Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Quy hoạch Thăng Bình trở thành đô thị đa chức năng, đa trung tâm

    Thăng Bình từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng và phấn đấu đạt tiêu chí đô thị loại III.

    Cụ thể, phạm vi lập quy hoạch bao gồm toàn bộ địa giới hành chính xã Thăng Bình, với tổng diện tích tự nhiên khoảng 6.891,25ha, định hướng phát triển thành đô thị đa chức năng, lấy các lĩnh vực dịch vụ, thương mại, công nghiệp, công nghệ cao và logistics làm trọng tâm; đồng thời giữ vai trò là cực tăng trưởng kinh tế quan trọng ở khu vực phía Đông Nam TP Đà Nẵng.

    Cấu trúc không gian đô thị được nghiên cứu theo mô hình đa trung tâm, bảo đảm tính đồng bộ, hiện đại và phù hợp với yêu cầu phát triển trong dài hạn. Trong đó, khu vực Hà Lam hiện hữu được xác định là hạt nhân, tạo động lực tổ chức và mở rộng không gian đô thị. Với lợi thế kết nối qua các trục giao thông đối ngoại quan trọng như quốc lộ 1, cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi và quốc lộ 14E, Thăng Bình được định hướng trở thành đầu mối giao thương, trung chuyển hàng hóa, kết nối trung tâm TP Đà Nẵng với Tam Kỳ, Chu Lai và các địa phương lân cận.

    Tấn Việt

    Nguồn https://baomoi.com/quy-hoach-thang-binh-tro-thanh-do-thi-da-chuc-nang-da-trung-tam-c56248499.epi

  • Nhà mạng gặp khó khi đầu tư hạ tầng

    Tại cuộc họp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp viễn thông do Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Hà Nội tổ chức, đại diện các doanh nghiệp viễn thông lớn như CMC Telecom, FPT Telecom, Viettel, MobiFone đã thẳng thắn chỉ ra những bất cập đang kìm hãm dòng vốn đầu tư.

    Quang cảnh cuộc họp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp viễn thông do Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội tổ chức. Ảnh: Hiền Thảo.

    Phản ánh vấn đề nổi cộm hiện nay tại các dự án tòa nhà và khu công nghiệp (KCN), ông Nguyễn Đức Kiên – Phó Tổng Giám đốc CMC Telecom cho biết, mô hình đầu tư hạ tầng viễn thông thụ động đã thay đổi so với trước đây.

    Trước đây, các chủ đầu tư tòa nhà hoặc KCN thường chủ động xây dựng sẵn hệ thống thang máng cáp, cống bể kỹ thuật rồi mở quyền tiếp cận cho tất cả nhà mạng. Tuy nhiên hiện nay, nhiều dự án lại giao trọn cho một đơn vị thứ ba đầu tư hạ tầng cống bể, thang máng cáp.

    Đơn vị thứ ba này sau đó biến việc đầu tư thành lợi thế cạnh tranh, yêu cầu các nhà mạng muốn cung cấp dịch vụ cho khách hàng bên trong tòa nhà/KCN phải chia sẻ từ 35% đến 40% doanh thu.

    “Lãi gộp của thị trường viễn thông không quá 20 – 25%, nhưng chia sẻ 35 đến 40% doanh thu, nghĩa là đầu tư vào đó, doanh nghiệp chắc chắn lỗ”, ông Nguyễn Đức Kiên – Phó Tổng Giám đốc CMC Telecom chia sẻ.

    Chính việc bị yêu cầu chiết khấu quá cao khiến một số nhà mạng không thể triển khai đầu tư hoặc buộc phải tăng giá cước bán lẻ để bù đắp chi phí. Hệ quả là tạo ra một thị trường “méo mó” ngay trong lòng các KCN, tòa nhà, biến doanh nghiệp và người dân sống/làm việc tại đó thành đối tượng bị thiệt hại khi phải trả chi phí đắt đỏ nhưng chất lượng dịch vụ không đảm bảo.

    Để góp phần giải quyết tình trạng này, ông Kiên đề nghị giới hạn mức chia sẻ doanh thu giữa doanh nghiệp viễn thông và bên đầu tư hạ tầng cáp quang. Ngoài ra, cần xây dựng tiêu chí lựa chọn đơn vị thi công hạ tầng cáp tại các tòa nhà cũng như kiểm soát chất lượng hạ tầng cáp để tránh trường hợp những đơn vị này lựa chọn loại cáp quang kém chất lượng, khiến chất lượng dịch vụ bị ảnh hưởng.

    Theo đại diện FPT Telecom, TP Hà Nội đã có bảng giá cho thuê công trình ngầm hạ tầng kỹ thuật đô thị sử dụng chung (tuy nen, hào, cống bể kỹ thuật) theo Quyết định số 8051/QĐ-UBND (ngày 20/11/2017), nhưng đối với KCN và khu công nghệ cao thì chưa có khung giá chung. Chi phí thuê hạ tầng hiện phụ thuộc vào đơn giá ấn định của các chủ đầu tư/nhà quản lý hạ tầng tại đó. Nhiều nơi đưa ra mức giá quá cao, làm triệt tiêu hiệu quả kinh doanh và biến các KCN thành những “điểm nghẽn” về hạ tầng số.

    Ngoài vấn đề giá thuê hạ tầng, việc triển khai hạ tầng mạng cố định và internet băng rộng tại các KCN, khu công nghệ cao cũng gặp trở ngại lớn do thiếu sự đồng bộ và quy hoạch ban đầu.

    Đại diện FPT Telecom chỉ ra rằng hạ tầng kỹ thuật tại nhiều KCN, khu công nghệ cao được đầu tư từ lâu nhưng thiếu quy hoạch viễn thông đồng bộ, khiến các doanh nghiệp viễn thông gặp khó khăn khi tiếp cận triển khai dịch vụ.

    Dẫn chứng thực tế, đại diện FPT Telecom cho biết doanh nghiệp đã mất gần 9 tháng trao đổi, đàm phán thông qua một đơn vị trung gian mới ký được hợp đồng thuê sợi quang để triển khai hạ tầng cho một khu căn hộ tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc.

    Song song với hạ tầng cáp ngầm, hạ tầng vô tuyến (trạm phát sóng BTS 5G) phục vụ sản xuất thông minh tại các KCN cũng chưa được tạo điều kiện thuận lợi.

    Ông Trần Lê Phong – Phó Giám đốc Hạ tầng Viettel Hà Nội nhấn mạnh: KCN, khu đô thị, trung tâm thương mại là những khu vực cần được phủ sóng mạnh để phục vụ phát triển kinh tế. Thế nhưng, việc nhà mạng có được đặt trạm BTS hay không hiện nay phụ thuộc vào quyết định của chủ đầu tư dự án.

    Trong khi đó, Trưởng phòng Kinh doanh Hạ tầng số Tổng công ty Viễn thông MobiFone Nguyễn Văn Nghị nhận định, các KCN, khu dân cư đang chuyển hướng mạnh mẽ sang drone, kinh tế số. Muốn vận hành các công nghệ này, KCN phải có hạ tầng Private Network (mạng di động dùng riêng). Ông Nghị đề xuất thành phố cần sớm có chỉ đạo đưa quy hoạch triển khai Private Network vào nội dung quy hoạch hạ tầng viễn thông tại các KCN và khu đô thị mới để thúc đẩy kinh tế số.

