GIỚI HẠN THỨ NHẤT LÀ XU HƯỚNG LẤY KHẢ NĂNG XÂY DỰNG THAY CHO NHU CẦU THỰC TẾ
Khi một khu vực được đánh giá có tiềm năng, phản ứng đầu tiên thường là xác định chức năng sử dụng đất, quy mô công trình, hệ thống giao thông và phương án khai thác thương mại. Nhưng khả năng xây dựng một công trình không chứng minh rằng thị trường cần công trình đó. Một bến tàu có thể được thiết kế đúng tiêu chuẩn nhưng vẫn hoạt động dưới công suất nếu thiếu nguồn khách hoặc hàng hóa. Một khu dịch vụ có thể có vị trí đẹp nhưng vẫn khó duy trì doanh thu nếu nhu cầu sử dụng không đủ lớn. Một trung tâm đổi mới sáng tạo có thể được đầu tư hiện đại nhưng không tạo ra nhiều sản phẩm thương mại nếu thiếu doanh nghiệp có bài toán nghiên cứu cụ thể và khách hàng sẵn sàng trả tiền.
Trung tâm TPHCM nhìn từ trên cao – Ảnh: ST:
Nguyên nhân nằm ở sự khác biệt giữa logic đầu tư xây dựng và logic phát triển thị trường. Dự án xây dựng thường được tổ chức quanh các mốc quy hoạch, giải phóng mặt bằng, huy động vốn, thi công và bàn giao. Trong khi đó, một hoạt động kinh tế muốn tồn tại phải giải quyết liên tục những câu hỏi khác: khách hàng là ai, nhu cầu có ổn định không, sản phẩm có cạnh tranh được không, chi phí vận hành bao nhiêu và doanh thu có đủ duy trì hoạt động hay không. Nếu 2 logic này không được kết nối từ đầu, Thành phố có thể hoàn thành công trình nhưng chưa hình thành được hoạt động kinh tế tương xứng.
GIỚI HẠN THỨ HAI LÀ SỰ PHỤ THUỘC QUÁ LỚN VÀO GIÁ TRỊ BẤT ĐỘNG SẢN
Đất ven sông có thể tạo ra nguồn thu thông qua chuyển nhượng, cho thuê hoặc phát triển dự án. Tuy nhiên, giá đất tăng không đồng nghĩa năng suất của nền kinh tế tăng tương ứng. Nếu phần lớn giá trị đầu tư được thu hồi thông qua chênh lệch giá đất và giá bán tài sản, trong khi năng lực sản xuất, chất lượng dịch vụ và thị trường mới không phát triển đáng kể, hiệu quả kinh tế sẽ phụ thuộc nhiều vào chu kỳ bất động sản.
Cơ chế này tạo ra một sự lệch hướng trong lựa chọn đầu tư. Những dự án có khả năng làm tăng giá trị thương mại của mặt bằng thường dễ thu hút sự quan tâm hơn những hạng mục tạo lợi ích dài hạn nhưng khó thu hồi vốn trực tiếp, chẳng hạn dữ liệu môi trường, nghiên cứu ứng dụng, hạ tầng thử nghiệm công nghệ hoặc không gian công cộng. Trong khi đó, các hệ thống dữ liệu, năng lực nghiên cứu và mạng lưới doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị cho nhiều khu vực và nhiều năm, chứ không chỉ cho một dự án riêng lẻ.
Hệ quả là thành phố có nguy cơ gia tăng giá trị tài sản nhưng chưa tạo ra tương ứng các năng lực kinh tế mới. Nếu chi phí đất đai và mặt bằng tăng cao, doanh nghiệp Sông Sài Gòn về đêm nhỏ, nhóm nghiên cứu và các đơn vị phát triển sản phẩm có thể gặp khó khăn khi tiếp cận không gian hoạt động. Một khu vực ven sông khi đó có thể trở nên đắt đỏ hơn mà chưa chắc trở thành nơi tạo ra nhiều công nghệ, sản phẩm hay việc làm có giá trị gia tăng cao hơn.
