Author: bachdn

  • Cơ chế hỗ trợ người sử dụng đất khi triển khai dự án điện hạt nhân

    Ảnh minh họa: Thanh Xuân

    Đối tượng áp dụng là địa phương có nhà máy điện hạt nhân đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư (trường hợp cụ thể là tỉnh Khánh Hòa); hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định có nguồn gốc lấn, chiếm mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất; và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.

    Trong đó, quy mô các trường hợp thuộc diện xem xét hỗ trợ gồm 65 hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp ổn định có nguồn gốc lấn, chiếm trước ngày 1/7/2014, với tổng diện tích đất 22,62 ha; nhóm sử dụng đất nông nghiệp ổn định có nguồn gốc lấn, chiếm từ ngày 1/7/2014 đến trước khi Nghị quyết số 174/2024/QH15 có hiệu lực thi hành có 33 trường hợp, với tổng diện tích 11 ha.

    MỨC HỖ TRỢ ĐƯỢC XÁC ĐỊNH THEO TỪNG TRƯỜNG HỢP

    Cụ thể, các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp ổn định có nguồn gốc lấn, chiếm trước ngày 1/7/2014, thuộc phạm vi thu hồi đất theo Quyết định số 191/QĐ-UBND ngày 4/4/2025 của UBND tỉnh Ninh Thuận về việc thu hồi đất đã giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ ven biển Ninh Phước (nay là Ban Quản lý rừng phòng hộ Tân Giang – Thuận Nam) tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, giao cho UBND xã Phước Dinh quản lý mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định, thì được hưởng các khoản hỗ trợ chi trả bằng tiền.  

    Đó là khoản tiền hỗ trợ đối với đất thu hồi bằng mức tiền bồi thường của loại đất nông nghiệp thu hồi đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương. Việc xác định tiền bồi thường về đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai hiện hành;

    Khoản tiền hỗ trợ đối với tài sản gắn liền với đất thu hồi bằng mức tiền bồi thường giá trị tài sản gắn liền với đất. Việc xác định tiền bồi thường về tài sản gắn liền với đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai hiện hành;

    Khoản tiền hỗ trợ bảo đảm sinh kế, ổn định đời sống bằng 1 lần giá của loại đất nông nghiệp thu hồi trong Bảng giá đất tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhân (x) với 1,5 lần đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.

     CHÍNH SÁCH VỀ  TÁI ĐỊNH CƯ

    Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định có nguồn gốc lấn, chiếm từ ngày 1/7/2014 đến trước khi Nghị quyết số 174/2024/QH15 có hiệu lực thi hành, chính sách hỗ trợ cũng được áp dụng theo quy định riêng.

    Theo đó, trường hợp sử dụng đất nông nghiệp ổn định có nguồn gốc lấn, chiếm từ ngày 1/7/2014 đến trước ngày Nghị quyết số 174/2024/QH15 có hiệu lực thi hành do UBND cấp xã quản lý (bao gồm cả các trường hợp lấn, chiếm đất thuộc phạm vi thu hồi đất theo Quyết định số 191/QĐ-UBND ngày 4/4/2025 của UBND tỉnh Ninh Thuận), không được bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, thì được hưởng các khoản hỗ trợ chi trả bằng tiền như sau:  Khoản tiền hỗ trợ đối với đất thu hồi bằng 80% mức tiền bồi thường của loại đất nông nghiệp thu hồi đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi, nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương. Việc xác định tiền bồi thường về đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai hiện hành;

    Khoản tiền hỗ trợ đối với tài sản gắn liền với đất thu hồi bằng 80% mức tiền bồi thường giá trị tài sản gắn liền với đất. Việc xác định tiền bồi thường về tài sản gắn liền với đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai hiện hành;

    Khoản tiền hỗ trợ bảo đảm sinh kế, ổn định đời sống bằng 1 lần giá của loại đất nông nghiệp thu hồi trong Bảng giá đất tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi, nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.

    Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở gắn liền với đất, phải di chuyển chỗ ở và không còn chỗ ở nào khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi, thì được giao đất tái định cư và phải nộp 50% giá trị suất tái định cư tối thiểu đối với trường hợp được giao suất tái định cư tối thiểu. Trường hợp được giao đất tái định cư lớn hơn suất tái định cư tối thiếu, thì phải nộp 50% giá trị suất tái định cư tối thiểu và nộp 100% giá trị tăng thêm của giá trị suất tái định cư được giao so với giá trị suất tái định cư tối thiểu.

    Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày 5/9/2026 và hết hiệu lực kể từ ngày Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật chấm dứt hiệu lực.

