Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Định hình trục không gian xanh trung tâm dọc sông Hồng

    Từ không gian bị chia cắt đến trục phát triển trung tâm

    Sông Hồng và khu vực ven sông có vai trò đặc biệt trong quá trình hình thành, phát triển của Thủ đô. Tuy nhiên, do yêu cầu phòng, chống lũ, hệ thống đê dọc hai bên tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng được hình thành, từng bước bảo đảm an toàn cho các khu vực dân cư, song cũng tạo nên sự ngăn cách giữa dòng sông với không gian phát triển của thành phố.

    Trục sông Hồng được xác định là khu vực góp phần gia tăng quỹ không gian xanh của thành phố. Ảnh: Phạm Hùng

    Theo báo cáo Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5.000 để thực hiện Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng của UBND thành phố Hà Nội, hệ thống hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật tại khu vực ngoài đê dọc hai bên sông còn thiếu và chưa đồng bộ. Cảnh quan đô thị chưa được đầu tư, khai thác tương xứng với vị trí của một trục trung tâm. Tình trạng lấn chiếm, sử dụng trái phép đất ven sông, mất vệ sinh môi trường vẫn xảy ra thường xuyên.

    Từ thực tế đó, việc triển khai Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng và điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng được đặt ra với mục tiêu tạo bước chuyển trong tổ chức không gian phát triển.

    Định hướng chung là hình thành trục không gian xanh trung tâm gắn với văn hóa sáng tạo dọc sông Hồng; là trục phát triển kinh tế – xã hội và biểu trưng cho Hà Nội “Văn hiến – Bản sắc – Sáng tạo”, hướng tới một “Thủ đô văn minh – hiện đại – bền vững” với trí tuệ thời đại và tầm vóc toàn cầu.

    Để từng bước hiện thực hóa mục tiêu này, quy hoạch xác định 6 giá trị cốt lõi gồm: “An toàn phòng chống lũ – Sinh thái – Hạ tầng – Chuyển đổi chức năng – Phát triển kinh tế – Văn hóa văn minh”.

    Phạm vi nghiên cứu trải dài khoảng 40km theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đi qua khu vực giữa đô thị trung tâm, từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở. Khu vực thuộc địa giới hành chính của 16 xã, phường (gồm 9 xã và 7 phường).

    Ranh giới nghiên cứu phía Bắc đến đê Tả sông Hồng; phía Nam đến đê Hữu sông Hồng; phía Tây giáp cầu Hồng Hà và phía Đông giáp cầu Mễ Sở. Tổng quy mô nghiên cứu khoảng 11.418ha.

    Hiện trạng cho thấy mặt nước trong phạm vi nghiên cứu có diện tích khoảng 3.626ha, chiếm khoảng 30% tổng diện tích, trong đó mặt nước sông khoảng 3.378ha. Đất sản xuất nông nghiệp khoảng 5.741ha, chiếm khoảng 50% diện tích khu vực nghiên cứu.

    Đất ở có quy mô khoảng 1.102ha, chiếm khoảng 10% tổng diện tích, với dân số hiện trạng khoảng 279.525 người, phân bố không đồng đều, bao gồm cả dân cư đô thị và khu vực ngoại thành. Các chức năng khác có diện tích khoảng 949ha, chiếm khoảng 8%.

    Không gian quy hoạch cũng chứa đựng những giá trị văn hóa, lịch sử quan trọng với 123 công trình di tích, trong đó có 1 di tích được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, 26 di tích cấp quốc gia, 35 di tích cấp thành phố và 61 di tích chưa xếp hạng. Ngoài ra, có 14 địa điểm lưu niệm sự kiện cách mạng, kháng chiến.

    Hiện trên khu vực sông có 12 cầu, gồm 6 cầu hiện hữu là Thăng Long, Nhật Tân, Long Biên, Chương Dương, Vĩnh Tuy, Thanh Trì và 6 cầu đang thi công là Hồng Hà, Thượng Cát, Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Ngọc Hồi, Mễ Sở.

    Từ nền tảng hiện trạng và yêu cầu phát triển mới, trục cảnh quan ven sông Hồng được xác định là không gian chiến lược về cảnh quan, giao thông và phát triển đô thị. Một trong những định hướng quan trọng là thay đổi tư duy phát triển, chuyển từ đô thị “quay lưng ra sông” sang “quay mặt vào sông”, tạo diện mạo đô thị hiện đại, văn minh.

    Theo định hướng tổ chức không gian, giải pháp “thích ứng lũ” hiện đại được đề xuất, tập trung bảo đảm an toàn tuyệt đối cho hệ thống đê điều và duy trì khả năng thoát lũ của sông Hồng.

    Nguyên tắc cốt lõi là không thu hẹp không gian thoát lũ và không đề xuất giải pháp xây đê mới nằm trong đê cũ. Các công trình cảnh quan được định hướng sử dụng module kiến trúc có thể tháo dỡ, đê lũ sinh thái dạng bậc thang và vườn mưa giữ phù sa, nhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống đê điều.

    Phương án hướng tuyến đường bộ được lựa chọn theo hướng bám sát hệ thống đê hiện hữu để tận dụng hạ tầng sẵn có, đồng thời bảo đảm yêu cầu an toàn phòng, chống lũ theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt.

    Không gian hai bên sông Hồng được định hướng là trục không gian đặc trưng, hành lang xanh với các thành tố cây xanh, mặt nước, văn hóa, lịch sử và cảnh quan chủ đạo của đô thị trung tâm.

    Các chức năng chính gồm công trình công cộng, công viên cây xanh, không gian văn hóa, dịch vụ du lịch, giải trí mang tính biểu tượng của Thủ đô, phục vụ các hoạt động lễ hội, du lịch, hướng tới tạo nên “kỳ tích sông Hồng”, góp phần phát triển du lịch, kinh tế, văn hóa và xã hội.

    Quy hoạch đồng thời hướng tới hình thành các vùng không gian thoát lũ đặc biệt, tích hợp các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai, bảo đảm an toàn hệ thống thoát lũ, tiêu thoát nước tự nhiên và phù hợp với đặc điểm cảnh quan bãi sông.

    Sông Hồng – trục cảnh quan sinh thái, văn hóa của Thủ đô. Ảnh: Phạm Hùng

    Ba định hướng được ưu tiên là an toàn – sinh thái – giao thông. Theo đó, tổ chức không gian phải hướng tới bảo đảm môi trường sống an toàn; xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp, văn minh; đồng thời hình thành hệ thống giao thông, kết cấu hạ tầng đô thị thuận tiện để người dân dễ dàng tiếp cận và sử dụng phục vụ đời sống, sinh hoạt.

    Tổ chức không gian theo ba phân đoạn phát triển

    Cùng với định hướng xây dựng trục không gian xanh trung tâm, quy hoạch đặt yêu cầu phát triển hệ thống giao thông và các đầu mối hạ tầng kỹ thuật theo hướng hiện đại, an toàn, bảo đảm tính hệ thống và liên hoàn.

    Hệ thống hạ tầng kỹ thuật được định hướng kết nối với hệ thống đường trục và mạng lưới đường ven sông. Các cầu kết nối đô thị hai bên sông, cùng với giao thông đường bộ, đường thủy và đường sắt đô thị được xác định là những yếu tố tạo điều kiện, động lực phát triển cho khu vực và thành phố, đồng thời phải phù hợp với định hướng thích ứng sinh thái, an toàn phòng, chống lũ.

    Trục không gian xanh được định hướng bao gồm cây xanh, mặt nước, văn hóa, lịch sử và cảnh quan chủ đạo của đô thị trung tâm. Không gian này bố trí các công trình công cộng, công viên cây xanh, dịch vụ văn hóa, du lịch, giải trí, phục vụ hoạt động lễ hội và du lịch.

    Mục tiêu đặt ra là từng bước đưa sông Hồng từ một không gian còn bị chia cắt bởi hệ thống đê, hạ tầng thiếu đồng bộ và khả năng tiếp cận hạn chế trở thành trục đô thị có kết nối tốt hơn, nhiều không gian xanh, không gian công cộng hơn; tạo thêm điều kiện cho các hoạt động văn hóa, du lịch, thương mại, dịch vụ và sinh hoạt cộng đồng.

    Theo đó, người dân sẽ có thêm khả năng tiếp cận các công viên, đường dạo, không gian cộng đồng, khu vực thể dục thể thao, không gian văn hóa, lễ hội và cảnh quan ven sông tại các khu vực được quy hoạch phù hợp.

    Hệ thống giao thông ven sông, cầu vượt sông, đường bộ và đường thủy được định hướng kết nối thành hệ thống liên hoàn, qua đó mở rộng khả năng đi lại và liên kết giữa hai bờ sông, giữa khu vực ven sông với các khu vực phát triển khác.

    Các khu định cư và khu đô thị đa mục tiêu cũng được định hướng đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội để phục vụ tái định cư và tổ chức lại không gian dân cư.

