Author: bachdn

  • Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An ra công điện khẩn, yêu cầu rà soát, xử lý các dự án chậm tiến độ, đất đai bỏ hoang tại 6 phường

    Đến từng dự án, từng khu đất, đối chiếu hồ sơ pháp lý với hiện trạng thực tế

    Ngày 6/10, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An ban hành Công điện số 25/CĐ-UBND về việc rà soát, xử lý các dự án chậm tiến độ, không triển khai, đất đai bỏ hoang, gây lãng phí trên địa bàn các phường: Trường Vinh, Thành Vinh, Vinh Hưng, Vinh Lộc, Vinh Phú và Cửa Lò.

    Một góc đô thị Vinh. Ảnh: Sách Nguyễn

    Theo Công điện, thời gian qua trên địa bàn các phường nêu trên còn một số dự án đầu tư đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận hoặc lựa chọn nhà đầu tư, giao đất, cho thuê đất nhưng chậm triển khai hoặc kéo dài nhiều năm. Một số khu đất chưa được đưa vào sử dụng, để trống, sử dụng kém hiệu quả, ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị và gây lãng phí nguồn lực đất đai.

    Để rà soát đầy đủ, xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm và có phương án xử lý dứt điểm, khơi thông nguồn lực đất đai, nâng cao hiệu quả đầu tư và chỉnh trang đô thị, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu tổ chức tổng rà soát các dự án đầu tư ngoài ngân sách trên địa bàn 6 phường có dấu hiệu chậm tiến độ, không triển khai, ngừng triển khai, chậm đưa đất vào sử dụng, để đất trống, bỏ hoang hoặc sử dụng kém hiệu quả.

    Việc rà soát phải thực hiện đến từng dự án, từng khu đất, đối chiếu hồ sơ pháp lý với hiện trạng thực tế; xác định rõ tình trạng pháp lý, tiến độ được chấp thuận, tình hình thực hiện dự án, giao đất/cho thuê đất và sử dụng đất, thời gian chậm tiến độ, nguyên nhân, trách nhiệm, khó khăn, vướng mắc, căn cứ pháp lý và phương án xử lý cụ thể.

    Không để dự án kéo dài, đất đai bị bỏ hoang

    UBND tỉnh yêu cầu phân loại rõ các dự án để có hướng xử lý phù hợp. Trong đó, nhóm thứ nhất là các dự án đã được giao đất, cho thuê đất nhưng chậm đưa đất vào sử dụng, để đất trống, bỏ hoang hoặc triển khai không đúng tiến độ.

    Một dự án chung cư chậm tiến độ trên địa bàn Phường Thành Vinh.

    Nhóm thứ hai gồm các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận hoặc lựa chọn nhà đầu tư nhưng chưa được giao đất, cho thuê đất và kéo dài, chậm hoặc không triển khai.

    Ngoài ra, các dự án đã triển khai một phần nhưng ngừng thi công, dở dang kéo dài; dự án còn khó khăn, vướng mắc khách quan cần cơ quan nhà nước xử lý; hoặc dự án mà nhà đầu tư không còn khả năng, không có quyết tâm thực hiện, không còn đủ điều kiện tiếp tục triển khai cũng phải được rà soát, phân loại.

    Đối với những trường hợp này, cơ quan chức năng phải xem xét phương án xử lý phù hợp, trong đó có thể **chấm dứt hoạt động dự án, thu hồi đất hoặc áp dụng các biện pháp khác theo quy định**.

    Giao rõ trách nhiệm cho từng sở, ngành và địa phương

    Theo Công điện, Sở Tài chính được giao chủ trì rà soát các dự án đầu tư ngoài ngân sách không thuộc nhóm dự án nhà ở do Sở Xây dựng chủ trì, tập trung vào các dự án thương mại, dịch vụ, du lịch, sản xuất kinh doanh và các dự án khác đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận nhà đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc lựa chọn nhà đầu tư nhưng chậm triển khai, không triển khai hoặc ngừng hoạt động kéo dài.

    Sở Xây dựng chủ trì rà soát các dự án khu đô thị, khu nhà ở, nhà ở thương mại, nhà ở xã hội và các dự án có chức năng nhà ở trên địa bàn 6 phường; phối hợp với UBND các phường kiểm tra hiện trạng từng dự án.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì rà soát các dự án đã được giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nhưng chậm đưa đất vào sử dụng, không sử dụng đất, sử dụng không đúng mục đích hoặc có diện tích đất để trống, bỏ hoang, sử dụng kém hiệu quả.

    Đối với từng dự án, Sở Nông nghiệp và Môi trường phải xác định rõ diện tích đã giao, cho thuê; thời điểm bàn giao trên thực địa; thời hạn sử dụng đất; diện tích đã đưa vào sử dụng và chưa sử dụng; thời gian chậm đưa đất vào sử dụng; việc thực hiện nghĩa vụ tài chính; tình trạng vi phạm pháp luật về đất đai và việc gia hạn sử dụng đất, nếu có.

    UBND các phường Trường Vinh, Thành Vinh, Vinh Hưng, Vinh Lộc, Vinh Phú và Cửa Lò chịu trách nhiệm trực tiếp về tính đầy đủ, chính xác của danh mục dự án trên địa bàn; khẩn trương kiểm tra thực địa từng dự án, từng khu đất và cung cấp đầy đủ hồ sơ, thông tin cho các sở liên quan.

    Trường hợp phát hiện dự án, khu đất có dấu hiệu chậm triển khai, bỏ hoang, sử dụng kém hiệu quả hoặc vi phạm nhưng chưa có trong danh mục rà soát của các sở, ngành, UBND các phường phải chủ động bổ sung, báo cáo ngay cơ quan chủ trì, không để bỏ sót dự án, khu đất có nguy cơ gây lãng phí.

    UBND tỉnh yêu cầu các sở Xây dựng, Nông nghiệp và Môi trường; UBND 6 phường hoàn thành rà soát, gửi kết quả và danh mục dự án thuộc lĩnh vực, địa bàn được giao về Sở Tài chính trước ngày 25/10/2026.

    Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu quá trình thực hiện phải bảo đảm thống nhất dữ liệu giữa hồ sơ đầu tư, quy hoạch, xây dựng và đất đai; không bỏ sót, không trùng lặp, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; không đề xuất tiếp tục kéo dài, gia hạn đối với dự án không đủ căn cứ hoặc nhà đầu tư không còn khả năng triển khai thực tế.

    P.V

    Nguồn https://baomoi.com/chu-tich-ubnd-tinh-nghe-an-ra-cong-dien-khan-yeu-cau-ra-soat-xu-ly-cac-du-an-cham-tien-do-dat-dai-bo-hoang-tai-6-phuong-c56213446.epi

  • Hàng loạt cửa hàng treo biển chuyển địa điểm, trả mặt bằng cho trục Quốc lộ 1A qua Hà Nội

    Dự án trục Quốc lộ 1A có chiều dài khoảng 36,3km, đi qua 18 xã, phường của Hà Nội, với tổng mức đầu tư gần 162.000 tỷ đồng. Tuyến đường được thiết kế với mặt cắt ngang 90m, gồm 16 làn xe, tốc độ thiết kế 80km/h.

    Theo ghi nhận, những ngày đầu tháng 10, tại khu vực đường Giải Phóng, nơi nằm trong phạm vi triển khai dự án mở rộng trục Quốc lộ 1A, nhiều hộ dân và cơ sở kinh doanh đang chủ động thu dọn, vận chuyển tài sản để chuẩn bị bàn giao mặt bằng.

    Một số hộ dân sau khi thống nhất phương án đã bắt đầu tháo dỡ công trình, di chuyển tài sản ra khỏi khu vực bị ảnh hưởng. Đồ đạc trong nhà được thu dọn, vận chuyển trước khi các hạng mục công trình được phá dỡ.

    Không khí chuẩn bị bàn giao mặt bằng cũng thể hiện rõ tại các cơ sở kinh doanh dọc đường Giải Phóng.

    Nhiều cửa hàng đã đóng cửa, treo biển thông báo chuyển địa điểm hoặc thanh lý hàng hóa để phục vụ việc di dời.

    Các biển thanh lý hàng hóa xuất hiện ngày càng nhiều trên mặt phố. Một số cửa hàng đã thu dọn phần lớn hàng hóa, chuẩn bị rời khỏi vị trí kinh doanh hiện tại.

    Trao đổi với PV, bà Nguyễn Thị Anh Thơ cho biết gia đình bà cũng như nhiều hộ dân trong khu vực cơ bản đồng thuận với chủ trương và phương án phục vụ dự án mở rộng trục Quốc lộ 1A.

    “Chúng tôi sẵn sàng bàn giao mặt bằng khi có thông báo của cơ quan chức năng. Tuy nhiên, điều người dân quan tâm nhất hiện nay là phương án tái định cư. Việc sớm xác định nơi ở mới là rất cần thiết để các gia đình chủ động ổn định cuộc sống, cho gia đình”, bà Thơ chia sẻ.

    Nhiều căn nhà, cửa hàng kinh doanh đã thu dọn, tháo dỡ gần như toàn bộ chỉ còn lại khung nhà.

    Những cửa hàng khoá cửa, thu dọn hàng hoá và thông báo chuyển địa điểm trên đường Giải Phóng.

    Hàng loạt cửa hàng đóng cửa trên tuyến đường Giải Phóng.

    Quang Hùng

    Nguồn https://baomoi.com/hang-loat-cua-hang-treo-bien-chuyen-dia-diem-tra-mat-bang-cho-truc-quoc-lo-1a-qua-ha-noi-c56213355.epi

  • Tăng tốc từ cơ sở

    CCHC ở cấp xã không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn trực tiếp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết các TTHC thiết yếu. Những tháng cuối năm, các xã, phường đang tập trung rà soát từng nhiệm vụ, chỉ tiêu, nhất là những nội dung còn đạt thấp hoặc chưa đạt yêu cầu. Qua đó, xác định rõ hạn chế, tập trung khắc phục, từng bước nâng chất lượng phục vụ người dân, tổ chức.

    Cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Thất Khê hướng dẫn người dân sử dụng “Trạm Dịch vụ công số” thực hiện thủ tục hành chính

    Bên cạnh kết quả tích cực, qua rà soát 9 tháng cho thấy chất lượng giải quyết TTHC ở cấp xã vẫn là điểm cần tập trung khắc phục. Đến ngày 15/9/2026, tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn cấp xã đạt 96,38%, trong khi cấp tỉnh đạt 99,98%. Toàn tỉnh còn 7.558 hồ sơ quá hạn, trong đó cấp xã chiếm 7.507 hồ sơ.

    Đây không chỉ là vấn đề về tiến độ giải quyết công việc mà còn tác động trực tiếp đến kết quả đánh giá Chỉ số CCHC (PAR INDEX), Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS). Để tháo gỡ vướng mắc, cuối tháng 9/2026, Văn phòng UBND tỉnh đã thành lập đoàn kiểm tra thực hiện các chỉ tiêu CCHC thuộc lĩnh vực Văn phòng UBND tỉnh phụ trách đối với 11 UBND xã, phường.

    Ông Nguyễn Minh Chí, Phó Giám đốc Trung tâm PVHCC tỉnh, Phó Trưởng Đoàn kiểm tra cho biết: Qua kiểm tra, nhiều tồn tại, hạn chế của các xã, phường đã được thành viên đoàn chỉ ra như hồ sơ phát sinh chậm hạn, tập trung chủ yếu ở lĩnh vực đất đai; số lượng TTHC niêm yết, công khai chưa thống nhất…

    Từ kết quả kiểm tra thực tế, các xã, phường đang tập trung rà soát nguyên nhân, xác định rõ trách nhiệm và thời gian xử lý đối với từng hồ sơ, từng nhóm nhiệm vụ. Mục tiêu là xử lý dứt điểm hồ sơ đã quá hạn, đồng thời kiểm soát chặt ngay từ khâu tiếp nhận, không để phát sinh hồ sơ chậm do nguyên nhân chủ quan.