    Giám đốc Sở KH&CN Hà Nội Cù Ngọc Trang cùng lãnh đạo các phòng chuyên môn đã ghi nhận ý kiến của các doanh nghiệp viễn thông. Sở sẽ triển khai những giải pháp thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ; đồng thời sẽ làm đầu mối phối hợp với các cơ quan liên quan để xử lý nội dung liên ngành.

    Hiền Thảo

    Nguồn https://baomoi.com/nha-mang-gap-kho-khi-dau-tu-ha-tang-c56248456.epi

  • TPHCM: Công trình ngầm được miễn, giảm tiền sử dụng đất

    Đây là nội dung Nghị quyết 58/2026/NQ-HĐND vừa được HĐND TPHCM ban hành về quản lý, khai thác và phát triển công trình ngầm.

    Trường hợp quy hoạch quy định độ sâu thấp hơn 15m, người sử dụng đất phải tuân thủ giới hạn này. Phần không gian ngầm vượt mức miễn tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định, trừ trường hợp được miễn, giảm.

    Tiền sử dụng không gian ngầm được tính căn cứ diện tích sàn, đơn giá thuê đất, độ sâu và thời gian sử dụng. Người sử dụng có thể nộp hằng năm hoặc một lần cho toàn bộ thời hạn dự án. Hệ số thu là 0,3 đối với phần không gian ngầm sâu hơn giới hạn miễn tiền đến 30m và 0,15 đối với phần sâu hơn 30m đến 50m. Phần sâu hơn 50m được miễn tiền sử dụng.

    Nghị quyết quy định miễn tiền sử dụng không gian ngầm đối với nhiều công trình công cộng như giao thông đô thị, hạ tầng kỹ thuật, bãi đỗ xe ngầm, lối đi ngầm, công trình chống ngập, bảo vệ môi trường và công trình phục vụ quốc phòng, an ninh. Các công trình phục vụ văn hóa, thể thao, giáo dục, y tế, trợ giúp xã hội, nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được giảm 50% nếu không thuộc diện miễn.

    Để khuyến khích đầu tư, bãi đỗ xe ngầm độc lập được bố trí diện tích sàn dịch vụ hỗ trợ tối đa 25% tổng diện tích sàn xây dựng và diện tích thương mại, dịch vụ khác tối đa 20%, nhưng không được làm thay đổi chức năng chính hoặc giảm công suất bãi đỗ xe.

    UBND TPHCM có trách nhiệm triển khai nghị quyết, xây dựng cơ sở dữ liệu công trình ngầm kết nối với dữ liệu đất đai, xây dựng; tổ chức thu, quản lý tiền sử dụng không gian ngầm và kiểm tra, xử lý hành vi trục lợi chính sách.

    Các công trình đã được nghiệm thu, đưa vào khai thác trước ngày 1-1-2027 không phải nộp tiền sử dụng không gian ngầm theo nghị quyết. Với công trình đưa vào khai thác từ ngày này trở đi, nghĩa vụ tài chính được tính từ thời điểm bắt đầu khai thác, sử dụng.

    Trà Giang

    Nguồn https://baomoi.com/tphcm-cong-trinh-ngam-duoc-mien-giam-tien-su-dung-dat-c56248263.epi

  • Khắc phục tình trạng một dự án gánh nhiều thủ tục

    Theo đánh giá của Bộ Nội vụ, mặc dù khung pháp luật về tổ chức bộ máy đã được hoàn thiện bước đầu, tiến độ sửa đổi các luật chuyên ngành vẫn chưa theo kịp yêu cầu đổi mới mô hình tổ chức chính quyền. Chính phủ đã tổ chức rà soát 5.076 văn bản quy phạm pháp luật, trình Quốc hội ban hành 116 luật, nghị quyết và ban hành theo thẩm quyền 467 nghị định. Tuy nhiên, đến tháng 5/2026 vẫn còn khoảng 550 văn bản cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, trong đó có 129 văn bản liên quan trực tiếp đến việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và 21 văn bản cần được xử lý khẩn cấp để tháo gỡ các vướng mắc về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền.

    Điều này cho thấy vẫn còn khoảng cách giữa quá trình đổi mới tổ chức bộ máy với việc hoàn thiện pháp luật chuyên ngành, dẫn đến tình trạng một số nhiệm vụ đã được phân cấp nhưng chưa được luật hóa đầy đủ.

    Ông Cao Huy – Thứ trưởng Bộ Nội vụ cho biết, mặc dù mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã góp phần tinh gọn đầu mối, giảm tầng nấc trung gian và rút ngắn quy trình quản lý, song ở nhiều địa phương việc sắp xếp tổ chức bên trong các cơ quan chuyên môn vẫn đang ở giai đoạn hoàn thiện. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng tổ chức thi hành pháp luật.

    Theo Thứ trưởng Cao Huy, điểm đổi mới quan trọng của giai đoạn hiện nay là chuyển từ tư duy “sắp xếp tổ chức” sang “thiết kế lại quyền lực quản lý nhà nước” trên cơ sở phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của từng cơ quan. Theo đó, nguyên tắc “một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính”. Nhưng trên thực tế, cơ chế phân định thẩm quyền trong một số lĩnh vực liên ngành vẫn chưa thật sự rõ ràng. 

    Nhiều lĩnh vực như đầu tư, đất đai, xây dựng, quy hoạch, môi trường hay chuyển đổi số có sự tham gia của nhiều cơ quan quản lý nhưng chưa xác định đầy đủ cơ quan chủ trì, trách nhiệm phối hợp và trách nhiệm cuối cùng. Chẳng hạn, ở lĩnh vực đầu tư – xây dựng – đất đai, một dự án có thể phải thực hiện từ 8 đến 12 thủ tục riêng biệt, trong đó có những nội dung thẩm định trùng lặp, tổng thời gian hoàn thành các thủ tục có thể kéo dài do phải thực hiện tuần tự và xin ý kiến nhiều cơ quan. Tình trạng này không chỉ làm gia tăng chi phí hành chính và chi phí tuân thủ mà còn tạo môi trường phát sinh tâm lý e ngại, né tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan và người thực thi.

    Từ đó, ông Huy nêu giải pháp, cần hoàn thiện các điều kiện bảo đảm tổ chức thi hành pháp luật theo hướng quản trị hiện đại. Trọng tâm là đẩy nhanh việc xây dựng, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính; hoàn thiện hạ tầng số, trang thiết bị và các nền tảng dùng chung phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước.

    “Việc hoàn thiện pháp luật về nguồn nhân lực, tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền cần được triển khai đồng bộ với đổi mới phương thức quản trị công theo hướng dựa trên dữ liệu, công nghệ số và kết quả thực hiện nhiệm vụ; đồng thời tăng cường trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực và phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương. Chỉ khi các điều kiện bảo đảm cho tổ chức thi hành pháp luật được hoàn thiện một cách đồng bộ thì các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước mới được triển khai thống nhất, hiệu quả” – ông Huy nói.       

    Khắc Hạnh

    Nguồn https://baomoi.com/khac-phuc-tinh-trang-mot-du-an-ganh-nhieu-thu-tuc-c56248424.epi

  • Văn phòng dịch vụ mang màu hoàng hôn giữa những bề mặt kim loại

    Ngay từ đầu, chủ đầu tư mong muốn nơi này không mang diện mạo phổ biến của một thẩm mỹ viện. Nhà thiết kế vì thế lựa chọn cách tiếp cận đối lập giữa màu sắc ấm nóng và những bề mặt kim loại lạnh, hướng không gian đến cảm giác vừa giàu tính điện ảnh vừa mang hơi hướng tương lai.

