Làm sạch dữ liệu, hoàn thiện nền tảng quản lý đất đai
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến ngày 15/9/2026, cả nước đã rà soát, cập nhật 105.073.392 thửa đất, tăng hơn 2,11 triệu thửa so với kỳ báo cáo ngày 25/8. Trong đó, 68.299.005 thửa đất đã được đồng bộ có dữ liệu; 47.767.174 thửa đáp ứng tiêu chí “đúng – đủ – sạch – sống”, tăng hơn 4,43 triệu thửa so với ngày 25/8 và hơn 9,16 triệu thửa so với ngày 30/7.
Bên cạnh kết quả đạt được, còn 20.531.831 thửa đất đã có dữ liệu nhưng cần tiếp tục bổ sung, xác thực thông tin để làm giàu, làm sạch; giảm hơn 4,18 triệu thửa so với kỳ báo cáo trước. Số thửa đất chưa được xây dựng cơ sở dữ liệu là 36.774.387, tăng hơn 2,06 triệu thửa so với ngày 25/8.
Theo báo cáo, Lào Cai, Thái Nguyên, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và Nghệ An là những địa phương có tổng số thửa đất đã đồng bộ dữ liệu cao nhất cả nước. Trong khi đó, Điện Biên, Huế và Khánh Hòa nằm trong nhóm có số thửa đất đã đồng bộ dữ liệu thấp nhất.
Những con số trên cho thấy quy mô công việc còn rất lớn. Yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng phạm vi dữ liệu được thu thập, mà còn phải nâng cao chất lượng, bảo đảm thông tin chính xác, được cập nhật thường xuyên và có thể khai thác hiệu quả.
Hà Nội là một những địa phương có tổng số thửa đất đã đồng bộ dữ liệu cao nhất cả nước.
Theo ông Lưu Văn Năng, Trưởng phòng Thống kê, Kiểm kê và Thông tin đất đai, Cục Quản lý đất đai, hoàn thành dữ liệu mới là một phần của nhiệm vụ. Quan trọng hơn, dữ liệu phải được đưa vào khai thác, trở thành nguồn lực phục vụ công tác quản lý và đáp ứng nhu cầu của người dân.
Thực tế, việc xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai đã được triển khai từ năm 1994, trải qua nhiều giai đoạn gắn với sự phát triển của ngành, biến động đất đai và những thay đổi về quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật. Trước năm 2014, công tác quản lý chủ yếu tập trung vào đo đạc, lập bản đồ địa chính. Từ sau năm 2014, cùng với việc hoàn thiện bản đồ và hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai từng bước được xây dựng.
Đặc biệt, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, công tác này được đẩy mạnh. Năm 2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an triển khai chiến dịch 90 ngày làm sạch, làm giàu cơ sở dữ liệu đất đai.
Trên cơ sở kết quả đạt được, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 13/2/2026 về việc khẩn trương tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Tiếp đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an triển khai Kế hoạch số 2959/KH-BNNMT-BCA ngày 29/3/2026, hướng tới hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai trên phạm vi cả nước.
Đối với cơ sở dữ liệu do Trung ương quản lý, bốn khối dữ liệu thành phần đã được xây dựng, gồm dữ liệu hiện trạng sử dụng đất cấp vùng và cả nước; dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia; dữ liệu khung giá đất; dữ liệu điều tra cơ bản về đất đai cấp vùng và cả nước. Cùng với đó, Quyết định số 1315/QĐ-BTNMT đặt ra yêu cầu xây dựng các công cụ chuyển đổi, tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai địa phương và hướng dẫn kỹ thuật phục vụ chuyển đổi, tích hợp, đồng bộ dữ liệu.
Đây là bước chuyển từ xây dựng dữ liệu riêng lẻ tại từng địa phương sang hình thành hệ thống dữ liệu thống nhất, có khả năng kết nối và chia sẻ trên phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, để dữ liệu thực sự phát huy giá trị, việc cập nhật biến động, xác thực thông tin và tổ chức khai thác phải được tiến hành thường xuyên, đồng bộ với hoạt động quản lý đất đai hằng ngày.