GIỚI HẠN THỨ BA LÀ ĐẦU TƯ HẠ TẦNG THEO TỪNG DỰ ÁN NHƯNG CHƯA CHẮC HÌNH THÀNH ĐƯỢC MỘT HỆ THỐNG VẬN HÀNH ĐỒNG BỘ
Sông Sài Gòn liên quan đến giao thông thủy, đường bộ, logistics, cấp thoát nước, quản lý nguồn nước, du lịch, sinh thái và không gian công cộng. Các hoạt động này có quan hệ trực tiếp với nhau. Một bến thủy không thể phát huy hết hiệu quả nếu thiếu kết nối thuận tiện với kho bãi và mạng lưới giao thông. Một tuyến không gian công cộng ven sông khó hoạt động liên tục nếu bị chia cắt bởi các khu vực không có lối tiếp cận. Một hệ thống quan trắc không tạo ra nhiều giá trị nếu dữ liệu không được kết nối với cơ quan quản lý và đơn vị có trách nhiệm xử lý vấn đề.
Trong thực tế, mỗi hạng mục có thể thuộc một dự án, một chủ đầu tư hoặc một cơ quan quản lý khác nhau. Nếu thiếu cơ chế điều phối chung, các dự án có thể hoàn thành riêng lẻ nhưng không tạo thành chuỗi dịch vụ hoàn chỉnh. Chi phí kết nối, vận hành và duy tu khi đó trở thành phần việc phát sinh sau đầu tư, trong khi trách nhiệm và nguồn kinh phí có thể chưa được xác định đầy đủ.
Đây là một “điểm nghẽn” đặc biệt quan trọng đối với sông Sài Gòn, bởi hiệu quả của dòng sông phụ thuộc nhiều vào quan hệ giữa các khu vực và các mạng lưới. Không thể đánh giá một bến thủy chỉ bằng công trình bến, một tuyến du lịch chỉ bằng cảnh quan hay một khu công nghệ chỉ bằng diện tích sàn. Phải đánh giá khả năng vận hành của toàn bộ hệ thống mà các hạng mục ấy tham gia.
Sông Sài Gòn về đêm – Ảnh: ST
GIỚI HẠN THỨ TƯ LÀ KHOẢNG CÁCH GIỮA XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH VÀ HÌNH THÀNH NĂNG LỰC DOANH NGHIỆP
Một mô hình phát triển có thể thu hút nhiều nhà đầu tư, tổ chức hội thảo, ký kết hợp tác và xây dựng các trung tâm mang tên công nghệ hoặc đổi mới sáng tạo. Nhưng những hoạt động đó chưa đủ để chứng minh đã hình thành được một ngành kinh tế mới.
Năng lực kinh tế chỉ thực sự được tạo ra khi doanh nghiệp giải quyết được những vấn đề cụ thể của khách hàng, phát triển được sản phẩm đạt yêu cầu, có hợp đồng thương mại, duy trì được chất lượng và mở rộng được thị trường. Đối với những lĩnh vực như logistics số, quan trắc môi trường, thiết bị thông minh hoặc công nghệ quản lý đô thị, công trình và hạ tầng chỉ là điều kiện hỗ trợ. Phần quyết định vẫn là năng lực nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất, tích hợp, bảo trì và bán sản phẩm.
Nếu không có cơ chế kết nối giữa khách hàng lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, viện nghiên cứu và trường đại học, các khoản đầu tư có thể tạo ra cơ sở vật chất nhưng không hình thành được chuỗi cung ứng trong nước. Thành phố có thể phải tiếp tục mua giải pháp từ bên ngoài, trong khi doanh nghiệp nội địa thiếu cơ hội tiếp cận bài toán thực tế và khách hàng đầu tiên để trưởng thành.
