Author: bachdn

  • Thu hồi đất phải hướng tới tái thiết cuộc sống người dân

    Từ bồi thường đến tái thiết cuộc sống

    Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan xác lập 6 quan điểm lớn, làm cơ sở tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý và sử dụng đất.

    Tái thiết cuộc sống sau thu hồi đất không chỉ là bảo đảm chỗ ở, mà còn phải gắn với hạ tầng, việc làm, sinh kế và chất lượng sống của người dân (Ảnh: Khoa Trần).

    Đáng chú ý, tại Quan điểm số 3, Nghị quyết đặt ra bước chuyển trong chính sách đối với người dân có đất bị thu hồi: Chuyển mạnh từ tư duy bồi thường tài sản bị thu hồi sang tư duy tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất, hướng tới cải thiện nơi ở, điều kiện sống và sinh kế của người có đất ở bị thu hồi.

    Cùng với đó, Nghị quyết đặt ra yêu cầu tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền có nơi ở; bố trí quỹ đất và có cơ chế ưu đãi, khuyến khích phát triển nhà ở cho thuê với giá phù hợp, đáp ứng nhu cầu của người dân.

    Phân tích điểm mới này, ThS.KTS Lê Minh Nguyệt, Phó giám đốc phụ trách Viện Nhà ở và Phát triển đô thị (Viện Kiến trúc Quốc gia) cho rằng, đây là sự thay đổi căn bản trong triết lý bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

    Nếu trước đây chính sách chủ yếu tập trung bù đắp giá trị tài sản bị thu hồi thì cách tiếp cận mới hướng tới mục tiêu rộng hơn: Tái thiết và ổn định cuộc sống lâu dài của người dân sau thu hồi đất.

    “Đây là quan điểm có tính nhân văn sâu sắc, thể hiện rõ định hướng của Đảng và Nhà nước về bảo đảm an sinh xã hội, lấy chất lượng sống và quyền lợi lâu dài của người dân làm trọng tâm”, bà Nguyệt nhấn mạnh.

    Theo bà Nguyệt, từ góc độ nhà ở và phát triển đô thị, yêu cầu này đồng nghĩa với việc tái định cư không thể chỉ giải quyết câu chuyện người dân “có chỗ ở”, mà phải hướng tới nơi ở tốt hơn, an toàn hơn và có điều kiện sống bền vững.

    Nơi ở mới vì thế phải gắn với hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, giao thông, việc làm và sinh kế. Qua đó, chính sách hỗ trợ mới thực sự hướng đúng vào những người chịu tác động trực tiếp từ thu hồi đất, hạn chế tình trạng giảm chất lượng sống hoặc phát sinh các vấn đề xã hội sau tái định cư.

    Về lâu dài, cách tiếp cận này còn góp phần giảm xung đột trong giải phóng mặt bằng, tạo đồng thuận xã hội và nâng cao chất lượng phát triển đô thị.

    Theo bà Nguyệt, đây cũng là cơ sở để chuyển từ phát triển đô thị thiên về mở rộng không gian sang mô hình phát triển bao trùm hơn, lấy con người làm trung tâm và đảm bảo phát triển bền vững.

    Nơi ở mới phải gắn với việc làm, sinh kế

    Cùng nhìn nhận về vấn đề này, KTS Trần Huy Ánh, Ủy viên Thường vụ Hội KTS Hà Nội cho rằng, Nghị quyết 21-NQ/TW thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị và phát huy nguồn lực đất đai.

    Nếu trước đây đất đai chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ tư liệu sản xuất thì trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai cần được nhìn nhận đầy đủ hơn với tư cách là một nguồn lực, tài sản đặc biệt phục vụ phát triển đất nước.

    Tuy nhiên, mục tiêu khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai phải đi cùng yêu cầu bảo đảm quyền lợi và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân khi Nhà nước thu hồi đất.

    “Xã hội phát triển thì hạnh phúc của người dân cũng phải cùng phát triển. Đây là định hướng thể hiện sự cân bằng trong quá trình phát triển”, KTS Trần Huy Ánh nhấn mạnh.

    Theo KTS Trần Huy Ánh, để nguyên tắc “tái thiết cuộc sống” thực sự đi vào thực tiễn, cần xác định cụ thể thế nào là điều kiện sống tốt hơn.

    Khái niệm này không nên chỉ được hiểu là người dân được bố trí một căn nhà mới. Điều kiện sống phải được xem xét toàn diện trên nhiều phương diện như chất lượng hạ tầng, khả năng tiếp cận việc làm, sinh kế, giáo dục, dịch vụ xã hội, môi trường sống và cơ hội phát triển lâu dài. Đặc biệt, sinh kế là yếu tố không thể tách rời.

    Một nơi ở mới dù căn nhà tốt hơn nhưng quá xa nơi làm việc, trường học hoặc thiếu điều kiện tạo thu nhập thì chưa thể coi là đã tái thiết được cuộc sống tốt hơn.

    Do đó, công tác quy hoạch và phát triển đô thị cần tiếp cận vấn đề tái định cư một cách tổng thể. Quy hoạch không chỉ trả lời câu hỏi “đưa người dân về đâu?”, mà phải tính đến việc người dân sẽ sống như thế nào, việc làm và sinh kế ở đâu, con cái học tập ra sao, khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu thế nào.

    Theo KTS Trần Huy Ánh, “tái thiết cuộc sống” cũng không đồng nghĩa với việc người có đất bị thu hồi bắt buộc phải chuyển đến một khu tái định cư được xác định sẵn.

    Quan trọng hơn là bảo đảm cho người dân có đủ nguồn lực và nhiều lựa chọn để tìm nơi ở mới có giá trị tương đương hoặc tốt hơn, phù hợp với nhu cầu việc làm, học tập và sinh hoạt.

    Khi những yếu tố này được giải quyết trong cùng một bài toán, nguyên tắc “tái thiết cuộc sống” mới có thể chuyển hóa thành chính sách cụ thể, đồng thời tạo đồng thuận trong quá trình thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và triển khai các dự án phát triển đô thị.

    Đa dạng nhà ở, mở rộng cơ hội có nơi ở

    Một nội dung đáng chú ý khác tại Quan điểm số 3 của Nghị quyết 21-NQ/TW là yêu cầu tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền có nơi ở; bố trí quỹ đất và có cơ chế ưu đãi, khuyến khích phát triển nhà ở cho thuê với giá phù hợp.

    Theo ThS.KTS Lê Minh Nguyệt, định hướng này thể hiện sự chuyển biến trong chính sách nhà ở. Nhà nước không chỉ quản lý đất đai mà còn chủ động sử dụng chính sách đất đai, giá đất và các cơ chế ưu đãi để tạo nguồn lực phát triển nhà ở phù hợp với khả năng chi trả của người dân.

    “Tôi cho rằng đây sẽ là động lực quan trọng để đa dạng hóa các loại hình nhà ở, đặc biệt là nhà ở cho thuê, nhà ở giá phù hợp và các mô hình nhà ở đáp ứng nhu cầu khác nhau của người lao động, người trẻ, người thu nhập thấp và nhóm dân cư có tính dịch chuyển cao tại đô thị”, bà Nguyệt nhận định.

    Theo bà, nhà ở cho thuê là xu hướng tất yếu trong quá trình đô thị hóa và đã trở thành bộ phận quan trọng của thị trường nhà ở tại nhiều quốc gia phát triển.

    Nghị quyết 21-NQ/TW mở hướng khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai, đồng thời đặt quyền lợi và cuộc sống lâu dài của người dân ở vị trí trung tâm (Ảnh: Khoa Trần).

    Về dài hạn, nếu chính sách quỹ đất, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và cơ chế ưu đãi được thiết kế phù hợp sẽ góp phần giảm áp lực phải sở hữu nhà ở bằng mọi giá, mở rộng cơ hội tiếp cận chỗ ở, cân bằng cung – cầu và hình thành thị trường nhà ở đô thị đa dạng, linh hoạt hơn.

    Ở góc độ sử dụng nguồn lực hiện hữu, KTS Trần Huy Ánh cho rằng, thay vì chỉ trông chờ Nhà nước hoặc chủ đầu tư xây dựng thêm các khu tái định cư, có thể khai thác tốt hơn nguồn cung nhà ở tại những khu đô thị đã được đầu tư hạ tầng nhưng chưa sử dụng hết.

    Cách tiếp cận này vừa mở rộng lựa chọn cho người dân, vừa góp phần khơi thông nguồn lực nhà ở và đất đai chưa được khai thác hiệu quả.

    Nhìn rộng hơn, Nghị quyết 21-NQ/TW còn thể hiện bước chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại về đất đai, dựa trên dữ liệu số, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và các công cụ kinh tế.

    Theo ThS.KTS Lê Minh Nguyệt, đối với lĩnh vực nhà ở và phát triển đô thị, những định hướng mới tạo nền tảng cho mô hình phát triển lấy người dân làm trung tâm, nâng cao chất lượng tái định cư, đa dạng hóa loại hình nhà ở và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai cho phát triển hạ tầng, chỉnh trang đô thị.