    Liên quan đến dự án, Nghị quyết số 44/2026/QH16 của Quốc hội đã tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 41/2009/QH12 ngày 25/11/2009, thành 3 dự án độc lập, gồm: Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1; Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 2; Dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thực hiện Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2.

    Thanh Xuân

    Nguồn https://baomoi.com/co-che-ho-tro-nguoi-su-dung-dat-khi-trien-khai-du-an-dien-hat-nhan-c56004108.epi

  • Ninh Bình: Lên kế hoạch cưỡng chế để đưa ‘con đường di sản’ về đích

    Việc không chấp hành các quyết định thu hồi đất và bàn giao mặt bằng của 3 hộ gia đình, cá nhân đã ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án tuyến đường Bái Đính – Ba Sao

    Theo ông Nguyễn Công Hoan, Phó Chủ tịch UBND xã Gia Viễn: Đến nay, đã có 88/91 hộ gia đình, cá nhân nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng cho đơn vị thi công tuyến đường Bái Đính – Ba Sao.

    Hiện còn 3 hộ gia đình, cá nhân chưa nhận tiền, không chấp hành các quyết định thu hồi đất và bàn giao mặt bằng là: hộ ông Hoàng Văn Bảo, hộ ông Hoàng Văn Toàn và ông Nguyễn Duy Hoà.

    Các đơn vị, tổ chức thực hiện GPMB đã tổ chức kiểm đếm tài sản và diện tích đất trong phạm vi thu hồi đảm bảo đúng, đủ và việc áp đơn giá đã áp dụng đúng chế độ chính sách, đảm bảo đúng, đủ quyền lợi cho người dân. Tuy nhiên, sau nhiều lần đối thoại, giải thích, vận động, thuyết phục 3 hộ trên vẫn không chấp hành, ông Nguyễn Công Hoan cho biết thêm.

    Việc không chấp hành các quyết định thu hồi đất và bàn giao mặt bằng ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án, gây ảnh hưởng đến giao thông đi lại của nhân dân và khả năng kết nối giữa các khu du lịch Bái Đính, chùa Hương, Tam Chúc và các khu vực lân cận.

    UBND xã Gia Viễn xây dựng Phương án cưỡng chế thu hồi đất theo đúng trình tự, thủ tục và quy định của pháp luật hiện hành đối với 3 hộ gia đình, cá nhân trên. Dự kiến tổ chức thực hiện cưỡng chế thu hồi đất trước ngày 15.10.2026.

    Dự án xây dựng tuyến đường Bái Đính – Ba Sao khi hoàn thành sẽ kết nối phát triển du lịch giữa các khu du lịch tâm linh nổi tiếng Bái Đính – Tam Chúc – chùa Hương

    Hiện các phòng, ban xã Gia Viễn cùng Trưởng thôn, Trưởng ban công tác Mặt trận thôn Đá Hàn tăng cường tuyên truyền, vận động 3 hộ gia đình, cá nhân trên nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng, trong trường hợp không chấp hành, UBND xã Gia Viễn sẽ tổ chức cưỡng chế theo kế hoạch.

    Dự án xây dựng tuyến đường Bái Đính – Ba Sao được HĐND tỉnh Ninh Bình phê duyệt tại Nghị quyết số 16/NQ – HĐND ngày 6.7.2017. Dự án có 2 giai đoạn, giai đoạn I thực hiện từ năm 2017-2020, có tổng mức đầu tư 400 tỉ đồng; giai đoạn II khởi công từ tháng 3.2025, có tổng mức đầu tư 720 tỉ đồng. Tổng mức đầu tư của 2 giai đoạn là 1.120 tỉ đồng.

    Dự án có điểm đầu tại Km0+000 giao với đê Tả sông Hoàng Long tại xã Gia Tiến, huyện Gia Viễn (nay là xã Đại Hoàng); điểm cuối tại Km17+256 thuộc thôn Đá Hàn, xã Gia Hoà, huyện Gia Viễn (nay là xã Gia Viễn). Tổng chiều dài tuyến đường 17,26 km, trong đó chiều dài xây dựng giai đoạn II khoảng 7,6 km, tốc độ thiết kế 60 km/h.

    Dự án xây dựng tuyến đường Bái Đính – Ba Sao là tuyến đường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ giảm tải phương tiện lưu thông trên Quốc lộ 1A mà còn là trục liên kết phát triển kinh tế, xã hội liên vùng, liên tỉnh, kết nối phát triển du lịch giữa các khu du lịch tâm linh nổi tiếng Bái Đính – Tam Chúc – chùa Hương.

