Category: Tin BĐS Việt Nam

  • ‘Rõ thời gian’ để bảo đảm tiến độ

     Tiến độ giải phóng mặt bằng tại dự án VSIP Huế được nắm từng ngày.

    Áp lực tạo tiến độ

    Giải phóng mặt bằng (GPMB) là khâu khó vì liên quan trực tiếp đến đất đai, tài sản, sinh kế và quyền lợi người dân. Vì vậy, tiến độ không chỉ được thể hiện bằng số lượng hồ sơ mà còn ở khả năng xử lý đúng quy định, không để kéo dài.

    Tại phường Kim Long, dự án đường Vành đai 3 có 227 thửa đất bị ảnh hưởng, gồm 222 thửa đất nông nghiệp, 5 thửa đất ở và 364 ngôi mộ. Đến nay, 217 thửa đất nông nghiệp đã được phê duyệt, bàn giao; 332 ngôi mộ đã di dời. Phần còn lại cũng đã được xác định thời hạn xử lý.

    Đối với 5 thửa đất ở, toàn bộ đã được phê duyệt và các hộ đã được bố trí nhận đất tái định cư. Do thuộc diện thừa kế, phường phối hợp hướng dẫn hoàn thiện thủ tục để chi trả bồi thường, hỗ trợ và giao đất tái định cư.

    Ông Lê Tuấn Vĩnh, Phó Chủ tịch UBND phường Kim Long cho biết, công tác GPMB dự án Vành đai 3 trên địa bàn về cơ bản đã hoàn thành. Nhấn mạnh yêu cầu về thời gian của thành phố, ông Vĩnh cho biết, phường huy động tối đa nhân lực để giải quyết công việc, tuyệt đối không để ảnh hưởng đến tiến độ thi công chung.

    Cách làm này cũng thể hiện tại dự án VSIP Huế ở xã Hưng Lộc. Dự án có quy mô hơn 467ha, kinh phí gần 3.100 tỷ đồng; chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hơn 530 tỷ đồng. Theo kế hoạch, đến 31/12/2026 hoàn thành GPMB 252,1ha; đến 30/10/2027 tiếp tục 215,1ha.

    Hưng Lộc đã hoàn thành  GPMB 109ha để bàn giao, đảm bảo đầu tháng 9/2026, dự án sẽ được khởi công. Chủ tịch UBND xã Hưng Lộc Hoàng Trần Quốc Phú cho biết, địa phương bảo đảm tiến độ được giao. “Tiến độ được thành phố nắm từng ngày”, ông Phú cho biết.

    Quan trọng hơn, khi thành phố nắm tiến độ, thời gian không chỉ tạo áp lực mà còn yêu cầu người đứng đầu chủ động theo dõi, phát hiện và tháo gỡ điểm nghẽn. Mỗi mốc chậm là tín hiệu để điều chỉnh chỉ đạo, phối hợp, phân bổ nguồn lực. “Rõ thời gian” vì thế trở thành công cụ để cả hệ thống cùng chịu trách nhiệm về kết quả.

    Vướng mắc phải xử lý, tiến độ phải bảo đảm

    Không phải nhiệm vụ nào có thời hạn cũng hoàn thành ngay. Với GPMB, vướng mắc về vấn đề nguồn gốc đất, thừa kế, tài sản, chính sách bồi thường và sự đồng thuận của người dân có thể phát sinh nhiều bước xử lý.

    Dự án nâng cấp, mở rộng đường Bà Triệu qua địa bàn phường Vỹ Dạ tác động đến 93 hộ dân. Đến nay, phần lớn hộ gia đình đã nhận tiền hỗ trợ, bồi thường và hoàn tất bàn giao mặt bằng từ ngày 15/8. Đối với 3 trường hợp còn lại, chính quyền tiếp tục tuyên truyền, vận động đến hết tháng 8/2026. Nếu các hộ vẫn không chấp hành, địa phương sẽ hoàn thiện hồ sơ cưỡng chế vào đầu tháng 9/2026 theo đúng quy định.

    Chủ tịch UBND phường Vỹ Dạ Võ Thị Anh Thư cho biết, địa phương tập trung vận động; trường hợp không bàn giao sẽ xử lý theo quy định. Bà cho rằng, áp lực tiến độ lớn khi địa bàn triển khai nhiều dự án. Phường có khoảng 20 dự án trong khi cán bộ thì ít. Khó khăn này tác động trực tiếp đến tiến độ.

    Thực tế từ Vỹ Dạ và nhiều địa phương khác cho thấy, cùng một yêu cầu về thời gian nhưng điều kiện thực hiện khác nhau. Có nơi vướng một vài hộ dân, có nơi cùng lúc triển khai nhiều dự án trong khi nhân lực hạn chế. Vì vậy, “rõ thời gian” phải đi cùng “rõ trách nhiệm”, “rõ công việc”, “rõ thẩm quyền” và “rõ kết quả”.