    Bảng màu chủ đạo được gợi nhắc từ sắc độ của cát dưới ánh hoàng hôn ở Arizona. Những gam cam, đỏ và nâu tạo nên phông nền ấm, sau đó được đặt cạnh màu bạc của kim loại. Nếu sắc đỏ cam mang đến cảm giác bao phủ và giàu cảm xúc thì kim loại gợi liên tưởng trực tiếp hơn tới tính chất của dịch vụ.

    Sự tương phản này cũng trở thành cách công trình tạo cảm giác sang trọng mà không cần dựa vào những chất liệu và màu sắc quen thuộc. Thay vì cố gắng làm mọi bề mặt trở nên bóng bẩy, thiết kế tập trung vào trải nghiệm thị giác thông qua màu sắc, ánh sáng và vật liệu.

    Tinh thần ấy tiếp tục xuất hiện trong phòng tư vấn riêng của bác sĩ. Không gian sử dụng cặp màu đỏ – đen, tách khỏi cách phối màu nhẹ nhàng thường gặp ở những khu vực tư vấn làm đẹp. Đây cũng là một trong những không gian thể hiện rõ nhất cá tính mà chủ đầu tư mong muốn ngay từ đầu.

    Từ bảng màu lấy cảm hứng từ hoàng hôn sa mạc đến những bề mặt kim loại, dự án lựa chọn một cách diễn giải khác về sự sang trọng trong không gian thẩm mỹ. Thay vì vàng kim và đá cẩm thạch, dấu ấn được tạo nên bằng màu sắc mạnh, sự tương phản và một chút cảm giác tương lai.

    Thúy Hiền

    Nguồn https://baomoi.com/van-phong-dich-vu-mang-mau-hoang-hon-giua-nhung-be-mat-kim-loai-c56248209.epi

  • Hà Nội cho phép Tổng công ty 36 chuyển mục đích gần 10.000m2 ‘đất vàng’ phố Chùa Bộc xây nhà cao tầng

    UBND TP Hà Nội vừa có quyết định cho Tổng công ty 36 chuyển mục đích sử dụng 9.825,7 m2 đất tại số 6-8 phố Chùa Bộc, phường Kim Liên do Tổng Công ty đang quản lý, sử dụng để thực hiện Dự án xây dựng nhà ở cao tầng kết hợp thương mại dịch vụ.

    Trong tổng số 9.825,7 m2 đất có: 6.842,7 m2 đất ở (để xây dựng công trình nhà ở kết hợp thương mại dịch vụ và công trình hạ tầng, phía dưới có tầng hầm). Diện tích đất này Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; thời hạn sử dụng đất. Tổng công ty 36 được sử dụng đất 50 năm từ ngày UBND TP ký quyết định, người mua nhà ở được sử dụng đất với thời hạn lâu dài.

    Khu đất “vàng” 6-8 Chùa Bộc của Tổng công ty 36

    2.940,6 m2 đất thương mại, dịch vụ (để xây dựng công trình văn phòng, khách sạn, thương mại dịch vụ, hạ tầng phục vụ công trình thương mại, phía dưới có tầng hầm), hình thức Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm; thời hạn sử dụng đất 50 năm từ ngày UBND TP ký Quyết định.

    42,4 m2 đất nằm trong chỉ giới đường đỏ. Tổng Công ty 36 -CTCP có trách nhiệm làm đường, sau khi hoàn thành, Tổng công ty 36 có trách nhiệm bàn giao cho chính quyền địa phương, cơ quan chức năng của thành phố để quản lý.

    Giá đất tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được xác định theo quy định hiện hành.

    TP Hà Nội yêu cầu Tổng công ty 36 chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính chuẩn xác và tính hợp pháp của các thông tin, số liệu, tài liệu gửi kèm hồ sơ dự án đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất; thực hiện đầy đủ trách nhiệm của nhà đầu tư.

    Đồng thời, liên hệ với Sở Nông nghiệp và Môi trường để làm thủ tục xác định giá đất tính thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, tiền sử dụng đất tạm nộp theo quy định; xác định giá trị tương đương giá trị quỹ đất đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật để xây dựng nhà ở xã hội.

    Liên hệ với Sở Tài chính để được hướng dẫn nộp số tiền tương đương giá trị quỹ đất đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật để xây dựng nhà ở xã hội nhằm bổ sung vào ngân sách TP dành để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội.

    Ngân Tuyền

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-cho-phep-tong-cong-ty-36-chuyen-muc-dich-gan-10-000m2-dat-vang-pho-chua-boc-xay-nha-cao-tang-c56248289.epi

  • Mỏ khoáng sản: Cấp phép nhiều, hoạt động ít

    Vướng thủ tục đất đai, quy hoạch

    Giai đoạn 2020-2025, thành phố đã tổ chức đấu giá thành công và đưa vào cấp phép thăm dò, phê duyệt trữ lượng đối với 60 mỏ khoáng sản; trong đó, đã cấp giấy phép khai thác cho 32 mỏ với tổng trữ lượng hơn 45 triệu m3. Thế nhưng, trong số 32 mỏ được cấp phép này chỉ có 3 mỏ hoạt động, số còn lại đang dừng hoặc tạm dừng. Bên cạnh các mỏ đấu giá, thành phố cũng cấp phép cho 27 mỏ không đấu giá (chỉ có 7 mỏ đang hoạt động). Cùng với đó, trước đòi hỏi về vật liệu cho các công trình, dự án trọng điểm, thành phố tiếp tục cấp phép mỏ không đấu giá theo cơ chế đặc thù. Tính đến thời điểm này, tổng số mỏ qua các hình thức đấu giá, khoanh định không đấu giá và áp dụng cơ chế đặc thù là 178 mỏ; trong đó 78 mỏ được cấp phép nhưng chỉ có 15 mỏ đang hoạt động.

    Mỏ đất được cấp phép khai thác tại phường Nếnh. Ảnh: Hải Minh.

    Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do vướng mắc về thủ tục đất đai. Nhiều mỏ làm thủ tục thuê đất chưa xong hoặc có mỏ không phải làm thủ tục thuê đất nhưng chưa xây dựng cơ bản mỏ xong nên chưa thể khai thác. Đơn cử tại xã Yên Định, theo đồng chí Nguyễn Thành Phong, Chủ tịch UBND xã, địa phương hiện có 1 mỏ đất và 2 mỏ cát đã được cấp phép nhưng chưa hoạt động. Mới đây, Công ty cổ phần Đầu tư khai thác khoáng sản DT69 bắt đầu xây dựng cơ bản mỏ ở thôn Gốc Gạo (dự kiến khai thác mỏ từ tháng 1/2027) do trước đó vướng thủ tục đất đai. Với 2 mỏ cát, dù thủ tục đất đai và môi trường đã hoàn tất, chủ mỏ lại chưa đầu tư các hạng mục cần thiết như máy móc, hệ thống xay sàng, rửa, tuyển… Thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục tuyên truyền, vận động người dân phối hợp thực hiện các thủ tục liên quan, đồng thời đôn đốc chủ mỏ đẩy nhanh tiến độ thực hiện.

    Đến nay, tổng số mỏ qua các hình thức đấu giá, khoanh định không đấu giá và áp dụng cơ chế đặc thù là 178 mỏ; trong đó có 78 mỏ được cấp phép nhưng chỉ có 15 mỏ đang hoạt động.