    Ông Lương Văn Bính, Phó Chủ tịch UBND xã Yên Bình cho biết: Đoàn kiểm tra đã chỉ ra tỷ lệ hồ sơ quá hạn của xã còn nhiều. Vì vậy, trong những tháng cuối năm, chúng tôi sẽ lập danh sách cụ thể đến từng hồ sơ, từng lĩnh vực, cán bộ xử lý; xử lý ngay những hồ sơ đủ điều kiện, cập nhật đúng trạng thái trên hệ thống và thực hiện xin lỗi cá nhân, tổ chức đối với 100% hồ sơ trễ hẹn.

    Sơ với Kế hoạch CCHC năm 2026, sau 9 tháng đầu năm toàn tỉnh đã hoàn thành 20/49 nhiệm vụ CCHC; 29 nhiệm vụ còn lại cơ bản là nhiệm vụ thường xuyên, đang được các cơ quan, đơn vị nỗ lực triển khai. Thời gian còn lại của năm không nhiều, trong khi khối lượng công việc lớn, đòi hỏi từng địa phương phải tăng tốc, bám sát tiến độ, xác định rõ việc cần làm, trách nhiệm của từng bộ phận, cán bộ, không để công việc dồn vào cuối năm.

    Thời điểm này là chặng nước rút để các xã, phường tăng tốc hoàn thành chỉ tiêu CCHC, đồng thời tiếp tục hoàn thiện cách vận hành bộ máy sau hơn một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Tin tưởng rằng, với sự quan tâm của cơ quan chức năng, tinh thần trách nhiệm, chủ động của chính quyền cấp xã, từng nhiệm vụ được rà soát, từng khâu sẽ được khắc phục, hoàn thành tốt chỉ tiêu đã đặt ra, góp phần đưa CCHC đi vào thực chất, hiệu quả.

    HOÀNG HIẾU

    Nguồn https://baomoi.com/tang-toc-tu-co-so-c56213381.epi

  • Điểm tin xây dựng – bất động sản ngày 7/10: TP HCM giao hơn 700 ha đất cho Thadico và Becamex

    TP HCM giao hơn 700 ha đất cho Thadico và Becamex

    TP HCM vừa giao, cho thuê khoảng 708 ha đất cho Công ty TNHH Đầu tư Phát triển Khu công nghiệp Thadico – Bình Dương và Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Becamex – CTCP để triển khai các dự án công nghiệp, đô thị. Cả hai trường hợp đều thuộc diện Nhà nước giao, cho thuê đất không qua đấu giá, đấu thầu.

    Trong đó, Thadico – Bình Dương được thuê hơn 701 ha tại các phường Bình Cơ và Tân Uyên để đầu tư hạ tầng Khu công nghiệp chuyên ngành cơ khí, thời hạn 50 năm, trả tiền thuê hằng năm. Gần 194 ha đất xây dựng hạ tầng dùng chung không phải nộp tiền thuê; hơn 507 ha còn lại được xem xét miễn tiền thuê trong thời gian xây dựng cơ bản và hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định.

    Thadico – Bình Dương được thuê hơn 701 ha tại các phường Bình Cơ và Tân Uyên để đầu tư hạ tầng Khu công nghiệp chuyên ngành cơ khí, thời hạn 50 năm.

    Becamex được giao khoảng 7,2 ha tại phường Thới Hòa để thực hiện Khu dân cư Ấp 5C, thời hạn sử dụng đến ngày 7/5/2059. Trong đó, hơn 3,4 ha đất ở liên kế phố phải nộp tiền sử dụng đất; hơn 3,7 ha đất công viên, giao thông, hành lang điện và cấp thoát nước không thu tiền. Becamex có trách nhiệm tự đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng và bàn giao cho cơ quan chuyên ngành quản lý.

    Thadico – Bình Dương là thành viên THACO, trong khi Becamex là doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực phát triển khu công nghiệp, đô thị. Hiện UBND TP HCM đại diện phần vốn Nhà nước tại Becamex với tỷ lệ sở hữu 95,44%.

    Doanh nghiệp bất động sản giải thể tăng hơn 120%

    9 tháng đầu năm, hơn 2.800 doanh nghiệp kinh doanh bất động sản hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 123% so với cùng kỳ năm ngoái, tương đương bình quân khoảng 312 doanh nghiệp rời thị trường mỗi tháng.

    Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong cùng thời gian, hơn 2.900 doanh nghiệp bất động sản quay trở lại hoạt động, giảm 17,3%. Trong khi đó, hơn 4.500 doanh nghiệp mới được thành lập, tăng 10% so với cùng kỳ.

    Số doanh nghiệp rút lui tăng trong bối cảnh thị trường bất động sản vẫn đối mặt với thanh khoản thấp và chi phí vốn cao. Bộ Xây dựng cho biết 9 tháng qua, cả nước ghi nhận hơn 100.000 giao dịch bất động sản thành công, giảm hơn 36% so với cùng kỳ.

    Tồn kho bất động sản tại các dự án của chủ đầu tư khoảng 39.300 sản phẩm. Riêng căn hộ chung cư tồn kho hơn 12.800 căn, tăng 22% so với quý trước và gần gấp 4 lần cùng kỳ năm ngoái.

    Trong khi đó, một số khoản vay mua nhà đã chuyển sang lãi suất thả nổi khoảng 13-15%/năm, thậm chí 15-16%/năm. Chi phí vốn tăng gây áp lực lên khả năng vay mua nhà, đồng thời tạo thêm sức ép dòng tiền đối với các chủ đầu tư, nhất là doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy cao hoặc có dự án kéo dài.