    Cũng phải thẳng thắn hơn, đó là khi giao thời hạn phải đi cùng bảo đảm điều kiện thực hiện. Khi nhân lực hạn chế, thẩm quyền chưa rõ hoặc một khâu phụ thuộc cơ quan khác, người được giao việc khó bảo đảm tiến độ dù trách nhiệm đã xác định. Tháo gỡ điểm nghẽn về thẩm quyền, phối hợp và nguồn lực cũng là yêu cầu của “rõ thời gian”.

    Tại hội nghị sơ kết một năm vận hành bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp, UVTW Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố Nguyễn Đình Trung nhấn mạnh, cấp ủy, chính quyền khi xây dựng kế hoạch phải bảo đảm “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ sản phẩm, rõ kết quả”; đồng thời xác định mốc tiến độ cụ thể để theo dõi, kiểm điểm. Người đứng đầu phải chỉ đạo, chịu trách nhiệm nếu chậm triển khai hoặc không hoàn thành nhiệm vụ. Quan trọng là thực hiện quyết liệt, tạo kết quả đo đếm được.

    Trong tinh thần “6 rõ” thì “rõ thời gian” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một nhiệm vụ chỉ dừng ở yêu cầu chung thì khó kiểm đếm. Tiến độ cũng là căn cứ để nhận diện sớm nơi nào chậm, chậm ở khâu nào và cần ai tháo gỡ.

    Vì vậy, điều dễ nhận thấy trong chương trình hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVII là các nhiệm vụ được xác định thời gian hoàn thành. Đây là cách chuyển từ chỉ đạo sang thực hiện, từ “có nhiệm vụ” sang “có sản phẩm”, từ “đang làm” sang “hoàn thành”.

    Khi mỗi mốc thời gian gắn với đầu việc, trách nhiệm và sản phẩm cụ thể, tiến độ không còn là con số báo cáo mà trở thành thước đo năng lực tổ chức thực hiện.

    Bài, ảnh: ĐỨC QUANG

    Nguồn https://baomoi.com/ro-thoi-gian-de-bao-dam-tien-do-c55967796.epi

  • Tu bổ định kỳ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 4/9 đến 2/11/2026

    Thực hiện chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng về Kế hoạch tu bổ định kỳ công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (tại Công văn số 1909/CV-BTL ngày 23/4/2026 của Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh), công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ được tiến hành tu bổ định kỳ từ ngày 4/9/2026 đến ngày 2/11/2026. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mở cửa trở lại phục vụ nhân dân và khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày 3/11/2026.

    Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ được tiến hành tu bổ định kỳ từ ngày 4/9/2026 – 2/11/2026. Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN

    TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc

    Nguồn https://baomoi.com/tu-bo-dinh-ky-lang-chu-tich-ho-chi-minh-tu-4-9-den-2-11-2026-c55967798.epi

  • Tu bổ định kỳ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày 4/9

    Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Đức Hạnh/BNEWS/TTXVN

    Thực hiện chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng về Kế hoạch tu bổ định kỳ công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (tại Công văn số 1909/CV-BTL ngày 23/4/2026 của Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh), công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ được tiến hành tu bổ định kỳ từ ngày 4/9/2026 đến ngày 2/11/2026. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mở cửa trở lại phục vụ nhân dân và khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày 3/11/2026.

    Trần Hiền Hạnh/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/tu-bo-dinh-ky-lang-chu-tich-ho-chi-minh-tu-ngay-4-9-c55967828.epi

  • Trùng Khánh chú trọng công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

    Đều đặn vào sáng thứ Năm hằng tuần, tại Trụ sở tiếp công dân của xã Trùng Khánh, Chủ tịch UBND xã trực tiếp chủ trì tiếp công dân định kỳ. Nhiều kiến nghị của người dân được lãnh đạo xã cùng các phòng chuyên môn trực tiếp trao đổi và giải thích ngay tại buổi tiếp dân, không khí đối thoại thẳng thắn, cởi mở giúp công dân hiểu rõ hơn quy định của pháp luật, đồng thời tạo sự đồng thuận trong quá trình giải quyết vụ việc.

    Ngay sau khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động, UBND xã xây dựng chương trình, kế hoạch tiếp công dân cụ thể, phân công nhiệm vụ đối với từng bộ phận chuyên môn, công khai lịch tiếp công dân để người dân dễ theo dõi và thực hiện quyền kiến nghị, phản ánh của mình. Người đứng đầu cấp ủy chính quyền trực tiếp tiếp công dân định kỳ hằng tuần và tiếp đột xuất đối với những vụ việc phức tạp phát sinh, quan điểm là tập trung giải quyết các vụ việc ngay từ cơ sở, không để tồn đọng kéo dài, không để phát sinh điểm nóng hay đơn thư vượt cấp.