    Từ “bồi thường” đến “tái thiết cuộc sống”, từ giải quyết “có chỗ ở” đến bảo đảm quyền có nơi ở, Nghị quyết 21-NQ/TW đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chính sách đất đai: Nguồn lực đất đai phải được khai thác hiệu quả cho phát triển, nhưng đồng thời người dân phải được bảo đảm điều kiện sống, sinh kế và cơ hội phát triển lâu dài.

    Kim Thoa

    Nguồn https://baomoi.com/thu-hoi-dat-phai-huong-toi-tai-thiet-cuoc-song-nguoi-dan-c55873905.epi

  • Quy hoạch đồng bộ không gian Hồ Bến Tuyết, khu vực đầu đèo An Khê và Miếu Xà

    Theo đó, tỉnh thống nhất chủ trương nghiên cứu khu vực Hồ Bến Tuyết và vùng lân cận, cụm cảnh quan đầu đèo An Khê – núi Ông Bình – Di tích Miếu Xà trong tổng thể không gian quy hoạch Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo.

    Bí thư Tỉnh ủy Thái Đại Ngọc (bìa phải) khảo sát khu vực Hồ Bến Tuyết vào tháng 3-2026. Ảnh: Hà Duy

    Mục tiêu là hình thành tổng thể không gian văn hóa – lịch sử – cảnh quan – sinh thái – du lịch đồng bộ; bảo tồn, phát huy giá trị các di tích gắn với khai thác tiềm năng cảnh quan, phát triển du lịch, dịch vụ và tăng cường kết nối Tây Sơn Thượng đạo với Tây Sơn Hạ đạo.

    UBND tỉnh lưu ý các khu vực này không được xem xét, quy hoạch riêng lẻ mà phải nghiên cứu tổng thể, thống nhất với Quy hoạch Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo.

    Việc xác định phạm vi, ranh giới, quy mô, tính chất và chức năng từng khu vực phải phù hợp với quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và nông thôn, sử dụng đất, lâm nghiệp, quốc phòng, khoáng sản, thủy lợi, bảo vệ môi trường và các quy định về di sản văn hóa.

    Đối với khu vực Hồ Bến Tuyết, UBND tỉnh giao Sở Xây dựng chủ trì lập Quy hoạch phân khu Khu du lịch, sân golf Đập Bến Tuyết, phạm vi nghiên cứu liên quan đến xã Ya Hội và phường An Khê.

    Trong quá trình lập quy hoạch, các cơ quan chức năng phải rà soát kỹ điều kiện về đất đai, lâm nghiệp, rừng, khoáng sản, thủy lợi, môi trường, quốc phòng – an ninh và hạ tầng. Việc xác định chức năng sân golf, nghỉ dưỡng, thương mại, dịch vụ và quy mô sử dụng đất phải bảo đảm đầy đủ điều kiện theo quy định.

    Tại khu vực đầu đèo An Khê, tỉnh định hướng lập Quy hoạch chi tiết Khu du lịch đầu đèo An Khê, thuộc địa giới xã Cửu An và xã Bình Khê. Không gian nơi đây được nghiên cứu theo hướng hình thành khu vực đón tiếp, dịch vụ du lịch cửa ngõ, điểm ngắm cảnh, bãi đỗ xe, cây xanh cảnh quan cùng các công trình dịch vụ, phụ trợ phù hợp, hài hòa với cảnh quan tự nhiên và không gian văn hóa – lịch sử, các khu di tích lân cận.

    Di tích Miếu Xà. Ảnh: Hà Duy

    Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch được giao chủ trì cập nhật Hồ Bến Tuyết, cụm cảnh quan đầu đèo An Khê – núi Ông Bình – Di tích Miếu Xà vào quá trình lập Quy hoạch Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo. Đồng thời, cơ quan này phối hợp lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi đối với Di tích Miếu Xà và Di tích Núi Ông Bình, bảo đảm đồng bộ với quy hoạch tổng thể.

    UBND tỉnh cũng yêu cầu các địa phương liên quan điều chỉnh các quy hoạch thuộc thẩm quyền để bảo đảm thống nhất về phạm vi, ranh giới, chức năng sử dụng đất và hệ thống hạ tầng, không để xảy ra chồng lấn, mâu thuẫn giữa các đồ án quy hoạch.

    Riêng xã Cửu An cần nghiên cứu phương án bố trí tái định cư phù hợp đối với các hộ dân bị ảnh hưởng trong quá trình điều chỉnh quy hoạch.

    Theo kế hoạch, Sở Xây dựng là đầu mối theo dõi, đôn đốc, tổng hợp và trong tháng 9-2026 hoàn thiện phương án, báo cáo, đề xuất UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo triển khai các bước tiếp theo, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với Quy hoạch Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo.

    HÀ DUY

    Nguồn https://baomoi.com/quy-hoach-dong-bo-khong-gian-ho-ben-tuyet-khu-vuc-dau-deo-an-khe-va-mieu-xa-c55873276.epi

  • Bắc Ninh cấp mới 2 giấy phép khai thác đất phục vụ sân bay Gia Bình

    Tổng trữ lượng đất của 2 mỏ đất trên là gần 29 triệu m3, công suất khai thác hơn 6,5 triệu m3/năm. Đại diện Công ty cổ phần Thái Minh cho biết, đến nay, UBND tỉnh đã cấp cho đơn vị 11 giấy phép khai thác đất san lấp với tổng trữ lượng 73,2 triệu m3 để phục vụ thi công Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và các công trình liên quan.

    Công ty cổ phần Thái Minh huy động phương tiện vận chuyển đất tại mỏ được cấp phép trên địa bàn xã Nghĩa Phương để phục vụ thi công Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.

    Thời điểm này, Công ty đã hoàn hiện thủ tục tổ chức khai thác đất tại 2/11 điểm mỏ được cấp phép với trữ lượng khoảng 80 vạn m3 đất. Đối với các mỏ đất còn lại, doanh nghiệp đang hoàn thiện hồ sơ, giải phóng mặt bằng và các thủ tục cần thiết để khai thác đất trong năm nay.

    Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, hiện đơn vị đang tiếp tục hoàn thiện hồ sơ để cấp mới thêm 9 mỏ đất cho Công ty cổ phần Thái Minh theo cơ chế đặc thù. Việc áp dụng cơ chế này giúp rút ngắn thời gian hoàn thiện thủ tục, sớm đưa các điểm mỏ vào khai thác, qua đó bổ sung đáng kể nguồn đất san lấp phục vụ dự án với nhu cầu vật liệu rất lớn và liên tục.

    UBND tỉnh Bắc Ninh cấp giấy phép khai thác đất san lấp mặt bằng cho Công ty cổ phần Thái Minh theo cơ chế đặc thù để thi công Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.

    Đây cũng là điều kiện quan trọng để chủ đầu tư, nhà thầu chủ động xây dựng phương án khai thác, vận chuyển, tập kết và cung ứng vật liệu, giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Đặc biệt là hạn chế nguy cơ thiếu đất hoặc gián đoạn thi công nhằm đẩy nhanh tiến độ san lấp mặt bằng, thi công Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và các công trình hạ tầng liên quan.

    Tin, ảnh: Minh Linh

    Nguồn https://baomoi.com/bac-ninh-cap-moi-2-giay-phep-khai-thac-dat-phuc-vu-san-bay-gia-binh-c55873304.epi

  • Luật đất đai 2024: Người dân mong thủ tục đất đai bớt rườm rà

    Từ thực tế sử dụng đất, nhiều người dân tại xã Minh Châu chia sẻ với PV An ninh Thủ đô rằng, một số quy định, thủ tục liên quan đến đất đai vẫn còn gây khó khăn, nhất là trong việc chuyển quyền sử dụng đất cho con và xử lý cây trồng trên diện tích đất bị thu hồi.

    Vì vậy, họ mong muốn những chính sách về đất đai sẽ thông thoáng, minh bạch và bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân.

    Mong được hỗ trợ cây trồng

    Ông Nguyễn Viết Thụ (xóm 1, xã Minh Châu) phản ánh một vấn đề mà gia đình và một số hộ dân đang gặp phải liên quan đến diện tích đất bãi bồi ven sông.

    Khu vực đất bãi nổi, bãi bồi, có đặc điểm năm nay bồi nhưng năm sau có thể bị sạt lở. Nhiều năm qua, người dân vẫn cải tạo đất, đầu tư cây giống, công sức để sản xuất và trồng cây màu. Vì đất bãi bồi bỏ hoang nên người đã cải tạo để làm ăn. Bao nhiêu năm qua nhiều người dân xóm 1 canh tác, khi đất bồi vào thì dân trồng cây màu, sau đó thu hoạch và nộp sản lượng cho xã chứ không phải tự ý làm chui.

    Điều khiến ông Thụ và nhiều người dân khác thắc mắc là cùng liên quan đến việc thu hồi đất, có khu vực được hỗ trợ cây màu nhưng có nơi lại không được hỗ trợ, trong khi cây trồng vẫn do người dân bỏ vốn đầu tư và đang trong quá trình sản xuất.

    Ông Nguyễn Viết Thụ chia sẻ với PV An ninh Thủ đô.

    Ông Thụ cho biết, khu vực bãi dưới được hỗ trợ cây màu, trong khi khu vực bãi phía trên, nơi người dân tự bỏ công sức cải tạo, trồng cây, lại chưa được hỗ trợ.