    Ngoài ra, theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, trình tự thủ tục cấp phép khai thác còn gặp khó khăn. Đó là phải thực hiện qua nhiều khâu, công đoạn, liên quan đến nhiều sở, ngành và chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa các sở, ngành liên quan chưa thực sự hiệu quả, có sự chồng lấn giữa các quy hoạch với nhau, dẫn đến vướng mắc khi doanh nghiệp thực hiện chấp thuận thủ tục đầu tư. Hơn nữa, trước khi cấp phép thăm dò hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư phải thực hiện thủ tục lấy ý kiến người dân khu vực mỏ theo quy định. Điều này đã làm kéo dài thời gian chỉnh sửa, hoàn thiện hồ sơ cấp phép thăm dò, phê duyệt trữ lượng khoáng sản.

    Việc thực hiện các thủ tục cấp phép hoạt động khoáng sản kéo dài. Thực tế Nhà nước không bố trí ngân sách để thực hiện các thủ tục cấp phép mà toàn bộ nguồn kinh phí do doanh nghiệp chi trả. Tuy nhiên, việc chậm cấp phép các mỏ vật liệu xây dựng sẽ gây ra tình trạng khan hiếm nguồn cung; ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.

    Rà từng dự án, rõ trách nhiệm

    Với tốc độ xây dựng nhanh, nhiều công trình, dự án trọng điểm có quy mô lớn nên nhu cầu vật liệu xây dựng của Bắc Ninh ngày càng cao. Qua tổng hợp, nhu cầu sử dụng khoáng sản nhóm III (vật liệu xây dựng thông thường), nhóm IV (đất san lấp) giai đoạn 2026-2030 toàn thành phố khoảng 1.300 triệu m3, trong khi mỏ đã quy hoạch chỉ có 1.026 triệu m3. Nghĩa là quy hoạch hiện còn thiếu khoảng 270 triệu m3 so với nhu cầu, cần được bổ sung hoặc khoanh định.

    Khu vực mỏ cát tại thôn Đồng Chùa, xã Yên Định đã được cấp phép khai thác. Ảnh: Trịnh Lan.

    Phát biểu tại hội nghị giao ban với Bí thư, Chủ tịch UBND cấp xã mới đây, đồng chí Phạm Hoàng Sơn, Chủ tịch UBND thành phố nhấn mạnh, việc các mỏ được cấp phép nhưng chưa thể khai thác, chậm cấp phép là nguyên nhân lớn khiến nguồn cung vật liệu không đáp ứng kịp tiến độ xây dựng. Đây là một trong những “nút thắt” mà thành phố sẽ tập trung chỉ đạo tháo gỡ thời gian tới, bảo đảm rõ việc, rõ trách nhiệm.

    Thực hiện chỉ đạo, Sở Công Thương đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan và các chủ đầu tư dự án mỏ rà soát toàn bộ các khu vực mỏ đã quy hoạch, khoanh định, đấu giá và cấp phép; lập danh mục phân loại cụ thể về: Mỏ đang hoạt động; mỏ đã cấp phép nhưng chưa hoạt động; mỏ có thể sớm đưa vào khai thác; mỏ còn vướng mắc về đất đai, giải phóng mặt bằng, quy hoạch, môi trường hoặc pháp lý.

    Với mỏ chưa đủ điều kiện triển khai, đối với từng mỏ sẽ xác định rõ, chi tiết các nội dung còn khó khăn, vướng mắc, cơ quan chịu trách nhiệm giải quyết, nhiệm vụ cần thực hiện, thời hạn hoàn thành và kết quả dự kiến. Tham mưu kế hoạch tháo gỡ đối với các mỏ có khả năng sớm đưa vào hoạt động; ưu tiên các mỏ cung cấp đất san lấp, cát, sỏi, đá xây dựng và đất sét làm gạch; phối hợp rà soát chặt chẽ hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp phép, quyền ưu tiên nộp hồ sơ và các mốc thời gian chuyển tiếp; bảo đảm phân biệt đúng trường hợp đấu giá và không đấu giá, không để phát sinh sai sót, khiếu nại, tranh chấp; tham mưu phương án cân đối, điều phối nguồn vật liệu cho các dự án trọng điểm giai đoạn 2026-2030.

    Theo đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở thường xuyên phối hợp, hướng dẫn UBND các xã, phường trong quá trình thực hiện các trình tự, thủ tục về lĩnh vực đất đai đối với các mỏ đã được cấp giấy phép khai thác. Các xã, phường nơi có khoáng sản, tăng cường tuyên truyền, vận động Nhân dân; thường xuyên kiểm tra địa bàn, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý hoặc báo cáo xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển khoáng sản trái phép.

    Trịnh Lan

    Nguồn https://baomoi.com/mo-khoang-san-cap-phep-nhieu-hoat-dong-it-c56248264.epi

  • TP Hồ Chí Minh phê duyệt kết quả thi tuyển kiến trúc bệnh viện 500 giường

     Phối cảnh dự án Bệnh viện đa khoa thực hành 500 giường.

    Ngày 11/10, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp TP Hồ Chí Minh tổ chức công bố kết quả, trao giải cuộc thi tuyển phương án kiến trúc dự án xây dựng mới Bệnh viện Đa khoa Thực hành 500 giường thuộc Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (giai đoạn 1).

    Trước đó, ngày 7/10/2026, UBND TP Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 6626/QĐ-UBND phê duyệt kết quả thi tuyển phương án kiến trúc của dự án.

    Theo kết quả công bố, giải Nhất thuộc về liên danh Tổng Công ty Tư vấn Xây dựng Việt Nam – CTCP (VNCC) và Công ty AIA LIFE DESIGNERS. Giải Nhì được trao cho Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Thương mại và Dịch vụ Đông Thái Sơn; giải Ba thuộc về Công ty TNHH CPG Việt Nam.

    Dự án Bệnh viện Đa khoa Thực hành 500 giường được quy hoạch xây dựng tại xã Tân Nhựt, TP Hồ Chí Minh, với tổng mức đầu tư hơn 4.700 tỉ đồng, do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp thành phố làm chủ đầu tư.

    Đây là công trình y tế trọng điểm đã được HĐND TP Hồ Chí Minh thông qua chủ trương đầu tư vào tháng 12/2025, hướng đến hình thành cơ sở khám, chữa bệnh hiện đại, đồng thời phục vụ đào tạo, thực hành lâm sàng và nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch.

    Theo ông Võ Đức Thanh, Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp TP Hồ Chí Minh, cuộc thi nhằm lựa chọn phương án kiến trúc có tính khả thi cao, đáp ứng yêu cầu của mô hình kết hợp giữa bệnh viện và cơ sở đào tạo y khoa.

    Để tổ chức thi tuyển, chủ đầu tư đã phối hợp Trung tâm Quy hoạch và Kiến trúc TP Hồ Chí Minh lựa chọn 5 đơn vị tư vấn thiết kế đáp ứng yêu cầu năng lực. Các phương án được Hội đồng thi tuyển đánh giá theo nguyên tắc ẩn danh trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt kết quả.

    Theo kế hoạch, dự án dự kiến hoàn thành phê duyệt thiết kế kỹ thuật trong quý I/2027, tiến tới khởi công vào giữa năm 2027.