    Về quy mô, tổng diện tích nghiên cứu khoảng 11.418ha. Quy mô dân số dự báo từ 800.000 đến 1.200.000 người. Chỉ tiêu sử dụng đất dân dụng khoảng 55m²/người, trong đó chỉ tiêu sử dụng đất đơn vị ở khoảng 15m²/người.

    Mật độ xây dựng gộp được xác định đối với khu dịch vụ – công cộng là 60%; nhóm nhà ở từ 35% đến 40%; khu công viên chuyên đề 25% và khu công viên công cộng 5%.

    Tầng cao công trình phổ biến từ 30 đến 45 tầng. Công trình điểm nhấn, biểu tượng đô thị là Tháp Kỷ nguyên cao 109 tầng. Đối với các làng xóm truyền thống, chiều cao dự kiến 3 tầng và sẽ được đánh giá theo tiêu chí cụ thể của từng dự án trong quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500.

    Diện tích xây dựng và tôn cao bãi sông khoảng 3.900ha. Nội dung này căn cứ trên Báo cáo lập mô hình tính toán thủy văn, thủy lực, đánh giá tác động đến an toàn thoát lũ do Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam lập, đã được UBND thành phố và Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất tại Thông báo số 467/TB-(BNNMT-UBTPHN) ngày 6-5-2026.

    Việc khai thác không gian được tổ chức theo 3 mức thềm địa hình. Khu vực có cao trình trên 11,5m có thể xây dựng mới. Khu vực từ 9,5m đến 11,5m là không gian linh hoạt, tổ chức các công trình thích ứng và bố trí dân cư hiện có. Khu vực dưới 9,5m được định hướng phục hồi sinh thái, tổ chức giao thông chậm và cảnh quan đường dạo.

    Trên cơ sở đặc điểm không gian và chức năng, khu vực nghiên cứu được phân thành 3 đoạn.

    Phân đoạn thứ nhất, từ cầu Hồng Hà đến cầu Thăng Long, có diện tích khoảng 3.436ha, dân số khoảng 160.000 người. Định hướng là tái thiết đô thị, cải tạo, chỉnh trang làng xóm truyền thống, phát triển công viên sinh thái, bảo tồn tự nhiên và không gian thể dục, thể thao.

    Phân đoạn thứ hai, từ cầu Thăng Long đến cầu Thanh Trì, có diện tích khoảng 4.548ha, dân số khoảng 541.000 người. Đây là khu vực trọng tâm, được định hướng là “phòng khách đô thị”, gắn với tái thiết đô thị, phát triển trung tâm dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo và công trình điểm nhấn liên kết Hồ Tây – Cổ Loa.

    Phân đoạn thứ ba, từ cầu Thanh Trì đến cầu Mễ Sở, có diện tích khoảng 3.435ha, dân số khoảng 499.000 người. Khu vực tập trung các cụm công viên, phát triển đô thị, trong đó có khu đô thị định cư và đa mục tiêu phường Lĩnh Nam, cùng các khu dịch vụ – thương mại và không gian nông nghiệp sinh thái.

    Để triển khai định hướng quy hoạch, có 18 dự án thành phần theo Nghị quyết số 18/NQ-HĐND ngày 11-5-2026 của HĐND thành phố. Trong đó, có 2 dự án giao thông Trục đại lộ cảnh quan bờ tả và hữu sông Hồng; 11 dự án công viên; 2 dự án kè và chỉnh trị lòng sông, bờ sông; 3 dự án đô thị định cư và đa mục tiêu.

    Việc điều chỉnh quy hoạch được thực hiện trên nguyên tắc tuân thủ Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đã được phê duyệt; bảo đảm thống nhất định hướng không gian phát triển đô thị, hệ thống hạ tầng khung, hành lang xanh và cấu trúc hai bên sông Hồng là trục cảnh quan trung tâm của Thủ đô.

    Quy hoạch đặt yêu cầu bảo đảm an toàn phòng, chống lũ và ổn định đê điều; không làm thay đổi, suy giảm khả năng thoát lũ; không lấn chiếm hành lang thoát lũ, mái đê và thân đê.

    Quang cảnh sông Hồng. Ảnh: Phạm Hùng

    Bên cạnh đó là yêu cầu hài hòa giữa phát triển đô thị, bảo tồn và sinh thái sông nước; giữ vai trò sông Hồng như trục xanh – trục văn hóa – trục cảnh quan trung tâm; thích ứng với biến đổi khí hậu, hướng tới phát triển bền vững.

    Hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được định hướng đầu tư đồng bộ, bảo đảm tính kết nối với các phân khu lân cận. Việc điều chỉnh quy hoạch cũng hướng tới tạo cơ sở pháp lý cho các dự án hợp pháp trong vùng bãi, song vẫn kiểm soát chặt chẽ rủi ro và các vấn đề về môi trường.

    Bảo đảm 6 giá trị cốt lõi

    Một nội dung quan trọng trong điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng là định hướng đối với các cụm làng xóm cũ, khu dân cư trong phạm vi dự án.

    Việc di dời, tái thiết làng xóm được xác định đối với các làng không bảo đảm an toàn phòng, chống, thoát lũ; phần diện tích làng nằm trong phạm vi mở đường giao thông, gồm Trục đại lộ cảnh quan và các nút giao thông.

    Các làng xóm, khu dân cư nằm trong khu vực quy hoạch “phòng khách đô thị”, phía ngoài đê Hữu sông Hồng, bên trong đường Vành đai II, đoạn từ cầu Nhật Tân đến cầu Vĩnh Tuy, cũng thuộc nhóm được định hướng tổ chức lại không gian theo mục tiêu quy hoạch.

    Bên cạnh đó là các làng nằm trong khu vực xây dựng các khu đô thị định cư, đô thị đa mục tiêu đã được UBND thành phố chấp thuận chủ trương đầu tư.

    Song song với việc di dời, tái thiết tại một số khu vực, quy hoạch xác định nguyên tắc bảo tồn, giữ lại, cải tạo, chỉnh trang các làng xóm lâu đời.

    Theo đó, các di tích lịch sử, văn hóa và địa điểm lưu niệm sự kiện cách mạng, kháng chiến được bảo tồn gắn với cộng đồng dân cư. Tổng số 123 công trình di tích, bao gồm cả các công trình đã được xếp hạng và chưa xếp hạng, được xác định trong phạm vi quy hoạch.

    Khu vực lõi của các làng nghề truyền thống, các làng có giá trị về kiến trúc, lịch sử, văn hóa vật thể và phi vật thể đã được công nhận, xếp hạng được định hướng bảo tồn. Đây là những khu vực có các thành tố cấu thành làng xóm gắn với quá trình hình thành và phát triển.

    Đối với các khu vực ngoài “phòng khách đô thị”, tức ngoài đường Vành đai II, quy hoạch định hướng giữ lại và cải tạo, chỉnh trang khu vực lõi của các làng xóm lâu đời.

    Theo các nguyên tắc này, việc quy hoạch các làng xóm cũ và khu dân cư trong phạm vi Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng được phân thành các nhóm cụ thể.

    Hai cụm làng thuộc diện di dời theo quy định tại Quyết định số 257/QĐ-TTg ngày 18-2-2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phòng, chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình.

    Cụ thể, cụm làng Võng La – Hải Bối thuộc xã Thiên Lộc, xã Vĩnh Thanh sẽ thực hiện di dời một phần diện tích khu dân cư, làng xóm nằm trong phạm vi không bảo đảm điều kiện an toàn phòng, chống lũ và khu vực thuộc phạm vi xây dựng Trục đại lộ cảnh quan. Phạm vi liên quan gồm các thôn Võng La, Yên Hà, Hải Bối, với tổng diện tích khoảng 27ha.

    Làng Bắc Cầu thuộc phường Bồ Đề cũng thuộc diện di dời, với diện tích khoảng 35,5ha.

    Hai cụm làng thuộc diện tái thiết để phục vụ mục tiêu quy hoạch, kiến tạo khu vực “phòng khách đô thị” của Thủ đô gồm cụm làng Nhật Tân – Tứ Liên thuộc phường Hồng Hà, có diện tích khoảng 96ha và cụm làng Thống Nhất, gồm Hạ Trại và Trung Thôn, thuộc phường Long Biên, có diện tích khoảng 12ha.

    Bên cạnh đó, có 8 cụm làng thuộc diện cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc. Việc cải tạo không bao gồm phần diện tích nằm trong phạm vi di dời theo quy hoạch phòng, chống lũ, khu vực giải phóng mặt bằng để xây dựng 2 tuyến Trục đại lộ cảnh quan và các nút giao thông.