    Hơn nữa, trong quá trình triển khai dự án, lực lượng chức năng đã rào khu vực, khiến người dân không thể tiếp tục lên chăm sóc cây trồng. Một số cây trồng của gia đình, trong đó có khoảng 200 cây chuối, đã bị máy móc phá bỏ nhưng chưa được hỗ trợ.

    “Người dân không đòi đền bù đất vì đất không có giấy tờ nhưng đề nghị chính quyền hỗ trợ cây màu trên đất. Cây giống, tiền vốn, công sức đều do dân bỏ ra. Nếu cần lấy đất thực hiện dự án thì phải có phương án hỗ trợ cây trồng rõ ràng rồi mới phá bỏ”, ông Thụ bày tỏ.

    Ông cho biết, người dân đã nhiều lần phản ánh với chính quyền địa phương nhưng đến nay mong muốn về việc hỗ trợ cây trồng vẫn chưa được giải quyết như kỳ vọng.

    Điều đáng nói, người dân đã quản lý, cải tạo khu vực bãi từ nhiều năm nay. Từ năm 2016, người dân từng tham gia đấu thầu khu vực này nhưng sau đó không được giao hợp đồng. Vậy nên, người dân mong muốn cơ quan chức năng làm rõ quá trình quản lý, khai thác và sử dụng đất tại khu vực để bảo đảm quyền lợi của các hộ trực tiếp sản xuất.

    Thực tế đặt ra yêu cầu, có cơ chế giao hoặc tạo điều kiện để người dân tham gia quản lý đất ven sông, đất bãi bồi phù hợp với quy định pháp luật.

    “Nếu thiếu người quản lý, khu vực bãi bồi có thể bị sạt lở hoặc bị khai thác trái phép. Từ năm 2016 đến nay, nhờ người dân giữ gìn nên khu vực này mới còn được như hiện tại” – ông Nguyễn Viết Thụ cho hay.

    Muốn chuyển đất cho con nhưng thủ tục quá nhiều

    Cũng tại xã Minh Châu, ông Nguyễn Minh Châu cho rằng các thủ tục liên quan đến chuyển quyền sử dụng đất cho con vẫn còn nhiều yêu cầu khiến người dân lớn tuổi gặp khó khăn.

    Theo ông, bản thân đã lớn tuổi nhưng vẫn minh mẫn và muốn chủ động chuyển quyền sử dụng đất cho con. Tuy nhiên, quá trình thực hiện thủ tục khiến ông cảm thấy phức tạp khi phải bổ sung nhiều loại giấy tờ liên quan đến nhân thân, quan hệ gia đình và các thông tin khác.

    Ông Nguyễn Minh Châu.

    Như ông Châu chia sẻ, có trường hợp người dân được yêu cầu bổ sung giấy đăng ký kết hôn, giấy khai sinh hoặc những giấy tờ liên quan đến người thân đã mất từ nhiều năm trước. Với người cao tuổi, việc tìm lại những giấy tờ này có thể rất khó khăn.

    Ông Châu nhận thấy, việc xác minh thông tin nhân thân, quan hệ gia đình là cần thiết để bảo đảm tính chính xác của hồ sơ, song các thủ tục cũng cần được rà soát để tránh tình trạng người dân phải đi lại nhiều lần hoặc bổ sung quá nhiều loại giấy tờ.

    “Tôi từng công tác tại UBND xã nhiều năm nên hiểu quản lý đất đai cần chặt chẽ. Nhưng những gì không cần thiết thì nên bỏ bớt. Người dân cần một quy trình rõ ràng, dễ hiểu và thuận tiện hơn”, ông Minh Châu đề xuất.

    Ông Châu cũng đặt vấn đề về cách gọi “sổ đỏ”, “sổ hồng”. Theo ông, điều quan trọng nhất là thông tin về quyền sử dụng đất phải thống nhất, chính xác và dễ tra cứu, tránh khiến người dân lớn tuổi thêm băn khoăn khi thực hiện thủ tục.

    Một số người dân còn phản ánh những vướng mắc liên quan đến tranh chấp, thông tin đất đai và việc xác định nguồn gốc, diện tích đất trong quá trình quản lý.

    Từ những phản ánh thực tế, mong muốn chung của người dân tại xã Minh Châu là chính sách đất đai không chỉ bảo đảm chặt chẽ trong quản lý, mà còn phải thuận tiện khi người dân thực hiện quyền hợp pháp của mình.

    Với các thủ tục hành chính về đất đai, người dân kỳ vọng cơ quan quản lý tiếp tục đẩy mạnh số hóa, liên thông dữ liệu, giảm giấy tờ trùng lặp và hướng dẫn cụ thể để người dân, nhất là người cao tuổi, có thể dễ dàng thực hiện.

    Từ ý kiến từ cơ sở cho thấy, bên cạnh việc hoàn thiện chính sách, cần phải tổ chức thực hiện phải thống nhất, minh bạch và sát với thực tế. Khi quyền lợi của người dân được giải thích rõ ràng, hồ sơ được xử lý đúng quy định và những tài sản hợp pháp trên đất được kiểm kê đầy đủ, các tranh chấp, khiếu nại liên quan đến đất đai cũng sẽ có thêm cơ sở để được giải quyết thấu đáo.

    Hoa Tiên

    Nguồn https://baomoi.com/luat-dat-dai-2024-nguoi-dan-mong-thu-tuc-dat-dai-bot-ruom-ra-c55873768.epi

  • Phân bổ nguồn lực phải gắn với mức thụ hưởng thực tế

    Không chỉ đánh giá qua số vốn và tỷ lệ giải ngân

    ĐBQH Cil Bri cơ bản thống nhất với việc ban hành Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035 trên cơ sở hợp nhất 4 Chương trình mục tiêu quốc gia hiện hành.

    Theo đại biểu, việc thu gọn đầu mối quản lý, tăng khả năng lồng ghép nguồn lực, đơn giản hóa thủ tục và đẩy mạnh phân cấp cho địa phương là cần thiết. Từ thực tiễn tỉnh Lâm Đồng, đại biểu tập trung góp ý hai nội dung về nguyên tắc phân bổ ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình và phân cấp cho cấp xã.

    ĐBQH Cil Bri (Lâm Đồng) phát biểu. Ảnh: Hồ Long

    Góp ý khoản 6 Điều 1, ĐBQH Cil Bri đánh giá cao việc dự thảo đã quy định khá đầy đủ nguyên tắc phân bổ ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình. Cụ thể, điểm a khoản 6 Điều 1 quy định đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, không manh mún, dàn trải và “tập trung ưu tiên phân bổ ngân sách nhà nước ở mức cao nhất” cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo.

    Đồng thời, điểm d, điểm đ khoản 6 Điều 1 đã bổ sung yêu cầu tiêu chí phân bổ phải gắn với mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, mức độ thiếu hụt dịch vụ cơ bản. Việc phân bổ hằng năm không chỉ căn cứ vào kết quả giải ngân mà còn phải xem xét nhu cầu, tiến độ, mức độ sẵn sàng và có cơ chế hỗ trợ các địa phương còn hạn chế trong chuẩn bị đầu tư. Đại biểu cho rằng, đây là quy định sát thực tiễn, cụ thể hóa rõ hơn nguyên tắc ưu tiên nguồn lực.

    Tuy nhiên, vấn đề đại biểu quan tâm là làm thế nào để nguyên tắc “ưu tiên ở mức cao nhất” được chuyển hóa thành mức độ thụ hưởng thực tế của người dân. Sau khi các chương trình được hợp nhất, nếu hiệu quả chủ yếu được đánh giá thông qua số vốn phân bổ, tỷ lệ giải ngân hoặc số lượng công trình hoàn thành thì vẫn có nguy cơ nguồn lực tập trung vào những nhiệm vụ dễ triển khai; trong khi những nhu cầu khó nhưng trực tiếp quyết định đời sống của người dân như nước sinh hoạt, sinh kế, hỗ trợ sản xuất và khả năng vận hành bền vững của công trình chưa được phản ánh đầy đủ.

    Dẫn thực tiễn tại Lâm Đồng, đại biểu cho biết: toàn tỉnh hiện có 627 công trình cấp nước tập trung khu vực nông thôn, nhưng 292 công trình không hoạt động, chiếm 46,57%. Tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn của Bộ Y tế là 58,70%, trong khi tỷ lệ hộ đồng bào dân tộc thiểu số mới đạt 33,73%.

    Nhiều nơi có địa bàn rộng, địa hình chia cắt, giao thông vào khu sản xuất còn khó khăn; nhu cầu về nước sinh hoạt, hạ tầng thiết yếu và phát triển sinh kế vẫn rất lớn. Thực trạng này cho thấy, địa phương được đầu tư công trình chưa đồng nghĩa với người dân đã được thụ hưởng dịch vụ; hoàn thành đầu tư cũng chưa đồng nghĩa với công trình được vận hành hiệu quả, bền vững.

    Vì vậy, ĐBQH Cil Bri đề nghị tiếp tục hoàn thiện khoản 6 Điều 1 theo hướng tiêu chí phân bổ và tiêu chí đánh giá kết quả phải phản ánh rõ hơn mức độ thụ hưởng thực tế của người dân, không chỉ dừng ở nhu cầu vốn và kết quả giải ngân.

