Bảo đảm chất lượng xây dựng văn bản, nâng cao hiệu quả thi hành Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt

Written by

in

Diễn tập ứng phó sự cố hóa học tại Hội thao Phòng thủ dân sự toàn quân năm 2026, tháng 8/2026.

Trong đó, trọng tâm là xây dựng, ban hành kịp thời, đầy đủ các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và khả thi, gắn chặt chất lượng xây dựng pháp luật với hiệu quả tổ chức thực hiện.

Bảo đảm tính thống nhất và khả thi

Việc ban hành Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (sau đây gọi tắt là Luật) đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong hệ thống pháp luật về quân sự, quốc phòng, tạo cơ sở pháp lý thống nhất để phòng ngừa, phát hiện, cảnh báo sớm, ngăn chặn và xử lý các hoạt động phổ biến, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Luật quy định các nguyên tắc, biện pháp, nguồn lực, cơ chế phối hợp liên ngành, Cơ quan đầu mối quốc gia và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời góp phần thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các nghị quyết có liên quan của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt là lĩnh vực đặc thù, liên quan trực tiếp đến nhiều ngành như quốc phòng, an ninh, thương mại, hải quan, hóa chất, năng lượng nguyên tử và tài chính.

Việc nhận diện, đánh giá, cảnh báo và xử lý nguy cơ không chỉ đòi hỏi cơ sở pháp lý rõ ràng mà còn cần năng lực chuyên môn, kỹ thuật và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng.

Do đó, các văn bản quy định chi tiết phải xác định cụ thể phạm vi kiểm soát, căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định và trách nhiệm phối hợp; đồng thời bảo đảm thống nhất với pháp luật chuyên ngành.

Đặc biệt, các biện pháp kiểm soát phải tương xứng với mức độ rủi ro, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt nhưng không tạo ra thủ tục trùng lặp, nghĩa vụ thiếu căn cứ hoặc cản trở hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất, kinh doanh hợp pháp.

Thực tiễn cho thấy, chất lượng văn bản quy định chi tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thi hành pháp luật. Văn bản chậm ban hành, thiếu đồng bộ hoặc chưa phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm dễ dẫn đến lúng túng, thiếu thống nhất trong áp dụng.

Ngược lại, những quy định được xây dựng chặt chẽ, phù hợp thực tiễn sẽ giúp cơ quan quản lý chủ động thực hiện nhiệm vụ, tổ chức và cá nhân nhận diện đúng nghĩa vụ, tạo thuận lợi cho quá trình phối hợp, kiểm tra và xử lý các tình huống phát sinh. Yêu cầu này cũng sát với chủ trương của Đảng, Nhà nước về gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi, dễ tiếp cận.

Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 12/5/2023 của Chính phủ nhấn mạnh việc khắc phục tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và đề cao trách nhiệm người đứng đầu.

Tiếp đó, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 140/NQ-CP ngày 17/5/2025 của Chính phủ tiếp tục xác định yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng và thi hành pháp luật, lấy thực tiễn làm cơ sở hoàn thiện các quy định.

Rà soát, bảo đảm tiến độ và chất lượng xây dựng văn bản

Cụ thể hóa các yêu cầu trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1870/QĐ-TTg ngày 29/9/2026 kèm theo kế hoạch triển khai thi hành Luật, xác định rõ nhiệm vụ, sản phẩm, thời hạn và trách nhiệm của từng cơ quan. Trong đó, Bộ Quốc phòng, với vai trò cơ quan đầu mối quốc gia về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt có trách nhiệm hướng dẫn, điều phối, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và tổng hợp kết quả thực hiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Theo kế hoạch, nhiệm vụ trước mắt là hoàn thành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, chậm nhất ngày 31/12/2026. Các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan, tổ chức liên quan rà soát văn bản thuộc phạm vi quản lý; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành.