    Chủ tịch UBND xã Trùng Khánh Hoàng Văn Tiến cho biết: Từ đầu năm đến nay, UBND xã tiếp nhận 14 đơn thư kiến nghị, phản ánh, đề nghị của người dân liên quan đến lĩnh vực môi trường, đất đai, xây dựng; giải quyết theo thẩm quyền 10/12 đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, 2 đơn đang giải quyết. Đây là những lĩnh vực nhạy cảm liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân nên quá trình giải quyết thường gặp những khó khăn phức tạp. Thực tế cho thấy nhiều vụ việc chỉ giải quyết hiệu quả khi người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương trực tiếp đối thoại, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân để chỉ đạo các phòng chuyên môn rà soát, giải quyết đúng quy định.

    Phó Chánh Văn phòng HĐND và UBND xã Trùng Khánh Nông Văn Minh chia sẻ: Người được phân công tiếp công dân phải có thái độ đúng mực, tôn trọng, lắng nghe, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân và ghi chép đầy đủ, chính xác nội dung mà người đến khiếu nại, tố cáo và kiến nghị. Giải thích, hướng dẫn cho người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đúng theo quy định pháp luật. Công dân đến Trụ sở tiếp công dân của UBND xã được hướng dẫn trình tự, thủ tục khi làm đơn, giải đáp cụ thể.

    Bà Vũ Thị Thu, tổ 2, xã Trùng Khánh cho biết: Tôi đến làm thủ tục về giấy tờ đất đai. Mặc dù công việc này rất phức tạp song được sự hướng dẫn tận tình, tôi làm các giấy tờ rất thuận tiện, nhanh chóng.

    Công tác tiếp công dân được UBND xã Trùng Khánh thực hiện từ thứ Hai đến thứ Sáu hằng tuần tại Trụ sở tiếp công dân.

    Trong buổi tiếp công dân gần đây, nhiều hộ dân xóm Co Sàu 1 kiến nghị về công tác giải phóng mặt bằng phục vụ Dự án tuyến đường nội thị Trùng Khánh. Các nội dung người dân băn khoăn chủ yếu liên quan đến việc phân lô tái định cư, mức giá bồi thường. Tại hiện trường, lãnh đạo xã và các phòng chuyên môn giải thích cụ thể về phương án bồi thường, các chính sách hỗ trợ và tiến độ triển khai dự án. Nhiều nội dung chưa rõ được trao đổi thẳng thắn trên tinh thần bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của công dân theo quy định. Sau khi được giải thích cụ thể, nhiều hộ dân đã đồng thuận với chủ trương giải phóng mặt bằng để triển khai dự án đúng tiến độ, người dân rất phấn khởi và tin tưởng vào việc cam kết của chính quyền địa phương.

    Bí thư Chi bộ xóm Co Sàu, xã Trùng Khánh Trần Xuân Cường cho biết: UBND xã rất nỗ lực để dự án được triển khai nhanh nhất. Đến nay, sau khi được tuyên truyền, vận động, nhân dân đồng thuận với chủ trương giải phóng mặt bằng phát triển mở rộng không gian đô thị, đồng tình ký nhận tiền đền bù.

    Không chỉ duy trì nền nếp tiếp công dân, UBND xã chú trọng nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình xử lý đơn thư. Các nội dung kiến nghị của công dân được phân loại, giao trách nhiệm cụ thể cho từng bộ phận chuyên môn tham mưu giải quyết. Thường xuyên kiểm tra tiến độ xử lý để tránh tình trạng chậm trễ, né tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Đối với những vụ việc phức tạp kéo dài, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trực tiếp chỉ đạo, rà soát hồ sơ, tổ chức đối thoại nhiều lần nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Từ đầu năm đến nay, UBND xã tiếp 33 lượt công dân, trong đó, Chủ tịch UBND xã tiếp định kỳ, đột xuất 22 lượt công dân đến kiến nghị, phản ánh. Các nội dung kiến nghị được tiếp nhận, ghi nhận và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật.

    Để nâng cao hiệu quả tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo từ cơ sở, UBND xã tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng đến cán bộ, công chức trong các cơ quan, tổ chức và nhân dân về Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tiếp công dân. Thực hiện tốt công tác tiếp công dân thường xuyên, định kỳ tại trụ sở tiếp công dân xã, hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định pháp luật. Thực hiện tốt quy trình tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn, đảm bảo đúng thời hạn, không để tồn đọng. Giải quyết triệt để các kiến nghị, các nội dung người dân khiếu nại, tố cáo, hạn chế tối đa tình trạng đơn thư vượt cấp, phát sinh điểm nóng, các vụ việc đông người, kéo dài ngay từ cơ sở.