    Đối với những dịch vụ thiết yếu như nước sinh hoạt, cần quan tâm các chỉ tiêu về tỷ lệ người dân thực tế được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn, tỷ lệ công trình hoạt động ổn định, bền vững. Đối với hỗ trợ sản xuất, sinh kế, cần gắn với kết quả về việc làm, thu nhập và khả năng duy trì sinh kế sau hỗ trợ.

    Đại biểu đồng thời đề nghị xác định rõ trách nhiệm và nguồn kinh phí cho quản lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng công trình sau đầu tư, nhất là trách nhiệm bố trí ngân sách địa phương và huy động các nguồn lực hợp pháp khác; tránh tình trạng đầu tư xong nhưng công trình không được vận hành hoặc xuống cấp, làm giảm hiệu quả nguồn lực của Chương trình.

    Qua đó, bảo đảm việc hợp nhất không làm giảm mức độ ưu tiên và quyền lợi thực tế của người dân tại những địa bàn khó khăn nhất.

    Phân cấp phải đi đôi với điều kiện thực hiện

    Góp ý việc phân cấp cho cấp xã tại điểm a khoản 10 Điều 1 và khoản 3 Điều 4, ĐBQH Cil Bri đồng tình với quy định cho phép HĐND cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp cho HĐND cấp xã quyết định phân bổ chi tiết nội dung, hoạt động, lĩnh vực chi và danh mục dự án đầu tư công của Chương trình.

    Khoản 3 Điều 4 cũng xác định việc phân cấp cho cấp xã phải bảo đảm phù hợp với năng lực, điều kiện thực tiễn và phát huy vai trò của người dân, cộng đồng. Theo đại biểu, đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu tăng tính chủ động và trách nhiệm của địa phương.

    Các đại biểu tham dự phiên họp. Ảnh: Lâm Hiển

    Tuy nhiên, khái niệm “phù hợp với năng lực, điều kiện thực tiễn” cần được gắn với một cơ chế đánh giá và rà soát cụ thể, bởi năng lực tổ chức thực hiện giữa các xã và giữa các nhóm nhiệm vụ rất khác nhau.

    Tại Lâm Đồng, các quyết định phân bổ vốn năm 2026 và kế hoạch đầu tư công trung hạn được ban hành vào cuối tháng 7/2026. Đến thời điểm khảo sát, nhiều nhiệm vụ ở cấp xã vẫn đang phải rà soát đối tượng, danh mục dự án, lập dự toán và hoàn thiện thủ tục.

    Năng lực tổ chức thực hiện của một bộ phận cán bộ cấp xã chưa đồng đều; trong khi việc sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp đồng thời làm thay đổi đầu mối, địa bàn, hồ sơ và chủ đầu tư.

    Trong điều kiện đó, nếu phân cấp mạnh nhưng không đồng thời xác định rõ điều kiện thực hiện thì điểm nghẽn có thể chỉ chuyển từ cấp trên xuống cấp xã; thậm chí làm phát sinh tâm lý e ngại, sợ sai và kéo dài thời gian đưa nguồn lực đến người dân.

    ĐBQH Cil Bri đề nghị chỉnh lý khoản 3 Điều 4 theo hướng việc quyết định phân cấp cho cấp xã phải căn cứ vào đánh giá năng lực thực hiện đối với từng nhóm nhiệm vụ; có cơ chế rà soát định kỳ và điều chỉnh phạm vi phân cấp khi cấp xã chưa đáp ứng điều kiện, nhưng phải bảo đảm không làm gián đoạn việc thực hiện Chương trình.

    Đối với những nhiệm vụ cấp xã chưa đủ năng lực thực hiện, cấp tỉnh cần có trách nhiệm hỗ trợ hoặc tổ chức thực hiện phù hợp, thay vì để nhiệm vụ bị đình trệ.

    Đồng thời, tại Điều 3 về trách nhiệm của Chính phủ, đại biểu đề nghị giao rõ trách nhiệm tiếp tục chuẩn hóa quy trình, biểu mẫu và hồ sơ đối với những thủ tục có thể thống nhất; hướng dẫn kỹ thuật, đồng bộ cơ sở dữ liệu và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm, gắn trực tiếp với những nhiệm vụ được phân cấp cho cấp xã, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào DTTS… Qua đó, bảo đảm phân cấp đi đôi với điều kiện thực hiện, nguồn lực và trách nhiệm giải trình.

    ĐBQH Cil Bri cho rằng, nếu giải quyết tốt hai vấn đề trên thì việc hợp nhất các Chương trình không chỉ dừng ở việc giảm đầu mối quản lý, mà quan trọng hơn là bảo đảm nguồn lực đến đúng địa bàn, đúng đối tượng, chuyển hóa thành kết quả thực tế và bền vững đối với người dân, nhất là đồng bào ở những địa bàn còn nhiều khó khăn.

    Diệp Anh

    Nguồn https://baomoi.com/phan-bo-nguon-luc-phai-gan-voi-muc-thu-huong-thuc-te-c55873398.epi

  • Đẩy nhanh quyết toán các dự án đã hoàn thành

    Thiếu tướng Hoàng Hữu Chiến kết luận buổi làm việc. Ảnh: TK

    Theo báo cáo tại buổi làm việc, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Tổ công tác số 1 thường xuyên rà soát các dự án đã hoàn thành đến hạn quyết toán; đôn đốc các cơ quan, đơn vị hoàn thiện, nộp hồ sơ để trình thẩm tra, phê duyệt quyết toán; định kỳ báo cáo Thủ trưởng Bộ Tư lệnh để kịp thời chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

    Bộ Tham mưu Bộ đội Biên phòng đã chủ trì, phối hợp với Phòng Tài chính bám nắm các cơ quan chuyên môn cấp trên, chủ động trao đổi, tranh thủ ý kiến của cán bộ cấp trên để đề xuất biện pháp xử lý những tồn tại, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ quyết toán đối với các dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ Tư lệnh. Các thành viên Tổ công tác số 1 đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, tranh thủ thời gian ngoài giờ hành chính thực hiện nhiệm vụ. Phòng Tài chính phát huy vai trò cơ quan hiệp đồng, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị liên quan, quyết liệt triển khai công tác quyết toán. Tính đến ngày 20/8/2026, số dự án đã quyết toán là 47/59 dự án đã nộp hồ sơ, đạt tỉ lệ 79,66%, kế hoạch đề ra.

    Toàn cảnh buổi làm việc. Ảnh: TK

    Tại buổi làm việc, các đại biểu thảo luận, đánh giá kết quả thực hiện, làm rõ những khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp đẩy nhanh tiến độ quyết toán các dự án còn tồn đọng.

    Phát biểu kết luận buổi làm việc, Thiếu tướng Hoàng Hữu Chiến ghi nhận sự cố gắng, tinh thần trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong công tác quyết toán các dự án đã hoàn thành. Đồng thời, yêu cầu các cơ quan chuyên môn, đơn vị tiếp tục triển khai quyết liệt các nhiệm vụ theo kế hoạch, tập trung nhân lực, xác định rõ trách nhiệm để đẩy nhanh tiến độ quyết toán các dự án; chủ động phối hợp tháo gỡ khó khăn, hoàn thiện hồ sơ quyết toán các dự án còn vướng mắc, không để tồn đọng kéo dài; tăng cường chế độ báo cáo, thực hiện phương châm “sáu rõ”. Giao Phòng Tài chính chủ trì, phối hợp xây dựng quy định nội bộ về công tác quyết toán các dự án do Bộ Tư lệnh đầu tư, đảm bảo chặt chẽ, thống nhất, hiệu quả.

    Tuấn Khang

    Nguồn https://baomoi.com/day-nhanh-quyet-toan-cac-du-an-da-hoan-thanh-c55873637.epi

  • Sửa Luật Đất đai: Ưu đãi cho hoạt động văn hóa thực chất, không ưu đãi cho bất động sản mang tên văn hóa

    Đại biểu Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, trả lời phỏng vấn. Ảnh: Hải Ngọc/TTXVN

    Trong thực tế triển khai chính sách đất đai hiện nay, đâu là những vướng mắc cụ thể nhất đang khiến các dự án văn hóa, thể thao, du lịch và công nghiệp văn hóa khó triển khai hoặc triển khai chậm?

    Theo tôi, vướng mắc lớn nhất hiện nay nằm ở chỗ đất đai dành cho văn hóa, thể thao, du lịch và công nghiệp văn hóa vẫn đang được xử lý chủ yếu theo logic của một nguồn lực kinh tế thông thường, trong khi đặc thù của các lĩnh vực này là vừa tạo giá trị kinh tế, vừa tạo giá trị xã hội, bản sắc và chất lượng sống. Từ đó phát sinh một số điểm nghẽn khá rõ.