    Cần Thơ chấp thuận dự án nhà ở xã hội 1.200 tỷ đồng tại Thốt Nốt

    UBND TP Cần Thơ vừa chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư thực hiện dự án Đầu tư xây dựng nhà ở xã hội phường Thốt Nốt, với tổng vốn khoảng 1.210 tỷ đồng, quy mô tối thiểu 960 căn hộ.

    Dự án do Liên danh Công ty CP Toàn Cầu Invest và Công ty CP Tập đoàn Minh Đô làm chủ đầu tư. Trong đó, Toàn Cầu Invest góp 60% vốn và đại diện liên danh triển khai dự án; Minh Đô góp 40%.

    UBND TP Cần Thơ vừa chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư thực hiện dự án Đầu tư xây dựng nhà ở xã hội phường Thốt Nốt.

    Dự án được triển khai trên ba ô đất NOXH-01, NOXH-02 và NOXH-03 thuộc Khu tái định cư phường Thốt Nốt, tổng diện tích khoảng 11.846 m². Công trình gồm các tòa chung cư nhà ở xã hội kết hợp dịch vụ, mật độ xây dựng tối đa 60%, cao tối đa 16 tầng và một tầng hầm, cung cấp ít nhất 960 căn hộ.

    Tổng vốn đầu tư dự kiến 1.210 tỷ đồng, trong đó vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư hơn 430,7 tỷ đồng, tương đương 35,6%; phần còn lại được huy động từ tín dụng và các nguồn vốn hợp pháp khác.

    Dự án có thời hạn hoạt động 50 năm, thời gian thực hiện 48 tháng kể từ khi được giao đất, nhưng không quá ngày 31/5/2030. Thành phố yêu cầu chủ đầu tư bảo đảm năng lực tài chính, triển khai đúng tiến độ và tuân thủ các quy định về đất đai, xây dựng, môi trường và kinh doanh nhà ở xã hội.

    Bắc Ninh đặt mục tiêu hoàn tất GPMB 600ha đất nông nghiệp sân bay Gia Bình trong tháng 10

    Bắc Ninh đặt mục tiêu hoàn thành dứt điểm bồi thường, giải phóng mặt bằng khoảng 600ha đất nông nghiệp phục vụ Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình ngay trong tháng 10/2026.

    Theo Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Bắc Ninh, đến nay công tác giải phóng mặt bằng đất nông nghiệp tại các phường Gia Bình, Nhân Thắng và Lương Tài đã hoàn thành 100%, với tổng diện tích hơn 1.195ha. Tuy nhiên, một số khu vực vẫn còn vướng mắc liên quan đến đất ở, giấy tờ quyền sử dụng đất, nguồn gốc đất, chênh lệch diện tích và kiến nghị của người dân.

    Bắc Ninh đặt mục tiêu hoàn thành dứt điểm bồi thường, giải phóng mặt bằng khoảng 600ha đất nông nghiệp phục vụ Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình ngay trong tháng 10/2026.

    Tại cuộc họp ngày 4/10, Phó Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh Phạm Văn Thịnh yêu cầu các địa phương đẩy nhanh phê duyệt phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng. Phường Gia Bình và Nhân Thắng được yêu cầu hoàn thành phương án đối với đất nông nghiệp trước ngày 20/10.

    Tại xã Đại Lai, chủ đầu tư phải bố trí vốn chi trả phần diện tích đã được phê duyệt trước ngày 10/10. Xã Lâm Thao được yêu cầu hoàn thành chi trả trước ngày 7/10.

    Dự án sân bay Gia Bình có tổng diện tích hơn 1.900ha cần giải phóng mặt bằng, gồm hơn 1.195ha đất nông nghiệp, 53,4ha đất ở và hơn 531ha đất khác. Thành phố yêu cầu các đơn vị bám sát tiến độ, xử lý kịp thời các vướng mắc để bảo đảm tiến độ dự án trọng điểm.

    Địa ốc Phú Long bị phạt 85 triệu đồng vì chậm công bố thông tin

    Thanh tra Chứng khoán Nhà nước vừa xử phạt Công ty CP Địa ốc Phú Long 85 triệu đồng do chậm công bố thông tin theo quy định.

    Theo Quyết định 567/QĐ-XPHC, doanh nghiệp đã công bố thông tin chậm từ 10 ngày làm việc trở lên so với thời hạn quy định cho Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).

    Các tài liệu bị công bố chậm gồm báo cáo tình hình sử dụng số tiền thu được từ phát hành trái phiếu được kiểm toán bán niên năm 2024, năm 2024 và năm 2025. Doanh nghiệp đồng thời chậm công bố báo cáo tình hình tài chính năm 2024, bán niên năm 2025 và năm 2025.

    Địa ốc Phú Long bị phạt theo quy định tại Nghị định 156/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 306/2025/NĐ-CP.

    Việc chậm công bố các thông tin liên quan đến sử dụng vốn trái phiếu và tình hình tài chính có thể ảnh hưởng đến khả năng theo dõi tình hình hoạt động, nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp của nhà đầu tư và trái chủ.

    Đáng chú ý, đây không phải lần đầu doanh nghiệp này bị xử phạt liên quan đến nghĩa vụ công bố thông tin. Tháng 6/2024, Địa ốc Phú Long từng bị Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xử phạt do không công bố thông tin theo quy định.

    ĐK (tổng hợp)

    Nguồn https://baomoi.com/diem-tin-xay-dung-bat-dong-san-ngay-7-10-tp-hcm-giao-hon-700-ha-dat-cho-thadico-va-becamex-c56213246.epi

  • Đất 100 tỷ bỏ hoang có thể chịu thuế 200 triệu/năm: Đề xuất càng để lâu thuế càng tăng

    Xác định đất bỏ hoang thế nào?

    Nếu được thông qua, đây sẽ là lần đầu tiên khái niệm “đất bỏ hoang” được đưa vào luật với một mức thuế riêng.

    Tại dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung mức thuế suất đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng.

