Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Thành phố Hồ Chí Minh chật vật vì ngập úng

    Trận mưa lớn chiều 4/10 khiến tuyến đường Phan Huy Ích (quận Gò Vấp cũ) ngập sâu, giao thông ách tắc. (Ảnh: VÕ LÊ)

    Ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân

    Chỉ vào ngấn nước còn in đậm trong căn phòng khách, bà Nguyễn Ngọc Trinh, ngụ 251/23 Lê Văn Thọ, phường Thông Tây Hội (quận Gò Vấp cũ) cho biết: “Mưa đổ xuống chừng 20 phút thì cả tuyến đường Lê Văn Thọ biến thành sông, nước mưa ngập lên tận yên xe nhưng còn may là dắt được xe vào nhà”.

    Gần đó, các tuyến hẻm trên trục đường Lê Văn Thọ, Nguyễn Văn Khối, Quang Trung gần Công viên làng hoa Gò Vấp nước ngày càng dâng cao cùng với cơn mưa kéo dài đến tận tối 7/10 khiến giao thông ở khu vực này tê liệt.

    Nhiều hộ dân sinh sống trong hẻm 253 Lê Văn Thọ, 171 Nguyễn Văn Khối, 250 Quang Trung… phải xoay xở kê cao đồ đạc, còn xe máy hầu hết đều hư pô vì nước ngập qua yên xe, thậm chí nhiều người không thể vào nhà nên phải tìm chỗ trú lại.

    Ông Thanh Hùng ngụ hẻm 171 Nguyễn Văn Khối lắc đầu nói: “Khu vực này chưa bao giờ ngập kinh khủng như năm nay, từ xưa đến giờ Gò Vấp được xem là vùng đất cao, nếu có mưa lớn cũng chỉ 1-2 tiếng là rút thôi. Qua hai trận mưa vừa rồi, kéo dài đến sáng hôm sau nước mới rút”.

    Cũng trên địa bàn Gò Vấp, cơn mưa lớn ngày 7/10 đã “nhấn chìm” hàng trăm căn nhà phố thuộc khu dân cư Cityland khiến đời sống các hộ dân đảo lộn. Nhiều nhà dân ở đây bị ngập nặng, phải thuê máy bơm để hút nước từ tầng hầm ra bên ngoài nhằm hạn chế thiệt hại.

    Trước đó, ghi nhận cơn mưa lớn đầu tiên của thành phố diễn ra chiều 4/10 đã làm cả tuyến đường Phan Huy Ích “vỡ trận” với mức ngập ghi nhận lên đến hơn 1m khiến hàng trăm chuyến xe buýt lưu thông qua khu vực này bị “mắc cạn”. Nhất là người đi đường thì không thể di chuyển do ngập quá sâu, người dân địa phương phải dùng thuyền nhựa để chứa đồ đạc và đưa đón trẻ em tan trường.

    Đại diện Ủy ban nhân dân xã Tân Vĩnh Lộc (huyện Bình Chánh cũ) cho hay, mưa và ngập kéo dài trong các ngày từ đầu tháng 10 đến nay đã khiến hàng trăm hộ dân sinh sống tại hẻm 39 và 41 đường Công Nghệ Mới phải vật lộn vì nước ngập gần một tuần không rút. Có nơi, nước mưa và nước thải tràn vào nhà dân đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt và việc học tập, sinh hoạt của trẻ em.

    Hầm để xe của một căn nhà phố thuộc khu dân cư Cityland trên đường Phan Văn Trị bị ngập khiến xe máy, đồ đạc hư hỏng nặng. (Ảnh: VÕ LÊ)

    Theo Phòng Hạ tầng kỹ thuật, Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều tuyến đường trên địa bàn thành phố có mức độ ngập tăng so với cùng kỳ năm trước như: Phan Huy Ích thuộc phường Tân Sơn, phường An Hội Tây; đường Quốc Hương, Thảo Điền và đường R12 thuộc phường An Khánh; các tuyến đường nhánh, hẻm như Mã Lò tại phường Bình Trị Đông; các hẻm đường Công Nghệ Mới, đường Liên ấp 123 và đường Đê bao 23 tại xã Tân Vĩnh Lộc.

    Trong đó, đường Thảo Điền và đường R12 thuộc phường An Khánh, khu vực chợ Thủ Đức (thành phố Thủ Đức cũ), Nguyễn Văn Quá (Quận 12 cũ) đều là những “rốn ngập” của thành phố nhiều năm qua chưa được xử lý triệt để.

    Chú trọng phương pháp “trì hoãn, lưu trữ và thoát nước”

    Phó Trưởng Phòng Hạ tầng kỹ thuật Phạm Quốc Huy đánh giá, hệ thống thoát nước hiện hữu được tính toán cho trận mưa 85,3mm trong ba giờ. Trong khi những đợt mưa lớn gần đây đều có vũ lượng mưa đo được nhiều nơi lên đến 218mm khiến cống và kênh rạch không kịp tiêu thoát. Hạn chế khác là nhiều tuyến đường ở Gò Vấp có những đoạn trũng cục bộ, trong khi hệ thống cống đã được đầu tư từ lâu và phụ thuộc khả năng tiếp nhận của kênh rạch hạ lưu. Ngoài ra, các khu dân cư, đô thị mới sau khi hình thành nhưng các chủ đầu tư không kịp thời hoàn thiện các thủ tục bàn giao cho đơn vị quản lý, hệ thống hạ tầng nói chung, tuyến cống nói riêng không phát huy hiệu quả.

    Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết Thành phố Hồ Chí Minh phải triển khai đồng bộ các giải pháp thoát nước, kiểm soát triều, khơi thông dòng chảy và điều chỉnh quy hoạch đô thị theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong đó, phương pháp “trì hoãn, lưu trữ và thoát nước” được nhiều chuyên gia chống ngập đánh giá là phù hợp, cần được chính quyền thành phố nghiêm túc nghiên cứu vận dụng.

    Theo Sở Xây dựng, những năm qua, thành phố ghi nhận 269 điểm thường xuyên ngập, gồm: 171 điểm ở Thành phố Hồ Chí Minh cũ, 56 vị trí ở Bình Dương cũ, và 42 khu vực ở Bà Rịa-Vũng Tàu cũ. Theo đó, có 43 điểm ngập do triều toàn bộ đều nằm ở Thành phố Hồ Chí Minh cũ, còn lại là ngập khi mưa kết hợp triều cường.

    Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Quỳnh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền nam cho rằng: Việc Thành phố Hồ Chí Minh chống ngập theo phương pháp lâu nay là nâng đường, gia tăng cống thoát nước là không còn phù hợp mà thành phố phải xác định chống ngập nước theo lưu vực, bảo vệ không gian dành cho nước, đồng thời ưu tiên hoàn thiện các công trình kiểm soát nước chiến lược. Ngoài ra, kênh rạch, hồ điều hòa, vùng trũng và hành lang thoát nước cần được xem là hạ tầng thiết yếu, kết nối với hệ thống đê, cống, trạm bơm và các tuyến tiêu chính theo từng lưu vực.

    Theo ông Quỳnh, đơn vị tư vấn chống ngập cho thành phố cần quan tâm khảo sát mức độ và tốc độ lún đất, mức độ nước biển dâng một cách nghiêm túc để có cơ sở đánh giá cũng như đưa ra giải pháp chống ngập một cách khoa học.

    Phó Giám đốc Sở Xây dựng Lê Ngọc Linh cho biết, sau hợp nhất, thành phố có diện tích khoảng 6.778km², địa hình và chế độ thủy văn giữa các khu vực có sự khác biệt lớn. Toàn thành phố được chia thành 23 lưu vực chính, chịu tác động ngày càng rõ của thời tiết cực đoan, triều cường, nước biển dâng và sụt lún đất. Trong khi đó, một số quy hoạch trước đây không còn phù hợp. Đặc biệt, hệ thống kênh rạch, cống thoát nước và trạm bơm chưa đồng bộ, khiến khả năng kiểm soát và dành không gian cho thoát nước còn hạn chế.