    Trước hết là thiếu quỹ đất phù hợp và thiếu cơ chế bảo đảm quỹ đất ổn định, lâu dài. Nhiều thiết chế văn hóa, thể thao phải cạnh tranh về vị trí và giá trị sử dụng đất với các dự án thương mại có khả năng sinh lời trực tiếp cao hơn. Với công nghiệp văn hóa, khó khăn còn nằm ở chỗ nhiều dự án như phim trường, trung tâm biểu diễn, bảo tàng ngoài công lập, không gian sáng tạo hay tổ hợp sáng tạo có yếu tố kinh doanh, dịch vụ nên dễ bị xếp vào nhóm đất thương mại, dịch vụ và phải gánh nghĩa vụ tài chính tương tự những dự án thuần túy thương mại.

    Thứ hai là thủ tục sử dụng đất còn chưa theo kịp những mô hình mới. Du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, không gian sáng tạo, làng nghề kết hợp trải nghiệm hay cơ sở thể thao kết hợp dịch vụ hỗ trợ đều có tính đa mục đích. Nếu pháp luật chỉ nhìn mỗi thửa đất theo một công năng cứng thì hoặc người dân, doanh nghiệp không làm được, hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất với chi phí và thủ tục rất lớn. Vì vậy, tôi cho rằng lần sửa Luật Đất đai này cần chuyển từ tư duy quản lý cứng theo loại đất sang quản lý tốt hơn theo mức độ tác động, quy mô sử dụng và mục đích chính – phụ, để vừa giải phóng nguồn lực, vừa giữ kỷ cương đất đai.

    Ông đánh giá thế nào về nguy cơ quỹ đất dành cho công viên, sân chơi, thiết chế văn hóa, thể thao bị thu hẹp trong quá trình đô thị hóa?

    Tôi cho rằng đây là một nguy cơ có thật và cần nhìn nhận nghiêm túc. Trong quá trình đô thị hóa, giá đất tăng lên rất nhanh, trong khi công viên, sân chơi, thư viện, nhà văn hóa, sân tập thể thao lại là những thiết chế có giá trị xã hội rất lớn nhưng không tạo ra dòng tiền trực tiếp tương xứng. Chính vì vậy, nếu mọi loại đất đều phải cạnh tranh theo logic thương mại, những không gian công cộng rất dễ trở thành phần bị thu hẹp đầu tiên.

    Điều đáng lo không chỉ là mất đi vài khu đất. Khi một khu đô thị thiếu công viên, sân chơi, nhà văn hóa hay không gian thể thao, hệ quả là chất lượng sống giảm, trẻ em thiếu nơi vui chơi, người cao tuổi thiếu không gian vận động, cộng đồng ít có nơi gặp gỡ, còn đời sống văn hóa bị đẩy dần vào các không gian thương mại. Một đô thị có thể rất hiện đại về hạ tầng vật chất nhưng vẫn nghèo nàn về đời sống nếu thiếu những không gian chung như vậy.

    Tôi nghĩ cần thay đổi cách nhìn: quỹ đất văn hóa, thể thao và không gian công cộng không phải là phần “đất còn lại” sau khi bố trí các mục đích sinh lợi, mà phải được coi là một cấu phần thiết yếu của hạ tầng xã hội, tương tự trường học, y tế, giao thông. Bảo vệ quỹ đất này chính là đầu tư cho con người, cho sức khỏe, cho sự gắn kết cộng đồng và cho khả năng phát triển bền vững của đô thị.

    Theo ông, Luật Đất đai sửa đổi lần này cần thiết lập “hàng rào” nào để bảo vệ những quỹ đất này trước áp lực thương mại hóa?

    Theo tôi, cần ít nhất ba lớp “hàng rào”.

    Thứ nhất là hàng rào quy hoạch: Luật nên quy định nguyên tắc có định mức tối thiểu về quỹ đất cho thiết chế văn hóa, thể thao, công viên, sân chơi theo quy mô dân số, đặc biệt tại khu đô thị mới, khu nhà ở xã hội, khu tái định cư và khu vực có tốc độ tăng dân số cao. Khi đã là một chỉ tiêu bắt buộc thì quỹ đất này không thể bị coi là phần có thể tùy nghi cắt giảm.

    Thứ hai là hàng rào chống chuyển đổi tùy tiện. Tôi đề nghị áp dụng nguyên tắc: đất đã quy hoạch cho công viên, sân chơi, thư viện, nhà văn hóa, cơ sở thể thao cộng đồng chỉ được chuyển sang mục đích khác trong trường hợp thật sự cần thiết và phải bố trí quỹ đất thay thế có diện tích, chất lượng, vị trí và khả năng tiếp cận tương đương hoặc tốt hơn. Đây là cơ chế “không làm suy giảm quỹ đất công cộng”.

    Thứ ba là hàng rào về trách nhiệm giải trình. Mọi quyết định làm giảm quỹ đất văn hóa, thể thao công cộng phải được công khai, đánh giá tác động xã hội và lấy ý kiến cộng đồng ở mức phù hợp. Chúng ta cần tránh tình trạng thay đổi một ô đất trên bản đồ quy hoạch nhưng thực chất là làm thay đổi chất lượng sống của cả một khu dân cư. Đất đai là hữu hạn, còn những không gian công cộng một khi đã mất thì rất khó lấy lại.

    Ông có cho rằng chính sách đất đai hiện nay đang khiến các dự án công nghiệp văn hóa phải cạnh tranh với các dự án thương mại, bất động sản về giá đất và nghĩa vụ tài chính? Nên thiết kế cơ chế ưu đãi như thế nào để hỗ trợ công nghiệp văn hóa nhưng không tạo kẽ hở cho việc “đội lốt” dự án văn hóa để hưởng ưu đãi đất đai?

    Tôi cho rằng tình trạng này đang tồn tại ở một mức độ đáng kể. Công nghiệp văn hóa là một ngành kinh tế, nhưng nó không giống hoàn toàn với bất động sản hay thương mại thuần túy. Một phim trường, trung tâm nghệ thuật, bảo tàng ngoài công lập, không gian sáng tạo hay trung tâm thiết kế vừa có hoạt động kinh doanh, vừa tạo ra giá trị văn hóa, việc làm sáng tạo, hình ảnh địa phương và sức hấp dẫn của đô thị. Nếu áp dụng cùng một mặt bằng nghĩa vụ đất đai với dự án thương mại thông thường, nhiều mô hình văn hóa rất khó tồn tại ngay từ đầu.

    Tuy nhiên, ưu đãi phải rất có điều kiện. Tôi không ủng hộ ưu đãi rộng theo tên gọi dự án. Cần ưu đãi theo công năng và kết quả thực chất. Có thể thiết kế các tiêu chí như tỷ lệ diện tích tối thiểu dành cho hoạt động văn hóa, thời gian duy trì công năng, tỷ trọng doanh thu từ hoạt động văn hóa, mức độ mở cửa phục vụ cộng đồng, đóng góp cho hệ sinh thái sáng tạo hoặc bảo tồn di sản. Dự án đáp ứng tiêu chí thì được miễn, giảm tiền thuê đất hoặc tiếp cận quỹ đất với điều kiện phù hợp.

    Quan trọng nhất là phải có cơ chế thu hồi ưu đãi nếu dự án thay đổi công năng hoặc chuyển sang bất động sản thuần túy. Khi đó, chủ đầu tư phải hoàn trả phần ưu đãi và phần chênh lệch địa tô tương ứng. Tôi vẫn cho rằng nguyên tắc nên rất rõ: ưu đãi cho hoạt động văn hóa thực chất, không ưu đãi cho bất động sản mang tên văn hóa. Làm được như vậy thì vừa tạo động lực cho công nghiệp văn hóa, vừa ngăn được nguy cơ “đội lốt” để trục lợi chính sách.

    Nếu một hộ dân có đất nông nghiệp tại một làng nghề muốn vừa duy trì sản xuất, vừa làm không gian giới thiệu sản phẩm, đón khách trải nghiệm và tổ chức hoạt động văn hóa quy mô nhỏ, theo ông, pháp luật nên cho phép đến đâu và cần những điều kiện gì để vừa tạo sinh kế, vừa không biến đất nông nghiệp thành bất động sản thương mại trá hình?

    Theo tôi, pháp luật nên mở cho những mô hình như vậy, bởi đây chính là cách để làng nghề sống được bằng nghề, người dân có thêm sinh kế và văn hóa được bảo tồn trong đời sống chứ không chỉ trong trưng bày. Nếu một hộ gia đình vẫn duy trì sản xuất nông nghiệp hoặc nghề truyền thống, nhưng dành một phần nhỏ diện tích để giới thiệu sản phẩm, tổ chức trải nghiệm, đón khách tham quan hay thực hành văn hóa thì không nên buộc họ phải chuyển toàn bộ đất sang đất thương mại, dịch vụ.

    Điều quan trọng là phải xác định rõ ranh giới. Thứ nhất, mục đích chính của thửa đất vẫn phải được duy trì; phần diện tích kết hợp chỉ chiếm một tỷ lệ hợp lý. Thứ hai, công trình phục vụ trải nghiệm phải có quy mô nhỏ, không hình thành khu lưu trú, biệt thự, căn hộ hay các công trình mang tính bất động sản. Thứ ba, hoạt động phải gắn thực chất với sản xuất nông nghiệp, làng nghề, văn hóa bản địa hoặc sản phẩm của cộng đồng, chứ không chỉ mượn danh trải nghiệm để kinh doanh nhà hàng, nghỉ dưỡng. Thứ tư, phải đáp ứng các yêu cầu về môi trường, phòng cháy, an toàn, giao thông, vệ sinh và thực hiện nghĩa vụ tài chính phù hợp đối với phần hoạt động kinh doanh.