    ANH TÚ

    Nguồn https://baomoi.com/ninh-binh-len-ke-hoach-cuong-che-de-dua-con-duong-di-san-ve-dich-c56004378.epi

  • Bên trong làng cổ Hà Nội dự kiến di dời một phần theo quy hoạch Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng

    UBND TP Hà Nội vừa lấy ý kiến về việc điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5.000 để thực hiện Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Trong khu vực này, thành phố dự kiến di dời 2 cụm làng theo Quy hoạch phòng, chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình được Thủ tướng phê duyệt năm 2016.

    Cụm Võng La – Hải Bối, thuộc các xã Thiên Lộc và Vĩnh Thanh, sẽ di dời một phần khu dân cư không bảo đảm an toàn phòng, chống lũ và phần nằm trong phạm vi xây dựng trục đại lộ.

    Trong cụm Võng La – Hải Bối, làng Võng La nằm trên vùng đất cổ, tên gốc là Phao Võng, tên nôm là Kẻ Chài, nằm dọc bờ Bắc sông Hồng.

    Làng Võng La, còn được biết đến với tên gọi làng chài Võng La, nằm trên bãi bồi bờ Bắc sông Hồng, gần cầu Thăng Long.

    Bà Lê Thị Vân (tổ 1, thôn Võng La) cho biết gia đình vừa tham gia góp ý Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tại Nhà văn hóa thôn Võng La.

    Bà Vân cho biết đa số người dân đồng thuận với Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng và Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Theo bà, khu vực dự kiến di dời chủ yếu nằm ngoài đê, trong khi một số hộ trước đây đã được tái định cư vào phía trong.

    Làng Võng La hiện có hệ thống đường liên thôn, liên xã được đầu tư đồng bộ.

    Nhiều ngôi nhà đang được xây dựng tại trung tâm thôn Võng La.

    Khi được hỏi liệu quy hoạch có ảnh hưởng đến công trình đang xây dựng hay không, ông Trần Văn Tư (thôn Đại Độ) cho biết gia đình đã đầu tư gần 400 triệu đồng xây nhà. Nếu thuộc diện phải di dời, ông sẽ chấp hành nhưng mong sớm được bố trí tái định cư để ổn định cuộc sống.

    Đường làng, ngõ xóm tại làng chài Võng La.

    Làng Bắc Cầu, thuộc phường Bồ Đề, cũng thuộc diện di dời, với diện tích khoảng 35,5ha.

    Đây là làng cổ có tuổi đời hàng trăm năm, nằm ở bãi bồi sông Hồng, vị trí phía Bắc cầu Long Biên.

    Trải qua nhiều năm hình thành và phát triển, làng Bắc Cầu hiện có hàng nghìn cư dân sinh sống. Theo quy hoạch 257/2016 của Chính phủ đã xác định Bắc Cầu là một trong những khu dân cư ven sông phải di dời vì dễ sạt lở, mất an toàn khi có lũ.

    Trần Hoàng

    Nguồn https://baomoi.com/ben-trong-lang-co-ha-noi-du-kien-di-doi-mot-phan-theo-quy-hoach-truc-dai-lo-canh-quan-song-hong-c56004019.epi

  • Hà Nội dẫn đầu cả nước về giải ngân vốn đầu tư công, dồn lực cho tăng trưởng

    Dự án cầu Trần Hưng Đạo đang được chủ đầu tư và nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công. (Ảnh: PV/Vietnam+)

    Hà Nội tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu cả nước về quy mô và tốc độ giải ngân vốn đầu tư công. Đến cuối tháng 8/2026, Thành phố đã giải ngân 92.592 tỷ đồng, đạt 77,17% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Đây là động lực quan trọng để Hà Nội hướng tới tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026.

    Đà giải ngân tích cực đang tạo chuyển biến rõ nét tại các dự án hạ tầng giao thông, đô thị và thoát nước, đồng thời thúc đẩy Thành phố tiếp tục tháo gỡ vướng mắc, tập trung nguồn lực cho các dự án có sức lan tỏa lớn.

    Tăng tốc các dự án hạ tầng trọng điểm

    Tại nhóm dự án giao thông trọng điểm, cầu Trần Hưng Đạo đang có tiến độ nổi bật trong số các công trình cầu qua sông Hồng. Đến giữa tháng Tám, dự án đã hoàn thành 128 cọc khoan nhồi và 7/7 bệ trụ cầu chính; năm trụ chính giữa sông đạt khoảng 85-88% khối lượng. Những nhịp vòm thép đầu tiên dự kiến lắp dựng từ cuối tháng 8, đầu tháng 9/2026.

    Dự án cầu Hồng Hà được tổ chức thi công với 30 mũi, đã hoàn thành 931/941 cọc khoan nhồi, 59/70 bệ và thi công thân 56/70 trụ, sản lượng đạt khoảng 42,62%. Dự án phấn đấu thông xe kỹ thuật vào tháng 7/2027 và hoàn thành toàn bộ trong tháng 10/2027.

