Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Giải ngân đầu tư công: Chấm điểm tiến độ, siết trách nhiệm thực hiện

    Chấm điểm giải ngân gắn với tiến độ thực tế

    Theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án chấm điểm các bộ, cơ quan trung ương, địa phương về thực hiện giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công, việc giải ngân được đánh giá theo tháng và quý. Cơ chế này nhằm theo dõi sát tiến độ, nhận diện những bộ, ngành, địa phương thực hiện chậm và tạo thêm căn cứ để đôn đốc, thúc đẩy giải ngân.

    Theo báo cáo của Bộ Tài chính về kết quả chấm điểm kỳ tháng 9 và quý III/2026, việc chấm điểm được triển khai thí điểm trong các tháng 7, 8 và 9 trước khi áp dụng chính thức từ tháng 10.

    Thi công hầm đường bộ Hoàng Liên kết nối giữa tỉnh Lào Cai và tỉnh Lai Châu. Ảnh: An Thư

    Điểm đáng chú ý là kết quả đánh giá hàng tháng không chỉ căn cứ vào tỷ lệ giải ngân thực tế so với bình quân chung cả nước, mà còn xem xét mức độ hoàn thành kế hoạch giải ngân tháng do đơn vị đăng ký và việc chấp hành chế độ báo cáo. Với kỳ đánh giá theo quý, trọng tâm là kết quả giải ngân lũy kế so với bình quân chung cả nước đến hết quý.

    Theo Bộ Tài chính, việc đưa kế hoạch giải ngân đã đăng ký vào tiêu chí chấm điểm nhằm thúc đẩy các đơn vị chủ động hơn trong tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, hiệu quả của tiêu chí này phụ thuộc vào tính thực chất của kế hoạch đăng ký. Nếu đặt mục tiêu quá thấp để dễ hoàn thành, điểm số có thể cao nhưng chưa phản ánh đúng năng lực giải ngân. Ngược lại, kế hoạch vượt xa khả năng thực hiện cũng khó trở thành căn cứ đánh giá hữu ích.

    Kết quả chấm điểm tháng 9 cho thấy sự phân hóa giữa các nhóm. Với kế hoạch vốn kéo dài, có 6 bộ, cơ quan trung ương và 21 địa phương đạt từ 90 điểm trở lên; trong khi 11 bộ, cơ quan trung ương và 4 địa phương đạt dưới 60 điểm.

    Đối với kế hoạch vốn năm 2026, nhóm đạt từ 90 điểm trở lên gồm 10 bộ, cơ quan trung ương và 23 địa phương. Đồng thời có 7 bộ, cơ quan trung ương và 1 địa phương đạt dưới 60 điểm.

    Kết quả chấm điểm quý III tiếp tục cho thấy sự khác biệt. Với kế hoạch vốn kéo dài, có 9 bộ, cơ quan trung ương và 23 địa phương đạt từ 90 điểm trở lên; 10 bộ, cơ quan trung ương và 3 địa phương đạt dưới 60 điểm.

    Với kế hoạch vốn năm 2026, nhóm đạt từ 90 điểm trở lên gồm 17 bộ, cơ quan trung ương và 16 địa phương. Trong khi đó, 9 bộ, cơ quan trung ương và 2 địa phương đạt dưới 60 điểm.

    Chấm điểm thử để điều chỉnh cách đánh giá

    Tại cuộc họp báo thường kỳ quý III/2026 của Bộ Tài chính ngày 6/10, bà Nguyễn Thị Quế Hương – Phó Vụ trưởng Vụ Đầu tư và Phát triển hạ tầng cho biết, việc chấm điểm giải ngân được thực hiện tự động trên hệ thống, căn cứ vào số liệu giải ngân thực tế và số liệu đăng ký kế hoạch giải ngân do các bộ, ngành, địa phương cập nhật. Cách làm này hướng tới bảo đảm tính minh bạch, khách quan trong đánh giá.