    Ông Trương Bá Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính) cho biết chủ trương áp dụng chính sách thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng được đặt ra tại Nghị quyết 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Chính phủ dự án luật sửa đổi, trong đó có Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

    Tại dự thảo luật, Bộ Tài chính đề xuất áp dụng mức thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng hoặc chưa đưa vào sử dụng.

    “Mức thuế suất 0,2% tương đương mức đang áp dụng đối với đất lấn, chiếm theo Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Đây là mức thuế suất cao, thể hiện mức điều tiết cao hơn so với các trường hợp khác. Hiện Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp quy định thuế suất 0,03% đối với đất ở trong hạn mức; 0,07% đối với phần diện tích vượt không quá 3 lần hạn mức và 0,15% đối với phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức”, ông Tuấn nói.

    Đề xuất áp thuế 0,2% với đất bỏ hoang, chậm hoặc chưa sử dụng, cao gần 7 lần mức thuế đất trong hạn mức hiện nay, nhưng chuyên gia cho rằng cần tăng thuế theo thời gian. Ảnh: Thạch Thảo

    Về căn cứ xác định thế nào là đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng hoặc không sử dụng, ông Tuấn cho biết, đây là nội dung được thảo luận kỹ trong quá trình xây dựng chính sách.

    Theo ông, tại Thông báo số 54 ngày 28/9, lãnh đạo Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định rõ các tiêu chí, khái niệm để xác định đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng trong hệ thống văn bản pháp luật về đất đai. Đây sẽ là căn cứ để áp dụng chính sách thuế.

    Do đó, tại dự thảo luật đang trình Chính phủ, Bộ Tài chính dẫn chiếu việc xác định đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.

    “Chúng tôi sẽ phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường để có căn cứ xác định tiêu chí nào được dùng để nhận diện đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng và đất chậm đưa vào sử dụng, làm cơ sở áp dụng chính sách thuế”, ông Tuấn cho hay.

    Chia sẻ với PV VietNamNet, TS Lê Bá Chí Nhân, chuyên gia kinh tế, cho rằng xét về mức thuế suất, con số 0,2% không phải quá lớn nếu đặt trong tương quan với giá trị đất, nhưng ý nghĩa chính sách lại nằm ở tác động tạo chi phí đối với hành vi giữ đất nhưng không đưa đất vào khai thác. 

    Theo ông, đất đai là nguồn lực hữu hạn. Khi diện tích lớn bị bỏ hoang hoặc bị giữ trong thời gian dài mà không triển khai dự án, nguồn lực xã hội bị “đóng băng”, trong khi nhu cầu về nhà ở, sản xuất, thương mại và hạ tầng vẫn lớn.

    Vì vậy, thuế có thể trở thành một công cụ kinh tế để thúc đẩy người sử dụng đất phải lựa chọn đưa đất vào sử dụng, chuyển nhượng cho người có khả năng khai thác hoặc chấp nhận chi phí tài chính khi tiếp tục để đất không được sử dụng.

    “Tuy nhiên, tôi cho rằng 0,2% chỉ phát huy hiệu quả nếu đi cùng một cơ chế xác định rất rõ thế nào là ‘bỏ hoang’, thế nào là ‘chậm đưa vào sử dụng’ và nguyên nhân chậm do đâu. Không thể đánh đồng trường hợp chủ đầu tư cố tình găm đất với trường hợp dự án chậm triển khai vì nguyên nhân khách quan như vướng quy hoạch, giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, thủ tục đất đai hoặc do cơ quan nhà nước chưa hoàn tất nghĩa vụ thuộc trách nhiệm của mình”, ông Nhân nhấn mạnh.

    Đề xuất “đồng hồ chi phí” với đất bỏ hoang

    Theo TS Lê Bá Chí Nhân, mức thuế 0,2% có thể tạo ra tín hiệu kinh tế ban đầu, nhưng nếu mục tiêu là thay đổi hành vi của người sở hữu đất, đặc biệt với trường hợp đầu cơ hoặc cố tình chậm đưa đất vào sử dụng, cần đánh giá thận trọng về mức độ đủ mạnh của thuế suất này.

    Ví dụ, một khu đất có giá trị tính thuế 100 tỷ đồng, với thuế suất 0,2% sẽ tương đương khoảng 200 triệu đồng/năm. Với doanh nghiệp có năng lực tài chính và kỳ vọng giá đất tiếp tục tăng, khoản chi phí này có thể chưa đủ lớn để thay đổi quyết định. Nếu lợi ích kỳ vọng từ việc giữ đất cao hơn đáng kể so với chi phí thuế, tình trạng tích trữ đất vẫn có thể tiếp diễn.

    Vì vậy, theo ông Nhân, cần thiết kế chính sách theo mục tiêu thay đổi hành vi. Mức 0,2% có thể là mức khởi điểm, sau đó tăng dần theo thời gian đất chậm được đưa vào sử dụng. Chẳng hạn, nếu đất tiếp tục bị bỏ hoang mà không có lý do chính đáng, thuế suất có thể tăng lên 0,3%, 0,5% hoặc cao hơn tùy từng thời kỳ và tính chất vi phạm.

    “Chính sách nên tạo ra một ‘đồng hồ chi phí’, thời gian đất không được đưa vào khai thác càng kéo dài thì chi phí nắm giữ càng tăng”, ông Nhân nói.

    Ông cho rằng, việc phân tầng mức thuế theo thời gian đất bỏ hoang sẽ tạo động lực để chủ đất chủ động đưa đất vào sản xuất, kinh doanh hoặc chuyển nhượng cho chủ thể có năng lực khai thác. Đồng thời, cách này tạo sự công bằng tương đối giữa người sử dụng đất hiệu quả và người giữ đất trong thời gian dài nhưng không tạo ra giá trị kinh tế.

    Tuy nhiên, vị chuyên gia nhấn mạnh, cần phân biệt rõ trường hợp chậm đưa đất vào sử dụng do nguyên nhân khách quan với trường hợp cố tình bỏ đất hoặc găm giữ đất chờ tăng giá. 