    Giai đoạn 1 của bệnh viện dự kiến hoàn thành và đưa vào hoạt động từ năm 2030, với danh mục khoảng 270 thiết bị y tế chuyên sâu, trong đó có hệ thống chụp cộng hưởng từ MRI, chụp cắt lớp CT, hệ thống chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) và thiết bị hỗ trợ tuần hoàn ngoài cơ thể (ECMO).

    Khi đi vào hoạt động, bệnh viện được kỳ vọng trở thành cơ sở thực hành lâm sàng tập trung, phục vụ nhu cầu đào tạo của hơn 12.000 sinh viên và 2.000 cán bộ, giảng viên, đồng thời góp phần đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân.

    Dự án được triển khai cùng Bệnh viện Chấn thương tại khu vực Cụm y tế Tân Kiên, từng bước hình thành hệ thống cơ sở khám, chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu y khoa chuyên sâu ở phía Tây TP Hồ Chí Minh.

    Việt An

    Nguồn https://baomoi.com/tp-ho-chi-minh-phe-duyet-ket-qua-thi-tuyen-kien-truc-benh-vien-500-giuong-c56248513.epi

  • Bắc Ninh: Xây thành phố từ những mái nhà an cư

    Khu nhà ở xã hội Evergreen (Khu đô thị mới, phường Nếnh, TP Bắc Ninh). Ảnh: Thái Nhung.

    Ổn định chỗ ở, yên tâm làm việc

    Sau giờ làm việc tại khu công nghiệp Vân Trung, trở về nhà đón con, chị Hải Yến, cư dân khu nhà ở xã hội (NOXH) Evergreen (Khu đô thị mới, phường Nếnh, TP Bắc Ninh), tranh thủ cùng con nô đùa dưới sân chung cư. Khoảng thời gian thư thả ấy là một trong những thay đổi trong cuộc sống gia đình chị kể từ khi chuyển về đây.

    Trước đây, gia đình chị có 3 người, thuê trọ trong một căn phòng hơn 12m2, cách xa nơi làm việc. Chỗ ở chật hẹp, con nhỏ quấy khóc, lại phải đi làm xa khiến vợ chồng chị mệt mỏi. Gần 2 năm trở lại đây, gia đình chuyển về căn hộ trên tầng 9 của Khu NOXH dành cho công nhân tại Khu đô thị mới phường Nếnh, cuộc sống thay đổi rõ rệt.

    “Chuyển từ phòng trọ chật chội sang căn hộ rộng rãi hơn, khang trang hơn, cuộc sống của gia đình chúng tôi ổn định hơn trước. Con nhỏ có không gian vui chơi, học tập ngay trong nội khu. Vợ chồng tôi di chuyển đến chỗ làm chỉ mất 5 phút thay vì 30 phút như trước đây. Không chỉ có diện tích ở phù hợp, khu chung cư còn có sân chơi, khu tập thể dục, cửa hàng tiện ích đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của công nhân. Sức khỏe của gia đình tôi cũng tốt hơn trước, chúng tôi yên tâm làm việc và gắn bó với doanh nghiệp”, chị Yến chia sẻ.

    Hiện gia đình chị Yến thuê căn hộ với giá 2,5 triệu đồng/tháng. Theo chị, đây là mức phù hợp với thu nhập của vợ chồng hiện nay. “Chúng tôi hy vọng giá thuê này được giữ ổn định và lâu dài”, chị Yến mong muốn.

    Theo chị Yến, cùng tòa với gia đình chị có gần 2 nghìn công nhân đã mua và thuê NOXH. Họ đều rất phấn khởi bởi có chỗ ở ổn định, bớt áp lực thuê trọ, hạn chế phải chuyển nhà, có thêm thời gian cho công việc và gia đình. Sự ổn định ấy cũng giúp doanh nghiệp duy trì lao động, nhất là tại những khu công nghiệp tập trung đông công nhân.

    Tương tự chị Yến, chị Nguyễn Hương, công nhân Khu công nghiệp VSIP, cũng chọn NOXH để ổn định cuộc sống. Gia đình chị mua một căn hộ với giá khoảng 720 triệu đồng. Bằng số tiền sẵn có, chị thanh toán trước 30%, phần còn lại được vay với lãi suất ưu đãi và trả dần. Hình thức này phù hợp với khả năng tài chính của gia đình. Theo chị Hương, hằng tháng nếu không phải trả tiền lãi thì chị vẫn phải trả tiền thuê nhà như trước đây. Có căn hộ riêng, gia đình chị chấm dứt nỗi lo tăng giá thuê, lo chuyển nhà, giảm áp lực chi phí và yên tâm làm việc.

    Một gia đình thuê nhà, một gia đình mua nhà bằng khoản tích lũy và vốn vay ưu đãi. Lựa chọn khác nhau nhưng đều xuất phát từ nhu cầu có chỗ ở phù hợp, thuận tiện cho công việc, đủ điều kiện chăm sóc con. Mong muốn giữ ổn định giá thuê của chị Yến cũng cho thấy, với người lao động, an cư cần đi cùng khả năng tính toán chi phí lâu dài.

    An cư trong không gian phát triển mới

    Khi Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, nhu cầu ấy càng cần được đặt trong quá trình tổ chức không gian đô thị và phát triển công nghiệp. Những khu nhà ở dành cho công nhân, người thu nhập thấp là một phần của hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống. Việc bố trí nhà ở gần nơi làm việc, có dịch vụ thiết yếu và mức chi phí phù hợp tạo điều kiện để người lao động gắn bó lâu dài với thành phố.

    Tại Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập TP Bắc Ninh ngày 19/9/2026, trong bài phát biểu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu Bắc Ninh tổ chức không gian phát triển với sự kết nối hài hòa giữa công nghiệp, đô thị, dịch vụ, nông nghiệp, sinh thái và văn hóa; đầu tư tương xứng cho giao thông công cộng, nhà ở, trường học, bệnh viện, công viên và thiết chế văn hóa. Đồng thời, cần nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, nhà ở và dịch vụ thiết yếu, đặc biệt đối với công nhân, người lao động và các địa bàn còn khó khăn.

    Từ yêu cầu đó, có thể thấy, phát triển NOXH có ý nghĩa trực tiếp về kinh tế. Chỗ ở ổn định giúp công nhân bớt thời gian đi lại, giảm những xáo trộn trong sinh hoạt và yên tâm làm việc. Doanh nghiệp có điều kiện giữ chân người lao động. Về an sinh, một căn hộ phù hợp mở ra cơ hội cải thiện điều kiện sống cho những gia đình chưa đủ khả năng mua nhà theo giá thị trường. Trẻ nhỏ có không gian vui chơi, học tập; cha mẹ có thêm thời gian chăm sóc con. Về ý nghĩa chính trị, việc phát triển NOXH thể hiện ở trách nhiệm đưa chủ trương chăm lo đời sống Nhân dân thành kết quả người dân được thụ hưởng. Trong vị thế thành phố trực thuộc Trung ương, chất lượng quản trị cần được thể hiện qua việc giải quyết những nhu cầu thiết yếu ấy: dự án được tháo gỡ vướng mắc, căn hộ bảo đảm chất lượng, giá bán và giá thuê minh bạch, người đủ điều kiện tiếp cận được chính sách.

    Tăng nguồn cung, bảo đảm đúng nhu cầu

    Nghị quyết số 303/NQ-CP ngày 30/9/2026 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển NOXH, nhà ở cho thuê cho các địa phương giai đoạn 2026-2030 giao Bắc Ninh tổng chỉ tiêu 119.073 căn trong giai đoạn này; chỉ tiêu năm 2026 là 12.000 căn.