    Tôi cho rằng Điều 86 về sử dụng đất kết hợp đa mục đích là một hướng rất quan trọng để xử lý vấn đề này. Cách quản lý hợp lý nhất là phân tầng theo quy mô và mức độ tác động: hộ gia đình làm nhỏ, phụ trợ cho sản xuất thì thủ tục đơn giản; dự án lớn, xây dựng nhiều công trình và tạo giá trị thương mại cao thì phải chuyển mục đích và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đất đai. Như vậy, chúng ta vừa khuyến khích người dân sáng tạo sinh kế trên chính mảnh đất của mình, vừa không mở cửa cho việc biến đất nông nghiệp thành bất động sản thương mại trá hình.

    Dự thảo Luật Đất đai cần bổ sung chính sách như thế nào để tạo dư địa phát triển du lịch, nhất là du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch văn hóa và du lịch sinh thái, thưa ông?

    Theo tôi, trong dự thảo hiện nay chưa nhìn nhận du lịch tương xứng với vai trò của một ngành kinh tế tổng hợp. Nội dung trực tiếp về du lịch còn rất ít, chủ yếu liên quan đến bất động sản du lịch và dự án du lịch ở địa bàn đặc biệt khó khăn.

    Tôi đề nghị bổ sung “du lịch” vào các điều khoản mang tính nguyên tắc về khuyến khích đầu tư sử dụng đất; đồng thời xây dựng chính sách riêng cho du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch làng nghề, du lịch văn hóa và du lịch sinh thái.

    Bên cạnh đó, cũng cần phân biệt rất rõ hạ tầng du lịch công cộng với bất động sản du lịch. Một tuyến đường vào điểm du lịch, bãi đỗ xe, trung tâm thông tin, không gian đi bộ, điểm ngắm cảnh, nhà vệ sinh công cộng có tính chất hoàn toàn khác với khách sạn, resort hay bất động sản nghỉ dưỡng. Hai nhóm này không thể áp dụng cùng một cơ chế đất đai.

    Theo ông, sửa Luật Đất đai lần này cần thay đổi cách tiếp cận thế nào để bảo vệ không gian văn hóa, cảnh quan văn hóa gắn với di sản?

    Tôi cho rằng cần thay đổi tư duy từ bảo vệ từng “thửa đất có di tích” sang bảo vệ cả không gian văn hóa và cảnh quan văn hóa.

    Di sản không chỉ tồn tại trong một công trình. Một ngôi đình còn giá trị bởi có sân đình, cây đa, hồ nước, đường làng và không gian lễ hội xung quanh. Một làng nghề còn giá trị bởi ở đó còn người làm nghề, còn không gian sản xuất, trình diễn và truyền nghề.

    Vì vậy, khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất tại các khu vực có di sản, cần đánh giá tác động tới cảnh quan văn hóa, không gian thực hành di sản và đời sống của cộng đồng chủ thể.

    Tôi cũng cho rằng quy định về sử dụng đất kết hợp đa mục đích cần đặt ra yêu cầu chặt chẽ hơn đối với những khu vực liên quan đến di sản. Các hoạt động sử dụng đất phải bảo đảm không xâm hại, không làm suy giảm giá trị, tính xác thực và tính toàn vẹn của di sản, cảnh quan văn hóa.

    Sửa Luật Đất đai lần này là cơ hội để xác lập lại cách nhìn về nguồn lực đất đai trong mô hình phát triển mới. Đối với văn hóa, thể thao và du lịch, điều tôi mong muốn nhất là Luật phải vừa mở không gian để văn hóa trở thành nguồn lực phát triển, vừa giữ được những không gian văn hóa không thể tái tạo một khi đã mất đi.

    Chúng ta cần đất cho tăng trưởng, nhưng cũng cần đất cho ký ức, cho sáng tạo, cho sức khỏe, cho đời sống cộng đồng.

    Một thành phố đáng sống không chỉ được đo bằng giá đất hay số mét vuông thương mại, mà còn được đo bằng việc người dân có một công viên để đi bộ, một sân chơi cho trẻ em, một thư viện để đọc sách, một nhà văn hóa để gặp gỡ, một di sản để tự hào và một không gian sáng tạo để những ý tưởng mới được hình thành.

    Trân trọng cảm ơn ông!

    Chu Thanh Vân/TTXVN (thực hiện)

    Nguồn https://baomoi.com/sua-luat-dat-dai-uu-dai-cho-hoat-dong-van-hoa-thuc-chat-khong-uu-dai-cho-bat-dong-san-mang-ten-van-hoa-c55873390.epi

  • Muốn căn phòng mát hơn trong mùa hè, hãy xem lại 5 món đồ này

    Căn phòng nóng và bí vào mùa hè không phải lúc nào cũng chỉ do thời tiết hay nhiệt độ ngoài trời. Ngay cả khi đã bật điều hòa, một số món đồ quen thuộc trong nhà vẫn có thể khiến không gian tạo cảm giác nặng nề, nóng bức hơn.

    Vì vậy, trước khi vội giảm thêm vài độ điều hòa, hãy thử nhìn lại những món đồ đang được sử dụng hàng ngày.

    Màu tối có thể khiến căn phòng trở nên nóng hơn

    Sofa đen, thảm màu sẫm hay những bức tường xanh đậm có thể tạo vẻ sang trọng, nhưng các bề mặt tối thường hấp thụ nhiều ánh nắng hơn màu sáng. Điều này càng dễ nhận thấy trong những căn phòng có cửa sổ lớn hoặc đón nắng trực tiếp trong nhiều giờ.

    Không nhất thiết phải loại bỏ hoàn toàn màu tối khỏi không gian. Thay vào đó, hãy sử dụng chúng như điểm nhấn và kết hợp với các gam màu sáng hơn.

    Một bộ sofa tối màu có thể đi cùng gối sáng màu, rèm sáng hoặc thảm có tông nhẹ. Cách phối này vừa giữ được vẻ đẹp của nội thất vừa giúp tổng thể trông nhẹ mắt hơn.

    Nội thất màu tối có thể khiến căn phòng trở nên nóng hơn

    Chăn ga sợi tổng hợp dễ tạo cảm giác bí bách

    Polyester, microfiber, nylon và một số loại vải pha sợi tổng hợp thường được sử dụng phổ biến trong chăn ga nhờ độ bền và giá thành đa dạng. Tuy nhiên, trong thời tiết nóng, một số chất liệu có thể khiến người nằm cảm thấy bí hơn do khả năng giữ nhiệt và hơi ẩm.

    Nếu thường xuyên cảm thấy nóng khi ngủ, có thể cân nhắc chuyển sang những chất liệu nhẹ và thoáng hơn như cotton hoặc linen. Tencel hay viscose từ tre cũng là những lựa chọn đáng tham khảo nếu muốn bề mặt vải mềm và dễ chịu.

    Không cần thay toàn bộ chăn ga cùng lúc. Bạn có thể bắt đầu bằng ga giường và vỏ gối, sau đó điều chỉnh thêm tùy cảm nhận thực tế.

    Rèm quá dày khiến căn phòng nặng nề

    Rèm nhung hoặc những loại rèm vải dày có ưu điểm trong việc cản sáng, nhưng vào mùa nóng, chúng có thể khiến căn phòng tạo cảm giác bí và nặng nề hơn, đặc biệt khi không gian vốn đã thiếu thông thoáng.

    Với phòng ngủ hoặc phòng khách nhiều nắng, có thể cân nhắc rèm linen, rèm vải nhẹ hoặc rèm có khả năng hạn chế ánh sáng trực tiếp. Rèm hai lớp cũng là giải pháp linh hoạt: lớp mỏng dùng ban ngày để lấy ánh sáng, lớp dày hơn có thể kéo lại khi nắng gắt.

    Bên cạnh công năng, những chất liệu tự nhiên như linen, cùng các chi tiết như giỏ đan, đồ gốm hay cây xanh cũng giúp không gian trông nhẹ và thoáng mắt hơn.

    Bóng đèn sợi đốt tạo thêm nguồn nhiệt

    Một bóng đèn khó có thể làm nhiệt độ cả căn phòng tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, khi nhiều thiết bị và nguồn nhiệt cùng hoạt động trong một không gian vốn đã nóng, chúng vẫn có thể góp phần làm căn phòng kém dễ chịu.

    Vì vậy, nếu trong nhà vẫn sử dụng bóng đèn sợi đốt, có thể cân nhắc chuyển sang đèn LED chất lượng tốt. Đây là thay đổi tương đối đơn giản và phù hợp với nhu cầu sử dụng hàng ngày.

    Vào ban ngày, nếu điều kiện cho phép, nên tận dụng ánh sáng tự nhiên thay vì bật toàn bộ hệ thống đèn. Tuy nhiên, với những cửa sổ đón nắng trực tiếp, cần kết hợp che sáng hợp lý để tránh đưa thêm nhiệt vào phòng.