    Tiến Mạnh

    Nguồn https://baomoi.com/trung-khanh-chu-trong-cong-tac-tiep-cong-dan-giai-quyet-khieu-nai-to-cao-c55967795.epi

  • Tổng rà soát hệ thống pháp luật: Nhận diện những điểm nghẽn cần tháo gỡ

    Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì Phiên họp lần thứ hai Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật diễn ra ngày 26/8. Ảnh: H.T

    Đề xuất bãi bỏ toàn bộ 5.926 văn bản quy phạm pháp luật

    Chính phủ vừa gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội Báo cáo số 652/BC-CP ngày 30/8 về tình hình triển khai thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).

    Báo cáo cho biết, tính đến ngày 30/6/2026, các cơ quan ở Trung ương và địa phương đã xác định, tổng hợp 45.793 VBQPPL còn hiệu lực hoặc chưa có hiệu lực thuộc đối tượng, phạm vi tổng rà soát.

    Trong số này, đối với các văn bản quy phạm pháp luật không thuộc chế độ mật, các cơ quan đã rà soát, xác định và đề xuất phương án xử lý đối với 13.077 văn bản. Các phương án bao gồm sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ một phần, bãi bỏ toàn bộ, tạm ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc ban hành mới.

    Theo đó, các cơ quan Trung ương đề xuất phương án xử lý đối với 2.363 văn bản; chính quyền địa phương cấp tỉnh đề xuất xử lý 7.939 văn bản và chính quyền địa phương cấp xã đề xuất xử lý 2.775 văn bản.

    Phần lớn các cơ quan Trung ương và địa phương xác định lộ trình xử lý văn bản trong giai đoạn 2026-2027. Một số văn bản được xác định lộ trình xử lý đến năm 2030 hoặc chưa xác định cụ thể thời hạn.

    Đối với các văn bản thuộc thẩm quyền của Quốc hội, các cơ quan Trung ương đề xuất xử lý 136 bộ luật, luật và 12 nghị quyết của Quốc hội. Trong năm 2026, dự kiến xử lý 78 bộ luật, luật và 6 nghị quyết; năm 2027 xử lý 27 bộ luật, luật và 3 nghị quyết; giai đoạn 2028-2030 xử lý 31 bộ luật, luật. Ba nghị quyết của Quốc hội chưa xác định cụ thể thời gian xử lý.

    Đối với các văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành, các cơ quan Trung ương đề xuất xử lý 575 văn bản. Trong đó, 355 văn bản dự kiến được xử lý trong năm 2026, 194 văn bản trong năm 2027 và 24 văn bản trong giai đoạn 2028-2030; một số văn bản có lộ trình sau năm 2030.

    Báo cáo của Chính phủ đánh giá, công tác tổ chức thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL đã có nhiều cách làm mới, kế thừa kinh nghiệm từ các đợt rà soát chuyên đề trước đây, đồng thời huy động sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, địa phương.

    Một điểm mới trong quá trình thực hiện là việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong rà soát, tổng hợp, phân tích dữ liệu.

    Kết quả sơ bộ cho thấy, các cơ quan cơ bản đã xác định được đối tượng, phạm vi thuộc trách nhiệm tổng rà soát; nhận diện các vướng mắc, bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo, quy định chưa phù hợp và đề xuất phương án, hình thức, lộ trình xử lý.

    Tuy nhiên, kết quả rà soát cũng cho thấy những yêu cầu lớn đặt ra đối với việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật. Theo kết quả sơ bộ, các cơ quan đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ một phần hoặc ban hành mới đối với 7.300 văn bản quy phạm pháp luật, chiếm 15,9%; đề xuất bãi bỏ toàn bộ 5.926 văn bản, chiếm 12,9%.

    Ngoài ra, 7.687 VBQPPL của chính quyền cấp huyện trước khi sắp xếp sẽ tự động hết hiệu lực theo quy định, đến hết ngày 28/2/2027. Theo đó, nếu được xử lý theo lộ trình, 13.613 văn bản sẽ được loại bỏ khỏi hệ thống.

    Tập trung xử lý các “điểm nghẽn” của pháp luật

    Chính phủ xác định kết quả rà soát hiện nay là bước đầu. Thời gian tới, các cơ quan Trung ương và địa phương tiếp tục cập nhật các chủ trương, đường lối mới của Đảng, các nghị quyết, kết luận mới được ban hành để hoàn thiện kết quả rà soát, bảo đảm việc thể chế hóa đầy đủ, kịp thời.