Kết quả phải xác định cụ thể những quy định cần bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới, kèm theo căn cứ và phương án xử lý, gửi Bộ Quốc phòng tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Đại tá Bùi Hoàng Anh phát biểu kết luận Hội nghị tọa đàm góp ý dự thảo Hồ sơ Dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, tháng 5/2026.

Điều quan trọng trong công tác rà soát không chỉ dừng lại ở việc thống kê văn bản hiện hành mà phải chỉ rõ những nội dung cần hoàn thiện để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Trong đó, cần phân biệt những vấn đề đã được pháp luật chuyên ngành điều chỉnh, những nội dung cần thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành và những vấn đề được Luật giao quy định chi tiết.

Đây là căn cứ để cơ quan chủ trì soạn thảo xác định đúng phạm vi điều chỉnh, kế thừa các quy định còn phù hợp, khắc phục tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, tránh quy định lại những nội dung đã được điều chỉnh đầy đủ.

Trên cơ sở kết quả rà soát, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp Văn phòng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan, tổ chức liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật đối với 16 nội dung được giao.

Theo kế hoạch, thời hạn trình nghị định trong quý I năm 2027. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, đặt ra yêu cầu cao cả về tiến độ và chất lượng, bởi các quy định của nghị định sẽ trực tiếp cụ thể hóa nội dung Luật giao, tạo căn cứ pháp lý cho hoạt động quản lý, kiểm soát và phối hợp giữa các cơ quan.

Vì vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần xây dựng tiến độ cụ thể đối với từng nội dung, xác định rõ đơn vị đầu mối, sản phẩm, thời hạn hoàn thành và trách nhiệm của các bên liên quan; với những vấn đề có tính chất liên ngành phải được trao đổi, thống nhất ngay từ quá trình xây dựng dự thảo, hạn chế phát sinh vướng mắc về phạm vi quản lý hoặc thẩm quyền giải quyết.

Cùng với bảo đảm tiến độ, chất lượng văn bản phải được kiểm soát chặt chẽ trong toàn bộ quy trình soạn thảo, thẩm định và ban hành. Mỗi quy định phải có căn cứ pháp lý rõ ràng, đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục và phù hợp với mục đích của Luật.

Trong đó, cần phân định rành mạch nội dung thuộc thẩm quyền quy định chi tiết với nội dung thuộc trách nhiệm tổ chức thi hành; không sử dụng văn bản hướng dẫn để đặt thêm nghĩa vụ, điều kiện hoặc hạn chế quyền của tổ chức, cá nhân khi chưa có căn cứ pháp luật.

Đồng thời, văn bản phải được đối chiếu với các quy định hiện hành về quốc phòng, an ninh, hải quan, thương mại, hóa chất, năng lượng nguyên tử, phòng, chống rửa tiền và ngân hàng nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất. Những nội dung liên quan đến nghĩa vụ quốc tế cần được xem xét trên cơ sở các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nghị quyết có liên quan của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và phù hợp khuôn khổ pháp luật Việt Nam.

Ngoài những nội dung nêu trên, một yêu cầu quan trọng khác đặt ra, đó là phải bảo đảm tính cụ thể, minh bạch và thống nhất trong áp dụng Luật, đặc biệt đối với các nội dung như đánh giá rủi ro, xây dựng và sử dụng danh mục kiểm soát, xác minh người sử dụng cuối cùng, mục đích sử dụng cuối cùng và xử lý cảnh báo, văn bản cần quy định rõ căn cứ áp dụng, thẩm quyền, trình tự, thời hạn, trách nhiệm phối hợp và kết quả xử lý.

Hệ thống thuật ngữ, tiêu chí, biểu mẫu, yêu cầu về thông tin và hồ sơ cũng phải được chuẩn hóa, tạo thuận lợi cho cơ quan thực thi cũng như các tổ chức, cá nhân có liên quan. Tính khả thi của văn bản cần được xem xét ngay từ giai đoạn soạn thảo, trên cơ sở đánh giá đầy đủ yêu cầu quản lý, nguồn nhân lực, kinh phí, hạ tầng kỹ thuật, khả năng kết nối dữ liệu và chi phí tuân thủ.