    Bóng đèn sợi đốt tạo thêm nguồn nhiệt cho căn nhà

    Thảm len có thể giữ cảm giác ấm

    Len là chất liệu có khả năng giữ nhiệt tốt nên thường phù hợp với thời tiết lạnh. Nhưng trong mùa hè, một tấm thảm len lớn có thể khiến phòng khách hoặc phòng ngủ tạo cảm giác ấm hơn, đặc biệt khi không gian đã có nhiều chăn, rèm và các món đồ bằng vải.

    Nếu muốn căn phòng nhẹ và thoáng hơn, có thể tạm cất thảm len trong những tháng nóng hoặc chuyển sang chất liệu phù hợp hơn như đay. Thảm đay mang vẻ mộc mạc, tự nhiên và không tạo cảm giác nặng nề như một số loại thảm dày.

    Không phải món đồ nào kể trên cũng khiến nhiệt độ thực tế trong căn nhà tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, chúng có thể góp phần làm cảm giác nóng, bí trở nên rõ rệt hơn, nhất là ở những căn phòng nhiều nắng hoặc lưu thông không khí kém.

    Đôi khi, chỉ cần điều chỉnh vài chi tiết trong căn phòng cũng đủ giúp không gian trông nhẹ hơn, thoáng mắt hơn và dễ chịu hơn trong những ngày hè oi bức.

    Kỳ Anh

    Nguồn https://baomoi.com/muon-can-phong-mat-hon-trong-mua-he-hay-xem-lai-5-mon-do-nay-c55873381.epi

  • Ninh Bình giải quyết dứt điểm vướng mắc tại các dự án nhà ở xã hội

    Một dự án nhà ở xã hội tại Ninh Bình. (Ảnh: Nguyễn Chinh/TTXVN)

    Phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, nhà lưu trú công nhân là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm an sinh xã hội, đáp ứng nhu cầu về chỗ ở cho người thu nhập thấp, công nhân, người lao động và các đối tượng chính sách.

    Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã có 53 dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang và nhà lưu trú công nhân được chấp thuận, với quy mô khoảng 51.612 căn.

    Theo tiến độ đăng ký của các chủ đầu tư, trong năm 2026 dự kiến hoàn thành khoảng 8.984 căn. Mặc dù vậy, hiện vẫn còn một số vướng mắc làm ảnh hưởng tới tiến độ các dự án cần được tỉnh giải quyết dứt điểm.

    Xác định rõ các điểm nghẽn

    Theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình, bên cạnh những kết quả đạt được, tiến độ thực hiện một số dự án còn chậm so với yêu cầu. Việc thực hiện quỹ đất 20% tại một số dự án chưa đáp ứng tiến độ; một số khó khăn về giải phóng mặt bằng, đất đai, phòng cháy, chữa cháy, hạ tầng kỹ thuật và các thủ tục liên quan chưa được tập trung giải quyết kịp thời.

    Để hoàn thành mục tiêu đã đề ra, yêu cầu đặt ra là phải giải quyết dứt điểm những điểm nghẽn đang làm chậm tiến độ một số dự án. Từ công tác giải phóng mặt bằng, đất đai, quỹ đất 20%, hạ tầng kỹ thuật, cấp điện đến phòng cháy, chữa cháy và các thủ tục liên quan, do đó, tỉnh Ninh Bình yêu cầu các sở, ngành, địa phương và chủ đầu tư vào cuộc quyết liệt, xác định rõ trách nhiệm, thời hạn xử lý, không để khó khăn kéo dài ảnh hưởng đến mục tiêu chung.

    Các cư dân làm thủ tục nhận bàn giao căn hộ nhà ở xã hội ở Ninh Bình. (Ảnh: Nguyễn Chinh/TTXVN)

    Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình Trần Anh Dũng cho biết nhiệm vụ trước mắt được tỉnh xác định là tiếp tục thực hiện nghiêm các nhiệm vụ đã giao, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, nhà lưu trú công nhân, nhất là những dự án có khả năng hoàn thành và có sản phẩm trong năm 2026.

    Các sở, ngành, địa phương, chủ đầu tư và đơn vị liên quan phải tăng cường phối hợp, xử lý ngay những vấn đề thuộc thẩm quyền; trường hợp vượt thẩm quyền phải chủ động báo cáo, đề xuất Ủy ban Nhân dân tỉnh xem xét, chỉ đạo, tránh tình trạng công việc bị đùn đẩy hoặc kéo dài.

    Với cách làm chuyển từ theo dõi chung sang quản lý tiến độ theo từng dự án, từng nhóm vấn đề và từng trách nhiệm cụ thể; đây là cơ sở để tỉnh Ninh Bình ưu tiên nguồn lực, tháo gỡ những nút thắt có khả năng tác động trực tiếp đến thời điểm hoàn thành và đưa sản phẩm nhà ở vào sử dụng.

    Trong số những vấn đề được xác định cần tập trung xử lý, đất đai và giải phóng mặt bằng là những khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ triển khai dự án. Do vậy tỉnh Ninh Bình giao Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn liên quan đến đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất và các nội dung thuộc lĩnh vực quản lý đối với các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; đồng thời, tiếp tục rà soát, đề xuất bố trí quỹ đất phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê phù hợp quy hoạch và nhu cầu thực tế.

    Trách nhiệm của chính quyền cơ sở cũng được đặt ra rõ ràng hơn. Ủy ban Nhân dân các xã, phường có dự án phải tập trung chỉ đạo công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng và giải quyết các thủ tục thuộc thẩm quyền, bảo đảm tiến độ bàn giao mặt bằng cho dự án; cùng với đó là yêu cầu chủ động phối hợp với các sở, ngành và chủ đầu tư trong quá trình triển khai, hạn chế phát sinh những vướng mắc mới.

    Cụ thể như Ủy ban Nhân dân phường Hồng Quang được tỉnh yêu cầu khẩn trương hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng phục vụ dự án nhà ở xã hội tại các ô đất NXH-05, NXH-06 thuộc Khu đô thị mới phía Nam sông Đào, báo cáo Ủy ban Nhân dân tỉnh trước ngày 31/8/2026.

    Đây là một trong những nhiệm vụ có thời hạn cụ thể, thể hiện yêu cầu gắn trách nhiệm của địa phương với tiến độ của từng dự án.

    Gắn trách nhiệm chủ đầu tư với tiến độ và chất lượng công trình

    Cũng theo ông Trần Anh Dũng, một giải pháp quan trọng khác là kiểm soát chặt trách nhiệm của các chủ đầu tư. Theo yêu cầu của Ủy ban Nhân dân tỉnh, chủ đầu tư phải tập trung nguồn lực, tổ chức triển khai dự án đúng chủ trương đầu tư, hồ sơ pháp lý và tiến độ đã cam kết; đồng thời thực hiện đầy đủ trách nhiệm về quỹ đất 20%, quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật, phòng cháy, chữa cháy và môi trường.

    Một dự án nhà ở xã hội. (Ảnh: Khánh Hùng/Vietnam+)

    Việc kiểm soát tổng mức đầu tư cũng được đặt ra nhằm bảo đảm các dự án được triển khai đúng quy mô, tiêu chuẩn, định mức và suất vốn đầu tư, phù hợp điều kiện thực tế của từng dự án, đồng thời bảo đảm tính đồng bộ giữa các dự án trên địa bàn.

    Đối với các dự án đang chậm tiến độ, chủ đầu tư phải nghiêm túc rà soát, xác định nguyên nhân và chủ động khắc phục. Nếu phát sinh khó khăn vượt thẩm quyền, phải kịp thời báo cáo, đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết; không được để tình trạng chậm tiến độ kéo dài mà không xác định được nguyên nhân hoặc trách nhiệm.

    Theo Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Ninh Bình Nguyễn Văn Lượng, một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường kiểm tra, phân loại dự án theo tiến độ thực tế. Sở Xây dựng được giao chủ trì theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, giám sát tiến độ thực hiện từng dự án theo đúng chủ trương đầu tư, hồ sơ pháp lý và cam kết của chủ đầu tư; đôn đốc các chủ đầu tư thực hiện đầy đủ trách nhiệm đầu tư xây dựng nhà ở xã hội thuộc quỹ đất 20%.

    Đối với các dự án chậm tiến độ, phải làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, chủ đầu tư liên quan, từ đó đề xuất phương án xử lý theo quy định.

    Cụ thể, hiện sở đã và đang tích cực chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương và chủ đầu tư thường xuyên theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn để triển khai các thủ tục pháp lý dự án đảm bảo tiến độ các dự án đầu tư xây dựng công trình nhà ở xã hội tại phường Duy Hà và Dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội Bích Đào, phường Hoa Lư, theo lộ trình đã đặt ra; cùng với đó sẽ khẩn trương tham mưu thực hiện thẩm định hồ sơ đề xuất chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư Dự án đầu tư xây dựng Nhà ở xã hội Tây Phù Vân, phường Phù Vân, để trình Ủy ban Nhân dân tỉnh quyết định.

    Bên cạnh việc tháo gỡ thủ tục và mặt bằng, nguồn lực tài chính được xác định là một điều kiện quan trọng để bảo đảm tiến độ các dự án. Do vậy tỉnh giao Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu cân đối, bố trí nguồn lực thực hiện các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê thuộc trách nhiệm đầu tư của Nhà nước.