    Vì vậy công tác chống ngập thời gian tới phải chuyển từ xử lý từng điểm sang quản lý tổng thể theo lưu vực. Đặc biệt, thành phố sẽ ưu tiên sớm hoàn thành hai công trình gồm: Công trình chống sạt lở bán đảo Thanh Đa (đoạn 2, 3, 4) và công trình giải quyết ngập do triều khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 1 trong tháng 11/2026 nhằm kiểm soát ngập do triều ở khu vực phía nam và phía đông thành phố.

    QUÝ HIỀN

    Nguồn https://baomoi.com/thanh-pho-ho-chi-minh-chat-vat-vi-ngap-ung-c56242959.epi

  • Xây dựng ‘bản đồ dân nguyện’

    Ông Lê Quang Quỳnh, Bí thư Đảng ủy xã Hiệp Đức trò chuyện với người dân. Ảnh: LÊ TRUNG

    “Bản đồ dân nguyện” có thể được hiểu là công cụ trực quan hóa và theo dõi toàn bộ vòng đời của ý kiến, kiến nghị của người dân, từ khi tiếp nhận đến khi xử lý và phản hồi. Cốt lõi là chuyển công tác dân nguyện từ việc ghi nhận, tổng hợp đơn thuần sang một quy trình có thể theo dõi, quản lý và giám sát theo trình tự: Tiếp nhận ➔ Phân loại ➔ Chuyển xử lý ➔ Theo dõi ➔ Đôn đốc ➔ Giám sát ➔ Phản hồi.

    Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý thông tin dân nguyện. Nếu kiến nghị chỉ được tổng hợp thành các danh mục trong báo cáo định kỳ, rất khó hình dung vấn đề đang tập trung ở đâu, thuộc trách nhiệm của cơ quan nào, đã được xử lý đến đâu, vì sao chậm trễ và vấn đề nào có nguy cơ tái diễn.

    Trong bối cảnh đó, ý tưởng xây dựng “Bản đồ dân nguyện” tại thành phố Đà Nẵng sẽ mở ra hướng tiếp cận mới: Chuyển dữ liệu kiến nghị của cử tri từ những thông tin rời rạc thành hệ thống dữ liệu có cấu trúc, có địa chỉ, có trạng thái và có thể theo dõi xuyên suốt quá trình giải quyết nhằm đổi mới phương thức nắm bắt tiếng nói nhân dân, nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử và hướng tới quản trị dân nguyện minh bạch, có trách nhiệm, dựa trên cơ sở dữ liệu.

    Dân nguyện trong không gian số

    Sau hợp nhất, Đà Nẵng có không gian phát triển rộng hơn. Cùng với việc tổ chức mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, yêu cầu phân định thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa thành phố với xã, phường dần dần trở nên rõ nét hơn.

    Quy mô không gian hành chính mở rộng đồng nghĩa các vấn đề dân sinh đa dạng, phức tạp hơn. Có kiến nghị chỉ liên quan đến một khu dân cư; có vấn đề liên quan nhiều địa bàn, nhiều ngành; có vấn đề thuộc thẩm quyền xã, phường, trong khi những vấn đề khác thuộc cấp thành phố hoặc phụ thuộc vào quy hoạch, nguồn lực đầu tư, trình tự thủ tục và quy định pháp luật…

    Thực tiễn từ ngày 1/7/2025 đến nay cho thấy quy mô công việc dân nguyện ngày càng lớn. Thường trực HĐND thành phố đã tổ chức 4 đợt để đại biểu HĐND thành phố tiếp xúc cử tri tại 122 điểm, tiếp nhận và tổng hợp 1.345 kiến nghị. Trong đó, 10 kiến nghị được chuyển cơ quan Trung ương; 1.096 kiến nghị chuyển UBND thành phố; 1 kiến nghị chuyển tòa án và 249 kiến nghị chuyển UBND các xã, phường.

    Những con số này cho thấy khối lượng thông tin dân nguyện lớn và phân bố trên nhiều cấp độ thẩm quyền. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không còn đơn giản là “tiếp nhận được bao nhiêu kiến nghị”, mà phải trả lời được: Kiến nghị đang ở đâu? Thuộc trách nhiệm của cơ quan nào? Đã được xử lý đến đâu? Đang vướng ở khâu nào? Vì sao chậm? Khi nào hoàn thành? Kết quả thực tế có giải quyết được vấn đề người dân phản ánh hay chưa? Nếu không trả lời được những câu hỏi đó, công tác dân nguyện dễ rơi vào tình trạng “đầu vào đầy đủ nhưng đầu ra khó đo lường”.

    Trong 6 tháng đầu năm 2026, Thường trực HĐND thành phố, các ban và các tổ đại biểu HĐND thành phố đã triển khai nhiều hình thức giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri; tổ chức khảo sát, giám sát tại các cơ quan, đơn vị; lồng ghép nội dung này vào các cuộc giám sát thường kỳ và tổ chức các phiên họp để UBND thành phố, các đơn vị liên quan giải trình, tháo gỡ khó khăn, xử lý những vấn đề nổi cộm.

    Tuy nhiên, thực tế vẫn cho thấy một số hạn chế trong tổng hợp, phân loại, theo dõi và trả lời kiến nghị của cử tri. Một số ý kiến còn chung chung, chưa xác định rõ nội dung, địa điểm, đối tượng hoặc vấn đề cần giải quyết; còn tình trạng kiến nghị trùng lặp, phân loại chưa đúng thẩm quyền, lĩnh vực hoặc chưa xác định rõ cơ quan chủ trì.

    Chất lượng trả lời ở một số cơ quan, đơn vị chưa đồng đều. Có trường hợp mới dừng ở cung cấp thông tin, nêu hiện trạng mà chưa làm rõ nguyên nhân, giải pháp, thời gian và lộ trình thực hiện. Một số vấn đề phức tạp, kéo dài trong các lĩnh vực đất đai, quy hoạch, giải phóng mặt bằng, hạ tầng, môi trường, dự án đầu tư… chưa được giải quyết dứt điểm.

    Đối với những vụ việc liên quan nhiều ngành, nhiều cấp, việc phối hợp đôi lúc chưa đồng bộ; quá trình chuyển, xin ý kiến và xử lý qua nhiều cơ quan làm kéo dài thời gian. Đáng chú ý, có trường hợp đã có kết luận hoặc hướng xử lý nhưng việc tổ chức thực hiện còn chậm, dẫn đến công dân tiếp tục kiến nghị nhiều lần. Công tác theo dõi, đôn đốc và giám sát ở một số lĩnh vực chưa thật sự đến cùng; chưa xác định rõ cá nhân hoặc đơn vị chịu trách nhiệm chính về tiến độ và kết quả cuối cùng.

    Ông Phạm Dục ghi phiếu khảo sát mức độ hài lòng khi đến giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Thạnh Bình. Ảnh: NGUYÊN ĐOAN

    Trong khi đó, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ tổng hợp, quản lý và theo dõi kiến nghị còn hạn chế, việc xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung chưa hoàn thiện, gây khó khăn trong tra cứu, thống kê, nhận diện các vụ việc tồn đọng, kéo dài hoặc tái diễn.

    Những hạn chế này cho thấy yêu cầu đổi mới không chỉ nằm ở khâu tiếp nhận và trả lời, mà phải bao quát toàn bộ vòng đời của một kiến nghị, từ tiếp nhận, phân loại, xác định thẩm quyền, chuyển xử lý đến theo dõi, đôn đốc, giám sát và xác nhận kết quả.