    Đáng chú ý, quá trình chấm điểm thử đã bộc lộ một vấn đề cần điều chỉnh: có trường hợp đạt điểm cao do hoàn thành số vốn đăng ký giải ngân trong tháng, nhưng tỷ lệ giải ngân thực tế vẫn thấp hơn mức bình quân chung cả nước.

    Gắn chấm điểm với trách nhiệm và kết quả giải ngân

    Theo Bộ Tài chính, khi thời gian thực hiện kế hoạch vốn năm 2026 còn lại không nhiều, việc theo dõi tiến độ theo tháng và quý càng cần được gắn với các nhiệm vụ cụ thể. Kết quả chấm điểm chỉ có ý nghĩa khi giúp cơ quan quản lý xác định đúng nguyên nhân chậm giải ngân, làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị và thúc đẩy việc thực hiện kế hoạch vốn bằng kết quả thực tế.

    Điều này cho thấy nếu chỉ căn cứ vào mức độ hoàn thành kế hoạch tháng đã đăng ký, điểm số có thể chưa phản ánh đầy đủ kết quả thực tế. Vì thế, một đơn vị hoàn thành mục tiêu do mình đặt ra chưa hẳn đã có tiến độ giải ngân tốt so với mặt bằng chung.

    Trước vấn đề này, bà Hương cho biết, Bộ Tài chính sẽ điều chỉnh cách đánh giá, xếp loại để kết quả áp dụng từ kỳ tháng 10 phản ánh sát hơn tình hình giải ngân thực tế, đồng thời khuyến khích các đơn vị đăng ký tiến độ phù hợp với khả năng thực hiện và có tính phấn đấu.

    Theo bà Hương, đây là điểm quan trọng trong quá trình hoàn thiện cơ chế. Kế hoạch đăng ký cần bám sát tiến độ dự án, khả năng triển khai và thanh toán vốn, đồng thời tính đến những khó khăn khách quan, bất khả kháng. Khi phát sinh vướng mắc, các đơn vị cần cập nhật kịp thời, làm rõ nguyên nhân và biện pháp xử lý, thay vì chờ đến cuối kỳ mới giải trình kết quả thấp.

    Chấm điểm theo tháng và theo quý có tiêu chí khác nhau nhưng bổ sung cho nhau. Đánh giá hàng tháng xem xét cả mức độ hoàn thành kế hoạch đã đăng ký và việc chấp hành chế độ báo cáo; đánh giá theo quý tập trung vào kết quả giải ngân lũy kế so với bình quân chung cả nước. Qua đó, cơ quan quản lý có thể theo dõi cả tiến độ từng tháng lẫn kết quả tích lũy qua một giai đoạn.

    Tại cuộc họp báo thường kỳ Chính phủ diễn ra vào tháng 7/2026, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương cũng đã cho biết, việc chấm điểm theo tháng, quý nhằm nhắc nhở, đôn đốc, thậm chí cảnh báo các cơ quan có kết quả giải ngân thấp. Kết quả đánh giá cả năm cũng là một căn cứ phục vụ đánh giá chất lượng công tác của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu trong thực hiện giải ngân vốn đầu tư công.

    Như vậy, cơ chế chấm điểm không chỉ nhằm phân nhóm đơn vị theo kết quả, mà còn hướng tới tăng trách nhiệm trong tổ chức thực hiện. Kết quả đánh giá cần giúp nhận diện sớm những nơi chậm tiến độ, từ đó yêu cầu làm rõ nguyên nhân và có biện pháp khắc phục ngay trong quá trình triển khai.

    Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về tiến độ giải ngân

    Bộ Tài chính cho biết, khi việc chấm điểm chính thức được áp dụng từ tháng 10, chất lượng dữ liệu sẽ trở thành một yêu cầu quan trọng. Theo đó, các bộ, ngành, địa phương cần cập nhật đầy đủ, kịp thời, chính xác số liệu trên Hệ thống cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia, bảo đảm thông tin phục vụ chấm điểm phản ánh đúng tình hình thực hiện.