    Với Vành đai 2,5, ba đoạn Dịch Vọng-Dương Đình Nghệ, Vũ Phạm Hàm-Trần Duy Hưng và Ngụy Như Kon Tum-Nguyễn Trãi có tổng mức đầu tư hơn 432 tỷ đồng. Mặt bằng cả ba đoạn đã được bàn giao, sản lượng xây lắp đạt khoảng 23%, tỷ lệ giải ngân vốn năm 2026 đạt 83,86%. Nhà thầu đang tập trung thi công hệ thống thoát nước, hào kỹ thuật và nền đường.

    Đối với Vành đai 4-Vùng Thủ đô, Dự án thành phần 2.1 xây dựng đường song hành trên địa bàn Hà Nội đã hoàn thành gần 90% trong tổng số 40/50,76km bê tông nhựa, phấn đấu hoàn thành trong quý 3/2026. Vành đai 1 đoạn Hoàng Cầu-Voi Phục đã thông xe kỹ thuật dịp Quốc khánh 2/9, góp phần cải thiện giao thông nội đô.

    Tuyến đường Vành đai 1 đoạn Hoàng Cầu-Voi Phục chính thức được thông xe kỹ thuật phần đường sau 8 tháng thi công khẩn trương để chào mừng 81 năm Ngày Quốc khánh (2/9/1945-2/9/2026).(Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN)

    Cùng với giao thông, Thành phố tập trung nguồn lực cho các dự án hồ điều hòa Phú Đô, Mễ Trì và cụm hồ Yên Nghĩa, góp phần hoàn thiện hạ tầng, nâng năng lực tiêu thoát nước và chống ngập phía Tây.

    Hà Nội cũng tiếp tục thực hiện chương trình phát triển 5 tuyến đường sắt đô thị với tổng chiều dài khoảng 303,5km, tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 1,3 triệu tỷ đồng; thúc đẩy các dự án nhà ở cho thuê gắn với mô hình TOD và phát triển các khu đô thị mới.

    Gỡ điểm nghẽn, bám sát từng dự án

    Để duy trì đà giải ngân trong những tháng cuối năm, Thành phố xác định đầu tư công và xây dựng là động lực trực tiếp, chủ động cao. Các dự án giao thông, cầu, đường sắt, hồ điều hòa, thoát nước và hạ tầng đô thị đang bước vào giai đoạn cao điểm thi công, nhiều công trường duy trì nhịp độ “3 ca, 4 kíp.” Tiến độ giải ngân được cụ thể hóa đến từng dự án, gắn với trách nhiệm người đứng đầu.

    Thành phố cũng đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn từ cơ sở. Việc phân cấp gắn với phân bổ nguồn lực, cùng các tổ công tác trực tiếp hỗ trợ xã, phường, giúp xử lý vướng mắc và điều chuyển vốn tới dự án có khả năng giải ngân tốt.

    Tại xã Nam Phù, công tác giải phóng mặt bằng được tập trung cho nhiều dự án hạ tầng, đô thị quan trọng. Riêng Dự án Khu công viên thể thao quốc tế Hà Nội quy mô khoảng 120ha, địa phương đã bàn giao khoảng 95 ha mặt bằng, đạt khoảng 96% diện tích cần bàn giao.

    Hai cầu vượt tại nút giao Láng Hạ-Giảng Võ (trong ảnh) và nút giao Nguyễn Chí Thanh dự kiến hoàn thành trong năm 2026. (Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN)

    Tại phường Hoàng Liệt, địa phương đăng ký KPI, phấn đấu hoàn thành 100% kế hoạch giải ngân vào ngày 30/9; Ủy ban Nhân dân phường đang rà soát từng dự án và nội dung công việc để tháo gỡ khó khăn. Phường Đại Mỗ đặt mục tiêu đến tháng Chín giải ngân tương đương khoảng 71% kế hoạch vốn và cam kết hoàn thành 100% kế hoạch được giao trước cuối năm.

    Theo lãnh đạo Sở Tài chính Hà Nội, Thành phố đồng thời thúc đẩy hiện thực hóa 50 bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác được ký tại Hội nghị công bố Quy hoạch tổng thể Thủ đô và Xúc tiến đầu tư năm 2026, hướng tới chuyển các cam kết thành dự án và dòng vốn thực tế.

    Biến vốn đầu tư công thành động lực phát triển

    Tốc độ giải ngân cao không chỉ giúp nâng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách mà còn tạo thêm khối lượng đầu tư cho nền kinh tế, kích thích nhu cầu vật liệu, xây dựng, dịch vụ và việc làm. Quan trọng hơn, hạ tầng được hoàn thiện đồng bộ sẽ góp phần thu hút dòng vốn tư nhân và FDI, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.