    Đối với 49 VBQPPL đã có trong định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI nhưng chưa được tổng hợp trong kết quả rà soát, Chính phủ đề nghị các Bộ, ngành khẩn trương thực hiện, cập nhật đầy đủ vào kết quả tổng rà soát.

    Các cơ quan phải rà soát, chỉnh lý và hoàn thiện kết quả sơ bộ trên cơ sở ý kiến chỉ đạo, thẩm định, góp ý của các cơ quan có liên quan; khắc phục những hạn chế đã được chỉ ra; bảo đảm thông tin, số liệu chính xác, đầy đủ và thống nhất trên hệ thống dữ liệu dùng chung.

    Kết quả tổng rà soát chính thức phải xác định đúng và thực chất những vấn đề vướng mắc, bất cập, điểm nghẽn cần tháo gỡ; phân biệt rõ những khó khăn xuất phát từ quy định pháp luật với những vấn đề do tổ chức thi hành, hướng dẫn, năng lực thực thi hoặc cơ chế phối hợp giữa các cơ quan.

    Quá trình đề xuất phương án, lộ trình xử lý phải đặt trong tổng thể định hướng xây dựng, hoàn thiện pháp luật, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, yêu cầu hoàn thiện tổ chức hệ thống chính trị và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Đồng thời, cần tập trung xử lý những vấn đề trọng tâm, nhất là các quy định có phạm vi tác động lớn, liên ngành, trực tiếp cản trở đầu tư, sản xuất, kinh doanh, huy động nguồn lực hoặc làm tăng chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp.

    Đối với những văn bản đã xác định rõ nội dung vướng mắc, bất cập, các cơ quan được yêu cầu chủ động tham mưu xử lý hoặc xử lý theo thẩm quyền, không chờ đến khi hoàn tất kết quả tổng rà soát chính thức.

    Chính phủ yêu cầu các cơ quan khẩn trương bãi bỏ 5.926 văn bản và một phần 69 văn bản đã được xác định không còn áp dụng; hướng dẫn áp dụng ngay đối với 80 văn bản; tạm ngưng hiệu lực 16 văn bản (toàn bộ hoặc một phần) để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước và người dân; ưu tiên đưa các văn bản cần sửa đổi vào chương trình xây dựng pháp luật năm 2026 và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI.

    Đồng thời, yêu cầu người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương chịu trách nhiệm trực tiếp về tiến độ và chất lượng rà soát. Quá trình này phải tham vấn thực chất ý kiến của đối tượng chịu tác động trực tiếp là người dân và doanh nghiệp.

    Chính phủ kiến nghị Quốc hội và các cơ quan liên quan phối hợp chặt chẽ để sử dụng kết quả rà soát này làm cơ sở định hướng lập pháp, ưu tiên xử lý những vấn đề có tính hệ thống nhằm tạo động lực mới cho phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn mới.

    Diệu Anh

    Nguồn https://baomoi.com/tong-ra-soat-he-thong-phap-luat-nhan-dien-nhung-diem-nghen-can-thao-go-c55968252.epi

  • TOÀN VĂN: Nghị quyết số 39/2026/QH16 thành lập THÀNH PHỐ BẮC NINH từ 20/9/2026

    Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 39/2026/QH16 của Quốc hội về việc thành lập THÀNH PHỐ BẮC NINH. Cụ thể:

    Điều 1. Thành lập thành phố Bắc Ninh

    Thành lập thành phố Bắc Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Bắc Ninh.

    Thành phố Bắc Ninh giáp các đơn vị hành chính cấp tỉnh gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Lạng Sơn, Quảng Ninh và Thái Nguyên.

    Điều 2. Hiệu lực thi hành

    Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 9 năm 2026.

    Điều 3. Tổ chức thực hiện

    1. Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Ninh kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành) và các cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm tổ chức thi hành Nghị quyết này; sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan, tổ chứcở địa phương theo quy định; ổn định đời sống của Nhân dân địa phương, bảo đảm yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng và an ninh trên địa bàn.

    2. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị có tên gọi gắn với địa danh “tỉnh Bắc Ninh”được đổi tên để hoạt động với tên gọi gắn với địa danh “thành phố Bắc Ninh” kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành.

    3. Trường hợp văn bản pháp luật được ban hành trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành và tiếp tục được thực hiện sau ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành có cụm từ “tỉnh Bắc Ninh” thì được chuyển thành cụm từ “thành phố Bắc Ninh”.