    Với những trường hợp đất chậm đưa vào sử dụng vì nguyên nhân khách quan, chính sách cần có cơ chế miễn, giảm hoặc loại trừ rõ ràng, cùng cơ chế giám sát minh bạch.

    Theo TS Lê Bá Chí Nhân, mô hình phù hợp là áp dụng mức thuế khởi điểm nhưng tăng dần theo thời gian, đồng thời phân biệt rõ nguyên nhân khiến đất chậm được đưa vào sử dụng.

    “Mục tiêu cuối cùng không phải thu được nhiều thuế hơn, mà là giảm tình trạng đất bị đóng băng, tăng hiệu quả sử dụng đất và đưa nguồn lực đất đai trở lại phục vụ tăng trưởng kinh tế”, ông Nhân nói.

    Với 200m2 đất bỏ hoang, nếu áp thuế suất đề xuất 0,2%/năm và giá đất tính thuế là 10 triệu đồng/m2, số thuế sẽ là 4 triệu đồng/năm. Nếu giá tính thuế là 20 triệu đồng/m2, số thuế tăng lên 8 triệu đồng/năm.

    Công thức: 200m2 × giá đất tính thuế/m2 × 0,2%.

    Theo đề xuất, mức thuế suất 0,2% cao gấp khoảng 6,7 lần mức 0,03% đối với đất ở trong hạn mức; 2,9 lần mức 0,07% và 1,3 lần mức 0,15%. Đây là so sánh thuế suất, với giả định cùng giá đất tính thuế.

    Mức 0,2% vẫn là đề xuất; số tiền trên chỉ để minh họa, không mặc nhiên tính theo giá mua bán đất trên thị trường.

    Nguyễn Lê

    Nguồn https://baomoi.com/dat-100-ty-bo-hoang-co-the-chiu-thue-200-trieu-nam-de-xuat-cang-de-lau-thue-cang-tang-c56213157.epi

  • 50 công trình ghi công liệt sĩ cần tu bổ

    Ngày 6/10, Sở Nội vụ Thái Nguyên cho biết thời gian qua sở phối hợp với các địa phương tiến hành rà soát, đánh giá hiện trạng các nghĩa trang, công trình ghi công liệt sĩ trên địa bàn tỉnh.

    Qua rà soát, có 34 địa phương đề nghị tu bổ, cải tạo, sửa chữa 50 công trình ghi công liệt sĩ, với tổng kinh phí đề nghị hỗ trợ 76 tỷ đồng (chưa tính Nghĩa trang liệt sĩ Dốc Lim).

    Cũng theo Sở Nội vụ, năm 2026 tỉnh triển khai tu bổ, sửa chữa, cải tạo 8 công trình ghi công liệt sĩ, với tổng vốn đầu tư trên 24,2 tỷ đồng. Trong đó, kinh phí Trung ương hỗ trợ trên 14,8 tỷ đồng, còn lại là ngân sách địa phương.

    Hiện nay Nghĩa trang liệt sĩ Dốc Lim (phường Quyết Thắng, tỉnh Thái Nguyên) đang được tập trung tu bổ, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp.

    Phối cảnh phương án tu bổ, tôn tạo tổng thể Nghĩa trang liệt sĩ Dốc Lim.

    Nghĩa trang liệt sĩ Dốc Lim hiện có hơn 800 phần mộ liệt sĩ. Đây là địa chỉ đỏ, biểu tượng của lòng tri ân, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, uống nước nhớ nguồn của dân tộc.

    Tập đoàn công nghệ viễn thông Quân đội Viettel đang triển khai Dự án tu bổ, cải tạo Nghĩa trang liệt sĩ Dốc Lim.

    Theo kế hoạch, dự án gồm 8 hạng mục cải tạo, tu bổ, tôn tạo. Trong đó, tỉnh sẽ tập trung vào các hạng mục chính, như cải tạo hàng rào bao quanh khu vực, xây mới, mở rộng cổng, mở rộng khuôn viên vũ đài và sân lễ, xây mới kỳ đài và nhà bia; ốp đá toàn bộ phần mộ liệt sĩ…

    Dự án đã được khởi công vào ngày 20/9, phấn đấu hoàn thành và tổ chức lễ khánh thành vào dịp kỷ niệm 82 năm ngày Thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12).

    Thanh Hiếu

    Nguồn https://baomoi.com/50-cong-trinh-ghi-cong-liet-si-can-tu-bo-c56213031.epi

  • Làm gì để đưa sổ đỏ điện tử vào sử dụng?

    Hoàn thiện pháp lý và điều kiện cấp sổ

    Cục Quản lý đất đai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang nghiên cứu, đánh giá khả năng áp dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất dạng điện tử.

    Theo ông Mai Văn Phấn, Phó cục trưởng Cục Quản lý đất đai, cơ quan này đã xây dựng dự thảo nội dung liên quan đến giấy chứng nhận điện tử. Tuy nhiên, lộ trình triển khai còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện, trước hết là tiếp tục hoàn thiện Luật Đất đai sửa đổi, làm rõ quy định về giấy chứng nhận điện tử và giá trị pháp lý của loại giấy này.

    Ông Mai Văn Phấn, Phó cục trưởng Cục Quản lý đất đai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

    Yêu cầu đặt ra là bảo đảm giấy chứng nhận dạng điện tử và dạng giấy có giá trị pháp lý thống nhất, tạo cơ sở để bản điện tử được công nhận, sử dụng trong thực hiện thủ tục và giao dịch đất đai.

    Song song với hoàn thiện thể chế, cơ quan quản lý đang tái cấu trúc quy trình, thủ tục hành chính theo hướng điện tử toàn trình. Các địa phương được hướng dẫn lựa chọn những thủ tục có tính khả thi để thực hiện trên môi trường điện tử, hướng tới trả kết quả bằng giấy chứng nhận điện tử thay cho bản giấy.