    Tại tọa đàm “Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tiếp xúc cử tri với đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND thành phố trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp” do Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố tổ chức, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Nguyễn Đình Vĩnh đã đặt vấn đề có nên nghiên cứu xây dựng “Bản đồ dân nguyện” của thành phố.

    Về bản chất, “Bản đồ dân nguyện” có thể được hiểu là hệ thống dữ liệu trực quan hóa các ý kiến, kiến nghị của cử tri theo địa bàn, lĩnh vực, cơ quan chịu trách nhiệm, thời điểm phát sinh, tiến độ và kết quả giải quyết. Theo cách tiếp cận này, mỗi kiến nghị không còn chỉ là một dòng trong bảng tổng hợp mà trở thành một “điểm dữ liệu” có hồ sơ và lịch sử xử lý.

    Khi lựa chọn một địa bàn, cơ quan dân cử có thể nhận diện những nhóm vấn đề được người dân phản ánh nhiều nhất. Khi lựa chọn một lĩnh vực, có thể theo dõi kiến nghị về đất đai, quy hoạch, giao thông, môi trường, an sinh xã hội… đang tập trung ở đâu và thuộc trách nhiệm của cơ quan nào.

    Quan trọng hơn, hệ thống có thể hiển thị trạng thái của từng kiến nghị: Đã hoàn thành, đang xử lý, quá hạn, chưa thể giải quyết hoặc tái diễn. Từ đó hình thành một “bức tranh dân nguyện” được cập nhật liên tục.

    Đây là điểm khác biệt giữa số hóa hồ sơ và quản trị dữ liệu dân nguyện. Nếu số hóa chỉ chuyển tài liệu giấy thành dữ liệu điện tử thì “Bản đồ dân nguyện” hướng đến biến dữ liệu thành công cụ phục vụ quản lý, giám sát và ra quyết định.

    Từ theo dõi từng kiến nghị đến nhận diện vấn đề

    Giá trị lớn hơn của “Bản đồ dân nguyện” không chỉ nằm ở khả năng theo dõi từng kiến nghị mà còn ở khả năng phát hiện xu hướng. Nếu một khu vực liên tục xuất hiện kiến nghị về ngập úng, giao thông, môi trường hoặc quy hoạch, dữ liệu có thể cho thấy đây không còn là những phản ánh đơn lẻ mà là vấn đề cần được xem xét ở phạm vi rộng hơn.

    Nếu cùng một vấn đề xuất hiện tại nhiều xã, phường, có thể thấy vấn đề đã vượt khỏi phạm vi một địa bàn và cần được nghiên cứu ở cấp thành phố. Nếu một kiến nghị lặp lại qua nhiều kỳ tiếp xúc cử tri, hệ thống có thể nhận diện đó là kiến nghị tái diễn hoặc tồn đọng.

    Đây sẽ là cơ sở để cơ quan dân cử lựa chọn nội dung khảo sát, giám sát, giải trình hoặc chất vấn. Theo hướng này, dữ liệu dân nguyện có thể trở thành một “bộ cảm biến” phản ánh những vấn đề phát sinh từ cơ sở.

    Hệ thống cũng có thể thiết lập cảnh báo đối với kiến nghị sắp đến hạn, quá hạn, tồn đọng hoặc được phản ánh nhiều lần. Lịch sử xử lý được lưu giữ sẽ giúp xác định vấn đề phát sinh từ thời điểm nào, đã được chuyển đến đâu, cơ quan nào trả lời và còn vướng mắc ở khâu nào. Đây là cơ sở để hoạt động giám sát chuyển mạnh từ giám sát theo báo cáo sang giám sát dựa trên dữ liệu và bằng chứng thực tiễn.

    Để xây dựng “Bản đồ dân nguyện”, cần một lộ trình phù hợp, bắt đầu từ chuẩn hóa quy trình, dữ liệu và trách nhiệm, trước khi mở rộng các tính năng công nghệ. Trước hết, cần thống nhất bộ tiêu chí dữ liệu và quy trình xử lý kiến nghị trên toàn thành phố; xây dựng mã định danh cho từng kiến nghị; thống nhất cách phân loại lĩnh vực, địa bàn, thẩm quyền và trạng thái xử lý.

    Tiếp đó, hình thành cơ sở dữ liệu dùng chung giữa các cơ quan liên quan, bảo đảm nguyên tắc liên thông, phân quyền, an toàn thông tin và trách nhiệm cập nhật dữ liệu. Trên nền tảng đó, từng bước phát triển các chức năng trực quan hóa, cảnh báo quá hạn, nhận diện kiến nghị tái diễn, phân tích theo địa bàn và lĩnh vực; đồng thời kết nối với các kênh tiếp nhận phản ánh, cơ chế giám sát của HĐND, hoạt động của Mặt trận và việc phản hồi kết quả cho cử tri.

    Từ những dữ liệu đó, cơ quan dân cử có thêm cơ sở xác định vấn đề cần giám sát; cơ quan quản lý có thêm căn cứ để điều hành; người dân có thêm thông tin để theo dõi kết quả giải quyết.

    MINH SƠN

    Nguồn https://baomoi.com/xay-dung-ban-do-dan-nguyen-c56242842.epi

  • Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV: Xứng đáng với niềm tin của nhân dân

    Phân cấp, phân quyền phải đi cùng nguồn lực, trách nhiệm

    Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc xin ý kiến nhiều vòng đối với công việc thuộc thẩm quyền. Đã được giao thẩm quyền thì phải quyết định và chịu trách nhiệm. Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, yêu cầu này càng có ý nghĩa khi nhiều nhiệm vụ được chuyển giao về cấp xã, đòi hỏi địa phương chủ động hơn trong giải quyết công việc. Tuy nhiên, phân cấp, phân quyền phải đi cùng thẩm quyền, nhân lực, kinh phí và cơ chế kiểm tra, giám sát tương ứng.

    Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND xã Cường Lợi, Thái Nguyên khảo sát thực tế công trình cấp nước sinh hoạt tập trung dẫn nước từ thôn Kéo Cà, xã Tân Tiến, tỉnh Lạng Sơn về xã Cường Lợi. Ảnh: Hương Ly

    Thực tiễn tại cơ sở cho thấy, nếu trách nhiệm giữa các cấp chưa rõ, nguồn lực chưa đáp ứng hoặc công việc thuộc thẩm quyền vẫn phải xin ý kiến nhiều vòng, việc giải quyết dễ kéo dài. Vì vậy, cần xác định rõ trách nhiệm của cấp giao việc và cấp thực hiện; việc thuộc thẩm quyền phải được chủ động xử lý, còn những vướng mắc vượt thẩm quyền cần được kịp thời tháo gỡ.

    Bà Nguyễn Thị Lựu, đại biểu HĐND xã Ia Nan (Gia Lai), chia sẻ: sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Chính phủ ban hành 28 nghị định phân cấp nhiệm vụ trên nhiều lĩnh vực về cấp xã. Tuy nhiên, việc triển khai tại cơ sở còn gặp khó khăn do năng lực, nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi khối lượng công việc tăng lên đáng kể sau sáp nhập. Điển hình là lĩnh vực tư pháp – hộ tịch, nhiều thủ tục hành chính trước đây thuộc cấp huyện được chuyển về cấp xã, khiến công chức quá tải.

    Một trong những lĩnh vực phân cấp nhưng gặp nhiều bất cập, vướng mắc ở cấp xã là đất đai, tình trạng quá hạn hồ sơ, lập văn bản xin ý kiến cấp trên xảy ra khá nhiều. Bất cập lớn nhất là phân cấp nhiệm vụ chưa đồng bộ với điều kiện thực thi, từ nhân lực, năng lực chuyên môn đến thẩm quyền và cơ chế hướng dẫn, hỗ trợ. Vì vậy, cần rà soát nhiệm vụ đã phân cấp, có phương án bổ sung, nâng cao chất lượng đội ngũ và làm rõ thẩm quyền xử lý.