    Đặc biệt, tỉnh yêu cầu khẩn trương tham mưu bố trí nguồn vốn để triển khai các thủ tục đầu tư Dự án xây dựng nhà chung cư cho thuê tại đường Trần Đăng Ninh, phường Nam Định, bảo đảm tiến độ khởi công trong năm 2026 theo yêu cầu, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

    Tỉnh giao Ban Quản lý Khu kinh tế và các khu công nghiệp tỉnh có trách nhiệm rà soát, cập nhật, dự báo nhu cầu nhà ở của công nhân, người lao động tại các khu công nghiệp, khu kinh tế; phối hợp xác định nhu cầu, vị trí và quy mô phát triển nhà lưu trú công nhân, nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê.

    Đồng thời, phối hợp với các sở, ngành, địa phương làm việc với nhà đầu tư, doanh nghiệp để đôn đốc, thu hút đầu tư phát triển nhà ở cho công nhân, người lao động.

    Đặc biệt, tỉnh yêu cầu các ngành chức năng và các địa phương không chỉ hoàn thành về số lượng mà còn phải bảo đảm đúng quy định, tiến độ, chất lượng, đúng đối tượng và đúng mục tiêu chính sách; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm, không để xảy ra tình trạng lợi dụng, trục lợi chính sách./.

    (TTXVN/Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/ninh-binh-giai-quyet-dut-diem-vuong-mac-tai-cac-du-an-nha-o-xa-hoi-c55873588.epi

  • Hà Nội yêu cầu xử lý dứt điểm vi phạm tại rừng phòng hộ Sóc Sơn trước 5/9

    Qua kiểm tra 6 vị trí tại khu vực quy hoạch rừng phòng hộ xã Kim Anh, cơ quan chức năng xác định 2 vị trí đã được cưỡng chế, khắc phục; 3 vị trí chưa được xử lý dứt điểm và một vụ việc đang chờ Tòa án giải quyết. Đảng ủy UBND thành phố Hà Nội đề nghị hoàn thành xử lý các vi phạm thuộc thẩm quyền trước ngày 5/9/2026.

    Tại Báo cáo số 774/BC-ĐU về kết quả kiểm tra, xử lý thông tin báo chí phản ánh về vi phạm tại khu vực rừng phòng hộ Sóc Sơn (xã Kim Anh), ông Dương Đức Tuấn, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cho biết: Kết quả kiểm tra, xác minh cho thấy thông tin báo chí phản ánh về tình trạng xây dựng công trình, san gạt, cải tạo mặt bằng trên đất thuộc ranh giới quy hoạch rừng phòng hộ tại thôn Thái Vụ, xã Kim Anh là có cơ sở.

    Một khu vực có dấu hiệu bị san gạt, cải tạo mặt bằng giữa rừng phòng hộ Sóc Sơn, xã Kim Anh, Hà Nội. Ảnh: Trung Nguyên/TTXVN

    *Một số vị trí chưa được xử lý dứt điểm

    Trên cơ sở kết quả kiểm tra, Đảng ủy UBND thành phố đề nghị Thường trực Thành ủy giao Đảng ủy UBND thành phố chỉ đạo UBND thành phố yêu cầu xã Kim Anh khẩn trương kiểm tra, rà soát, xử lý dứt điểm vi phạm tại 5 vị trí, từ vị trí số 2 đến số 6, trước ngày 5/9/2026.

    Đối với vị trí số 1, địa phương phải quản lý nguyên trạng công trình, theo dõi quá trình Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết vụ án và kịp thời xử lý sau khi có phán quyết. Kết quả thực hiện phải được báo cáo Thường trực Thành ủy và UBND thành phố trước ngày 7/9/2026.

    Một trong ba trường hợp chưa được xử lý dứt điểm là công trình nhà ở, bể bơi, nhà bếp mang tên SOLARA Đồng Đò của ông Nguyễn Văn Thắng, tại thôn Minh Tân, nay là thôn Thái Vụ. Theo tài liệu kiểm tra, vi phạm phát sinh từ tháng 2/2026 trên khu đất rộng khoảng 1.000 m².

    Tại đây đã xây dựng một nhà gạch ba tầng, diện tích 144,5 m² mỗi tầng; một bể bơi rộng khoảng 100 m², sân pickleball, sân và đường đi nội bộ. Các hạng mục đã hoàn thiện và được đưa vào sử dụng.

    UBND xã Kim Anh đã lập biên bản kiểm tra từ tháng 4/2026 nhưng chưa lập hồ sơ xử lý vi phạm và chưa tổ chức khắc phục theo quy định. Trước đó, ngày 12/5/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội có Văn bản số 6275/SNNMT-KL đề nghị UBND xã Kim Anh xử lý vụ việc theo thẩm quyền và quy định của pháp luật.

    Tại vị trí của bà Phạm Thị Thanh Bình, cơ quan chức năng xác định vi phạm phát sinh từ tháng 7/2025. Trên diện tích đất khoảng 2.500 m² có 12 hạng mục với tổng diện tích xây dựng 992,6 m², gồm nhiều kết cấu khung sắt, sàn bê tông, bể bơi rộng 187,2 m², sân bê tông, kè đá, tường gạch và hàng rào sắt.

    Hành vi vi phạm được xác định là chuyển đất nông nghiệp thuộc quy hoạch rừng phòng hộ sang mục đích khác. Các công trình đã hoàn thiện và đưa vào sử dụng. UBND xã Kim Anh đã kiểm tra hiện trạng, đang tiếp tục xác minh nguồn gốc sử dụng đất để hoàn thiện hồ sơ xử lý.

    Vị trí thứ ba chưa được lập hồ sơ xử lý là khu đất do ông Nguyễn Chí Dũng tổ chức san gạt, xây dựng tại thôn Minh Tân, với diện tích hơn 5.000 m². Vi phạm phát sinh từ tháng 3/2026. Tại thời điểm kiểm tra ngày 10/8/2026, khu đất đã được san gạt, đào đắp để tạo cảnh quan; hình thành bể nước rộng khoảng 500 m², ba công trình nhà tạm có tổng diện tích khoảng 300 m². Khu vực suối chảy bên cạnh và khu vực chân núi cũng được đào đắp, tạo mặt bằng, làm đường ra vào.

    Ngày 4/6/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường có Văn bản số 7638/SNNMT-KL đề nghị UBND xã Kim Anh xử lý vi phạm theo thẩm quyền. Tuy nhiên, đến thời điểm kiểm tra, hoạt động cải tạo mặt bằng và xây dựng tại khu đất này chưa được UBND xã lập hồ sơ xử lý theo quy định.

    Đoàn công tác của UBND xã Kim Anh (Hà Nội) kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, xây dựng công trình và cải tạo cảnh quan tại khu vực rừng phòng hộ Sóc Sơn. Ảnh: Trung Nguyên – TTXVN

    *Xác định trách nhiệm tổ chức, cá nhân liên quan

    Đối với hai vị trí liên quan đến ông Ngô Mạnh Khương, vi phạm phát sinh từ tháng 7/2025. Tại một vị trí, công trình xây dựng vi phạm có diện tích 492,02 m² trên khu đất rộng hơn 7.769 m². Vị trí còn lại có khoảng 8.000 m² đất bị cào gạt thực bì và 460 m² bị san ủi.

    UBND xã Kim Anh đã lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính và tổ chức cưỡng chế ngày 30/1/2026. Đến thời điểm kiểm tra, các hạng mục vi phạm đã được xử lý, hiện trạng khu đất được giữ nguyên là đất trống.

    Riêng công trình nhà sàn bằng gỗ của bà Vũ Thanh Huyền, tại Đội 4 thôn Minh Tân, nay là thôn Thái Vụ, có diện tích đất vi phạm 207,615 m². Cơ quan chức năng đã lập hồ sơ vi phạm hành chính, ban hành quyết định xử phạt và xây dựng kế hoạch cưỡng chế.

    Tuy nhiên, bà Huyền đã khởi kiện và Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý vụ án hành chính. Vì vụ án đang được Tòa án giải quyết nên công trình chưa thể được xử lý, khắc phục dứt điểm.

    Báo cáo số 774-BC/ĐU nhận định, để xảy ra các vi phạm nêu trên, trách nhiệm trước hết thuộc Chủ tịch UBND xã, Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách lĩnh vực kinh tế và Trưởng phòng Kinh tế xã Kim Anh trong công tác quản lý địa bàn, kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm theo thẩm quyền.

    Đảng ủy UBND thành phố đề nghị xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan để xử lý theo thẩm quyền; đồng thời đề nghị Thường trực Thành ủy xem xét trách nhiệm đối với những tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý của Ban Thường vụ Thành ủy đã để xảy ra vi phạm.

    UBND xã Kim Anh cũng được đề nghị rà soát, xác định những trường hợp vi phạm khác nếu có, kể cả các trường hợp báo chí chưa phản ánh; chủ động xử lý theo thẩm quyền, tăng cường quản lý và không để phát sinh vi phạm mới./.

    Trung Nguyên – Quốc Luỹ/Vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-yeu-cau-xu-ly-dut-diem-vi-pham-tai-rung-phong-ho-soc-son-truoc-5-9-c55873208.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!