    Theo báo cáo của Sở Xây dựng TP Bắc Ninh, thành phố hiện có 122 dự án NOXH và 10 dự án nhà lưu trú công nhân; trong đó, 33 dự án đã hoàn thành, với khoảng 25.900 căn; 99 dự án đang triển khai các bước từ chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng đến thi công, hoàn thiện thủ tục, với quy mô khoảng 118.300 căn. Ngoài ra, khoảng 32.000 căn thuộc 18 dự án khu đô thị đã được chấp thuận đầu tư nhưng chưa xác định cụ thể tiến độ, đây là nguồn bổ sung cho giai đoạn tiếp theo.

    Trao đổi với phóng viên Báo Đại đoàn kết, ông Nguyễn Quốc Ân, Phó Giám đốc Sở Xây dựng TP Bắc Ninh cho biết, năm 2026, thành phố xác định phát triển NOXH, nhà ở cho thuê là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm chỗ ở cho công nhân, người lao động và người thu nhập thấp. Tính đến hết quý III/2026, toàn thành phố đã triển khai thi công hoàn thành hơn 7.000 căn NOXH. Qua rà soát tiến độ các dự án đang triển khai, dự kiến trong năm 2026 sẽ hoàn thành trên 12.000 căn hộ NOXH.

    Khối lượng căn hộ cần hoàn thành trong quý IV/2026 còn khá lớn. Sở Xây dựng đang bám sát từng dự án, phối hợp với các sở, ngành và địa phương tháo gỡ khó khăn về đất đai, thủ tục đầu tư, xây dựng và hạ tầng xã hội để đẩy nhanh thi công, hoàn thành chỉ tiêu Chính phủ giao.

    “Giải pháp trước hết là phải tăng nguồn cung nhưng phải đúng nhu cầu. Trong đó, việc đánh giá nhu cầu phải được thực hiện theo từng khu vực, từng nhóm đối tượng và khả năng chi trả thực tế, thay vì chỉ nhìn vào số căn được giao” ông Ân chia sẻ. 

    Sở Xây dựng TP Bắc Ninh đang tham mưu phân loại rõ từng vướng mắc, xác định trách nhiệm của từng cơ quan, xử lý theo từng dự án; tiếp tục áp dụng cơ chế ưu tiên, “luồng xanh” để rút ngắn thời gian thủ tục đối với các dự án đủ điều kiện.

    Cùng với tăng nguồn cung, Sở Xây dựng TP Bắc Ninh cũng sẽ công khai, minh bạch thông tin về dự án, giá bán, giá thuê, thời gian nhận hồ sơ và điều kiện được hưởng chính sách để người dân dễ tiếp cận. Việc kiểm tra, xác minh đối tượng cũng được tăng cường nhằm hạn chế hồ sơ mua, thuê mua, thuê NOXH không đúng đối tượng, tránh đầu cơ hoặc trục lợi chính sách.

    Ông Nguyễn Quốc Ân cho rằng cần kiểm soát tốt giá bán, giá thuê và chất lượng dự án, đồng thời phát triển thêm nhà ở cho thuê để người lao động có thêm lựa chọn, thay vì chỉ có một phương án là mua nhà. “Mục tiêu cuối cùng là NOXH phải đến được đúng người có nhu cầu về nhà ở, mức giá phù hợp với khả năng chi trả của công nhân và người lao động thu nhập thấp”, ông Ân nhấn mạnh.

    Bắc Ninh chấn chỉnh công tác xây dựng, kinh doanh nhà ở xã hội

    UBND TP Bắc Ninh vừa ban hành Công văn số 11291/UBND-KTN về việc chấn chỉnh công tác xây dựng, kinh doanh nhà ở xã hội (NOXH). Theo đó, Chủ tịch UBND thành phố yêu cầu các chủ đầu tư xác định giá bán, giá thuê mua, giá thuê NOXH trung thực, đúng quy định pháp luật, trên cơ sở các chi phí hợp lý, hợp lệ, có đầy đủ hồ sơ, chứng từ chứng minh và chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ xác định giá. Giá bán NOXH phải được xác định trên cơ sở tổng chi phí đầu tư xây dựng thực tế của phần diện tích NOXH; không được tính vào giá bán các khoản chi phí không liên quan đến dự án, không có căn cứ, phát sinh do lỗi chủ quan hoặc được phân bổ không hợp lý hoặc các khoản chi phí phát sinh từ hoạt động mua bán, chuyển nhượng, góp vốn, góp cổ phần trong quá trình thực hiện dự án. Đối với các dự án NOXH có giá bán cao bất thường, cơ quan chức năng sẽ tập trung kiểm tra, làm rõ căn cứ xác định giá bán. Chủ đầu tư có trách nhiệm cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu phục vụ kiểm tra trong thời hạn 15 ngày làm việc khi có yêu cầu của cơ quan chức năng.

    Thái Nhung – Vũ Mạnh

    Nguồn https://baomoi.com/bac-ninh-xay-thanh-pho-tu-nhung-mai-nha-an-cu-c56248536.epi

  • Đô thị khơi xa: Tìm cách ‘sống với tính đảo’

    Việt Nam đang đứng trước thực tế ngày càng có nhiều đảo chuyển nhanh từ không gian cư trú và sinh kế truyền thống thành các trung tâm du lịch, dịch vụ và đô thị mới. Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo hay Phú Quốc đều có thể gọi là những đô thị đảo, nhưng mỗi nơi lại có một quan hệ khác nhau với biển.

    Ở Lý Sơn, biển gắn với ký ức Hoàng Sa và hình tượng người lính biển. Ở Phú Quý, biển là không gian đánh bắt xa bờ, tránh trú bão và duy trì cộng đồng ngư dân. Côn Đảo lại mang một cấu trúc đặc biệt, nơi hệ sinh thái, lịch sử nhà tù và câu chuyện tâm linh cùng tạo nên bản sắc đảo. Phú Quốc có cấu trúc phức tạp hơn, với biển vừa là ngư trường, vừa là hành lang giao thương, không gian cộng cư, vùng tiếp giáp quốc tế và cửa ngõ hướng ra vịnh Thái Lan. 

    Chính sự khác biệt ấy cho thấy đô thị đảo không thể được xây dựng theo một công thức chung.

    Khi biển tổ chức thành phố

    Muốn hiểu một đô thị đảo, trước hết cần thay đổi góc nhìn truyền thống. Thay vì xem hòn đảo như một mảnh đất nằm giữa biển, có thể nhìn nó từ chính những tuyến biển đã tạo nên lịch sử của đảo.

    Lấy ví dụ một trường hợp tiêu biểu như Phú Quốc thì cách nhìn này đặc biệt có ý nghĩa (1). Nghiên cứu cho thấy Phú Quốc đã nhiều lần thay đổi chức năng từ không gian cư trú, giao lưu hàng hải, lập cư và phòng thủ đến đảo sản vật, đảo chiến lược, đảo du lịch và hiện đang hướng tới một cửa ngõ thương mại, dịch vụ quốc tế. Như vậy lịch sử Phú Quốc có thể được đọc như lịch sử của những lần tái định vị trong các mạng lưới rộng hơn. Biển tạo ra sinh kế, đồng thời cũng tạo ra những tuyến giao thông, những bến nước, cộng đồng cư dân và những quan hệ kinh tế vượt khỏi phạm vi hòn đảo.