    Cùng với phân cấp, phân quyền, Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, lấy kết quả công việc làm căn cứ đánh giá. Với cán bộ cơ sở, trách nhiệm phải thể hiện ở khả năng nắm chắc địa bàn, phối hợp xử lý và giải quyết công việc đến cùng; người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng thực hiện nhiệm vụ. Đây cũng là yêu cầu đặt ra với chính quyền địa phương trong đổi mới lề lối làm việc. Mỗi nhiệm vụ cần xác định rõ người chịu trách nhiệm, thời hạn hoàn thành và cơ chế kiểm tra kết quả.

    Lắng nghe dân, giám sát đến cùng việc thực hiện cam kết

    Nếu năng lực tổ chức thực hiện quyết định hiệu quả chủ trương thì khả năng lắng nghe, tiếp nhận và phản hồi ý kiến nhân dân là thước đo trách nhiệm của hệ thống chính trị. Phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phát huy dân chủ, khuyến khích cán bộ, đảng viên nói thẳng, nói có trách nhiệm; người đứng đầu phải cầu thị, lắng nghe cả những ý kiến khác với mình. Lắng nghe phải đi đôi với trả lời, giải quyết; nếu chưa thể tiếp thu phải giải thích rõ.

    Yêu cầu này đặt ra trách nhiệm đổi mới cả hoạt động giám sát của HĐND; tại phường Nam Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), việc theo dõi thực hiện nghị quyết về chất vấn, tái chất vấn cho thấy giám sát phải tiếp nối sau kỳ họp. Các vấn đề về đầu tư công, công trình dân sinh, trật tự đô thị, quản lý đất đai cần được đánh giá bằng tiến độ xử lý và chuyển biến thực tế. Nếu chưa giải quyết dứt điểm, cần tiếp tục theo dõi, yêu cầu giải trình, làm rõ trách nhiệm, không chờ đến kỳ họp sau. Đó cũng là cách cụ thể hóa yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, chấn chỉnh thiếu sót và kiểm tra việc khắc phục, bảo đảm kiến nghị chính đáng của người dân được giải quyết thực chất.

    “Giám sát chỉ thực sự có ý nghĩa khi kiến nghị của cử tri được theo dõi đến khi có kết quả. Có những vấn đề cần thời gian và sự phối hợp của nhiều cơ quan, nhưng phải xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm, thời hạn giải quyết và thông tin lại cho người dân. Nếu chưa thể thực hiện thì cần giải thích rõ nguyên nhân, lộ trình khắc phục; không để kiến nghị kéo dài mà người dân không biết đang được xử lý đến đâu”, đại biểu Nguyễn Thùy, xã Mai Phụ (Hà Tĩnh), chia sẻ.

    Vì vậy, HĐND cần chuyển từ theo dõi việc ban hành văn bản sang giám sát kết quả thực hiện; từ yêu cầu báo cáo chung sang làm rõ từng nhiệm vụ, thời hạn và trách nhiệm. Các cam kết sau chất vấn, kết luận sau giám sát phải được kiểm tra đến cùng, nhất là những vấn đề tồn tại kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Kết quả giải quyết cũng cần được thông tin công khai, dễ hiểu để cử tri theo dõi. Cùng với đó, HĐND cần phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, giám sát và phản biện xã hội. Ý kiến người dân vừa giúp phát hiện bất cập, vừa là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh cách làm, chính sách và nâng cao chất lượng phục vụ.

    Từ kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV có thể thấy, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu quả quản trị phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ và niềm tin của người dân. Với chính quyền địa phương 2 cấp, điều đó cần thể hiện qua từng quyết định đúng thẩm quyền, công việc đúng hạn, kiến nghị được phản hồi và trách nhiệm được thực hiện đến cùng. Khi phân cấp đi cùng nguồn lực, quyền hạn gắn với trách nhiệm, nêu gương thể hiện bằng kết quả và giám sát đi liền với phản hồi, chủ trương của Trung ương mới thực sự đi vào cuộc sống, góp phần xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của người dân.

    Bình Nguyên

    Nguồn https://baomoi.com/hoi-nghi-trung-uong-4-khoa-xiv-xung-dang-voi-niem-tin-cua-nhan-dan-c56242690.epi

  • Hà Nội triển khai các dự án cấp, thoát nước phù hợp thực tế: Tầm nhìn phát triển đô thị bền vững

    Tích hợp quy hoạch đa tầng

    Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng vừa ký ban hành Công văn số 5152/UBND-ĐT ngày 09/10/2026 về việc triển khai thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ về định hướng phát triển cấp, thoát nước đô thị và khu công nghiệp.

    Để đảm bảo cấp nước và thoát nước an toàn, thích ứng với biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đồng thời phù hợp với yêu cầu phát triển đô thị bền vững, UBND Thành phố giao Sở Xây dựng chủ động rà soát, tích hợp đầy đủ nội dung cấp nước, thoát nước trong quy hoạch: quy hoạch Tổng thể Thủ đô, quy hoạch chung xã, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật, chương trình phát triển đô thị; lập kế hoạch phát triển hệ thống cấp, thoát nước; xác định danh mục dự án ưu tiên; trên cơ sở nguồn lực được bố trí, tổ chức triển khai các dự án cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, chống ngập phù hợp với điều kiện thực tế.

    Đồng thời, Sở Xây dựng chủ trì xây dựng lộ trình giá nước sạch, giá dịch vụ thoát nước; tổ chức quản lý vùng phục vụ cấp nước; quản lý thoát nước theo lưu vực; triển khai cấp nước an toàn, giảm thất thoát nước, chống ngập úng đô thị, xử lý nước thải và xây dựng cơ sở dữ liệu cấp nước, thoát nước trên phạm vi Thành phố; tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng dịch vụ cấp nước, thoát nước theo phân cấp quản lý; công khai thông tin quy hoạch, các dự án cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, chống ngập; giá dịch vụ thoát nước, giá nước sạch.

    Sở Tài chính được giao chủ trì xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; lập kế hoạch thực hiện cụ thể; xác định danh mục dự án ưu tiên; bố trí nguồn lực; phối hợp với Sở Xây dựng trong quá trình xây dựng lộ trình giá nước sạch, giá dịch vụ thoát nước.

    Sở Y tế tăng cường kiểm tra, giám sát vệ sinh chất lượng nước tại các cơ sở sản xuất cấp nước, trên mạng lưới tiêu thụ nước và đặc biệt tại các khu đô thị theo quy định; kịp thời phát hiện, đôn đốc, nhắc nhở và xử lý theo thẩm quyền các trường hợp vi phạm quy định về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt, sản xuất cung cấp cho Nhân dân; tăng cường giám sát, đôn đốc các đơn vị cấp nước thực hiện nội kiểm chất lượng nước sạch theo quy định.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác cấp nước sạch nông thôn, tài nguyên nước, kiểm soát xả thải vào nguồn nước; nghiên cứu các giải pháp tái sử dụng nước; quản lý bùn thải theo quy định; chủ trì phối hợp với UBND các địa phương có liên quan (là Chủ đầu tư các dự án nước sạch nông thôn đang được giao quản lý) rà soát, phân loại, lập phương án giao, quản lý, khai thác các công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung có sử dụng vốn ngân sách nhà nước.