    Các khu vực này gồm cụm làng Văn Quán – Đông Cao – Tráng Việt thuộc xã Mê Linh; cụm làng Ngọc Giang – Lực Canh – Văn Tinh thuộc xã Vĩnh Thanh, xã Đông Anh; cụm làng Bát Tràng – Giang Cao – Kim Lan thuộc xã Bát Tràng, trong đó có phần diện tích khoảng 4,5ha dự kiến di dời theo quy hoạch phòng, chống lũ; làng Văn Đức thuộc xã Bát Tràng; làng Thúy Lĩnh thuộc phường Lĩnh Nam; làng Yên Mỹ thuộc xã Thanh Trì; làng Đại Lan thuộc xã Nam Phù và cụm làng Tranh Khúc – Vạn Phúc thuộc xã Nam Phù.

    Đối với các làng xóm được bảo tồn, giữ lại, cải tạo, chỉnh trang, giải pháp tổ chức không gian chung được xác định là không làm tăng quy mô diện tích và dân số cơ học. Đồng thời, có các giải pháp kiểm soát mật độ xây dựng, tầng cao công trình ở mức thấp nhằm phục vụ yêu cầu bảo tồn không gian làng xã.

    Hình thức kiến trúc, cảnh quan được lựa chọn phù hợp với không gian làng xã và các di tích lịch sử. Việc bảo tồn, cải tạo, chỉnh trang phải bảo đảm vùng bảo vệ di tích theo quy định của Luật Di sản văn hóa.

    Với phạm vi nghiên cứu trải dài 40km từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, việc điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5.000, đặt ra định hướng tổ chức lại không gian hai bên sông trên cơ sở kết hợp giữa yêu cầu phát triển đô thị, bảo tồn các giá trị văn hóa – lịch sử, phát triển không gian xanh và bảo đảm an toàn phòng, chống lũ.

    Theo nội dung quy hoạch, việc tổ chức không gian không chỉ hướng tới tăng cường kết nối giao thông, hạ tầng và khả năng tiếp cận sông, mà còn gắn với việc hình thành các công viên, không gian công cộng, hoạt động văn hóa, du lịch, thương mại, dịch vụ và sinh hoạt cộng đồng tại những khu vực phù hợp.

    Đồng thời, việc phân định cụ thể các khu vực di dời, tái thiết, bảo tồn và cải tạo, chỉnh trang làng xóm nhằm tạo cơ sở tổ chức lại không gian dân cư theo từng đặc điểm, điều kiện của khu vực, gắn với yêu cầu bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử và bảo đảm an toàn trong phòng, chống lũ.

    Trên nền tảng 6 giá trị cốt lõi “An toàn phòng chống lũ – Sinh thái – Hạ tầng – Chuyển đổi chức năng – Phát triển kinh tế – Văn hóa văn minh”, quy hoạch xác định định hướng đưa không gian sông Hồng trở thành trục xanh, trục văn hóa, trục cảnh quan trung tâm, tạo thêm điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và tổ chức không gian đô thị theo hướng văn minh, hiện đại, bền vững.

    Hồng Thái

    Nguồn https://baomoi.com/dinh-hinh-truc-khong-gian-xanh-trung-tam-doc-song-hong-c55990700.epi

  • Lịch Âm Dương ngày 07/09/2026: Tra cứu giờ hoàng đạo, tuổi xung và việc nên làm may mắn

    Xem chi tiết Âm Dương lịch 07/09/2026

    Theo dõi Âm Dương lịch ngày 07/09/2026 giúp bạn chủ động sắp xếp kế hoạch làm việc, xuất hành và đưa ra những quyết định phù hợp trong ngày đầu tuần. Mọi thông tin phong thủy dưới đây mang tính tham khảo truyền thống, hỗ trợ chuẩn bị tâm lý vững vàng và tích cực nhất.

    Thông tin tổng quan về Âm Dương lịch ngày 07/09/2026

    Ngày 07 tháng 09 năm 2026 Dương Lịch (Thứ Hai) tương ứng với ngày 26 tháng 07 năm Bính Ngọ Âm Lịch (tháng Bính Thân, ngày Giáp Thân).

    Hệ can chi: Ngày Giáp Thân, Chi khắc Can (Kim khắc Mộc), nạp âm Tuyền Trung Thủy.
    Ngày kỵ: Không phạm các ngày Nguyệt kỵ, Nguyệt tận, Tam Nương hay Dương Công Kỵ Nhật.
    Lục diệu: Ngày Lưu Liên (mọi việc nên tiến hành cẩn trọng, kiên nhẫn, tránh nóng vội).
    Nhị thập bát tú: Sao Trương (Trương Nguyệt Lộc) – Kiết tú, mang ý nghĩa tốt lành cho nhiều dự định.
    Trực: Trực Kiến (thích hợp cho các hoạt động khởi đầu mới, tri ân, kết nối).

    Khung giờ hoàng đạo và hắc đạo trong ngày

    Việc lựa chọn thời điểm thích hợp trong ngày có thể giúp tiến trình công việc diễn ra thuận lợi hơn theo quan niệm dân gian.

    Tuổi hợp và tuổi xung khắc cần lưu ý

    Dựa trên quy luật ngũ hành và địa chi, các mối quan hệ tương hợp và tương xung trong ngày Giáp Thân được phân định cụ thể như sau:

    Tuổi hợp: Tam hợp với Tý và Thìn (tạo thành Thủy cục); Lục hợp với tuổi Tỵ. Những người mang tuổi này có thể đón nhận nhiều cơ hội hợp tác tích cực.
    Tuổi xung khắc: Xung và hình với tuổi Dần; hình và hại với Hợi; phá Tỵ; tuyệt Mão. Kỵ nhất hai tuổi Mậu Dần và Bính Dần. Người thuộc nhóm này nên giữ tâm thế bình tĩnh, xử lý công việc kỹ lưỡng để tránh sơ suất.
    Lưu ý ngũ hành: Ngày hành Thủy khắc hành Hỏa, tuy nhiên các tuổi Mậu Tý, Bính Thân và Mậu Ngọ không chịu ảnh hưởng tiêu cực từ sự tương khắc này.

    Hướng và giờ xuất hành thuận lợi

    Để khởi đầu chuyến đi công tác hay di chuyển bình an, bạn có thể tham khảo phương hướng và các mốc thời gian phù hợp:

    Hướng xuất hành: Hướng Đông Bắc để đón Hỷ Thần (niềm vui, may mắn), hướng Đông Nam đón Tài Thần (tài lộc). Nên hạn chế đi về hướng Tây Bắc do gặp Hạc Thần.
    Giờ xuất hành đẹp (theo Lý Thuần Phong): Khung 01:00 – 03:00 và 13:00 – 15:00 (Đại An, cầu tài hướng Tây Nam tốt); Khung 05:00 – 07:00 và 17:00 – 19:00 (Tốc Hỷ, gặp nhiều tin vui); Khung 09:00 – 11:00 và 21:00 – 23:00 (Tiểu Cát, kinh doanh thuận buồm xuôi gió).

    Gợi ý việc nên làm và kiêng cữ trong ngày

    Dân gian có câu “vạn sự khởi đầu nan”, việc nắm bắt các yếu tố phong thủy giúp chúng ta có sự chuẩn bị chu đáo hơn.

    Việc nên làm: Nhờ sự trợ chiếu của sao Trương và các cát tinh như Minh Tinh, Mãn Đức Tinh, Phúc Hậu, ngày này phù hợp cho việc khởi động dự án mới, khai trương buôn bán, đền ơn đáp nghĩa, trồng cây, cưới hỏi hoặc gắn kết quan hệ hợp tác.
    Việc nên cân nhắc: Theo Bành Tổ Bách Kỵ Nhật và các sao xấu như Thổ phủ, Quỷ khốc, nên tránh kê dọn giường ngủ tùy tiện, hạn chế các công việc đào bới đất đai, động thổ lớn hoặc sửa chữa thuyền bè. Trong giao tiếp, hãy cẩn trọng lời nói để giữ hòa khí.

    *Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, giải trí và chiêm nghiệm văn hóa dân gian, giúp bạn đọc thêm lạc quan và vững tâm trong mọi kế hoạch đời sống.

    Đại Ngàn

    Nguồn https://baomoi.com/lich-am-duong-ngay-07-09-2026-tra-cuu-gio-hoang-dao-tuoi-xung-va-viec-nen-lam-may-man-c55990549.epi

  • Hà Nội lên phương án di dời, tái thiết loạt làng xóm ven sông Hồng

    UBND TP Hà Nội vừa có báo cáo điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5000 để thực hiện Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.

    Quy hoạch đô thị sông Hồng được kỳ vọng mở rộng không gian phát triển. Ảnh: Phạm Hưng

    Di dời các khu dân cư mất an toàn lũ

    Theo đồ án Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5000 phục vụ Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, Thành phố đã đưa ra các nguyên tắc phân loại cụ thể đối với các cụm làng xóm cũ ngoài đê.