    Từ đó, nếu biển là yếu tố tổ chức đảo thì cấu trúc đô thị cũng cần được hình thành từ giao diện đất và nước. Các trục đô thị, không gian công cộng, bến cảng, tuyến giao thông, cảnh quan và các trung tâm dịch vụ cần được nhìn trong quan hệ với mặt biển, hướng gió, địa hình, các đảo vệ tinh và những tuyến kết nối hàng hải. Một đô thị đảo vì thế không nên chỉ có “view biển”, trái lại cần nhấn mạnh vào một cấu trúc hướng biển.

    Một thành phố sống cùng biển cần đồng thời sống cùng những cộng đồng đã làm nên lịch sử của biển. Trong ảnh: làng chài Trần Phú ở Phú Quốc. Ảnh: Lý Tuấn Ngọc

    Đây chính là khác biệt giữa sử dụng biển như một bất động sản và coi biển là một thành phần của đô thị. Trong trường hợp thứ nhất, bờ biển dễ bị chia thành những khu nghỉ dưỡng khép kín, mỗi dự án có cách tiếp cận riêng. Trong trường hợp thứ hai, biển trở thành không gian công cộng, hạ tầng giao thông, cảnh quan, sinh thái và ký ức của thành phố.

    Phú Quốc đang đứng trước ngã rẽ của sự lựa chọn. Một nghiên cứu gần đây về đảo đề xuất nhìn Phú Quốc như một “thành phố của các cửa ngõ”, trong đó sân bay, cảng biển, mạng lưới đô thị và các đảo vệ tinh tạo thành một hệ thống, thay vì những điểm phát triển rời rạc. Dương Đông có thể giữ vai trò trung tâm hành chính và thương mại; An Thới trở thành cực kinh tế biển, du lịch và kết nối quốc tế; sân bay là cửa ngõ hàng không; các cảng và bến biển đảm nhận những chức năng giao thương và kết nối trên mặt nước.

    Từ đây, một chuyển đổi quan trọng cũng đang diễn ra trong cách hình dung nền kinh tế của đảo. Phú Quốc có thể đi từ “visitor economy” (kinh tế du khách), nơi khách đến, lưu trú, tiêu dùng rồi rời đi, sang “flow economy” (kinh tế luồng), nơi đảo tham gia vào các dòng người, hàng hóa, vốn, tri thức, sự kiện và dịch vụ, thể hiện một bước chuyển từ thành phố của điểm đến sang thành phố của kết nối.

    Thế giới quy hoạch đô thị đảo ra sao?

    Singapore là một trường hợp đáng tham khảo dù Phú Quốc không nên được đặt mục tiêu trở thành “Singapore thứ hai”. Bài học Singapore nằm ở cách một quốc gia đảo nhìn nhận giới hạn về đất đai và biển như một bài toán quy hoạch tổng thể (2). Quy hoạch dài hạn của Singapore cân bằng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, đồng thời tính toán hạ tầng và nguồn lực đi cùng tốc độ phát triển. Thành phố được nhìn trong những chu kỳ dài thay vì chỉ qua từng dự án riêng lẻ.

    Đặc biệt, Singapore ngày càng đưa hệ thống xanh và xanh biển vào trung tâm quy hoạch. Các không gian xanh, mặt nước, hành lang sinh thái, công viên và vùng ven biển được kết nối thành một hệ thống có nhiều chức năng như bảo tồn, giải trí, quản lý nước, tăng khả năng chống chịu khí hậu và nâng cao chất lượng sống. Những đánh giá sinh thái dựa trên cơ sở khoa học cũng được sử dụng để định hướng phát triển đất đai.

    Cách Singapore xử lý bờ biển cũng đáng chú ý. Các giải pháp bảo vệ bờ được tính cùng với quy hoạch dài hạn thay vì xem hạ tầng chống ngập là một lớp kỹ thuật tách biệt. Những ý tưởng như Long Island kết hợp bảo vệ bờ, an ninh nguồn nước, tạo thêm đất và hình thành các không gian công cộng ven biển. Một số công trình bảo vệ bờ được tính toán để đồng thời trở thành công viên, đường dạo hoặc không gian sinh hoạt cộng đồng. Quan điểm này cho thấy một thay đổi quan trọng trong tư duy đô thị đảo, nhấn mạnh hạ tầng, sinh thái và không gian công cộng có thể được thiết kế như một hệ thống.

    Dự án Long Island ở bờ Đông Singapore nhằm bảo vệ đường bờ biển. Ảnh: Christian Chen

    Singapore cũng chủ động “sống với tính đảo” của mình. Các đảo ngoài khơi được xem xét cùng mạng lưới đô thị, giao thông, thiên nhiên và du lịch; những vùng biển và bờ biển được mở ra cho các hoạt động giải trí, thể thao, giáo dục và trải nghiệm thiên nhiên, trong khi các giá trị sinh thái và cảnh quan vẫn được bảo vệ.

    Ngược lại, Malé của Maldives cho thấy một mặt khác của đô thị đảo. Khi dân số và nhu cầu đô thị tập trung quá mạnh trên một diện tích đất nhỏ, biển trở thành giới hạn vật lý ngày càng rõ rệt. Việc mở rộng không gian đô thị ra biển có thể giải quyết một phần áp lực đất đai nhưng đồng thời đặt ra những câu hỏi lớn về môi trường, khí hậu, hạ tầng và khả năng chống chịu.

    Hai trường hợp này gợi ra hai bài học đối lập nhưng bổ sung cho nhau. Một bên cho thấy năng lực quy hoạch dài hạn có thể biến giới hạn của một quốc gia đảo thành động lực cho đổi mới đô thị. Bên kia nhắc rằng sức chứa của đảo luôn hữu hạn và mỗi quyết định mở rộng đều có cái giá sinh thái, hạ tầng và xã hội. Với đô thị đảo, câu hỏi về sức chịu tải vì thế cần xuất hiện trước câu hỏi về quy mô phát triển.

    Phú Quốc và bài toán đô thị đảo Việt Nam

    Phú Quốc đang bước vào giai đoạn phát triển có quy mô chưa từng có. Hạ tầng hàng không, cảng biển, tàu điện, du lịch, thương mại, dịch vụ và đô thị đang cùng tạo ra một bản đồ mới cho đảo. Những kết nối mới trên bầu trời đang bổ sung cho những hải trình từng tạo nên lịch sử Phú Quốc. Nghiên cứu về tầm nhìn phát triển của đảo vì thế đề xuất chuyển từ kinh tế điểm đến sang nền kinh tế của các dòng lưu chuyển, với hàng không, hàng hải và mạng lưới đô thị được tổ chức như một chỉnh thể. Nhưng tốc độ phát triển cũng đặt ra một số câu hỏi khó.

    Trước hết là diện mạo đô thị. Phú Quốc đang có nhiều dự án lớn được phát triển bởi những chủ đầu tư khác nhau. Mỗi dự án mang một ngôn ngữ kiến trúc, cảnh quan và cách tổ chức không gian riêng. Sự đa dạng này tự thân vốn không phải vấn đề. Vấn đề xuất hiện khi những ngôn ngữ riêng lẻ không được kết nối bởi một nguyên tắc chung ở cấp độ toàn đảo. Khi đó đô thị dễ trở thành tập hợp của những thế giới riêng biệt thay vì một thành phố có diện mạo thống nhất.

    Phú Quốc đang bước vào giai đoạn phát triển có quy mô chưa từng có.