    Kết quả sau 8 tháng đang tạo dư địa để Hà Nội tiếp tục bứt tốc trong những tháng cuối năm. Việc giữ vững kỷ luật, kỷ cương, linh hoạt tháo gỡ điểm nghẽn và phát huy nguồn lực xã hội sẽ giúp đầu tư công tiếp tục chuyển hóa thành năng lực phát triển thực chất cho Thủ đô./.

    (Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-dan-dau-ca-nuoc-ve-giai-ngan-von-dau-tu-cong-don-luc-cho-tang-truong-c56004066.epi

  • Từ tháng 9, thửa đất được định danh: Có phải làm lại sổ đỏ?

    Theo luật sư Trần Tiến Quân – Đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hóa, Chính phủ đã ban hành Nghị định 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, có hiệu lực từ ngày 1/9/2026. Theo quy định mới, thửa đất là một trong những đối tượng được định danh.

    Mã định danh địa điểm là dãy 12 chữ số, được xác lập trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm. Mỗi địa điểm chỉ được cấp một mã duy nhất, không trùng lặp và được duy trì ổn định lâu dài.

    Theo quy định mới, thửa đất là một trong những đối tượng được định danh. Ảnh: Quỳnh Mai.

    Cơ sở dữ liệu này sẽ tích hợp nhiều thông tin liên quan đến địa điểm như địa chỉ, lối tiếp cận, mã bưu chính, tọa độ, thông tin thửa đất, dữ liệu không gian, chủ sở hữu hoặc người sử dụng và trạng thái hoạt động của địa điểm.

    Việc định danh được thực hiện trên cơ sở dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, nhằm tạo sự thống nhất trong quản lý, kết nối và khai thác thông tin trên phạm vi cả nước.

    Người dân có phải đi làm thủ tục xin cấp mã định danh?

    Luật sư Trần Tiến Quân cho hay, theo quy định, mã được xác lập trên hệ thống cơ sở dữ liệu định danh địa điểm. Người dân không phải thực hiện một thủ tục riêng chỉ để được cấp mã định danh cho thửa đất của mình.

    Nói cách khác, việc định danh là một phần của quá trình xây dựng, cập nhật và kết nối cơ sở dữ liệu của Cơ quan quản lý Nhà nước.

    Đồng thời, Nghị định 326 quy định trường hợp thông tin tương ứng đã có trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm thì cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải cung cấp lại thành phần hồ sơ. Quy định này hướng tới việc giảm bớt giấy tờ và đơn giản hóa trong việc thực hiện thủ tục hành chính.

    Cũng theo luật sư Trần Tiến Quân, một điểm đáng chú ý là người dân có thể khai thác dữ liệu công khai về định danh địa điểm và thông tin của chính mình thông qua ứng dụng VNeID nhưng không có nghĩa toàn bộ thông tin pháp lý hoặc thông tin về chủ sử dụng đất sẽ được công khai cho mọi người.

    Nghị định 326 cũng quy định tổ chức, cá nhân được khai thác thông tin của mình trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm thông qua ứng dụng định danh quốc gia.

    Như vậy, về lâu dài, mã định danh sẽ giúp việc xác định một địa điểm cụ thể trở nên thống nhất hơn, thay vì phụ thuộc vào nhiều cách mô tả địa chỉ khác nhau.

    Luật sư Trần Tiến Quân – Đoàn luật sư tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: NVCC.

    Có phải mã định danh thửa đất là số trên sổ đỏ?

    Luật sư Trần Tiến Quân cho rằng, không nên hiểu hai khái niệm này là một.

    Trước đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư 19/2026/TT-BNNMT quy định kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, trong đó có quy trình xây dựng mã định danh thửa đất.

    Theo quy định kỹ thuật này, mã định danh thửa đất là mã duy nhất trên toàn quốc, được xây dựng từ vị trí địa lý của thửa đất theo thuật toán GeoHash. Mã gồm 12 ký tự và được tạo lập trong quá trình xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu đất đai.

    Trong khi đó, Nghị định 326/2026/NĐ-CP quy định rộng hơn về định danh địa điểm, trong đó thửa đất là một loại địa điểm được định danh.

    Do đó, người dân không nên hiểu rằng kể từ tháng 9 trở đi thì phải đến Cơ quan quản lý về đất đai để xin cấp đổi sổ đỏ, cấp đổi giấy chứng nhận hoặc xin cấp một loại giấy tờ mới chỉ vì quy định về định danh địa điểm có hiệu lực.

    “Trong thời điểm hiện nay, người sử dụng đất không cần chủ động nộp hồ sơ chỉ để xin mã định danh. Tuy nhiên, người dân vẫn nên chủ động kiểm tra và bảo đảm các thông tin liên quan đến thửa đất của mình được cập nhật chính xác trong hồ sơ đất đai, đặc biệt là các thông tin về người sử dụng đất, địa chỉ, ranh giới, diện tích và tình trạng pháp lý của thửa đất.