    Hà Nội xác định sẽ di dời các làng xóm không bảo đảm an toàn phòng, chống và thoát lũ, hoặc nằm trong phạm vi mở đường giao thông của trục đại lộ cảnh quan và các nút giao. Đồng thời, các khu vực dân cư nằm trong quy hoạch xây dựng đô thị định cư, đô thị đa mục tiêu đã được chấp thuận chủ trương đầu tư cũng thuộc diện phải di dời.

    Theo các nguyên tắc này, có 2 cụm làng thuộc diện di dời theo Quy hoạch phòng chống lũ và đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình (Quyết định số 257/QĐ-TTg). Cụ thể:

    Làng Bắc Cầu (phường Bồ Đề) thuộc diện di dời toàn bộ với quy mô khoảng 35,5 ha.

    Cụm làng Võng La – Hải Bối (thuộc xã Thiên Lộc, Vĩnh Thanh) thực hiện di dời một phần diện tích khu dân cư nằm trong phạm vi không đảm bảo an toàn phòng chống lũ và khu vực nằm trong phạm vi xây dựng Trục đại lộ cảnh quan thuộc các thôn Võng La, Yên Hà, Hải Bối (tổng diện tích khoảng 27 ha).

    Bên cạnh đó, cụm làng Bát Tràng – Giang Cao – Kim Lan (xã Bát Tràng) cũng sẽ thực hiện di dời một phần khoảng 4,5 ha theo quy hoạch phòng chống lũ.

    Bảo tồn và khống chế tầng cao 8 cụm làng cổ

    Ở chiều ngược lại, Hà Nội sẽ giữ lại, bảo tồn và cải tạo chỉnh trang có chọn lọc đối với 8 cụm làng xóm lâu đời nằm ngoài khu vực “phòng khách đô thị” (ngoài vành đai II). Nguyên tắc cốt lõi là bảo tồn nguyên trạng các di tích lịch sử văn hóa, địa điểm lưu niệm kháng chiến (gồm 123 công trình di tích) cùng khu vực lõi gắn liền với lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống và làng cổ có giá trị kiến trúc, lịch sử.

    Danh sách 8 cụm làng được giữ lại cải tạo bao gồm: Văn Quán – Đông Cao – Tráng Việt (xã Mê Linh); Ngọc Giang – Lực Canh – Văn Tinh (xã Vĩnh Thanh, Đông Anh); Bát Tràng – Giang Cao – Kim Lan (xã Bát Tràng, ngoại trừ phần diện tích di dời thoát lũ); Văn Đức (xã Bát Tràng); Thúy Lĩnh (phường Lĩnh Nam); Yên Mỹ (xã Thanh Trì); Đại Lan (xã Nam Phù); Tranh Khúc – Vạn Phúc (xã Nam Phù).

    Để bảo tồn tối đa không gian làng xã truyền thống, chính quyền Hà Nội đưa ra giải pháp nghiêm ngặt là không tăng quy mô diện tích và kiểm soát chặt chẽ dân số cơ học. Mật độ xây dựng tại các khu vực này sẽ bị kiểm soát chặt chẽ, chiều cao công trình nhà ở tại các làng truyền thống được khống chế ở mức thấp (dự kiến cao tối đa 3 tầng). Hình thức kiến trúc cảnh quan tại đây bắt buộc phải thiết kế hài hòa với không gian làng xã, các di tích lịch sử và đảm bảo hành lang bảo vệ theo quy định của Luật Di sản văn hóa.

    Minh Chí

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-len-phuong-an-di-doi-tai-thiet-loat-lang-xom-ven-song-hong-c55990580.epi

  • Người dân xã Thịnh Minh phấn khởi trước loạt dự án lớn

    Không gian phát triển mới

    Trên vùng đất bán sơn địa Thịnh Minh những ngày này, không khí phấn khởi hiện hữu rõ nét trong cộng đồng dân cư khi Tổ hợp công nghiệp Tản Viên Tech Valley được khởi công trong tháng 8 vừa qua. Với quy mô 592ha, tổng vốn đầu tư gần 7.600 tỷ đồng, dự án được kỳ vọng tạo cú hích mạnh mẽ, mở ra không gian phát triển mới cho địa phương.

    Trao đổi về tác động của các dự án đối với đời sống người dân, ông Dương Công Dung, thôn Quốc, xã Thịnh Minh không giấu được niềm vui. Gia đình ông thuộc diện giải phóng mặt bằng đợt đầu, đã bàn giao 10ha đất rừng và hơn 1ha đất ruộng để thực hiện Tổ hợp dự án. Dù gắn bó cả đời với từng tấc đất, gốc cây, song trước chủ trương phát triển của địa phương, vợ chồng ông đều đồng thuận, tích cực phối hợp thực hiện.

    “Dự án này đối với chúng tôi là rất tốt. Vợ chồng tôi nay cũng đã lớn tuổi, khoản tiền đền bù cùng việc đất đai được thu hồi đúng mục đích khiến chúng tôi rất phấn khởi. Điều mong mỏi nhất là khi dự án đi vào hoạt động, người dân địa phương sẽ có việc làm ổn định ngay tại quê nhà, không phải đi làm ăn xa”, ông Dung chia sẻ.

    Mô hình Tổ hợp công nghiệp Tản Viên Tech Valley.

    Cùng chung niềm tin, bà Bùi Thị Thanh, sinh năm 1966 ở thôn Quốc, cho biết gia đình đã bàn giao gần 4.000m2 đất đồi rừng trong đợt này và sẽ tiếp tục thực hiện giải phóng mặt bằng phần đất vườn, đất ở trong đợt tiếp theo. Bà Thanh khẳng định: “Bà con chúng tôi rất ủng hộ việc giải phóng mặt bằng để tạo quỹ đất phát triển kinh tế. Đất đai nhường cho dự án lớn, tương lai con em xã Thịnh Minh chắc chắn sẽ có thêm nhiều cơ hội về việc làm, thu nhập”.

    Theo thống kê tại thôn Quốc, trong tổng số 163 hộ dân, dự kiến khoảng 100 hộ nằm trong phạm vi ảnh hưởng của dự án, với tổng diện tích phải giải phóng mặt bằng khoảng 100ha. Sự đồng thuận của người dân là một trong những yếu tố quan trọng, góp phần tạo thuận lợi cho quá trình triển khai dự án.

    Ông Nguyễn Mạnh Tưởng – Trưởng thôn Quốc, cho biết lực lượng thanh niên trên địa bàn khá đông, song nhiều người sau khi tốt nghiệp THPT phải đi học nghề, làm công nhân xa nhà. Vì vậy, bà con mong dự án sớm triển khai không chỉ tạo việc làm mà còn chú trọng đào tạo, nâng cao tay nghề để con em địa phương có cơ hội phát triển lâu dài.

    Bài toán công nghiệp – đô thị bền vững

    Việc khởi công Tổ hợp công nghiệp Tản Viên Tech Valley thu hút sự quan tâm của người dân trong tỉnh. Ngay tại lễ khởi công, 15 nhà đầu tư tiên phong đã ký kết hợp tác, đăng ký quỹ đất gần 70ha.

    Kết quả này có sự đóng góp từ những bước tiến trong thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới của tỉnh. Tiêu biểu là Tập đoàn Meiko (Nhật Bản) khởi công Nhà máy sản xuất vi mạch điện tử trị giá 500 triệu USD vào tháng 6/2026 tại Thịnh Minh, nâng tổng mức đầu tư của tập đoàn tại địa phương lên khoảng 850 triệu USD.

    Sự hiện diện của các doanh nghiệp công nghệ lớn gắn với hệ sinh thái hạ tầng do Công ty CPTM Dạ Hợp định hướng phát triển. Với vai trò Chủ tịch Liên danh chủ đầu tư KCN Thịnh Minh và Cụm công nghiệp Thịnh Minh 1, Dạ Hợp đồng thời triển khai các dự án đô thị, nhà ở và hạ tầng thiết yếu, tạo nền tảng phục vụ sản xuất và đời sống.

    Người dân xã Thịnh Minh phấn khởi với 5 dự án cùng lúc được triển khai trên địa bàn.

    Bà Vũ Thị Hợp, Chủ tịch HĐQT Công ty CPTM Dạ Hợp, định hướng kết nối 5 dự án thành một tổ hợp đồng bộ. Mô hình Công nghiệp – Đô thị – Dịch vụ tích hợp các tiêu chuẩn ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) được kỳ vọng tạo hiệu quả cộng hưởng, đáp ứng nhu cầu về sản xuất, nhà ở và dịch vụ cho chuyên gia, người lao động.

    Bên cạnh đó, vị trí tại cửa ngõ phía Tây Thủ đô cùng hệ thống giao thông đa phương thức tạo lợi thế cho Tản Viên Tech Valley. Các đường bộ kết nối với Hà Nội và các tỉnh lân cận, trong khi đường thủy trên sông Đà và Cảng hàng không quốc tế Nội Bài mở rộng khả năng lưu thông hàng hóa, kết nối sản xuất.