    Một đô thị đảo có thể cho phép nhiều phong cách kiến trúc cùng tồn tại nhưng vẫn cần một cấu trúc chung về không gian công cộng, cảnh quan, chiều cao, mật độ, vật liệu, trục nhìn, tiếp cận mặt nước và quan hệ với địa hình tự nhiên. Bản sắc đô thị khi ấy không nằm ở việc mọi công trình phải giống nhau mà nằm ở khả năng để những công trình khác nhau cùng kể câu chuyện về một hòn đảo.

    Đây cũng là lúc nguyên tắc “hướng biển” cần được cụ thể hóa. Các trục đô thị có thể kết thúc ở mặt nước, những hành lang nhìn cần mở ra mũi đất, đảo và đường chân trời, các không gian công cộng cần kết nối với bến nước, giao thông cần tạo ra quan hệ thuận tiện giữa sân bay, đô thị, cảng và các đảo. Quan trọng hơn, khả năng tiếp cận biển của cộng đồng cần được bảo đảm để bờ biển không dần biến thành một chuỗi không gian khép kín phía sau những dự án nghỉ dưỡng.

    Thứ hai là câu chuyện APEC 2027 – sự kiện quốc tế có thể trở thành cú hích quan trọng cho Phú Quốc. Nhưng giá trị của APEC 2027 sẽ được nhìn rõ hơn sau khi sự kiện kết thúc. Khi những đoàn khách quốc tế rời đảo, các công trình và hạ tầng ấy sẽ phục vụ ai, hoạt động kinh tế nào và đời sống đô thị nào? 

    APEC 2027 vì thế nên được xem như một mốc để tăng tốc những năng lực mà Phú Quốc sẽ cần trong nhiều thập niên sau đó như giao thông, dịch vụ quốc tế, không gian công cộng, hạ tầng số, khả năng tổ chức sự kiện, kinh tế biển và mạng lưới đô thị. Khi ấy, đầu tư cho APEC sẽ trở thành đầu tư cho thành phố thay vì chỉ đầu tư cho một sự kiện.

    Thứ ba, và có lẽ sâu xa nhất, là câu hỏi về cư dân địa phương. Một đô thị mới có thể tạo ra nhiều giá trị đất đai, du lịch và dịch vụ, nhưng ai có quyền tham gia quá trình tạo ra giá trị ấy và ai được hưởng lợi từ nó? Khi đất đai tăng giá, các dự án lớn xuất hiện và sinh kế truyền thống thay đổi, người dân địa phương có thể đứng trước nguy cơ bị đẩy ra khỏi chính không gian mà họ đã tạo dựng qua nhiều thế hệ.

    Với Phú Quốc, câu chuyện này càng đáng chú ý bởi lịch sử của đảo vốn gắn với những cộng đồng cư trú, nghề biển, nước mắm, hồ tiêu, vận tải và các mạng lưới trao đổi hàng hóa ngay từ thời đại đồ sắt. Những lớp sinh kế ấy đã góp phần tạo nên chính giá trị mà nền kinh tế du lịch hôm nay đang khai thác. Nghiên cứu về Phú Quốc cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa biển, rừng, đất và các mạng lưới lao động, cho thấy những sản phẩm như nước mắm là kết quả của cả một hệ sinh thái và cộng đồng nghề nghiệp.

    Bởi vậy, phát triển đô thị đảo cần đặt ra khái niệm quyền phát triển bên cạnh quyền sở hữu đất đai. Một số công cụ như TDR (transferable development rights – chuyển giao quyền phát triển) có thể được nghiên cứu như một phương án điều tiết lợi ích giữa những khu vực cần bảo tồn, những nơi có khả năng phát triển cao và cộng đồng địa phương. TDR không phải lời giải duy nhất song mở ra một cách nghĩ đáng chú ý khi mà giá trị phát triển có thể được phân bổ lại thông qua quy hoạch thay vì để toàn bộ lợi ích của quá trình đô thị hóa tập trung vào những vị trí có khả năng khai thác đất đai cao nhất.

    Xa hơn, cần tính đến những cơ chế để cư dân địa phương tiếp tục có chỗ ở, tiếp tục có sinh kế và có cơ hội tham gia vào nền kinh tế mới. Người dân đảo có thể chuyển từ đánh bắt sang dịch vụ, từ sản xuất sang du lịch, từ nghề truyền thống sang những ngành nghề mới. Nhưng quá trình chuyển đổi ấy cần diễn ra với sự tham gia của chính cộng đồng. Đây là lúc khái niệm “đô thị đảo” vượt khỏi phạm vi kiến trúc và cảnh quan. Một thành phố sống cùng biển cần đồng thời sống cùng những cộng đồng đã làm nên lịch sử của biển.

    Phú Quốc có một lợi thế đặc biệt bởi lịch sử của đảo đã nhiều lần chứng minh khả năng chuyển đổi. Từ cư trú, hàng hải, sản vật, phòng thủ đến du lịch, mỗi giai đoạn đều tạo ra một chức năng mới cho đảo. Giai đoạn hiện nay có thể tiếp tục là một lần chuyển đổi, từ nền kinh tế du lịch sang một nền kinh tế rộng hơn của các dòng người, hàng hóa, vốn, tri thức và dịch vụ.

    Tuy nhiên, lần chuyển đổi này cần một nguyên tắc rõ ràng, phát triển thêm không đồng nghĩa với xây dựng thêm bằng mọi giá. Phú Quốc có thể học Singapore ở năng lực quy hoạch dài hạn, khả năng tích hợp hàng không, cảng biển, đô thị và sinh thái. Nhưng nguồn lực để Phú Quốc trở thành một đô thị quốc tế phải đến từ chính hòn đảo với những đặc trưng như hệ sinh thái biển và rừng, lịch sử hải thương, cộng đồng cư dân, nghề truyền thống, vị trí tại Vịnh Thái Lan và vai trò cửa ngõ của Việt Nam.

    Một đô thị đảo có căn cước nên bắt đầu từ những điều kiện riêng của hòn đảo như địa hình, hệ sinh thái, lịch sử cư trú, nghề nghiệp, ký ức cộng đồng, những tuyến biển từng kết nối nó với thế giới và những khả năng kết nối mới đang mở ra. Nhờ vậy cũng là cách ta mở rộng nội hàm của đô thị đảo như một mô hình đô thị trong đó biển tham gia vào cấu trúc không gian, kinh tế, xã hội và văn hóa của thành phố. Quy hoạch, do đó, phải tính cả phần đất và phần nước, cả cư dân hiện tại và những dòng người tương lai, cả thời điểm tăng trưởng và những năm tháng sau đó. 

    TS. Phạm Minh Quân – Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội

    __________________

    (1) Adam Grydehøj (2015) cho rằng “tính đảo” trở thành một yếu tố chủ động định hình quá trình đô thị hóa, thay vì chỉ là điều kiện địa lý. Nguồn: Grydehøj, A. (2015). Island city formation and urban island studies. Area, 47(4), 429 – 435.
    (2) Khái niệm “blue urbanism” (đô thị xanh biển) của Timothy Beatley đề xuất một cách nhìn rộng hơn về quan hệ giữa đô thị và đại dương, ở đó thành phố ven biển cần đưa “sức khỏe” của biển vào chính sách, quy hoạch và đời sống đô thị. Nguồn: Beatley, T. (2014). Blue urbanism: exploring connections between cities and oceans. Island Press.

    Nguồn https://baomoi.com/do-thi-khoi-xa-tim-cach-song-voi-tinh-dao-c56248206.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!