    4. Văn bản, giấy tờ có nội dung liên quan đến địa danh tỉnh Bắc Ninh đã được cơ quan, người có thẩm quyền ban hành, cấp trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành mà chưa hết hiệu lực hoặc chưa hết thời hạn sử dụng thì tiếp tục được áp dụng, sử dụng theo quy định của pháp luật cho đến khi hết thời hạn hoặc được sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, hủy bỏ, thu hồi bởi cơ quan, người có thẩm quyền.

    5. Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, ngoài các chế độ, chính sách đối với thành phố trực thuộc trung ương, các cơ chế, chế độ, chính sách đặc thù đối với tỉnh Bắc Ninh trước đây vẫn tiếp tục được thực hiện trên địa bàn thành phố Bắc Ninh cho đến hết giai đoạn áp dụng hoặc đến khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

    Nghị quyết này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất thông qua ngày 24 tháng 8 năm 2026.

    TOÀN VĂN: Nghị quyết số 39/2026/QH16 thành lập THÀNH PHỐ BẮC NINH

    Nguồn https://baomoi.com/toan-van-nghi-quyet-so-39-2026-qh16-thanh-lap-thanh-pho-bac-ninh-tu-20-9-2026-c55968170.epi

  • TOÀN VĂN: Nghị quyết số 36/2026/QH16 thành lập THÀNH PHỐ QUẢNG NINH từ 1/9/2026

    Quốc hội đã Nghị quyết số 36/2026/QH16 về việc thành lập Thành phố Quảng Ninh. Nội dung cụ thể như sau: 

    Điều 1. Thành lập thành phố Quảng Ninh

    Thành lập thành phố Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Quảng Ninh.

    Thành phố Quảng Ninh giáp các đơn vị hành chính cấp tỉnh gồm: Bắc Ninh, Hải Phòng, Lạng Sơn; Biển Đông và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

    Điều 2. Hiệu lực thi hành

    Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026.

    Điều 3. Tổ chức thực hiện

    1. Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Quảng Ninh kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành) và các cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm tổ chức thi hành Nghị quyết này; sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan, tổ chức ở địa phương theo quy định; ổn định đời sống của Nhân dân địa phương, bảo đảm yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng và an ninh trên địa bàn.

    2. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị có tên gọi gắn với địa danh “tỉnh Quảng Ninh” được đổi tên để hoạt động với tên gọi gắn với địa danh “thành phố Quảng Ninh” kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành.

    3. Trường hợp văn bản pháp luật được ban hành trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành và tiếp tục được thực hiện sau ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành có cụm từ “tỉnh Quảng Ninh” thì được chuyển thành cụm từ “thànhphố Quảng Ninh”.

    4. Văn bản, giấy tờ có nội dung liên quan đến địa danh tỉnh Quảng Ninh đã được cơ quan, người có thẩm quyền ban hành, cấp trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành mà chưa hết hiệu lực hoặc chưa hết thời hạn sử dụng thì tiếp tục được áp dụng, sử dụng theo quy định của pháp luật cho đến khi hết thời hạn hoặc được sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, hủy bỏ, thu hồi bởi cơ quan, người có thẩm quyền.

    5. Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, ngoài các chế độ, chính sách đối với thành phố trực thuộc trung ương, các cơ chế, chế độ, chính sách đặc thù đối với tỉnh Quảng Ninh trước đây vẫn tiếp tục được thực hiện trên địa bàn thành phố Quảng Ninh cho đến hết giai đoạn áp dụng hoặc đến khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

    Nghị quyết này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất thông qua ngày 24 tháng 8 năm 2026

    Toàn văn Nghị quyết số 36/2026/QH16 về việc thành lập Thành phố Quảng Ninh

    Nguồn https://baomoi.com/toan-van-nghi-quyet-so-36-2026-qh16-thanh-lap-thanh-pho-quang-ninh-tu-1-9-2026-c55968168.epi

  • Khẩn trương làm đầy dữ liệu đất đai

    Theo kế hoạch của UBND thành phố, công tác đo đạc, làm đầy dữ liệu đất đai tại 10 xã, phường còn lại sẽ được hoàn thành trong tháng 11/2026. Ảnh: HOÀNG HIỆP

    Đo đạc diện tích đất chưa có dữ liệu

    Đà Nẵng hiện có 10 xã, phường còn một phần nhỏ diện tích chưa có cơ sở dữ liệu đất đai, gồm: Hòa Vang, Liên Chiểu, Thăng Trường, Bà Nà, Hải Vân, Hòa Tiến, Duy Nghĩa, Cẩm Lệ, Hòa Khánh, Bàn Thạch.

    Nhóm 10 địa phương này phải triển khai đo đạc diện tích đất còn lại để làm đầy cơ sở dữ liệu đất đai và hoàn thiện bản đồ, hồ sơ địa chính.