    Tản Viên Tech Valley còn có sự đồng hành của các đối tác chiến lược trong quy hoạch, truyền thông, phát triển hạ tầng ESG, năng lượng tái tạo và đào tạo nhân lực. Sự kết hợp này được kỳ vọng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của tổ hợp, hướng tới phát triển công nghiệp hiện đại, bền vững.

    Khát vọng bứt phá

    Đánh giá về những cơ hội mới từ sự phát triển của Tản Viên Tech Valley, ông Nguyễn Văn Nam – Chánh Văn phòng HĐND và UBND xã Thịnh Minh, cho rằng đây là cơ hội lớn để Thịnh Minh đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, xanh và bền vững. Khi các dự án đi vào hoạt động, nhu cầu về lao động, dịch vụ, thương mại, nhà ở và các ngành công nghiệp hỗ trợ sẽ gia tăng, mở ra nhiều việc làm, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

    Tổ hợp công nghiệp Tản Viên Tech Valley sau khi được đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động được kỳ vọng tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động địa phương.

    “Cùng với cơ hội, quá trình phát triển cũng đặt ra yêu cầu cao trong công tác quản lý. Xã sẽ phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành và nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án triển khai đúng tiến độ. Đồng thời, địa phương chú trọng đào tạo, kết nối nguồn nhân lực để người dân có thể tham gia và hưởng lợi trực tiếp từ quá trình phát triển”, ông Nguyễn Văn Nam cho hay.

    Hồng Trung

    Nguồn https://baomoi.com/nguoi-dan-xa-thinh-minh-phan-khoi-truoc-loat-du-an-lon-c55990461.epi

  • Bán, cho thuê chỗ để ô tô trong chung cư sai quy định bị phạt tới 200 triệu đồng

    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 339/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, quản lý, phát triển nhà, kinh doanh bất động sản. Nghị định quy định cụ thể các hành vi vi phạm, hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả cũng như thẩm quyền xử phạt đối với các vi phạm trong những lĩnh vực này.

    Đáng chú ý, Nghị định dành Điều 59 quy định về xử phạt đối với các hành vi vi phạm của chủ đầu tư liên quan đến quản lý, sử dụng nhà chung cư và kinh phí bảo trì phần sở hữu chung nhà chung cư.

    Bán, cho thuê chỗ để xe ô tô trong chung cư sai quy định có thể bị phạt tới 200 triệu đồng. (Ảnh minh họa)

    Theo đó, mức phạt từ 80 triệu đồng đến 100 triệu đồng được áp dụng đối với một số hành vi như không mở tài khoản thanh toán hoặc mở tài khoản để quản lý kinh phí bảo trì không đúng quy định; không có hoặc chậm có văn bản đề nghị UBND cấp xã tổ chức Hội nghị nhà chung cư lần đầu trong trường hợp không đủ điều kiện về số lượng người tham gia; không thông báo hoặc thông báo không đầy đủ thông tin về tài khoản quản lý kinh phí bảo trì cho cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh.

    Cùng mức phạt này, chủ đầu tư có thể bị xử phạt nếu không lập kế hoạch bảo trì hoặc lập không đúng quy định; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo trì, quản lý vận hành, khai thác theo nội dung dự án được phê duyệt trong thời gian chưa bàn giao công trình hạ tầng kỹ thuật khu vực có nhà chung cư. Việc không công khai đầy đủ hồ sơ theo quy định cho người mua, thuê mua căn hộ trước khi bàn giao cũng thuộc nhóm hành vi bị xử phạt.

    Đối với nhóm vi phạm nghiêm trọng hơn, khoản 2 Điều 59 quy định phạt tiền từ 160 triệu đồng đến 200 triệu đồng. Mức phạt này áp dụng đối với các hành vi xác định kinh phí bảo trì phần sở hữu chung nhà chung cư không đúng quy định; không ghi hoặc ghi không đúng thông tin về tài khoản thanh toán để quản lý kinh phí bảo trì trong hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hoặc phần diện tích khác của nhà chung cư.

    Đặc biệt, hành vi không đề nghị tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang quản lý tài khoản kinh phí bảo trì chuyển kinh phí và lãi phát sinh sang tài khoản quản lý kinh phí bảo trì do Ban quản trị nhà chung cư lập cũng bị phạt từ 160 triệu đồng đến 200 triệu đồng.

    Đáng chú ý, bán, cho thuê chỗ để xe ô tô trong nhà chung cư không đúng quy định cũng thuộc nhóm hành vi bị phạt từ 160 triệu đồng đến 200 triệu đồng.

    Ngoài hình thức xử phạt tiền, Nghị định 339/2026/NĐ-CP còn quy định các biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng. Với hành vi bán, cho thuê chỗ để xe ô tô không đúng quy định, chủ đầu tư bị buộc điều chỉnh việc bán, cho thuê chỗ để xe ô tô trong nhà chung cư theo đúng quy định.

    Đối với các hành vi liên quan đến kinh phí bảo trì, tùy từng vi phạm, chủ đầu tư có thể bị buộc xác định lại kinh phí bảo trì; bổ sung đầy đủ thông tin về tài khoản thanh toán; thực hiện văn bản đề nghị chuyển kinh phí và lãi phát sinh theo quy định.

    Nghị định cũng quy định mức phạt từ 200 triệu đồng đến 260 triệu đồng đối với các hành vi như không bố trí hoặc bố trí không đủ diện tích nhà sinh hoạt cộng đồng, không gian sinh hoạt cộng đồng; quản lý, sử dụng kinh phí quản lý vận hành không đúng quy định; không tổ chức Hội nghị nhà chung cư lần đầu; không lập hoặc lập không đúng, không đầy đủ tài liệu quyết toán kinh phí bảo trì phần sở hữu chung.

    Ở mức cao hơn, phạt tiền từ 260 triệu đồng đến 300 triệu đồng được áp dụng đối với một số hành vi như tự ý chuyển đổi công năng, mục đích sử dụng phần sở hữu chung, sử dụng chung của nhà chung cư; sử dụng căn hộ chung cư vào mục đích không phải để ở; tự ý sử dụng phần diện tích, trang thiết bị thuộc quyền sở hữu chung không đúng quy định; không bàn giao hoặc bàn giao không đầy đủ, không đúng thời hạn hồ sơ nhà chung cư cho Ban quản trị.

    Đặc biệt, việc không bàn giao, bàn giao chậm, bàn giao không đầy đủ kinh phí bảo trì và tiền lãi gửi kinh phí bảo trì phần sở hữu chung; hoặc quản lý, sử dụng kinh phí bảo trì không đúng quy định cũng thuộc nhóm hành vi có mức phạt từ 260 triệu đồng đến 300 triệu đồng.

    Đình Khương

    Nguồn https://baomoi.com/ban-cho-thue-cho-de-o-to-trong-chung-cu-sai-quy-dinh-bi-phat-toi-200-trieu-dong-c55990485.epi

  • Bốn ưu tiên và sáu dự án tái định cư đại lộ sông Hồng của Hà Nội

    UBND TP Hà Nội vừa báo cáo phương án điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5.000, làm cơ sở triển khai Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.

    Bốn ưu tiên và sáu dự án tái định cư đại lộ sông Hồng của Hà Nội. Ảnh: Quang Hùng

    Trong đó, Thành phố đưa ra phương án chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho các trường hợp phải di dời giải phóng mặt bằng (GPMB) phục vụ Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Phương án này được xây dựng trên nguyên tắc ưu tiên tối đa việc duy trì địa bàn sinh sống, sinh kế và sự gắn kết cộng đồng, đảm bảo người dân có điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.

    Theo phương án bồi thường áp dụng các chính sách đặc thù phù hợp với Luật Thủ đô và các Nghị quyết cơ chế đặc thù của Quốc hội, Hà Nội sẽ áp dụng mức bồi thường bằng tiền về đất bằng 2 lần so với mức quy định thông thường. Chính sách này áp dụng đối với các trường hợp đất ở, đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp có đủ điều kiện pháp lý theo quy định của Luật Đất đai. Các công trình, tài sản khác, chi phí đầu tư còn lại vào đất, cây trồng vật nuôi cũng được bồi thường đầy đủ theo quy định.

    Về các khoản hỗ trợ ổn định đời sống, người dân sẽ nhận các chế độ hỗ trợ tháo dỡ, di dời, ổn định sản xuất kinh doanh. Đặc biệt, khoản hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm được xác định bằng 05 lần giá đất nông nghiệp.

    Thành phố cũng ban hành chính sách nhân văn đối với các hộ gia đình đông thế hệ. Trường hợp một hộ có nhiều cặp vợ chồng đủ điều kiện tách hộ thì sẽ được bố trí thêm các suất tái định cư riêng cho từng hộ.