Các yêu cầu về báo cáo, kiểm soát nội bộ, lưu giữ hồ sơ phải phù hợp với mức độ rủi ro; việc trao đổi, chia sẻ thông tin cần xác định rõ phạm vi, mục đích sử dụng, quyền truy cập và trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, dữ liệu cá nhân.

Các biện pháp tác động đến tài khoản, tài sản hoặc giao dịch, phải quy định chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền và cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan. Đồng thời, cần có phương án chuyển tiếp đối với hồ sơ, giao dịch và nghĩa vụ đang thực hiện khi quy định mới có hiệu lực, bảo đảm hoạt động quản lý liên tục, hạn chế tác động không cần thiết đến các hoạt động hợp pháp.

Để nâng cao chất lượng xây dựng dự thảo văn bản, công tác khảo sát thực tiễn, đăng tải, lấy ý kiến cơ quan thực thi, địa phương, chuyên gia và đối tượng chịu tác động phải được tiến hành thực chất.

Nội dung tham vấn cần tập trung làm rõ tính phù hợp của quy định với chức năng, thẩm quyền, điều kiện thực hiện; khả năng giải quyết những vấn đề đặt ra và chi phí tuân thủ có thể phát sinh.

Những ý kiến liên quan đến thủ tục trùng lặp, trách nhiệm chưa rõ, khó khăn trong trao đổi thông tin hoặc thiếu điều kiện bảo đảm phải được nghiên cứu, tiếp thu hoặc giải trình đầy đủ, có căn cứ. Qua đó, chủ động xử lý những bất cập có thể dự báo ngay từ khâu xây dựng văn bản.

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành Luật

Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy định chi tiết, hiệu quả thi hành Luật còn phụ thuộc trực tiếp vào công tác chuẩn bị về tổ chức, nhân lực, kinh phí, cơ sở vật chất và cơ chế phối hợp. Theo đó, các bộ, ngành, địa phương cần chủ động cụ thể hóa nhiệm vụ phù hợp với chức năng, thẩm quyền và điều kiện thực tế; xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, sản phẩm và thời hạn hoàn thành.

Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra tiến độ, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc thuộc phạm vi quản lý; đối với vấn đề vượt thẩm quyền phải chủ động tổng hợp, báo cáo và đề xuất phương án xử lý.

Cơ chế phối hợp liên ngành cần bảo đảm thông tin được tiếp nhận, xác minh, chuyển xử lý và phản hồi đúng đầu mối, thẩm quyền, thời hạn; đồng thời, đáp ứng yêu cầu bảo mật, bảo vệ dữ liệu và khả năng truy xuất trách nhiệm khi cần thiết. Việc phối hợp phải phát huy hiệu quả tổng hợp nhưng không làm thay đổi trách nhiệm pháp lý của từng cơ quan.

Hội nghị Tổ soạn thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, tháng 9/2026.

Song hành đó, công tác thông tin, truyền thông, phổ biến và hướng dẫn thi hành cần được triển khai chủ động, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Theo kế hoạch, Bộ Quốc phòng chủ trì xây dựng, phát hành tài liệu truyền thông, phổ biến trước ngày 1/7/2027; biên soạn lần đầu bộ tài liệu dùng chung trong quý II năm 2027 và tiếp tục rà soát, cập nhật trong quá trình thực hiện. Nội dung phổ biến phải bám sát quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn, phân biệt rõ nghĩa vụ bắt buộc với khuyến nghị thực hành.

Với cơ quan quản lý và lực lượng thực thi, cần chú trọng hướng dẫn thống nhất về thẩm quyền, trình tự, quy trình nghiệp vụ và trách nhiệm phối hợp; tổ chức tài chính, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, cần làm rõ các nghĩa vụ gắn với lĩnh vực hoạt động.

Đối với người dân, tập trung phổ biến những hành vi bị nghiêm cấm và trách nhiệm cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật. Các hoạt động phổ biến trong quý III, quý IV năm 2027 và những năm tiếp theocần hướng tới chuyển biến thực chất về nhận thức và hành động.

