Dữ liệu đất đai: Nền tảng giảm chi phí phát triển và bảo vệ tài nguyên

Written by

in

Chiều 14/10, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng làm việc với Trung tâm Dữ liệu Quốc gia, Bộ Công an về tiến độ, kết quả hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, đồng thời thảo luận giải pháp khai thác dữ liệu phục vụ cải cách thủ tục hành chính.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng làm việc với Trung tâm Dữ liệu Quốc gia, Bộ Công an về tiến độ, kết quả hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai… Ảnh: Khương Trung.

Theo báo cáo, đến 17 giờ ngày 13/10/2026, cả 34/34 tỉnh, thành phố đã đồng bộ 69.451.774 thửa đất về Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Trong đó, 63.529.343 thửa đồng bộ thành công, đạt 91,47%; 5.922.431 thửa không thành công, chiếm 8,53%, chủ yếu do dữ liệu không đạt tiêu chí hoặc lỗi hồ sơ, chữ ký số.

Đối với việc đồng bộ sang Trung tâm Dữ liệu quốc gia (C12, Bộ Công an), tổng số thửa đất lũy kế đến thời điểm trên đạt 36.811.596 thửa. Số lượt đồng bộ, bao gồm cả gửi lần đầu và gửi lại, đạt khoảng 1,5-2 triệu lượt/ngày. Dữ liệu đồng bộ sang Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (C06) gồm 20.235.276 giấy chứng nhận và 23.346.954 thửa đất.

Theo đánh giá, số lượt đồng bộ phản ánh khối lượng xử lý, không đồng nghĩa với số thửa đất tăng thêm do có các lượt đồng bộ lại. Mục tiêu đến ngày 30/11 là hoàn thành từ 80% dữ liệu trở lên, đòi hỏi các địa phương đẩy nhanh đo đạc, xử lý và bổ sung khoảng 2 triệu thửa đất mỗi ngày.

Tại cuộc họp, các đại biểu tập trung thảo luận việc ứng dụng dữ liệu đất đai để đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhất là các giao dịch liên quan đến đất đai. Khi dữ liệu được hoàn thiện và kết nối đồng bộ, các cơ quan có thể khai thác thông tin phục vụ giải quyết thủ tục, giảm yêu cầu cung cấp lại giấy tờ. Hiện đã xác định 54 thủ tục hành chính liên quan đến 12 cơ sở dữ liệu cần được rà soát, cắt giảm.

Về kỹ thuật, hiện có bốn phần mềm khác nhau đang được sử dụng, đặt ra yêu cầu chuẩn hóa, thống nhất nền tảng và bảo đảm cập nhật dữ liệu thường xuyên từ địa phương. Việc khai thác dữ liệu cũng phải bảo đảm an ninh, bảo mật, loại trừ các thông tin liên quan đến quốc phòng, an ninh và bí mật quốc gia.

Các đại biểu đồng thời đề xuất mở rộng ứng dụng dữ liệu đất đai trong quản lý nhà nước, hoạt động ngân hàng, tư pháp, thi hành án, giảm nghèo và hỗ trợ tái định cư tại những khu vực sạt lở, nguy hiểm.

Thời gian tới, các đơn vị sẽ tăng tốc đo đạc, xử lý dữ liệu, thúc đẩy liên thông giữa các bộ, ngành và phối hợp tháo gỡ khó khăn về nhân lực, kinh phí, quy trình đầu tư công. Việc tổ chức các hội nghị tại miền Nam, miền Bắc và hội nghị toàn thể do Thủ tướng Chính phủ chủ trì cũng được đặt ra nhằm thống nhất phương pháp triển khai, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành mục tiêu.

Dưới góc nhìn kinh tế môi trường, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là bước đầu tư cho năng lực quản trị một nguồn tài nguyên hữu hạn. Giá trị của hệ thống cần được thể hiện bằng khả năng hỗ trợ lựa chọn phương án sử dụng đất hiệu quả, giảm lãng phí và hạn chế những chi phí môi trường phát sinh trong quá trình phát triển.

Trước hết, dữ liệu chính xác, được cập nhật và khai thác thuận tiện có thể giúp giảm chi phí tìm kiếm, xác minh thông tin của người dân, doanh nghiệp. Khi thông tin về hiện trạng, quyền sử dụng đất và quy hoạch được kết nối theo thẩm quyền, quá trình chuẩn bị đầu tư có thêm cơ sở để đánh giá tính phù hợp của địa điểm, hạn chế lựa chọn sai vị trí hoặc phải điều chỉnh dự án. Thời gian xử lý hồ sơ được rút ngắn cũng góp phần giảm chi phí đi lại, bổ sung giấy tờ và chi phí vốn trong thời gian chờ đợi.

Ở chiều quản lý tài nguyên, cần hướng tới kết nối dữ liệu đất đai với các lớp thông tin về chất lượng đất, nguồn nước, rừng, đa dạng sinh học và nguy cơ thiên tai. Đây là cơ sở để cân nhắc đầy đủ hơn lợi ích và chi phí của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Một dự án có thể tạo nguồn thu trước mắt, nhưng nếu làm suy giảm khả năng giữ nước, gia tăng ngập úng hoặc thu hẹp không gian sinh thái, cộng đồng có thể phải gánh thêm chi phí khắc phục trong nhiều năm.

Việc tích hợp các lớp dữ liệu này còn có thể hỗ trợ nhận diện khu vực nhạy cảm về môi trường, lựa chọn địa điểm tái định cư an toàn và bố trí hạ tầng phù hợp. Phòng ngừa rủi ro ngay từ khâu quy hoạch sẽ giúp hạn chế tình trạng phải dùng ngân sách để xử lý hậu quả sau khi công trình đã hình thành.

Để hiện thực hóa những lợi ích đó, tiến độ đồng bộ cần đi cùng chất lượng và cơ chế cập nhật thường xuyên. Dữ liệu sai lệch hoặc chậm phản ánh biến động có thể dẫn đến quyết định thiếu chính xác, phát sinh tranh chấp và làm tăng chi phí xã hội. Đồng thời, cần xác định rõ trách nhiệm kiểm chứng, sửa lỗi, phân quyền tiếp cận và bảo vệ thông tin cá nhân.

Thước đo cuối cùng của cơ sở dữ liệu đất đai vì vậy cần gắn với kết quả thực tế: người dân giảm được bao nhiêu thời gian làm thủ tục, doanh nghiệp giảm được những chi phí nào, đất đai được sử dụng hiệu quả hơn ra sao và rủi ro môi trường được kiểm soát đến đâu. Khi đáp ứng được các yêu cầu này, dữ liệu mới thực sự trở thành nguồn lực phục vụ phát triển bền vững.

Xuân Hòa

Nguồn https://baomoi.com/du-lieu-dat-dai-nen-tang-giam-chi-phi-phat-trien-va-bao-ve-tai-nguyen-c56272173.epi

Click to rate this post!
[Total: 0 Average: 0]

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!