    Nếu phát hiện thông tin đất đai có sai lệch hoặc chưa được cập nhật, người dân có thể thực hiện các thủ tục đăng ký, chỉnh lý đất đai theo quy định. Việc cập nhật dữ liệu chính xác sẽ có ý nghĩa quan trọng khi hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu định danh địa điểm được kết nối, khai thác rộng rãi”, luật sư Trần Tiến Quân hướng dẫn.

    Quỳnh Mai

    Nguồn https://baomoi.com/tu-thang-9-thua-dat-duoc-dinh-danh-co-phai-lam-lai-so-do-c56003993.epi

  • Gia Lai: Siết quản lý quỹ nhà công, xử lý tài sản bỏ trống

    Vì sao nhà công chưa được khai thác?

    Ngày 8/9, Thường trực HĐND tỉnh Gia Lai tổ chức phiên giải trình, chất vấn, tập trung làm rõ những tồn tại trong quản lý, sử dụng và khai thác tài sản công, trong đó có quỹ nhà thuộc sở hữu Nhà nước. Qua chất vấn cho thấy, sau sáp nhập, tỉnh đang quản lý hàng trăm căn nhà nhưng vẫn còn nhiều tài sản bỏ trống, chưa hoàn thiện hợp đồng cho thuê và công nợ tiền thuê kéo dài.

    Đại biểu Trần Nhật Quân đặt câu hỏi chất vấn lãnh đạo Sở Xây dựng Gia Lai.

    Theo báo cáo của Sở Xây dựng Gia Lai, trước thời điểm sáp nhập, tỉnh quản lý 309 căn nhà. Sau sáp nhập, tổng số nhà ở do Sở quản lý là 293 căn. Trong đó, 172 căn đang cho thuê và đã ký hợp đồng; 75 căn có người sử dụng nhưng chưa ký hợp đồng; 46 căn đang để trống, gồm 27 căn tại khu vực Gia Lai Đông và 19 cơ sở nhà, đất tại Gia Lai Tây.

    Tại phiên chất vấn, đại biểu Trần Nhật Quân đề nghị lãnh đạo Sở Xây dựng làm rõ nguyên nhân nhiều căn nhà bị bỏ trống, chưa được đưa vào khai thác, sử dụng, gây lãng phí tài sản công; đồng thời báo cáo tổng số tiền còn phải truy thu và giải pháp thu hồi đối với những căn nhà đã cho thuê nhưng nhiều năm chưa thu được tiền.

    Giải trình vấn đề này, Giám đốc Sở Xây dựng Gia Lai Nguyễn Trường Sơn cho biết, tình trạng nhà để trống, chưa ký hợp đồng và nợ tiền thuê kéo dài xuất phát từ nhiều nguyên nhân.

    Ông Nguyễn Trường Sơn, Giám đốc Sở Xây dựng Gia Lai trả lời chất vấn.

    Theo ông Sơn, việc quản lý, sử dụng, vận hành nhà ở cũ thuộc tài sản công được thực hiện theo quy định. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại như nợ, chậm nộp tiền thuê nhà và một số cơ sở nhà, đất để trống, chưa được xử lý hoặc chưa ký hợp đồng.

    Đối với công nợ tiền thuê, một phần khoản nợ được chuyển tiếp từ các thời kỳ trước. Bên cạnh đó, một số trường hợp có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập thấp, chỉ đủ trang trải các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu; một số trường hợp phải nhận hỗ trợ của Nhà nước nên chưa bảo đảm khả năng thanh toán đầy đủ tiền thuê nhà.

    Một số hộ kiến nghị sẽ thanh toán toàn bộ tiền thuê còn nợ khi Nhà nước thực hiện bán, hóa giá nhà. Hiện các hộ này vẫn đóng tiền thuê nhà hằng tháng.

    Cũng theo ông Sơn, đối với các căn nhà bỏ trống, nhiều căn nằm trong các khu chung cư, nhà tập thể đã xuống cấp, thuộc diện phải di dời, thu hồi hoặc xử lý theo chủ trương của tỉnh. Một số trường hợp chưa thể xử lý riêng lẻ do liên quan đến cả khu nhà.

    Đáng chú ý, ngày 22/8/2026, UBND tỉnh Gia Lai ban hành Quyết định số 3622/QĐ-UBND phê duyệt phương án thực hiện Đề án di dời các hộ dân đang sinh sống tại các khu nhà tập thể thuộc tài sản công, nằm trong kế hoạch xây dựng lại các chung cư cũ xuống cấp.