Hiệu quả tổ chức thi hành Luật không chỉ được đánh giá qua số lượng hội nghị, tài liệu phát hành mà quan trọng hơn là khả năng nhận diện nghĩa vụ, tuân thủ quy trình và phối hợp xử lý các tình huống phát sinh của từng nhóm đối tượng.

Để đáp ứng yêu cầu đó, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp cần chủ động bố trí nhân lực, kinh phí, trang thiết bị và điều kiện kỹ thuật theo Kế hoạch. Việc quản lý, sử dụng nguồn lực phải tuân thủ quy định của pháp luật về Ngân sách nhà nước, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu triển khai Luật trong thực tiễn.

Một trong những nhiệm vụ xuyên suốt là tăng cường theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả thi hành Luật và các văn bản hướng dẫn. Theo kế hoạch, trong năm 2027 và những năm tiếp theo, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan, tổ chức liên quan kiểm tra tiến độ, chất lượng thực hiện; tổng hợp kết quả, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo định kỳ hoặc đột xuất.

Công tác kiểm tra tập trung đánh giá tính thống nhất trong áp dụng pháp luật, hiệu quả phối hợp liên ngành, mức độ đáp ứng các điều kiện thực hiện và những khó khăn phát sinh đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Trên cơ sở đó, phân định rõ vướng mắc xuất phát từ quy định pháp luật với hạn chế trong tổ chức thực hiện, thiếu nguồn lực hoặc bất cập trong cơ chế phối hợp, làm căn cứ lựa chọn biện pháp khắc phục phù hợp.

Với những vấn đề thuộc thẩm quyền, các cơ quan phải chủ động giải quyết, không để kéo dài, ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành; những nội dung vượt thẩm quyền cần được tổng hợp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, kèm theo phương án xử lý cụ thể và phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, có căn cứ rõ ràng, bảo đảm đúng thẩm quyền, phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.

Việc duy trì cơ chế tiếp nhận phản ánh, kiểm tra, đánh giá và phản hồi thường xuyên không chỉ góp phần tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện các quy định.

Đây cũng là yêu cầu được nhấn mạnh tại Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, trong đó đề cao việc đánh giá hiệu quả sau ban hành, kịp thời phát hiện, xử lý những vướng mắc pháp lý từ thực tiễn.

Có thể khẳng định, chất lượng xây dựng văn bản và hiệu quả tổ chức thi hành là hai yếu tố có quan hệ mật thiết, song hành, bổ trợ lẫn nhau. Văn bản được xây dựng chặt chẽ, đồng bộ, khả thi là tiền đề để tổ chức thực hiện thống nhất; ngược lại, kết quả thi hành và những vấn đề phát sinh từ thực tiễn chính là thước đo chất lượng; đồng thời, cung cấp căn cứ để tiếp tục hoàn thiện pháp luật.

Vì vậy, triển khai nghiêm túc, đúng tiến độ Kế hoạch ban hành kèm theo Quyết định số 1870/QĐ-TTg, gắn trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị với chất lượng sản phẩm và kết quả thực hiện; duy trì hiệu quả cơ chế phối hợp, theo dõi, kiểm tra và xử lý vướng mắc là yêu cầu có ý nghĩa quyết định để Luật được thực thi thống nhất, kịp thời, góp phần nâng cao năng lực phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý hoạt động phổ biến, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và thực hiện hiệu quả các nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam.

Đại tá, Thạc sĩ Bùi Hoàng Anh Phó Cục trưởng Cục Pháp chế, Bộ Quốc phòng

Nguồn https://baomoi.com/bao-dam-chat-luong-xay-dung-van-ban-nang-cao-hieu-qua-thi-hanh-luat-phong-chong-pho-bien-vu-khi-huy-diet-hang-loat-c56313804.epi

Click to rate this post!
[Total: 0 Average: 0]

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!