi công và đang thi công xây dựng với quy mô khoảng 24.120 căn hộ.
Năm 2026, Hà Nội được giao hoàn thành ít nhất 18.700 căn hộ nhà ở xã hội, hướng tới mục tiêu đạt khoảng 25.000 – 27.000 căn hộ nhà ở xã hội đủ điều kiện cung ứng ra thị trường trong năm nay.