    Sở Khoa học và Công nghệ nghiên cứu triển khai các giải pháp chuyển đổi số ngành nước; nghiên cứu, hướng dẫn trong việc ứng dụng, chuyển giao công nghệ hiện đại, tiên tiến trong cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải,…

    UBND các phường, xã tích hợp đầy đủ các nội dung cấp nước, thoát nước trong các quy hoạch: quy hoạch chung xã, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết trên địa bàn được giao thực hiện. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp trong bảo vệ nguồn nước, bảo vệ hệ thống cấp nước, thoát nước, đấu nối đúng quy định, sử dụng nước tiết kiệm và không xả thải gây ô nhiễm môi trường.

    Ban Quản lý các Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp thực hiện chức năng quản lý nhà nước được giao về cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, chống úng ngập, tái sử dụng nước tại các Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp.

    Tầm nhìn phát triển đô thị bền vững

    Trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra với tốc độ chóng mặt và những tác động ngày càng rõ rệt của biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước và quản lý hạ tầng nước đô thị đang trở thành bài toán sống còn đối với các siêu đô thị như Hà Nội. Công văn số 5152/UBND-ĐT đã phản ánh sự chuyển dịch tư duy quản trị đô thị từ mô hình quản lý hạ tầng truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại dựa trên nền tảng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số và mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.

    Theo nội dung công văn, UBND Thành phố giao Sở Xây dựng chủ động rà soát, tích hợp đầy đủ nội dung cấp nước, thoát nước trong các loại quy hoạch từ quy hoạch Tổng thể Thủ đô đến quy hoạch chi tiết, chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật và chương trình phát triển đô thị. Việc tích hợp quy hoạch đa tầng giúp nội hóa không gian sinh thái vào trong không gian kinh tế đô thị, đảm bảo tính kết nối giữa không gian phát triển và năng lực chịu tải của hệ sinh thái.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao nghiên cứu các giải pháp tái sử dụng nước, quản lý bùn thải, rà soát phân loại các công trình cấp nước sạch nông thôn. Ban Quản lý các Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp quản lý việc tái sử dụng nước tại các Khu công nghiệp. Đây chính là định hướng chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn trong ngành nước, nơi nước thải không phải là “chất thải” cần vứt bỏ mà là nguồn tài nguyên thứ cấp có thể thu hồi, xử lý và tái sử dụng cho tưới tiêu, làm mát công nghiệp hoặc duy trì dòng chảy sinh thái. Quản lý bùn thải cũng biến chất thải rắn từ hệ thống xử lý nước thải thành phân bón hữu cơ hoặc vật liệu xây dựng, tạo ra giá trị kinh tế gia tăng và giảm thiểu áp lực chôn lấp rác thải.

    Bằng cách lồng ghép các nguyên tắc của kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số vào trong từng nhiệm vụ cụ thể của các sở ngành và địa phương, Hà Nội đang đi đúng hướng trên con đường xây dựng một đô thị thông minh, đáng sống và thích ứng với biến đổi khí hậu.

    Phúc Lâm

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-trien-khai-cac-du-an-cap-thoat-nuoc-phu-hop-thuc-te-tam-nhin-phat-trien-do-thi-ben-vung-c56242781.epi

  • Cán bộ nắm cơ sở, kịp thời giải quyết vướng mắc

    Lãnh đạo xã Mường Nhà kiểm tra diện tích trồng cà phê.

    Những năm qua, xã Mường Nhà chú trọng phát triển cây công nghiệp (mắc ca, cà phê) và các loại cây ăn quả. Tuy nhiên, quá trình triển khai tại một số bản còn gặp khó khăn, vướng mắc về đất canh tác, giống, kỹ thuật… Đơn cử tại các bản Na Phay, Na Khoang, Ban, Mường Lói đang chú trọng phát triển cây mắc ca, cà phê, tuy nhiên diện tích đất hạn chế, vướng quy hoạch 3 loại rừng nên việc mở rộng loại cây này gặp nhiều vướng mắc. Để tháo gỡ khó khăn, lãnh đạo xã Mường Nhà đã thường xuyên xuống cơ sở nắm tình hình. Mới đây, đoàn công tác do ông Lường Văn Biên, Phó Chủ tịch Thường trực UBND xã Mường Nhà đã kiểm tra thực tế diện tích cây trồng, gặp gỡ người dân, lắng nghe những khó khăn phát sinh trong quá trình sản xuất. Qua thực tế, lãnh đạo xã yêu cầu Phòng Kinh tế phối hợp với các bản tiếp tục rà soát, xác định cụ thể những diện tích có điều kiện phát triển cà phê, mắc ca; hướng dẫn người dân kỹ thuật trồng, chăm sóc, lựa chọn giống phù hợp với điều kiện thực tế.

    Cách làm này giúp chính quyền không chỉ biết người dân muốn phát triển cây gì mà còn xác định được người dân đang vướng ở khâu nào và chính quyền có thể hỗ trợ việc gì. Ông Lò Văn Nhung, Trưởng bản Na Phay chia sẻ: “Bà con muốn phát triển cà phê, mắc ca nhưng còn băn khoăn đất trồng, giống, kỹ thuật chăm sóc và hiệu quả lâu dài. Cán bộ xã xuống tận bản, trực tiếp đến khu vực sản xuất, trao đổi với người dân nên những vấn đề được làm rõ hơn. Bà con yên tâm vì khó khăn, kiến nghị được lắng nghe và có hướng tháo gỡ cụ thể”.

    Từ kiến nghị của nhân dân bản Thín, xã Chiềng Sinh, ngày 30/9, các đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã trực tiếp xuống khảo sát khu vực thác bản Thín, xem xét khả năng phát triển du lịch cộng đồng. Đoàn công tác đánh giá hiện trạng, rà soát những khó khăn trong quản lý, bảo vệ cảnh quan, đồng thời xác định những khu vực cần ưu tiên bảo vệ. Theo đồng chí Hà Cầm Hồng, Bí thư Đảng ủy xã Chiềng Sinh, qua khảo sát thực địa, địa phương có thêm cơ sở để nghiên cứu hướng vừa bảo tồn cảnh quan, vừa phát huy giá trị phục vụ phát triển du lịch cộng đồng khu vực thác bản Thín.

    Ngay sau đó, ngày 1/10, đồng chí Hà Cầm Hồng, Bí thư Đảng ủy xã Chiềng Sinh, trực tiếp gặp mặt, đối thoại với nhân dân bản Thín làm rõ những kiến nghị, đề xuất liên quan đến việc bảo tồn và phát huy giá trị thác bản Thín. Tại buổi đối thoại, Bí thư Đảng ủy xã yêu cầu các phòng, ban chuyên môn tiếp tục rà soát từng nội dung người dân phản ánh; phân định rõ những vấn đề thuộc thẩm quyền giải quyết của xã, những nội dung cần phối hợp với cấp trên, đồng thời đề xuất phương án tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc.

    Thực tiễn vận hành chính quyền địa phương 2 cấp cho thấy, cấp xã đang đứng trước yêu cầu lớn hơn cả về khối lượng và trách nhiệm. Từ ngày 1/7/2025, Điện Biên giảm từ 129 xuống 45 đơn vị hành chính cấp xã. Nhiều nhiệm vụ trước đây thuộc cấp huyện được triển khai trực tiếp tại xã, phường. Trong điều kiện ấy, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ phải nắm chắc địa bàn, hiểu và chịu trách nhiệm đến cùng với công việc được giao.

    Nắm cơ sở không đơn thuần là biết địa bàn đang có những gì, mà quan trọng hơn là biết người dân đang gặp khó khăn gì và vấn đề nào cần giải quyết. Trong đó, chính quyền không chờ kiến nghị được gửi đến mới xử lý, mà chủ động tìm đến nơi phát sinh vấn đề, gặp trực tiếp người dân để nghe và kiểm chứng thực tế. Từ đó, những phản ánh vốn còn chung chung được cụ thể hóa thành từng việc, từng địa bàn, từng nhóm khó khăn và gắn với trách nhiệm của cơ quan, cán bộ có liên quan.