    Một điều kiện quan trọng khác là hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai. Ông Phấn cho biết, Cục Quản lý đất đai tiếp tục hướng dẫn, chỉ đạo và đôn đốc các địa phương sớm hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Đây là nền tảng để giải quyết thủ tục hành chính, trong đó có việc cấp giấy chứng nhận cho người sử dụng đất.

    Tháo gỡ ba khoảng trống để sử dụng thống nhất

    Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng cho biết, Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định số 101/2024/NĐ-CP đã bước đầu ghi nhận giá trị pháp lý của giấy chứng nhận điện tử (GCNĐT) tương đương bản giấy. Cùng với đó, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 tạo tiền đề cho việc xác nhận bản gốc dữ liệu, ký số và bảo đảm an ninh mạng.

    Tuy nhiên, để triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn quốc, báo cáo nhận diện 3 khoảng trống pháp lý lớn. Thứ nhất là pháp luật đất đai hiện hành chưa có khái niệm chính thức ở cấp luật về giấy chứng nhận điện tử như một hình thức thể hiện độc lập, có giá trị pháp lý bản gốc ngang với bản giấy truyền thống trong toàn bộ hệ thống pháp luật.

    Tiếp đến, chưa có khung chính sách bắt buộc liên thông giá trị pháp lý giữa các ngành. Mặc dù pháp luật đất đai công nhận GCNĐT, nhưng chưa có cơ chế buộc các cơ quan, tổ chức như thuế, ngân hàng, công chứng, tòa án, thi hành án phải tiếp nhận, công nhận và sử dụng GCNĐT trong giao dịch dân sự, đăng ký thế chấp, cấp tín dụng hoặc tố tụng. Vì vậy, các giao dịch vẫn có thể phải sử dụng bản giấy.

    Cuối cùng là chưa có hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, nghiệp vụ đồng bộ ở cấp bộ về cấu trúc dữ liệu, mã định danh duy nhất, dấu thời gian, quy trình phát hành, cấp đổi, cấp lại, cập nhật biến động, hủy bỏ và lưu trữ điện tử lâu dài đối với GCNĐT.

    Nguyễn Hùng

    Nguồn https://baomoi.com/lam-gi-de-dua-so-do-dien-tu-vao-su-dung-c56213035.epi

  • Đề xuất áp thuế 0,2% đối với đất bỏ hoang và không áp dụng hạn mức

    Bộ Tài chính đề xuất áp dụng mức thuế suất 0,2% đối với toàn bộ diện tích đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng hoặc không đưa vào sử dụng. Ảnh minh họa

    Thông tin này được đại diện cơ quan quản lý đưa ra tại cuộc họp báo thường kỳ ngày 6/10/2026, nhằm làm rõ các nội dung liên quan đến dự án Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp sửa đổi.

    Theo dự thảo đang được hoàn thiện, mức thuế suất 0,2% đề xuất cho đất bỏ hoang cao gấp gần 7 lần so với mức thuế suất 0,03% đang áp dụng đối với diện tích đất ở trong hạn mức.

    Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp có hiệu lực từ năm 2010, đối với đất ở, luật áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần: 0,03% đối với diện tích trong hạn mức; 0,07% đối với phần diện tích vượt không quá 3 lần và 0,15% đối với phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức.

    Đối với đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thuế suất là 0,03%. Đất sử dụng không đúng mục đích, đất chưa sử dụng theo đúng quy định chịu thuế suất 0,15%, còn đất lấn chiếm chịu thuế suất 0,2%.

    Về căn cứ pháp lý để triển khai, cơ quan soạn thảo cho biết việc xác định thế nào là đất bỏ hoang, đất chậm tiến độ hay không đưa vào sử dụng sẽ được dẫn chiếu theo các quy định hiện hành của pháp luật về đất đai. Khi các tiêu chí và căn cứ xác định được cơ quan chuyên môn hoàn thiện đồng bộ, cơ quan thuế sẽ lấy đó làm cơ sở để tính và thu thuế đối với từng trường hợp cụ thể. Việc quy định rõ ràng khung thuế suất đối với nhóm đất này được kỳ vọng sẽ tạo ra cơ chế tài chính đủ sức tác động đến chủ sở hữu đất.

    Đề xuất này nằm trong lộ trình sửa đổi, bổ sung chính sách thuế nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác nguồn lực đất đai trên phạm vi cả nước. Dự thảo Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp sửa đổi dự kiến sẽ được trình Quốc hội xem xét và cho ý kiến tại kỳ họp diễn ra trong thời gian tới. Nếu các nội dung sửa đổi được thông qua, quy định mới về thuế suất đối với đất bỏ hoang sẽ chính thức có hiệu lực thi hành theo lộ trình do Quốc hội quyết định, tạo hành lang pháp lý thống nhất cho công tác quản lý thuế tài sản.

    PV

    Nguồn https://baomoi.com/de-xuat-ap-thue-0-2-doi-voi-dat-bo-hoang-va-khong-ap-dung-han-muc-c56213229.epi

  • Gỡ vướng quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản

    Cán bộ Phòng Địa chất – Khoáng sản (Sở Công Thương Thái Nguyên) tập trung giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, nhà đầu tư

    Không để gián đoạn thủ tục của doanh nghiệp

    Ngày 4/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP về xử lý khó khăn, vướng mắc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất, khoáng sản.

    Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 15/9/2026, trong đó quy định việc chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản giữa các bộ, ngành. Theo đó, chức năng quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản được điều chuyển về Bộ Công Thương. Ở địa phương, chức năng quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản từ Sở Nông nghiệp và Môi trường; quản lý nhà nước về vật liệu xây dựng (khoáng sản) từ Sở Xây dựng được chuyển về Sở Công Thương.

    Đáng chú ý, các quy định chuyển tiếp của Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP đặt yêu cầu bảo đảm quyền lợi của tổ chức, cá nhân trong quá trình chuyển giao. Các giấy phép, quyết định, văn bản đã được ban hành trước thời điểm Nghị quyết có hiệu lực tiếp tục có giá trị pháp lý cho đến khi hết thời hạn hoặc được sửa đổi, bổ sung, gia hạn, điều chỉnh theo quy định.