    Với các trường hợp đất không đủ điều kiện bồi thường, nếu hộ dân không còn nhà ở hay nơi ở nào khác trên địa bàn thì vẫn được xem xét bố trí tái định cư. Tương tự, những hộ còn đất ở trên địa bàn nhưng diện tích nhỏ hơn mức tối thiểu để tách thửa cũng sẽ được giải quyết quyền lợi tái định cư. Trong trường hợp số tiền bồi thường về đất không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu, Nhà nước sẽ hỗ trợ phần chênh lệch thiếu để người dân chắc chắn có chỗ ở.

    Ưu tiên tái định cư tại chỗ

    Hà Nội đưa ra thứ tự ưu tiên rất rõ ràng trong việc bố trí tái định cư, đặt nguyện vọng của người dân lên hàng đầu:

    Bố trí tái định cư ngay trên cùng địa bàn xã, phường: Ưu tiên chuyển người dân từ bãi sông vào phía trong đê hoặc khu vực an toàn hơn trên chính địa bàn đó nếu có quỹ đất phù hợp quy hoạch.

    Bố trí tại địa bàn lân cận: Nếu quỹ đất tại chỗ không đủ, người dân được nghiên cứu bố trí tại các khu vực lân cận với khoảng cách hợp lý nhằm duy trì công việc, học tập và các quan hệ cộng đồng.

    Bố trí tại các khu định cư tập trung: Nơi đã hoặc có khả năng hoàn thành đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và xã hội, bảo đảm đầy đủ trường học, trạm y tế, chợ dân sinh, không gian cộng đồng.

    Bố trí tại các khu đô thị đa mục tiêu: Là quỹ đất bổ sung, cung cấp đa dạng lựa chọn từ đất ở thấp tầng, căn hộ chung cư cho đến nhà ở xã hội.

    Hiện tại, quỹ đất tái định cư phục vụ dự án dự kiến đạt khoảng 265 ha. Quỹ đất này được phân bổ tại các xã, phường như: Mê Linh (72 ha), Nam Phù (72 ha), Bát Tràng (35 ha), Vĩnh Thanh và Đông Anh (30 ha), Hồng Vân (23 ha), Thượng Cát và Đông Ngạc (12 ha), Ô Diên (11 ha) và Yên Sở (10 ha).

    Xây dựng 6 khu đô thị, định cư quy mô lớn phục vụ người dân

    Đối với các địa bàn đặc thù như xã Thiên Lộc, các phường Phú Thượng, Hồng Hà, Bồ Đề, Long Biên vốn không còn quỹ đất phía trong đê để bố trí tại chỗ, Thành phố sẽ sắp xếp người dân vào các khu đô thị đa mục tiêu và khu định cư tập trung quy mô lớn đang được đẩy nhanh đầu tư. Sáu dự án trọng điểm này gồm có:

    Khu đô thị đa mục tiêu Thư Lâm – Đông Anh (quy mô khoảng 736,84 ha): Dự kiến cung cấp khoảng 9.000 lô đất thấp tầng và 23.000 căn hộ tái định cư, nhà ở xã hội. Hạ tầng kỹ thuật đất thấp tầng dự kiến hoàn thành chậm nhất quý II/2027, bàn giao căn hộ cao tầng chậm nhất quý IV/2029 để đón người dân các khu vực Hồng Hà, Long Biên, Bồ Đề, Thượng Cát, Phú Thượng và xã Đông Anh.

    Khu đô thị đa mục tiêu Bắc Thăng Long (Urban City) (quy mô 474 ha tại xã Phúc Thịnh và Thiên Lộc): Dự kiến có 5.000 lô đất thấp tầng và 5.000 – 10.000 căn hộ tái định cư, nhà ở xã hội. Phần đất thấp tầng sẽ xong hạ tầng vào quý II/2028, toàn bộ nhà ở cao tầng hoàn thành năm 2030 để phục vụ cư dân các xã Thiên Lộc, Vĩnh Thanh, Đông Anh.

    Khu đô thị đa mục tiêu tại phường Lĩnh Nam (quy mô 169,5 ha): Dự kiến bố trí khoảng 20.000 căn hộ tái định cư, nhà ở xã hội, hoàn thành toàn bộ công trình chậm nhất quý I/2030 để bố trí cho cư dân các khu vực Hồng Hà, Lĩnh Nam, Phú Thượng, xã Thanh Trì, Nam Phù và lân cận.

    Khu đô thị đa mục tiêu tại Bồ Đề, Long Biên và Bát Tràng (quy mô khoảng 270,68 ha): Dự kiến bố trí 10.500 căn hộ tái định cư, nhà ở xã hội, hoàn thành trong năm 2030.

    Khu định cư Long Biên – Bồ Đề (quy mô 201 ha): Dự kiến xây dựng khoảng 25.000 căn hộ chung cư, hoàn thành trước quý I/2030.

    Khu định cư Lĩnh Nam (quy mô 101 ha): Dự kiến cung cấp 20.500 căn hộ chung cư, hoàn thành bàn giao trước quý I/2030.

    UBND Thành phố khẳng định quan điểm nhất quán: chỉ thực hiện di dời, giải phóng mặt bằng đối với các hộ dân sau khi đã hoàn thành xây dựng và bố trí nơi ở mới tại các khu tái định cư. Quyền lợi hợp pháp của người dân bị thu hồi đất, di dời tài sản luôn được đặt ở vị trí ưu tiên và bảo đảm phù hợp pháp luật, đồng thời toàn bộ cơ chế chính sách bồi thường sẽ được công bố công khai, minh bạch rộng rãi để người dân biết và đồng thuận.

    Tuy nhiên, để bảo đảm tiến độ chung của toàn dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, Thành phố sẽ chủ động triển khai giải phóng mặt bằng trước đối với các khu vực bãi sông là đất công, đất nông nghiệp, các khu vực đã đủ điều kiện thu hồi đất ngay hoặc đối với những hộ dân tự nguyện di dời sớm.

    Minh Chí

    Nguồn https://baomoi.com/bon-uu-tien-va-sau-du-an-tai-dinh-cu-dai-lo-song-hong-cua-ha-noi-c55990501.epi

  • Chi tiết Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng sau điều chỉnh

    UBND TP Hà Nội vừa có báo cáo điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5.000 để thực hiện Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Mục tiêu của đồ án là hình thành trục không gian xanh trung tâm gắn với văn hóa sáng tạo dọc sông Hồng, đồng thời tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng một không gian biểu trưng mới của Thủ đô.

    Phạm vi nghiên cứu có diện tích khoảng 11.418 ha, phía bắc đến đê Tả sông Hồng, phía nam đến đê Hữu sông Hồng, phía tây giáp cầu Hồng Hà và phía đông giáp cầu Mễ Sở.

    Hiện khu vực này có khoảng 3.626 ha mặt nước, chiếm 30% diện tích nghiên cứu; đất sản xuất nông nghiệp khoảng 5.741 ha, chiếm khoảng 50%; đất ở dân cư khoảng 1.102 ha, với tổng dân số khoảng 279.525 người.

    Trong khu vực quy hoạch hiện có 123 công trình di tích, gồm một di tích quốc gia đặc biệt, 26 di tích cấp quốc gia, 35 di tích cấp thành phố và 61 di tích chưa xếp hạng. Ngoài ra còn có 14 địa điểm lưu niệm sự kiện cách mạng, kháng chiến.

    Dân số dự báo tối đa 1,2 triệu người

    Theo định hướng mới, quy mô dân số khu vực được dự báo khoảng 800.000-1,2 triệu người. Chỉ tiêu sử dụng đất dân dụng khoảng 55 m2/người, đất đơn vị ở khoảng 15 m2/người.

    Mật độ xây dựng gộp tại khu dịch vụ – công cộng khoảng 60%; nhóm nhà ở 35-40%; công viên chuyên đề 25% và công viên công cộng 5%.

    Tầng cao công trình phổ biến được định hướng 30-45 tầng. Đồ án cũng đề xuất công trình điểm nhấn, biểu tượng đô thị là Tháp Kỷ nguyên cao 109 tầng. Trong khi đó, các làng xóm truyền thống được định hướng giữ tầng cao thấp, dự kiến khoảng 3 tầng và sẽ tiếp tục được đánh giá theo tiêu chí cụ thể ở quy hoạch chi tiết.

    Khu vực ven hai bờ sông Hồng thuộc dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng hiện chủ yếu là đất trống, các cụm dân cư hiện hữu và bãi bồi được người dân dùng để sản xuất, trồng trọt. Ảnh: Đinh Hà.

    Đồ án cũng đề xuất khoảng 3.900 ha diện tích xây dựng và tôn cao bãi sông. Báo cáo cho biết phương án này dựa trên kết quả mô hình tính toán thủy văn, thủy lực và đánh giá tác động đến an toàn thoát lũ do Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam lập, được UBND Hà Nội và Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất tại cuộc họp tháng 5.