    Theo Bộ Tài chính, dữ liệu không chính xác hoặc cập nhật chậm có thể ảnh hưởng đến kết quả đánh giá. Vì vậy, các đơn vị cần rà soát số liệu giải ngân, kế hoạch đã đăng ký và thông tin báo cáo, bảo đảm tính thống nhất giữa các nội dung. Đồng thời, việc đăng ký kế hoạch hàng tháng phải gắn với tiến độ thực tế của dự án, tránh hình thức hoặc đặt mục tiêu thiếu căn cứ.

    Trong thực tế, giải ngân vốn đầu tư công chịu tác động từ nhiều khâu, như hoàn thiện thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng, tổ chức thi công, nghiệm thu khối lượng và hoàn thiện hồ sơ thanh toán. Do đó, khi một đơn vị có kết quả thấp, cần làm rõ nguyên nhân cụ thể thay vì chỉ nhìn vào điểm số. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý mới có thể xác định đúng điểm nghẽn, yêu cầu xử lý và quy rõ trách nhiệm.

    Với người đứng đầu đơn vị, kết quả chấm điểm là thêm một căn cứ để theo dõi tiến độ và đánh giá việc tổ chức thực hiện kế hoạch vốn. Những đơn vị liên tục nằm trong nhóm điểm thấp cần làm rõ nguyên nhân, xác định trách nhiệm theo từng khâu và đưa ra biện pháp khắc phục có thời hạn. Các đơn vị đạt kết quả tốt cũng cần duy trì tiến độ thực chất, không chỉ tập trung hoàn thành mức vốn đã đăng ký.

    Ngoài ra Bộ Tài chính cũng lưu ý, cơ chế chấm điểm giúp cơ quan quản lý nhận diện sớm những đơn vị chậm tiến độ, nhưng việc cải thiện kết quả vẫn phụ thuộc vào khả năng xử lý vướng mắc tại từng dự án. Do đó, các bộ, ngành và địa phương cần chủ động rà soát khối lượng công việc còn lại, tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai và đẩy nhanh thủ tục thanh toán. Người đứng đầu phải theo dõi sát quá trình thực hiện, kịp thời chỉ đạo xử lý những khâu ách tắc và chịu trách nhiệm về kết quả thuộc phạm vi quản lý.

    Vân Hà

    Nguồn https://baomoi.com/giai-ngan-dau-tu-cong-cham-diem-tien-do-siet-trach-nhiem-thuc-hien-c56255225.epi

  • Dân chủ từ việc dân cần

    ĐBP – Dân chủ ở cơ sở được nhận diện rõ nhất từ những việc gần gũi với đời sống. Khi người dân được biết, được bàn, được tham gia và giám sát, mỗi ý kiến chính đáng được tôn trọng, sự đồng thuận được bồi đắp từ những việc cụ thể.

    Cuộc đối thoại về phát triển vùng nguyên liệu dứa tại xã Na Sang mới đây là một trong những hoạt động cụ thể phát huy quyền làm chủ của người dân. Những băn khoăn về mở rộng diện tích, kỹ thuật canh tác, hỗ trợ giống, phân bón và đầu ra sản phẩm được bà con trực tiếp trao đổi với cấp ủy, chính quyền địa phương. Tại cuộc đối thoại, lãnh đạo xã và cơ quan chuyên môn đã giải đáp nội dung người dân quan tâm; những kiến nghị thuộc thẩm quyền được cam kết giải quyết, vấn đề vượt thẩm quyền được tổng hợp, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét. Việc lắng nghe, trao đổi trực tiếp giúp chính quyền nắm sát nhu cầu thực tế, tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai chủ trương phát triển kinh tế.