GIỚI HẠN THỨ NĂM LÀ KHÓ XÁC ĐỊNH VÀ DUY TRÌ HIỆU QUẢ SAU KHI CÔNG TRÌNH ĐI VÀO HOẠT ĐỘNG
Một dự án thường có thể báo cáo khá rõ tổng vốn đầu tư, tiến độ thi công, diện tích xây dựng và thời điểm hoàn thành. Nhưng những chỉ tiêu này chỉ phản ánh đầu ra của quá trình đầu tư, chưa phản ánh đầy đủ kết quả phát triển. Đối với một dự án ven sông, cần tiếp tục đặt ra những câu hỏi: sau 3 hoặc 5 năm, có bao nhiêu doanh nghiệp sử dụng hạ tầng; lượng hàng hóa vận chuyển tăng hay giảm; chi phí logistics có được cắt giảm; sản phẩm công nghệ nào được thương mại hóa; chất lượng nước được cải thiện ra sao; người dân tiếp cận không gian công cộng thuận tiện đến mức nào và ngân sách phải chi bao nhiêu để duy trì hệ thống.
Nếu những chỉ tiêu này không được xác định ngay từ đầu, cơ quan quản lý sẽ khó phân biệt dự án nào thực sự tạo ra giá trị, dự án nào chỉ hoàn thành về xây dựng và dự án nào cần điều chỉnh phương thức vận hành. Khi đó, việc mở rộng đầu tư có thể dựa nhiều vào quy mô công trình, mức độ quan tâm của thị trường hoặc kỳ vọng tăng trưởng hơn là bằng chứng về hiệu quả.
THỨ SÁU LÀ NHỮNG BIẾN ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ CHI PHÍ DÀI HẠN CHƯA CHẮC ĐƯỢC PHẢN ÁNH ĐẦY ĐỦ TRONG QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ
Sông Sài Gòn vừa là tài nguyên phát triển, vừa là một bộ phận của hệ thống thủy văn và sinh thái đô thị. Những hoạt động ven sông phải tính đến chất lượng nước, xói lở, biến động mực nước, ngập do mưa và triều, khả năng thoát nước, tác động đến hệ sinh thái và yêu cầu bảo vệ nguồn nước.
Ngoài ra, khó khăn còn đến từ sự thay đổi của chính môi trường phát triển. Thứ nhất, nguồn lực đất đai có giới hạn, trong khi chi phí giải phóng mặt bằng, xây dựng và kết nối hạ tầng có thể rất lớn. Thứ hai, yêu cầu về chất lượng môi trường, khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và chất lượng sống ngày càng phải được xem xét ngay trong quá trình thiết kế dự án. Thứ ba, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và công nghệ số làm thay đổi cách doanh nghiệp tạo ra giá trị: lợi thế không còn chỉ nằm ở vị trí hoặc quy mô cơ sở vật chất, mà còn ở dữ liệu, khả năng tích hợp hệ thống, tốc độ giải quyết vấn đề và năng lực tổ chức thị trường.
Trong bối cảnh đó, việc đầu tư một công trình lớn không còn tự động tạo ra lợi thế cạnh tranh. Nếu không có nhu cầu đủ lớn, mô hình vận hành phù hợp và năng lực doanh nghiệp, công trình có thể nhanh chóng trở nên kém hiệu quả so với chi phí bỏ ra. Ngược lại, những khoản đầu tư có quy mô vừa phải nhưng giải quyết đúng “điểm nghẽn”, tạo ra sản phẩm có khách hàng và có khả năng nhân rộng đem lại hiệu quả cao hơn.
Một dự án có thể hoàn thành đúng tiến độ, đạt quy mô đầu tư dự kiến và tạo ra giá trị bất động sản, nhưng vẫn chưa thành công về mặt phát triển nếu không tạo ra đủ nhu cầu sử dụng, không duy trì được hiệu quả vận hành hoặc không nâng cao năng lực của nền kinh tế. Thành phố vẫn cần những công trình thiết yếu, không gian công cộng chất lượng và các dự án thương mại phù hợp. Điều cần thay đổi là thứ tự ra quyết định: xác định nhu cầu và lợi ích cần tạo ra trước, lựa chọn mô hình hoạt động tiếp theo, rồi mới quyết định công trình, quy mô đầu tư và nguồn vốn tương ứng.
(Còn tiếp…)
Nguồn https://baomoi.com/danh-thuc-song-sai-gon-bai-3-c56274700.epi
Leave a Reply