    Doanh nghiệp không phải thực hiện lại thủ tục cấp đổi giấy phép chỉ vì thay đổi cơ quan quản lý nhà nước; không phải nộp lại hồ sơ, phí, lệ phí đã thực hiện. Đối với hồ sơ đang được giải quyết, kết quả kiểm tra, thẩm định, ý kiến của cơ quan chuyên môn, chuyên gia và các bước xử lý đã hoàn thành được kế thừa; thời hạn giải quyết cũng không tính lại từ đầu.

    Nhiều mỏ đá trên địa bàn tỉnh đang triển khai thủ tục nâng công suất khai thác.

    Tại Thái Nguyên, ngày 14/9/2026, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2930/QĐ-UBND về điều chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản giữa các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh. Thời gian thực hiện từ ngày 15/9/2026.

    Theo đó, Sở Công Thương tiếp nhận nguyên trạng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, nhân sự của Phòng Địa chất – Khoáng sản từ Sở Nông nghiệp và Môi trường. Đồng thời, Sở tiếp nhận chức năng quản lý nhà nước về vật liệu xây dựng (khoáng sản) từ Sở Xây dựng.

    Ngay sau khi tiếp nhận, Sở Công Thương đã kiện toàn Phòng Địa chất – Khoáng sản với 12 cán bộ được điều chuyển từ Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng. Một Phó Giám đốc Sở có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực địa chất – khoáng sản được phân công trực tiếp phụ trách phòng.

    Ông Nguyễn Bá Chính, Phó Giám đốc Sở Công Thương Thái Nguyên, cho biết việc kiện toàn bộ máy được thực hiện khẩn trương, bảo đảm Phòng Địa chất – Khoáng sản đi vào hoạt động ổn định ngay từ ngày 15-9.

    “Các thủ tục hành chính của doanh nghiệp, nhà đầu tư được xử lý nhanh chóng, thuận tiện, không bị gián đoạn. Đặc biệt, quá trình chuyển giao không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính, chi phí mới đối với các hồ sơ chuyển tiếp”, ông Nguyễn Bá Chính nhấn mạnh.

    Thống nhất một đầu mối, doanh nghiệp thuận lợi hơn

    Không chỉ dừng ở chuyển giao chức năng quản lý, Thái Nguyên tiếp tục phân cấp, ủy quyền nhằm nâng cao tính chủ động trong giải quyết các thủ tục thuộc lĩnh vực địa chất, khoáng sản. Ngày 29/9/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành Quyết định số 3048/QĐ-UBND, ủy quyền cho Giám đốc Sở Công Thương thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản thuộc thẩm quyền quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh.

    Nội dung ủy quyền gồm: thành lập Hội đồng thẩm định đề án thăm dò khoáng sản trong trường hợp cần thiết; thành lập Hội đồng tư vấn kỹ thuật thẩm định báo cáo kết quả thăm dò; thẩm định một số hồ sơ cấp, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh, trả lại giấy phép khai thác khoáng sản, khai thác tận thu và chuyển nhượng quyền khai thác; phê duyệt, điều chỉnh, phê duyệt lại tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo quy định.

    Thời hạn ủy quyền được thực hiện từ ngày quyết định có hiệu lực đến ngày 31/12/2027, trừ trường hợp quy định pháp luật hoặc chức năng quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản có thay đổi.

    Mỏ cát kết xã Quang Sơn đang hoạt động hiệu quả.

    Công ty CP BOT Bắc Thái – chủ đầu tư Dự án đầu tư xây dựng hoàn chỉnh cao tốc CT.07 đoạn Hà Nội – Thái Nguyên – Chợ Mới – đang thực hiện các thủ tục liên quan đến khai thác Mỏ đá Phú Lương theo cơ chế đặc thù để phục vụ thi công Dự án.

    Theo ông Nguyễn Văn Cảnh, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP BOT Bắc Thái, trước đây các thủ tục được thực hiện tại Sở Nông nghiệp và Môi trường, nay chuyển sang Sở Công Thương nhưng quá trình xử lý không bị gián đoạn.

    Còn ông Nguyễn Duy Hồng, Giám đốc Mỏ đá Đồng Phú, xã Quang Sơn, cho biết đơn vị đang hoàn thiện thủ tục nâng công suất khai thác mỏ. Theo ông, việc tập trung các chức năng liên quan đến quản lý khoáng sản về một cơ quan sẽ tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.

    Ông Trần Mạnh Tuấn, Chủ tịch UBND xã Quang Sơn, cho rằng việc điều chuyển chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản và vật liệu xây dựng (khoáng sản) về Sở Công Thương sẽ tạo thuận lợi cho địa phương trong phối hợp quản lý hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn. 

    Theo ông Tuấn, khi đầu mối quản lý được thống nhất, việc trao đổi thông tin, phối hợp kiểm tra, xử lý các vấn đề phát sinh tại cơ sở sẽ thuận lợi hơn, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

    Việc chuyển chức năng quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản về Sở Công Thương không chỉ là sự thay đổi cơ quan thực hiện nhiệm vụ. Quan trọng hơn, đây là bước sắp xếp nhằm tạo sự thống nhất trong quản lý, từ khâu thăm dò, cấp phép khai thác đến hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản.

    Từ việc nhanh chóng kiện toàn bộ máy đến phân cấp, ủy quyền thực hiện một số nhiệm vụ, Thái Nguyên đang từng bước đưa mô hình quản lý mới về địa chất, khoáng sản vận hành ổn định. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu lực quản lý tài nguyên, đồng thời tạo môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư, khai thác và chế biến khoáng sản trên địa bàn.

    Phi Hùng

    Nguồn https://baomoi.com/go-vuong-quan-ly-nha-nuoc-ve-dia-chat-khoang-san-c56212914.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!