    Theo đó, trong năm 2027, tỉnh phải hoàn thành việc di dời các hộ dân tại các khu nhà ở số 42-44 Tăng Bạt Hổ, số 120 Lê Lợi, số 197 Tăng Bạt Hổ, số 667 Trần Hưng Đạo và số 67 Lê Hồng Phong, phường Quy Nhơn.

    Hiện Sở Xây dựng Gia Lai đang quản lý 293 căn nhà ở sau sáp nhập.

    Sau khi di dời, Sở Xây dựng sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát, đề xuất quy hoạch và mục đích sử dụng cụ thể đối với quỹ nhà, đất được thu hồi. Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh sẽ tiếp nhận, quản lý và đề xuất phương án khai thác theo quy định.

    Đối với các cơ sở nhà, đất khác đang bỏ trống, Sở Xây dựng đang rà soát, đề xuất bán đấu giá hoặc giao địa phương quản lý, xử lý theo quy định. Sở cũng đã đề xuất UBND tỉnh thống nhất chủ trương bán 7 căn nhà, trong đó 3 căn đã có quyết định bán.

    Siết thu hồi công nợ, xử lý tài sản bỏ trống

    Theo Sở Xây dựng, tính đến tháng 8/2026, số tiền thu từ cho thuê nhà thuộc tài sản công đạt hơn 731 triệu đồng, trong khi tiền thu từ bán nhà đạt hơn 1,6 tỷ đồng. Đối với khoản công nợ tiền thuê nhà từ các thời kỳ trước chuyển sang, sau khi đôn đốc, thu hồi, số dư còn hơn 700 triệu đồng.

    Bên cạnh xử lý các tài sản bỏ trống, Sở Xây dựng xác định việc thu hồi công nợ tiền thuê nhà là một trong những nhiệm vụ cần tập trung thực hiện.

    Chủ tịch HĐND tỉnh Rah Lan Chung phát biểu tại phiên họp.

    Giám đốc Sở Xây dựng Gia Lai Nguyễn Trường Sơn cho hay, đối với những trường hợp thuộc diện được miễn, giảm tiền thuê, Sở đang phối hợp với Sở Nội vụ và UBND các phường xác minh để xác định chính xác đối tượng, thời gian được hưởng và số tiền được miễn, giảm. Trên cơ sở đó, cơ quan chức năng xác định số tiền còn phải nộp và đề xuất UBND tỉnh xem xét, giải quyết.

    Đối với những hộ có hoàn cảnh khó khăn nhưng không thuộc diện miễn, giảm, ngành chức năng sẽ tiếp tục vận động, đối thoại, xây dựng lộ trình thanh toán phù hợp và yêu cầu cam kết cụ thể về thời gian, số tiền thanh toán.

    Trường hợp không có lý do chính đáng nhưng không thực hiện nghĩa vụ, nếu không trả đủ tiền thuê từ 3 tháng trở lên, Sở Xây dựng sẽ tham mưu, đề xuất UBND tỉnh thực hiện trình tự, thủ tục thu hồi nhà ở theo quy định.

    Để hạn chế phát sinh công nợ mới, Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định xây dựng được yêu cầu đối chiếu công nợ đến từng hợp đồng, từng hộ thuê hằng tháng; thông báo đầy đủ nghĩa vụ tiền thuê và cảnh báo ngay khi phát sinh nợ từ tháng đầu tiên. Khi nợ đến tháng thứ hai, đơn vị phải trực tiếp làm việc với người thuê để xác định nguyên nhân và có biện pháp xử lý kịp thời.

    Kết luận nội dung chất vấn, giải trình, Chủ tịch HĐND tỉnh Rah Lan Chung nhấn mạnh: Quản lý nhà ở thuộc tài sản công là vấn đề quan trọng, cần được quan tâm nhằm tránh lãng phí, thất thoát và sử dụng tài sản không hiệu quả.

    Chủ tịch HĐND tỉnh yêu cầu UBND tỉnh và Sở Xây dựng tiếp tục rà soát, thống kê đầy đủ quỹ nhà; xử lý các nhà không còn sử dụng, nhà xuống cấp; giải quyết những tồn tại trong thu tiền thuê và xây dựng phương án sắp xếp, bố trí, khai thác hiệu quả tài sản công, nhất là tài sản dôi dư sau sắp xếp đơn vị.

    “Mục tiêu cuối cùng hướng tới là việc quản lý nhà ở, tài sản công của Nhà nước phải được tiến hành quản lý chặt chẽ theo đúng quy định pháp luật, được sử dụng, khai thác có hiệu quả, tránh lãng phí, tránh vi phạm pháp luật”, Chủ tịch HĐND tỉnh nhấn mạnh.