    Không riêng lĩnh vực sản xuất, việc công khai, lấy ý kiến người dân được xã Na Sang chú trọng trong triển khai các dự án, nhất là nội dung liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng. Ông Vũ Văn Thắng, Trưởng bản Na Pheo cho biết, các chủ trương, phương án liên quan trực tiếp đến quyền lợi của bà con đều được chính quyền địa phương tổ chức họp bàn, công khai để người dân nắm rõ, tham gia ý kiến và trao đổi những vấn đề còn băn khoăn. Qua đó, người dân có điều kiện thực hiện quyền làm chủ, cùng chính quyền tháo gỡ vướng mắc ngay từ cơ sở.

    Cùng với phát huy dân chủ trong bàn bạc, quyết định các công việc chung, xã Na Sang chú trọng tiếp công dân, giải quyết kiến nghị, phản ánh. Từ đầu năm đến nay, xã đã tiếp 20 lượt công dân đến phản ánh, kiến nghị về những vấn đề liên quan đến đất đai, vụ việc phát sinh trong đời sống. Những nội dung thuộc thẩm quyền được địa phương tiếp nhận, xem xét, giải quyết kịp thời. Việc lắng nghe, xử lý những vấn đề cụ thể, sát với đời sống người dân thể hiện tinh thần cầu thị, trách nhiệm của chính quyền, góp phần hạn chế vướng mắc kéo dài, củng cố niềm tin và sự đồng thuận ngay từ cơ sở.

    Ông Lò Văn Thủy (bên trái), Phó Bí thư Chi bộ bản Bó Hóng trao đổi với người dân về việc phân bổ phân bón hỗ trợ sản xuất ngô.

    Tại bản Bó Hóng, phường Mường Thanh, quyền làm chủ của người dân được phát huy thông qua việc trực tiếp tham gia bàn bạc, đóng góp công sức, đất đai để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng. Trong quá trình xây dựng bản nông thôn mới kiểu mẫu, Chi bộ bản xác định rõ những phần việc cần triển khai, đồng thời phát huy vai trò chủ thể của người dân từ khâu bàn bạc, thống nhất cách làm đến trực tiếp tham gia và giám sát. Cùng với nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, người dân bản Bó Hóng đã hiến hơn 2.000m2 đất, đóng góp hàng nghìn ngày công để nâng cấp đường nội bản và đường nội đồng.

    Chị Lò Thị Tim, bản Bó Hóng cho biết: Trước khi làm đường, bà con được họp bàn, thống nhất nên ai cũng hiểu làm đường để phục vụ chính mình. Để có được con đường rộng như thế này, người dân trong bản đã cùng góp sức. Giờ đường đẹp, đi lại thuận tiện hơn, ai cũng phấn khởi vì trong đó có phần đóng góp của gia đình mình.

    Ông Lò Văn Thủy, Phó Bí thư Chi bộ bản Bó Hóng cho rằng, muốn tạo được sự đồng thuận thì trước hết phải để người dân biết rõ, được bàn bạc và tham gia ý kiến về những công việc liên quan trực tiếp đến đời sống của mình. Những ý kiến, kiến nghị của bà con cần được lắng nghe, phản hồi kịp thời; nội dung đã thống nhất phải được thực hiện công khai, minh bạch để người dân cùng theo dõi, giám sát. Khi quyền làm chủ được tôn trọng và phát huy, người dân sẽ thêm tin tưởng, chủ động đóng góp công sức, cùng địa phương thực hiện hiệu quả chủ trương, phần việc chung.

    Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở có hiệu lực từ ngày 1/7/2023 đã cụ thể hóa những quyền gắn với đời sống của người dân ở xã, phường và cộng đồng dân cư; quyền làm chủ của Nhân dân được cụ thể hóa trong những công việc liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích và trách nhiệm của mỗi người dân, cộng đồng dân cư. Những quy định này càng có ý nghĩa trong bối cảnh chính quyền địa phương 2 cấp đang vận hành, địa bàn quản lý của nhiều xã, phường rộng hơn sau sắp xếp. Chính quyền gần dân thể hiện rõ ở khả năng nắm bắt, tiếp nhận và giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh từ cơ sở. Một kiến nghị được trả lời rõ ràng; một công trình được công khai để người dân tham gia giám sát; một chủ trương được đưa ra bàn bạc trước khi triển khai đều góp phần củng cố sự gắn bó, đồng thuận giữa chính quyền và nhân dân.