    Ông Nguyễn Văn Hoàng, Chủ tịch UBND xã Thăng Trường thông tin, trước đây, địa phương đã triển khai đo đạc, lập bản đồ, hồ sơ địa chính, xây dựng dữ liệu đất đai cho khoảng 70% tổng số thửa đất trên địa bàn xã. Thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố, địa phương đang chỉ định thầu để triển khai đo đạc cho số thửa đất còn lại (khoảng 7.000 thửa đất) để phục vụ làm đầy dữ liệu đất đai của xã.

    Tại Bà Nà, ông Ngô Long Vương, Trưởng phòng Kinh tế xã cho hay, địa phương đã đăng thông báo mời thầu đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. Diện tích cần đo đạc, làm đầy dữ liệu đất đai khoảng 400ha, phần lớn là đất rừng sản xuất của người dân.

    Việc này không chỉ phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn, mà còn tạo điều kiện cho nhiều người dân thực hiện các thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Tương tự, ông Nguyễn Thúc Dũng, Chủ tịch UBND phường Hải Vân cho biết, địa phương đang lựa chọn nhà thầu đo đạc phục vụ làm đầy dữ liệu đất đai cho diện tích khoảng 5.100ha, chủ yếu là đất rừng sản xuất.

    Phường Liên Chiểu tổ chức các cuộc họp dân để quán triệt, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong triển khai đo đạc, làm đầy dữ liệu đất đai. Ảnh: HOÀNG HIỆP

    Tích cực đẩy nhanh tiến độ

    Trong nhóm 10 địa phương nói trên, phường Liên Chiểu đã hoàn thành lựa chọn nhà thầu và triển khai đo đạc trên thực tế để phục vụ công tác lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai theo Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 13/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ.

    Theo ghi nhận, việc đo đạc, xác định hiện trạng, ranh giới, vị trí các thửa đất tại 6 tổ dân phố với tổng diện tích đất khoảng 1.000ha, đang diễn ra khẩn trương, nhanh chóng dù có nhiều thửa đất rừng sản xuất với độ dốc lớn, sườn núi sạt lở…

    Ông Trần Văn Tám, người dân tổ dân phố Thanh Vinh 1, phường Liên Chiểu nói: “Gia đình tôi khai hoang và trồng trọt, chăn nuôi trên thửa đất này đã gần 30 năm nhưng vẫn chưa có điều kiện để làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình tôi rất phấn khởi khi được UBND phường Liên Chiểu triển khai đo đạc và xác định ranh giới thửa đất để lập bản đồ, hồ sơ địa chính vì đây là bước đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho gia đình có dữ liệu về thửa đất để sắp tới triển khai làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

    Phó Chủ tịch UBND phường Liên Chiểu Nguyễn Văn Lý thông tin, bên cạnh nỗ lực hoàn thành các thủ tục để sớm chọn được đơn vị triển khai, phường đã 3 lần gửi thông báo cho người dân và đề nghị hệ thống chính trị các khu dân cư, tổ dân phố thông báo, hướng dẫn, vận động các hộ dân cắm mốc, xác định ranh giới thửa đất với các hộ tứ cận liền kề, cung cấp các giấy tờ hoặc thông tin liên quan đến sử dụng đất…

    Sở Nông nghiệp và Môi trường đã đề nghị UBND thành phố chỉ đạo UBND các xã, phường tiếp tục thông báo cắm mốc, lập biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất, xác nhận tứ cận và chuẩn bị điều kiện thực địa phục vụ đo đạc. Cạnh đó, UBND thành phố chỉ đạo việc đo đạc, lập, chỉnh lý bản đồ địa chính; hoàn thiện hồ sơ, cơ sở dữ liệu địa chính đối với các khu vực chưa đo đạc hoặc biến động đất đai lớn tại 10 xã, phường nói trên trong tháng 11/2026.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường đã đề xuất UBND thành phố chỉ đạo các địa phương khẩn trương phê duyệt thiết kế kỹ thuật và dự toán; triển khai công tác lựa chọn nhà thầu và sớm triển khai đo đạc, lập bản đồ, hồ sơ địa chính… nhằm làm đầy cơ sở dữ liệu đất đai tại 10 xã, phường này.

    HOÀNG HIỆP

    Nguồn https://baomoi.com/khan-truong-lam-day-du-lieu-dat-dai-c55967546.epi

  • Chờ giá chung cư giảm để đổi nhà, không ngờ căn hộ cũ mất giá mạnh hơn

    Cuối năm ngoái, anh Nguyễn Hữu Khải (Hoàng Liệt, Hà Nội) lên kế hoạch chuyển từ căn hộ tại chung cư Linh Đàm sang một dự án khác trong cùng khu vực. Thời điểm đó, một số căn hộ phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính của gia đình anh được chủ nhà chào bán từ 95-100 triệu đồng/m2.