    Quang cảnh phiên giải trình, chất vấn của thường trực HĐND tỉnh.

    Chủ tịch HĐND tỉnh Rah Lan Chung đồng thời giao các Ban của HĐND tỉnh nghiên cứu, giám sát chuyên đề đối với nội dung quản lý nhà ở thuộc tài sản công, qua đó phát hiện những bất cập và có kiến nghị xử lý. UBND tỉnh được đề nghị nghiên cứu, xem xét giao các cơ quan chức năng tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác quản lý, sử dụng và khai thác quỹ nhà này.

    Thực hiện yêu cầu trên, Sở Xây dựng sẽ tiếp tục rà soát, phân loại, hoàn thiện hồ sơ và đề xuất phương án xử lý đối với quỹ nhà thuộc tài sản công; định kỳ kiểm tra, xác định trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan nếu để nhà bỏ trống hoặc công nợ tiền thuê kéo dài.

    Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định xây dựng chịu trách nhiệm theo dõi hợp đồng, thu tiền thuê, đôn đốc thu hồi nợ, kiểm tra hiện trạng và kịp thời báo cáo các trường hợp thuộc diện thu hồi. Việc rà soát toàn diện, xử lý từng nhóm tài sản, thu hồi công nợ và tăng cường giám sát được kỳ vọng từng bước đưa quỹ nhà, đất công vào quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích, khai thác hiệu quả, hạn chế thất thoát, lãng phí nguồn lực Nhà nước.

    Thu Loan

    Nguồn https://baomoi.com/gia-lai-siet-quan-ly-quy-nha-cong-xu-ly-tai-san-bo-trong-c56003969.epi

  • Bắc Ninh triển khai Quy chế phối hợp quản lý khoáng sản tại khu vực giáp ranh với tỉnh Thái Nguyên

    Theo văn bản số 9909/UBND-KTN của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc chỉ đạo tổ chức thực hiện Quy chế phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về khoáng sản tại khu vực giáp ranh giữa tỉnh Thái Nguyên với tỉnh Bắc Ninh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đào Quang Khải yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan chủ động triển khai các nhiệm vụ được giao theo Quy chế phối hợp số 2776/QCPH-UBND ngày 28/8/2026 giữa UBND tỉnh Thái Nguyên và UBND tỉnh Bắc Ninh.

    Quản lý chặt chẽ hoạt động khoáng sản, bảo đảm phát triển bền vững.

    Theo đó, UBND các xã, phường thuộc khu vực giáp ranh với tỉnh Thái Nguyên có trách nhiệm tổ chức thực hiện đầy đủ các nội dung phối hợp theo Quy chế; định kỳ trước ngày 31/12 hằng năm tổng hợp, báo cáo UBND hai tỉnh (qua Sở Nông nghiệp và Môi trường) về kết quả thực hiện.

    Các sở, ngành gồm: Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Xây dựng, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Tài chính, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thanh tra tỉnh, Thuế tỉnh Bắc Ninh căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao và nội dung phân công trong Quy chế để tổ chức triển khai thực hiện.

    Trong đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao làm đầu mối theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc việc thực hiện; tổng hợp tình hình, báo cáo UBND tỉnh; tham mưu tổ chức các đoàn kiểm tra liên tỉnh; phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên báo cáo, đề xuất UBND hai tỉnh xem xét sửa đổi, bổ sung Quy chế khi cần thiết.

    Việc ban hành và triển khai Quy chế phối hợp giữa hai tỉnh là giải pháp quan trọng nhằm tăng cường sự liên kết trong quản lý hoạt động khoáng sản tại khu vực giáp ranh – nơi dễ phát sinh những vấn đề liên quan đến kiểm tra, giám sát, trao đổi thông tin và xử lý vi phạm nếu thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các địa phương. Quy chế phối hợp được xây dựng theo hướng tăng cường trao đổi thông tin, phối hợp kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác khoáng sản và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước.

    UBND tỉnh Bắc Ninh cũng yêu cầu trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh khó khăn, vướng mắc hoặc cần điều chỉnh nội dung Quy chế, các cơ quan, địa phương kịp thời báo cáo UBND tỉnh (qua Sở Nông nghiệp và Môi trường) để trao đổi với UBND tỉnh Thái Nguyên, thống nhất xem xét, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.

    Việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ theo Quy chế phối hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về khoáng sản, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, hạn chế hoạt động khai thác trái phép, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với yêu cầu bảo vệ môi trường trên địa bàn hai tỉnh.

    TS

    Nguồn https://baomoi.com/bac-ninh-trien-khai-quy-che-phoi-hop-quan-ly-khoang-san-tai-khu-vuc-giap-ranh-voi-tinh-thai-nguyen-c56004036.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!