    Thực tế cho thấy, khi cán bộ xuống bản, cùng người dân đi trên những diện tích sản xuất, đến những khu vực đang có kiến nghị hoặc ngồi lại trao đổi trực tiếp, nhiều vấn đề được nhìn nhận đầy đủ hơn. Có những việc thuộc thẩm quyền địa phương có thể giải quyết ngay; có những nội dung cần rà soát thêm về quy hoạch, đất đai, nguồn lực hoặc phối hợp với cơ quan cấp trên. Quan trọng hơn, người dân biết kiến nghị của mình đang được xử lý ở đâu, theo hướng nào, thay vì chỉ chờ đợi một câu trả lời chung chung.

    Trong bối cảnh Điện Biên đang tập trung thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, vai trò của chính quyền cơ sở càng rõ hơn. Những chuyển động tích cực ở cơ sở đang góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội chung của tỉnh. 9 tháng đầu năm 2026, GRDP của tỉnh ước tăng 9,81% so với cùng kỳ năm trước; nhiều lĩnh vực như công nghiệp, thương mại, du lịch, thu ngân sách, giải ngân đầu tư công và tạo việc làm có chuyển biến tích cực. Những tháng cuối năm, tỉnh tiếp tục tập trung thúc đẩy tăng trưởng, tăng tốc giải ngân, hoàn thành thu ngân sách, hỗ trợ sản xuất, bảo đảm an sinh xã hội, phấn đấu GRDP cả năm tăng 11,02%.

    Trong bối cảnh Điện Biên đang thực hiện nhiều nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân, yêu cầu này càng rõ hơn. Những chủ trương, chính sách cuối cùng đều được triển khai ở từng xã, từng bản. Vì vậy, xuống cơ sở không chỉ để nắm tình hình mà còn để cán bộ trực tiếp nhìn thấy vấn đề, nghe đúng điều người dân cần và xác định hướng giải quyết phù hợp. Khi chính quyền chủ động tìm đến nơi phát sinh khó khăn, những kiến nghị từ cơ sở được tiếp nhận và xử lý kịp thời hơn. Từ đó, khoảng cách giữa chính quyền với nhân dân được rút ngắn, hiệu quả quản lý được nâng lên, niềm tin của người dân được củng cố.

    Thu Phương

    Nguồn https://baomoi.com/can-bo-nam-co-so-kip-thoi-giai-quyet-vuong-mac-c56242813.epi

  • [Video] Thuế giao dịch bất động sản ‘2 giá’ vẫn xảy ra tại Hà Nội

    Cụ thể, Giai đoạn 2024 – 2025, thị trường bùng nổ, với mức tăng giá mạnh, người mua bị dẫn dắt bởi kỳ vọng tăng giá ngắn hạn và tâm lý “sợ bỏ lỡ cơ hội”. Nhưng đến 2026, thị trường trở nên trầm lắng, thanh khoản thấp, giao dịch chủ yếu là phân khúc giá thấp (nhà ở xã hội, nhà có giá hợp lý).

    HƯƠNG GIANG

    Nguồn https://baomoi.com/video-thue-giao-dich-bat-dong-san-2-gia-van-xay-ra-tai-ha-noi-c56242675.epi

  • Tiểu thương chợ hoa lớn nhất TPHCM mong diện mạo mới từ dự án gần 1.000 tỷ đồng

    Tại chợ hoa Hồ Thị Kỷ bên cạnh tuyến đường, hoạt động mua bán vẫn diễn ra nhưng ít nhiều khó khăn do đường nhỏ hẹp, nhếch nhác. Tiểu thương kỳ vọng tuyến đường mới sẽ thay đổi diện mạo khu vực, giúp việc vận chuyển, kinh doanh được thuận tiện hơn.

    Đình Tuyến

    Nguồn https://baomoi.com/tieu-thuong-cho-hoa-lon-nhat-tphcm-mong-dien-mao-moi-tu-du-an-gan-1-000-ty-dong-c56242669.epi

  • TP. Hồ Chí Minh: Hoàn thiện cơ chế phát triển văn hóa, kinh tế ban đêm

    Tạo động lực phát triển kinh tế ban đêm

    TP. Hồ Chí Minh định hướng phát triển kinh tế ban đêm linh hoạt theo từng khu vực, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, môi trường

    Ban Văn hóa – Xã hội HĐND TP. Hồ Chí Minh đang rà soát công tác chuẩn bị những dự thảo nghị quyết thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, dự kiến trình Kỳ họp thứ Sáu HĐND thành phố.

    Theo đó, Sở Văn hóa và Thể thao dự kiến tham mưu UBND thành phố 11 nội dung, trong đó có 10 nội dung triển khai Luật Phát triển đô thị. Trọng tâm rà soát là 5 dự thảo liên quan đến phát triển kinh tế ban đêm, hỗ trợ người thực hành di sản, bảo vệ công trình có giá trị, hoàn thiện danh mục di sản và quy trình tu bổ di tích.

    Đối với chính sách phát triển kinh tế ban đêm, Ban Văn hóa – Xã hội HĐND thành phố cơ bản thống nhất chủ trương trình nghị quyết tại kỳ họp tới, đồng thời đề nghị làm rõ cơ chế thu hút người dân, du khách tham gia.

    Trong đó, dự thảo cần xác định cụ thể những hoạt động, sự kiện được ngân sách thành phố hỗ trợ; phạm vi, tiêu chí công nhận khu, tuyến, điểm kinh tế ban đêm. Khung giờ hoạt động cần linh hoạt theo đặc điểm từng khu vực, bảo đảm yêu cầu về an ninh trật tự, phòng cháy, chữa cháy, giao thông và môi trường.

    Những đề xuất ưu đãi thuế, tiền thuê đất, xúc tiến quảng bá cũng cần được rà soát kỹ về thẩm quyền, điều kiện áp dụng. Mục tiêu là hình thành cơ chế đủ sức thúc đẩy hoạt động kinh tế ban đêm, đồng thời bảo đảm trật tự đô thị, chất lượng sống của người dân.

    Với chính sách hỗ trợ nghệ nhân, người thực hành di sản văn hóa, người trực tiếp làm việc tại di tích, Ban đề nghị phân định rõ từng nhóm đối tượng để tránh chồng chéo.

    Chính sách đãi ngộ người được Nhà nước phong tặng danh hiệu cần được nghiên cứu trong một cơ chế chung, bảo đảm sự đồng bộ giữa những lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế. Riêng dự thảo nghị quyết này tập trung hỗ trợ câu lạc bộ thực hành di sản văn hóa phi vật thể, người trông coi di tích, chi phí hoạt động của di tích xếp hạng không thuộc sở hữu toàn dân.

    Việc xác định đúng đối tượng thụ hưởng sẽ giúp nguồn lực hỗ trợ đến với những tổ chức, cá nhân trực tiếp gìn giữ, thực hành, truyền dạy di sản trong cộng đồng.

    Hoàn thiện chính sách bảo tồn di sản

    TP. Hồ Chí Minh rà soát, hoàn thiện danh mục di sản văn hóa, lịch sử, công trình kiến trúc có giá trị để ưu tiên bảo tồn, phát huy sau sắp xếp

    Đối với chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia tôn tạo, bảo vệ khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, công trình kiến trúc có giá trị, Ban Văn hóa – Xã hội HĐND thành phố đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ đối tượng hỗ trợ, tiêu chí lựa chọn công trình, trình tự thực hiện, phương thức thanh quyết toán kinh phí.

    Những quy định này cần đủ cụ thể để có thể áp dụng ngay sau khi nghị quyết được thông qua, hạn chế phát sinh vướng mắc trong quá trình triển khai.