    Không gian khu vực cũng được phân thành 3 mức thềm địa hình. Khu vực trên cao độ 11,5 m được xác định là nơi có thể xây dựng mới; 9,5-11,5 m là không gian linh hoạt, tổ chức công trình thích ứng và dân cư hiện có; dưới 9,5 m được định hướng phục hồi sinh thái, giao thông chậm và đường dạo cảnh quan.

    Toàn khu vực được chia thành 3 phân đoạn. Đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Thăng Long có diện tích khoảng 3.436 ha, định hướng tái thiết đô thị, chỉnh trang làng xóm truyền thống, phát triển công viên sinh thái, bảo tồn tự nhiên và thể dục thể thao.

    Đoạn từ cầu Thăng Long đến cầu Thanh Trì rộng khoảng 4.548 ha, được xác định là khu vực trọng tâm, phát triển không gian “phòng khách đô thị”, các khu tái thiết đô thị tập trung, trung tâm dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo và các công trình điểm nhấn kết nối Hồ Tây – Cổ Loa.

    Đoạn từ cầu Thanh Trì đến cầu Mễ Sở có diện tích khoảng 3.435 ha, tập trung các cụm công viên, khu đô thị định cư và đa mục tiêu tại Lĩnh Nam, khu dịch vụ – thương mại, khu bảo tồn làng nghề Bát Tràng và các không gian nông nghiệp sinh thái.

    Có 18 dự án thành phần

    Theo báo cáo, dự án gồm 18 dự án thành phần, trong đó có 2 dự án giao thông Trục đại lộ cảnh quan bờ Tả và Hữu sông Hồng, 11 dự án công viên với tổng quy mô khoảng 3.513 ha, 2 dự án kè và chỉnh trị lòng sông, bờ sông và 3 dự án đô thị định cư, đa mục tiêu.

    Một nguyên tắc xuyên suốt của đồ án là bảo đảm an toàn phòng, chống lũ và ổn định đê điều, không làm thay đổi hoặc suy giảm khả năng thoát lũ, không lấn chiếm hành lang thoát lũ, mái đê và thân đê.

    Phương án tổ chức không gian được xây dựng theo hướng chuyển từ một đô thị “quay lưng ra sông” sang “quay mặt vào sông”. Thành phố định hướng hình thành hệ thống công viên, không gian công cộng, đường dạo cảnh quan, các khu văn hóa, du lịch, thể thao và giải trí ven sông.

    Về giao thông, các tuyến đường ven sông, cầu vượt sông và mạng lưới đường bộ, đường thủy được định hướng kết nối thành hệ thống liên hoàn, đồng thời kết nối với đường sắt đô thị và hệ thống hạ tầng kỹ thuật.

    Đối với các làng xóm hiện hữu, báo cáo phân thành các nhóm phải di dời, tái thiết hoặc cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc. Việc di dời được đặt ra với các khu vực không đảm bảo an toàn phòng, chống lũ; nằm trong phạm vi xây dựng trục đại lộ, nút giao thông; thuộc khu vực “phòng khách đô thị” hoặc nằm trong các khu đô thị tái định cư, đa mục tiêu đã được chấp thuận chủ trương đầu tư.

    Đồ án điều chỉnh quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng dự kiến quy mô dân số khu vực tối đa 1,2 triệu người. Ảnh: Đinh Hà.

    Theo phương án, hai cụm làng thuộc diện di dời theo quy hoạch phòng, chống lũ gồm cụm Võng La – Hải Bối và làng Bắc Cầu. Hai cụm làng được xác định thuộc diện tái thiết để phục vụ khu vực “phòng khách đô thị” là Nhật Tân – Tứ Liên và Thống Nhất.

    Ngoài ra, 8 cụm làng được định hướng cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc, gồm Văn Quán – Đông Cao – Tráng Việt; Ngọc Giang – Lực Canh – Văn Tinh; Bát Tràng – Giang Cao – Kim Lan; Văn Đức; Thúy Lĩnh; Yên Mỹ; Đại Lan; Tranh Khúc – Vạn Phúc.

    Thành phố yêu cầu việc bảo tồn phải gắn với các di tích lịch sử, văn hóa và địa điểm lưu niệm cách mạng, đồng thời giữ lại khu vực lõi của những làng nghề truyền thống, làng có giá trị kiến trúc, lịch sử và văn hóa. Với các làng được giữ lại, quy hoạch không làm tăng quy mô dân số cơ học, đồng thời kiểm soát mật độ xây dựng và tầng cao công trình.

    Bố trí tái định cư trước khi thu hồi đất

    Đối với các hộ dân phải di dời để thực hiện dự án, Hà Nội định hướng đa dạng hóa địa điểm và loại hình tái định cư, ưu tiên duy trì địa bàn sinh sống, sinh kế và sự gắn kết cộng đồng. Các khu tái định cư phải có điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.

    Thứ tự ưu tiên là bố trí ngay trên địa bàn xã, phường; nếu quỹ đất không đủ thì bố trí tại khu vực lân cận; tiếp đó là các khu định cư tập trung đã hoặc có khả năng hoàn thiện đồng bộ hạ tầng. Các khu đô thị đa mục tiêu được xác định là quỹ bổ sung.

    Một số khu đô thị, khu định cư được đưa vào phương án gồm Khu đô thị đa mục tiêu Thư Lâm – Đông Anh quy mô khoảng 736,84 ha; Khu đô thị đa mục tiêu Bắc Thăng Long quy mô khoảng 474 ha; Khu đô thị đa mục tiêu tại Lĩnh Nam khoảng 169,5 ha; Khu đô thị đa mục tiêu tại Bồ Đề, Long Biên và Bát Tràng khoảng 270,68 ha; Khu định cư Long Biên – Bồ Đề khoảng 201 ha và Khu định cư Lĩnh Nam khoảng 101 ha.

    Về bồi thường, báo cáo nêu người có đất ở, đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp đủ điều kiện theo quy định sẽ được áp dụng mức bồi thường bằng tiền gấp 2 lần mức quy định. Thành phố cũng dự kiến hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp theo quy định được dẫn trong báo cáo.

    Đáng chú ý, việc bố trí tái định cư phải được hoàn thành trước khi có quyết định thu hồi đất. Thành phố cũng nêu quan điểm chỉ thực hiện di dời, giải phóng mặt bằng các hộ dân khi đã bố trí nơi ở mới.

    Riêng các khu vực là đất công, đất nông nghiệp và những nơi đủ điều kiện thu hồi, giải phóng mặt bằng, thành phố sẽ tổ chức thực hiện trước để bảo đảm tiến độ dự án.

    Theo báo cáo, tổng số mồ mả dự kiến cần di dời phục vụ công tác giải phóng mặt bằng khoảng 109.000 ngôi. Thành phố đang chuẩn bị đầu tư, xây dựng hạ tầng các nghĩa trang tập trung như Yên Kỳ, Thanh Tước, Chuyên Mỹ để đáp ứng nhu cầu tiếp nhận.

    Về an toàn thoát lũ, phương án được tính toán với kịch bản lũ tần suất 500 năm, có xét đến biến đổi khí hậu năm 2100. Các giải pháp gồm cải tạo bãi sông, nạo vét khu vực gần lòng sông, san gạt theo cao độ tự nhiên để tạo các cấp địa hình, xây dựng tuyến đường tiếp cận dòng sông và kè, cải tạo bờ bãi phù hợp với từng khu chức năng.

    Báo cáo cũng đề cập nghiên cứu xây dựng các đập trên sông nhằm duy trì mực nước vào mùa kiệt, trong khi mùa lũ sẽ mở hoàn toàn. Vị trí cụ thể của các công trình này sẽ được nghiên cứu ở giai đoạn tiếp theo.

    Thủy Tiên

    Nguồn https://baomoi.com/chi-tiet-quy-hoach-phan-khu-do-thi-song-hong-sau-dieu-chinh-c55990530.epi

  • Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng: Đền bù gấp đôi, tái định cư tại 6 khu đô thị

    Di dời làng cổ Bắc Cầu

    UBND TP Hà Nội vừa có báo cáo về việc điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5.000 để thực hiện Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.

    Theo đó, phạm vi nghiên cứu dự án kéo dài khoảng 40km, từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, thuộc 16 xã, phường của Hà Nội. Tổng diện tích nghiên cứu khoảng 11.418ha, dân số hiện trạng gần 280.000 người.

    Trục cảnh quan ven Sông Hồng được xác định là không gian chiến lược về cảnh quan, giao thông và phát triển đô thị. Trong đó quan điểm định hướng là bước đột phá nhằm chuyển đổi từ đô thị “quay lưng ra sông” sang “quay mặt vào sông”, tạo diện mạo đô thị hiện đại, văn minh.

    Trong khu vực này, thành phố dự kiến di dời 2 cụm làng theo Quy hoạch phòng, chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình được Thủ tướng phê duyệt năm 2016.