    Theo tính toán, nếu bán căn hộ đang sinh sống, anh Khải có thể thu về khoảng 3 tỷ đồng và phải vay thêm gần 2 tỷ đồng để mua căn hộ mới. Nhận thấy khoản vay quá lớn so với khả năng tài chính, anh quyết định tạm dừng kế hoạch, chờ thị trường hạ nhiệt.

    Đến nay, giá những căn hộ anh Khải từng tìm hiểu đã giảm xuống còn khoảng 85 triệu đồng/m2. Tuy nhiên, giá căn hộ mà gia đình anh đang sở hữu còn giảm mạnh hơn.

    Nếu bán căn hộ ở thời điểm hiện tại, số tiền thu về chỉ còn hơn 2 tỷ đồng. Nguyên nhân do dự án chưa có sổ đỏ và từng xuất hiện thông tin liên quan đến việc thu hồi. Vì vậy, khoản tiền phải bù thêm để đổi nhà gần như không được thu hẹp.

    “Tôi vẫn đang mắc kẹt, chưa thể chuyển sang căn hộ mới. Giá nhà đã giảm nhưng tài sản của mình cũng giảm theo. Hiện lãi suất vay bất động sản tăng mạnh nên tôi không dám liều vay ngân hàng”, anh Khải cho biết. Nếu vay thêm gần 2 tỷ đồng như dự tính trước đây, áp lực trả nợ sẽ rất lớn.

    Giá chung cư giảm so với cuối năm ngoái. Ảnh: Thạch Thảo

    Tương tự, anh Lưu Quang Anh (Hà Đông, Hà Nội) cũng chưa mua được căn hộ mặc dù đã lên kế hoạch từ giữa năm ngoái.

    Giá chung cư tuy giảm nhưng mảnh đất ở quê anh không thể bán được. Giá mảnh đất này đã giảm xuống còn khoảng 40 triệu đồng/m2 vẫn chưa có khách hỏi mua. Việc bán đất tại quê hiện khá khó khăn, nhất là ở những khu vực không phải trung tâm hành chính mới.

    Anh Quang Anh nhận xét, dù thị trường chung cư không còn nóng như năm ngoái nhưng giá bán vẫn khá cao. Một số dự án mới được chào bán ở mức khoảng 100 triệu đồng/m2, trong khi vị trí khá xa trung tâm.

    Ở khu vực trung tâm, một số chung cư cũ đã giảm giá nhưng cũng khó xuống thấp như trước đây. Điều này khiến người mua có nguồn tiền từ việc bán tài sản khác tiếp tục phải cân nhắc.

    Vắng bóng dự án bình dân

    Theo Cushman & Wakefield, nguồn cung và nhu cầu căn hộ đều chững lại trong bối cảnh khoảng cách giữa sản phẩm hiện có và nhu cầu thực của người mua ngày càng gia tăng.

    Nguồn cung mới vẫn chủ yếu thuộc phân khúc cao cấp và hạng sang, nhà ở giá phải chăng gần như vắng bóng trên thị trường, tiếp tục tạo áp lực lên mặt bằng giá và khả năng chi trả của người dân. Trong bối cảnh lãi suất cho vay tăng, người mua có xu hướng thận trọng và trì hoãn quyết định xuống tiền.

    Bà Phạm Thu Trang, chuyên viên tư vấn tài chính, cho rằng người mua nhà không nên chỉ nhìn vào mức giảm giá của bất động sản mà cần đánh giá lại toàn bộ khả năng tài chính của gia đình. Yếu tố quan trọng là nguồn vốn tự có, giá trị tài sản đang nắm giữ, khả năng thanh khoản của tài sản và chi phí vay nếu phải sử dụng đòn bẩy.

    Người mua không nên cố bán tài sản bằng mọi giá chỉ để tranh thủ một mức giá bất động sản thấp hơn. Nếu khoản vay mới tạo áp lực lớn lên dòng tiền hàng tháng, việc mua nhà có thể khiến tình hình tài chính trở nên căng thẳng hơn.

    Hiện người có nhu cầu ở thực có thể dành thời gian khảo sát, so sánh nhiều dự án và chọn căn hộ phù hợp với khả năng tài chính. Thời điểm tốt để xuống tiền không chỉ là khi giá nhà giảm, mà là khi giá tài sản phù hợp với khả năng tài chính và dòng tiền của người mua.

    Duy Anh

    Nguồn https://baomoi.com/cho-gia-chung-cu-giam-de-doi-nha-khong-ngo-can-ho-cu-mat-gia-manh-hon-c55967582.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!