    Một nội dung khác được quan tâm là hoàn thiện danh mục di sản, khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, công trình kiến trúc cần tập trung nguồn lực bảo vệ trong không gian TP. Hồ Chí Minh sau sắp xếp.

    Ban đề nghị chuẩn hóa tên gọi di sản văn hóa phi vật thể, thống nhất biểu mẫu phụ lục, cập nhật đầy đủ biệt thự nhóm 1, nhóm 2, tượng đài, công trình nghệ thuật tiêu biểu. Đặc biệt, cần tiếp tục rà soát những công trình, biệt thự thuộc khu vực Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu trước đây, bảo đảm danh mục phù hợp không gian phát triển mới.

    Đối với quy trình bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt, Ban đề nghị chỉ quy định nội dung thuộc thẩm quyền được Luật Phát triển đô thị giao, không mở rộng sang lĩnh vực quy hoạch di tích.

    Sở Văn hóa và Thể thao được đề nghị làm đầu mối chủ trì thẩm định liên ngành. Quy trình tham vấn Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cơ chế báo cáo UBND thành phố khi phát sinh ý kiến khác nhau giữa những cơ quan liên quan cũng cần được xác định rõ.

    Theo Trưởng Ban Văn hóa – Xã hội HĐND thành phố Cao Thanh Bình, với số lượng nội dung dự kiến trình Kỳ họp thứ Sáu khá lớn, chất lượng, tính khả thi của từng chính sách phải được đặt lên hàng đầu. Các dự thảo cần bám sát thẩm quyền được giao, hạn chế quy định lại nội dung pháp luật hiện hành; xác định rõ đối tượng, điều kiện, tiêu chí, trình tự thực hiện, trách nhiệm của từng cơ quan.

    Việc hoàn thiện những nghị quyết lần này hướng tới xây dựng cơ chế phù hợp đặc thù TP. Hồ Chí Minh, tạo điều kiện huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy kinh tế ban đêm, bảo tồn di sản, phát huy giá trị văn hóa trong không gian đô thị mới.

    Thạc Hiếu

    Nguồn https://baomoi.com/tp-ho-chi-minh-hoan-thien-co-che-phat-trien-van-hoa-kinh-te-ban-dem-c56242668.epi

  • Các thị trấn Hàn Quốc cạnh tranh xây nhà tù để cứu kinh tế khi dân số giảm

    Các huyện Cheongsong và Yeongdeok thuộc tỉnh Bắc Gyeongsang, thành phố Jecheon và huyện Boeun thuộc tỉnh Bắc Chungcheong nằm trong số những địa phương tham gia cuộc đua này.

    Theo Bộ Tư pháp Hàn Quốc, chính phủ đang tìm địa điểm xây dựng 4 cơ sở cải huấn mới nhằm giải quyết tình trạng quá tải nhà tù và cơ sở hạ tầng xuống cấp. Mỗi cơ sở có sức chứa 1.000 tù nhân, dự kiến tuyển dụng 250 nhân viên thường trực và cần diện tích đất tối thiểu 192.000m².

    Tổng chi phí xây dựng 4 cơ sở ước tính 967,6 tỉ won (khoảng 680 triệu USD). Các dự án được triển khai theo hình thức xây dựng, chuyển giao và cho thuê, theo đó doanh nghiệp tư nhân xây dựng công trình, chuyển giao quyền sở hữu cho chính phủ và nhận tiền thuê từ việc khai thác công trình.

    Ảnh minh họa: AI

    Cạnh tranh giành dự án

    Cheongsong đang tận dụng kinh nghiệm nhiều thập kỷ tiếp nhận các cơ sở cải huấn để vận động giành thêm dự án. Huyện hiện có 4 cơ sở, gồm các trại giam số 1, 2 và 3 tỉnh Bắc Gyeongsang cùng Trại giam đào tạo nghề Bắc Gyeongsang, thuộc nhóm địa phương tập trung nhiều cơ sở cải huấn nhất cả nước.

    Chính quyền huyện kỳ vọng hoàn thiện mô hình mà họ gọi là “thị trấn cải huấn”, dựa trên hơn 40 năm kinh nghiệm chung sống với các cơ sở giam giữ và sự chấp nhận của người dân địa phương.

    Ngày 23.9, Hội đồng huyện Cheongsong, đại diện các thôn thuộc xã Jinbo và người dân đã tổ chức chiến dịch vận động nhằm ủng hộ kế hoạch xây dựng thêm cơ sở cải huấn.

    “Cheongsong có đầy đủ các điều kiện cần thiết, bao gồm cả diện tích đất chưa sử dụng trong khuôn viên các cơ sở giam giữ hiện có, riêng diện tích này đã vượt xa yêu cầu 190.000m² của Bộ Tư pháp”, Thị trưởng huyện Cheongsong Yoon Kyung-hee cho biết. Bà khẳng định địa phương sẽ dựa vào kinh nghiệm tích lũy trong hơn 40 năm và sự ủng hộ của người dân để giành được dự án.

    Huyện Yeongdeok lân cận cũng tham gia cuộc đua với kỳ vọng thúc đẩy phát triển cân bằng và tạo động lực tăng trưởng kinh tế mới.

    Sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký của các cộng đồng từ ngày 21.9 đến 1.10, chính quyền huyện ghi nhận 4 ngôi làng bày tỏ sự quan tâm. Yeongdeok dự kiến lựa chọn địa điểm dựa trên các tiêu chí như mức độ phù hợp của khu đất và khả năng tiếp cận, đồng thời xem xét hỗ trợ kinh phí bổ sung trong vài năm cho cộng đồng được lựa chọn.

    “Chúng tôi sẽ tiến hành một cách thận trọng, có tính đến đánh giá của ủy ban tuyển chọn nội bộ, điều kiện địa phương và sự phát triển cân bằng giữa phía bắc và phía nam Yeongdeok”, Thị trưởng huyện Cho Joo-hong cho biết.

    Tại Jecheon, ngày 30.9, ủy ban lựa chọn địa điểm đã chọn làng Dohwa 1-ri thuộc thị trấn Songhak cùng các khu dân cư Sangok 1 và Sangok 2 tại Hwasan-dong vào vòng cuối, trong số 16 cộng đồng đăng ký. Một cuộc khảo sát dư luận hồi tháng 8 cho thấy 61,7% cư dân thành phố ủng hộ dự án.

    “Chúng tôi sẽ tiến hành quy trình đấu thầu một cách minh bạch và công bằng”, Thị trưởng Jecheon, ông Lee Sang-cheon, cho biết.

    Trong khi đó, huyện Boeun đã nhận hồ sơ đăng ký từ 16 ngôi làng và lựa chọn 3 địa điểm vào vòng cuối. Chính quyền huyện đang vận động người dân ký tên ủng hộ đến hết ngày 30.10, đồng thời dự kiến hỗ trợ 1 tỷ won từ ngân sách nhà nước cho ngôi làng được chọn để xây dựng cơ sở.

    Kỳ vọng tạo động lực kinh tế

    Trước đây, các dự án xây dựng nhà tù thường vấp phải sự phản đối của người dân do lo ngại ảnh hưởng đến hình ảnh địa phương và làm giảm giá trị bất động sản. Điều này khiến việc tìm kiếm địa điểm xây dựng các cơ sở mới gặp nhiều khó khăn.

    Tuy nhiên, trong bối cảnh dân số suy giảm, một số địa phương kỳ vọng nhà tù có thể mang lại lợi ích kinh tế đáng kể. Việc nhân viên trại giam cùng gia đình chuyển đến sinh sống có thể bổ sung cư dân thường trú, trong khi hoạt động thăm nuôi tạo thêm chi tiêu cho các dịch vụ địa phương. Các cơ sở này cũng có thể thúc đẩy tiêu thụ nông sản và hàng hóa sản xuất tại chỗ.