Cắt giảm thủ tục, tạo thuận lợi cho người dân
Một trong những lợi ích rõ nét của cơ sở dữ liệu đất đai là giảm việc thu thập, sao lục và kiểm tra lặp lại những hồ sơ đã có. Khi thông tin được cập nhật đầy đủ trên hệ thống, cơ quan quản lý có thêm nguồn dữ liệu phục vụ giải quyết công việc, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao chất lượng quyết định trong các lĩnh vực như quy hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Đối với người dân và doanh nghiệp, lợi ích trực tiếp là giảm giấy tờ phải cung cấp, hạn chế việc đi lại và tiết kiệm thời gian thực hiện thủ tục hành chính. Những thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu cần được khai thác, chia sẻ theo quy định, thay vì yêu cầu người dân nộp lại nhiều lần. Trong các giao dịch liên quan đến thế chấp quyền sử dụng đất, việc khai thác dữ liệu trên hệ thống cũng góp phần đơn giản hóa quy trình.
Tổ công tác phường Hà Đông (Hà Nội) làm sạch dữ liệu đất đai cho người dân tổ 4 La Khê. Ảnh: Hoàng Sơn
Cục Quản lý đất đai đã tham mưu Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 441 ngày 2/2/2026 về công bố và hướng dẫn kết nối để khai thác, sử dụng dữ liệu thông tin về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thay thế thành phần hồ sơ trong giải quyết thủ tục hành chính. Nội dung này hướng tới cắt giảm trường dữ liệu, đơn giản hóa quy trình, giảm giấy tờ đã có trong cơ sở dữ liệu và thay thế thành phần hồ sơ giấy bằng dữ liệu theo quy định.
Quyết định cũng quy định quy trình chia sẻ cơ sở dữ liệu đất đai với các lĩnh vực liên quan, tạo cơ sở để địa phương tổ chức lại quy trình giải quyết thủ tục hành chính, chuyển từ yêu cầu người dân cung cấp hồ sơ sang chủ động khai thác thông tin đã được số hóa.
Theo ông Mai Văn Phấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đất đai, lộ trình triển khai giấy chứng nhận điện tử phụ thuộc vào nhiều tiêu chí, trong đó có việc hoàn thiện Luật Đất đai sửa đổi, bảo đảm cơ sở pháp lý và sự thống nhất giữa giấy chứng nhận bản giấy với giấy chứng nhận điện tử. Điều kiện quan trọng là phải hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai để làm nền tảng triển khai.
Trong thời gian tới, thông tin về giấy chứng nhận dự kiến được đưa lên hệ thống VNeID, giúp người dân tiếp cận thông tin tài sản đất đai thuận tiện hơn. Về lâu dài, các giao dịch, thủ tục liên quan đến đất đai có thể được thực hiện trực tuyến, hướng tới giải quyết thủ tục hành chính toàn trình và phi địa giới, để người dân không phải đến trực tiếp cơ quan quản lý tại nơi có đất trong những trường hợp đủ điều kiện.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành đất đai xác định phải chuyển từ “xây dựng dữ liệu” sang “vận hành và khai thác dữ liệu”, gắn việc cập nhật biến động với quá trình giải quyết thủ tục hành chính hằng ngày. Cơ sở dữ liệu không thể chỉ phục vụ riêng ngành đất đai mà cần được kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác theo quy định.
Song song với hoàn thiện dữ liệu, khung pháp lý về hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu đất đai trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện, bảo đảm phù hợp với Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định liên quan. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm bảo vệ thông tin, nâng cao tính chính xác, minh bạch, hạn chế nguy cơ giả mạo giấy tờ và tạo điều kiện để người dân kiểm tra thông tin hồ sơ của mình.
Khi dữ liệu được hoàn thiện, cập nhật thường xuyên và kết nối hiệu quả, cơ sở dữ liệu đất đai sẽ không chỉ là công cụ quản lý mà còn là nền tảng phục vụ cải cách hành chính. Giá trị cuối cùng của quá trình chuyển đổi số phải được thể hiện bằng những thủ tục đơn giản hơn, thời gian xử lý ngắn hơn và quyền tiếp cận thông tin thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp.
Leave a Reply