    Phối cảnh Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Ảnh: UBND TP Hà Nội

    Cụm Võng La – Hải Bối, thuộc các xã Thiên Lộc và Vĩnh Thanh, sẽ di dời một phần khu dân cư không bảo đảm an toàn phòng, chống lũ và phần nằm trong phạm vi xây dựng trục đại lộ. Khu vực bị ảnh hưởng thuộc các thôn Võng La, Yên Hà, Hải Bối có tổng diện tích khoảng 27ha.

    Làng Bắc Cầu, thuộc phường Bồ Đề, cũng thuộc diện di dời, với diện tích khoảng 35,5ha.

    Bên cạnh đó, 2 cụm làng được định hướng tái thiết nhằm hình thành khu vực được quy hoạch là “phòng khách đô thị” của Thủ đô: cụm Nhật Tân – Tứ Liên thuộc phường Hồng Hà rộng khoảng 96ha; cụm Thống Nhất, gồm Hạ Trại và Trung Thôn, thuộc phường Long Biên rộng khoảng 12ha.

    “Phòng khách đô thị” nằm phía ngoài đê hữu sông Hồng, bên trong Vành đai 2, đoạn từ cầu Nhật Tân đến cầu Vĩnh Tuy. Khu vực này được định hướng tái thiết đô thị, phát triển trung tâm dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo và các công trình điểm nhấn kết nối Hồ Tây – Cổ Loa.

    Ngoài 4 cụm làng thuộc diện di dời hoặc tái thiết, 8 cụm khác được cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc, gồm: Văn Quán – Đông Cao – Tráng Việt thuộc xã Mê Linh; Ngọc Giang – Lực Canh – Văn Tinh thuộc xã Vĩnh Thanh, Đông Anh; Văn Đức thuộc xã Bát Tràng; Thúy Lĩnh thuộc phường Lĩnh Nam; Yên Mỹ thuộc xã Thanh Trì; Đại Lan thuộc xã Nam Phù; Tranh Khúc – Vạn Phúc thuộc xã Nam Phù; riêng cụm Bát Tràng – Giang Cao – Kim Lan dự kiến di dời một phần, khoảng 4,5ha, theo quy hoạch phòng, chống lũ.

    Bồi thường bằng tiền gấp 2 lần mức quy định

    Về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các trường hợp phải di dời GPMB để thực hiện dự án, UBND TP Hà Nội áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ đặc thù theo Luật Thủ đô, các nghị quyết của Quốc hội, nghị định của Chính phủ, Nghị quyết 36/2026 của HĐND TP Hà Nội và Quyết định 40/2026 của UBND TP.

    Theo đó, mức bồi thường bằng tiền về đất bằng hai lần so với mức quy định được áp dụng với đất ở, đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp đáp ứng đủ điều kiện pháp lý.

    Thành phố đặt ra nguyên tắc hoàn thành bố trí tái định cư trước khi ban hành quyết định thu hồi đất. Việc di dời, giải phóng mặt bằng đối với các hộ dân chỉ được thực hiện sau khi nơi ở mới đã được bố trí.

    Người dân được tái định cư trong cùng xã, phường, ưu tiên chuyển từ khu vực ngoài bãi sông vào phía trong đê hoặc khu vực an toàn hơn nếu còn quỹ đất, phù hợp quy hoạch và đủ điều kiện triển khai dự án.

    Nếu địa phương không đủ quỹ đất, người dân được bố trí tại khu vực lân cận với khoảng cách hợp lý, thuận lợi cho việc làm, sản xuất, kinh doanh, học tập, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng và duy trì quan hệ cộng đồng.

    Quỹ đất tái định cư dự kiến bố trí tại cùng địa bàn hoặc khu vực lân cận có tổng diện tích khoảng 265ha. Trong đó, xã Mê Linh và Nam Phù mỗi nơi 72ha; Bát Tràng 35ha; Vĩnh Thanh và Đông Anh 30ha; Hồng Vân 23ha; Thượng Cát và Đông Ngạc 12ha; Ô Diên 11ha; Yên Sở 10ha.

    Các địa bàn Thiên Lộc, Phú Thượng, Hồng Hà, Bồ Đề và Long Biên không có quỹ đất tái định cư phía trong đê. Người dân tại đây dự kiến được bố trí vào các khu đô thị đa mục tiêu hoặc khu định cư tập trung của thành phố.

    Các khu tái định cư dự kiến gồm:

    Khu đô thị đa mục tiêu Thư Lâm – Đông Anh (với quy mô khoảng 736,84 ha tại xã Thư Lâm và xã Đông Anh).

    Khu đô thị đa mục tiêu Bắc Thăng Long (Urban City, với quy mô khoảng 474 ha tại xã Phúc Thịnh và xã Thiên Lộc).

    Khu đô thị đa mục tiêu tại phường Lĩnh Nam (với quy mô khoảng 169,5 ha), dự kiến bố trí khoảng 20.000 căn hộ tái định cư, nhà ở xã hội.

    Khu đô thị đa mục tiêu tại phường Bồ Đề, phường Long Biên và xã Bát Tràng (với quy mô khoảng 270,68 ha).

    Khu định cư Long Biên – Bồ Đề (với quy mô khoảng 201 ha), dự kiến bố trí khoảng 25.000 căn hộ chung cư.

    Khu định cư Lĩnh Nam (với quy mô khoảng 101 ha), dự kiến khoảng 20.500 căn hộ chung cư.

    Trần Hoàng

    Nguồn https://baomoi.com/du-an-truc-dai-lo-canh-quan-song-hong-den-bu-gap-doi-tai-dinh-cu-tai-6-khu-do-thi-c55990515.epi

  • Đoàn công tác của tỉnh làm việc tại phường Thục Phán và Nùng Trí Cao, nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện đơn vị hành chính

    Dự buổi làm việc có các đồng chí: Vũ Đình Quang, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy phường Thục Phán; Nguyễn Ngọc Hà, Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Nùng Trí Cao; lãnh đạo các phòng, ban chuyên môn 2 phường.

    Bí thư Đảng ủy phường Thục Phán Vũ Đình Quang báo cáo tại buổi làm việc.

    Tại buổi làm việc, lãnh đạo 2 phường báo cáo, trao đổi về hiện trạng địa giới hành chính, diện tích, dân số, điều kiện địa hình, giao thông, khả năng kết nối, hạ tầng cơ sở, tổ chức bộ máy, giải quyết thủ tục hành chính; đồng thời làm rõ những thuận lợi, khó khăn, bất cập và tiềm năng, lợi thế phát triển của địa phương.

    Phường Thục Phán có diện tích tự nhiên 55,41 km², dân số 46.170 người, với 12.999 hộ thường trú, gồm 32 tổ dân phố. Khoảng cách từ khu dân cư xa nhất đến trung tâm hành chính phường khoảng 15 km, thời gian di chuyển khoảng 30 phút. UBND phường quản lý 626 cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có 56 cán bộ, công chức và 570 viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập.

    Phường Nùng Trí Cao có diện tích 29,4 km², dân số 21.907 người, gồm 14 tổ dân phố. Địa bàn hẹp, kéo dài, dân cư phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu dọc các trục giao thông. Hiện phường có 6 cán bộ, 40 công chức và 231 viên chức.

    Tại buổi làm việc, các đại biểu đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy, nhân lực, hạ tầng cơ sở, giao thông, khả năng kết nối và tiếp cận trung tâm hành chính; làm rõ những thuận lợi, khó khăn trong tổ chức, vận hành chính quyền, đáp ứng nhu cầu người dân, đồng thời xem xét các yếu tố về quốc phòng, an ninh, lịch sử, văn hóa và đặc điểm cộng đồng dân cư để đề xuất giải pháp phù hợp với thực tiễn.

    Giám đốc Sở Tài chính Nguyễn Thế Hoàn kết luận buổi làm việc.

    Kết luận buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Thế Hoàn đề nghị 2 phường tiếp tục rà soát, cập nhật số liệu sát thực tế, làm rõ những thuận lợi, khó khăn về địa giới, dân cư, giao thông, khả năng kết nối, hạ tầng cơ sởg, tổ chức bộ máy và nhân lực. Đồng chí nhấn mạnh, việc đánh giá cần bảo đảm khách quan, toàn diện, xem xét đồng bộ các yếu tố về địa hình, giao thông, khả năng kết nối, quốc phòng, an ninh, lịch sử, văn hóa và không gian phát triển. Trên cơ sở đó, hoàn thiện báo cáo, bổ sung các nội dung còn thiếu, đề xuất giải pháp phù hợp để Đoàn công tác tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền, phục vụ nghiên cứu phương án tiếp tục hoàn thiện đơn vị hành chính cấp xã.

    Cam Hường

    Nguồn https://baomoi.com/doan-cong-tac-cua-tinh-lam-viec-tai-phuong-thuc-phan-va-nung-tri-cao-nghien-cuu-tiep-tuc-hoan-thien-don-vi-hanh-chinh-c55990451.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!