    “Tác động kinh tế của việc xây dựng một cơ sở giam giữ ước tính vào khoảng 800 tỉ won”, Thị trưởng huyện Boeun Choi Jae-hyeong cho biết.

    Bộ Tư pháp Hàn Quốc dự kiến trang bị cho các cơ sở mới công nghệ phân tích hình ảnh bằng trí tuệ nhân tạo (AI), hệ thống giám sát thông minh và hệ thống kiểm soát ra vào hiện đại.

    Một số hạng mục như bãi đỗ xe, cơ sở thể thao và công viên sẽ được mở cửa cho người dân địa phương. Bộ cũng có kế hoạch tăng cường tuyển dụng lao động tại chỗ và mua hàng hóa sản xuất trong nước.

    KHÁNH MY

    Nguồn https://baomoi.com/cac-thi-tran-han-quoc-canh-tranh-xay-nha-tu-de-cuu-kinh-te-khi-dan-so-giam-c56242706.epi

  • Hải Phòng dự kiến phát triển 15.000 căn nhà cho thuê đến năm 2030

    Theo kế hoạch phát triển nhà ở cho thuê giai đoạn 2026-2030, Hải Phòng dự báo nhu cầu thuê nhà trên địa bàn thành phố khoảng 20.000 căn. Thành phố đặt mục tiêu phát triển khoảng 15.000 căn theo dự án, đồng thời khuyến khích hộ gia đình, cá nhân xây dựng, nâng cấp nhà ở cho thuê để đáp ứng phần nhu cầu còn lại.

    Dự án nhà ở xã hội Việt Tín 1 tại phường Kiến An, Hải Phòng dự kiến cung cấp 249 căn hộ để bán và 79 căn hộ cho thuê. Ảnh: Lưu An.

    Qua khảo sát của UBND thành phố, khoảng 47.822 lao động có nhu cầu về nhà ở cho thuê, với nhu cầu thực ước tính khoảng 15.000 căn hộ. Đây là nhóm có nhu cầu lớn nhất, chủ yếu là công nhân, người lao động tại các khu công nghiệp, khu kinh tế.

    Nhu cầu thuê nhà còn đến từ các hộ dân thuộc diện di dời tại 177 chung cư cũ nguy hiểm, với hơn 9.000 hộ; khoảng 4.300 hộ không đủ điều kiện mua nhà ở xã hội; học sinh, sinh viên có nhu cầu thuê khoảng 500 căn hộ và cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang có nhu cầu thuê khoảng 200 trường hợp.

    Theo kế hoạch, Hải Phòng dự kiến phát triển 1.000 căn nhà cho thuê trong năm 2026, 3.000 căn trong năm 2027, 3.000 căn năm 2028, 3.000 căn năm 2029 và 5.000 căn năm 2030.

    Trong cơ cấu nguồn cung nhà ở cho thuê giai đoạn 2026-2030, thành phố dự kiến phát triển khoảng 6.724 căn nhà lưu trú công nhân; 2.664 căn tại các dự án nhà ở xã hội đang triển khai; 1.108 căn từ các dự án nhà ở xã hội mới; 905 căn thông qua cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ; 800 căn từ các dự án đầu tư công và 4.839 căn từ việc Quỹ nhà ở địa phương mua căn hộ nhà ở xã hội để cho thuê.

    Đối với nhà lưu trú công nhân, Hải Phòng tập trung hoàn thành 3.924 căn hộ tại các dự án thuộc Khu chức năng dịch vụ – Khu công nghiệp Đại An mở rộng và Khu công nghiệp An Phát I. Thành phố đồng thời định hướng phát triển thêm khoảng 2.800 căn hộ trong giai đoạn 2026-2030.

    Tại các dự án nhà ở xã hội đang triển khai, thành phố đặt mục tiêu hoàn thành 2.664 căn phục vụ cho thuê trong giai đoạn này. Với các dự án nhà ở xã hội mới, định hướng khoảng 10-20% số căn hộ được dành cho thuê. Đối với nhà ở thương mại, thành phố khuyến khích chủ đầu tư bố trí một phần quỹ căn hộ cho thuê, ưu tiên vị trí gần khu công nghiệp, khu kinh tế, trung tâm đô thị và các đầu mối giao thông.

    Hải Phòng cũng dự kiến hỗ trợ giảm chi phí đầu vào thông qua việc ưu tiên quỹ đất sạch, đất đã có hạ tầng, quỹ đất phát triển nhà ở xã hội và quỹ đất công sử dụng chưa hiệu quả; đồng thời hướng dẫn các chủ thể đầu tư tiếp cận chương trình tín dụng ưu đãi theo quy định.

    Từ năm 2021 đến nay, Hải Phòng đã, đang và sắp triển khai 67 dự án nhà ở xã hội với tổng quy mô khoảng 85.002 căn. Số căn dự kiến hoàn thành trong giai đoạn 2021-2030 là 60.359 căn, bằng 122% chỉ tiêu Chính phủ giao là 49.400 căn.

    Trong số này, 13 dự án có quỹ căn cho thuê với khoảng 3.602 căn. Hiện có 747 căn đã hoàn thành, đủ điều kiện đưa vào sử dụng, trong đó 605 căn đang được thuê ổn định, đạt tỷ lệ 81,31%. Giá thuê dao động khoảng 59.000-105.000 đồng/m²/tháng.

    Đối với nhà lưu trú công nhân, khu vực phía Đông thành phố đã đưa vào sử dụng 2 dự án với 1.340 căn hộ, đáp ứng nhu cầu chỗ ở cho khoảng 4.800 người. Tại khu vực phía Tây, 2 dự án với khoảng 3.924 căn hộ đang được triển khai, dự kiến hoàn thành trong quý IV/2027.

    Ngoài các dự án nhà ở xã hội và nhà lưu trú công nhân, Hải Phòng hiện có 14.982 căn hộ thuộc nhóm nhà ở tài sản công và nhà ở công vụ. Trong đó, có 12 căn nhà ở công vụ tại số 75 Chu Văn An, 2.156 căn nhà ở sinh viên, 8.338 căn nhà ở thuộc tài sản công hình thành qua nhiều thời kỳ và khoảng 4.476 căn tại 14 chung cư mới thuộc tài sản công.

    Theo thông tin từ UBND thành phố, hiện phần lớn nhu cầu chỗ ở của công nhân, người lao động được đáp ứng qua khoảng 9.700 nhà trọ do hộ gia đình, cá nhân tự đầu tư. Một bộ phận nhà trọ chưa đáp ứng các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, diện tích ở tối thiểu, vệ sinh môi trường, đăng ký kinh doanh và quản lý cư trú.

    Đối với hoạt động đầu tư nhà ở xã hội cho thuê, thành phố cho biết việc thu hút doanh nghiệp còn gặp khó khăn do chính sách ưu đãi đầu tư chưa đủ mạnh, giá thuê bị khống chế trong khi thời gian hoàn vốn kéo dài. Theo Luật Nhà ở năm 2023, chủ đầu tư được quyết định hình thức bán, cho thuê hoặc cho thuê mua theo quy định.

    Giai đoạn 2026-2030, Hải Phòng định hướng phát triển hệ thống nhà ở cho thuê tại các khu vực lân cận khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu kinh tế và đầu mối giao thông công cộng, phục vụ công nhân, người lao động và các nhóm đối tượng chính sách.

    Video: Hải Phòng: Phấn đấu hoàn thành vượt chỉ tiêu nhà ở xã hội. Nguồn: Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng.

    Thúy Hồng

    Nguồn https://baomoi.com/hai-phong-du-kien-phat-trien-15-000-can-nha-cho-thue-den-nam-2030-c56242634.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!