    Khi người dân được đặt đúng vị trí chủ thể, sức dân được khơi dậy từ những việc thiết thực nhất. Biết để hiểu, bàn để thống nhất, tham gia giám sát và thụ hưởng thành quả, người dân có thêm niềm tin và trách nhiệm với những công việc chung. Từ đó, sự đồng thuận được bồi đắp, trở thành nguồn lực quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển mỗi địa phương.

    Tú Trinh

    Nguồn https://baomoi.com/dan-chu-tu-viec-dan-can-c56255183.epi

  • Vì sao thang máy ở chung cư, trung tâm thương mại thường lắp gương?

    Khi bước vào thang máy tại chung cư, văn phòng hay trung tâm thương mại, nhiều người thường tranh thủ chỉnh tóc, vuốt lại cổ áo hoặc kiểm tra diện mạo trước gương. Tuy nhiên, ít ai biết rằng chi tiết quen thuộc này còn gắn với những mục đích thiết thực hơn, từ hỗ trợ người khuyết tật, tạo cảm giác không gian rộng rãi đến cải thiện trải nghiệm sử dụng thang máy.

    Gương thang máy không đơn thuần để soi diện mạo

    Trong suy nghĩ của nhiều người, gương được lắp trong thang máy chủ yếu để hành khách chỉnh trang ngoại hình trong lúc chờ đến tầng cần xuống. Cách hiểu này không hoàn toàn sai, nhưng chưa phản ánh hết những tính toán đằng sau một chi tiết tưởng chừng rất bình thường trong thiết kế công trình.

    Ảnh minh họa/Nguồn: Ngoisao

    Trên thực tế, gương có thể góp phần cải thiện khả năng quan sát, tạo cảm giác thoải mái và nâng cao tính tiện dụng của cabin thang máy. Tùy theo cách bố trí, kích thước cabin và đối tượng sử dụng, mỗi tấm gương có thể mang lại những lợi ích khác nhau.

    Đáng chú ý, một trong những mục đích quan trọng của gương thang máy là hỗ trợ người sử dụng xe lăn hoặc gặp khó khăn trong việc di chuyển. Đây cũng là khía cạnh thể hiện rõ tinh thần thiết kế hướng đến khả năng tiếp cận của mọi người.

    Hỗ trợ người sử dụng xe lăn quan sát và di chuyển

    Đối với người sử dụng xe lăn, việc ra vào thang máy có thể gặp khó khăn nếu cabin chật, không đủ không gian để xoay trở. Trong một số tình huống, người dùng phải lùi xe ra ngoài thay vì quay đầu, khiến việc quan sát phía sau trở nên hạn chế.

    Lúc này, gương có thể đóng vai trò như một công cụ hỗ trợ quan sát. Thông qua hình ảnh phản chiếu, người sử dụng xe lăn có thêm khả năng nhận biết chướng ngại vật, vị trí cửa và những người đang đứng bên ngoài cabin mà không nhất thiết phải xoay người.

    Nhờ đó, việc điều khiển xe lăn ra khỏi thang máy có thể thuận tiện hơn, đồng thời giảm nguy cơ va chạm trong những không gian hẹp. Đây là lợi ích đặc biệt có ý nghĩa tại các tòa nhà có mật độ người sử dụng cao.

    Tuy nhiên, gương không thể thay thế các yêu cầu về kích thước cabin, khoảng trống xoay xe, vị trí bảng điều khiển và những tiêu chuẩn tiếp cận dành cho người khuyết tật. Hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào thiết kế tổng thể của thang máy.

    Tạo cảm giác không gian rộng rãi, giảm sự ngột ngạt

    Một lợi ích dễ nhận thấy khác là khả năng mở rộng không gian về mặt thị giác. Thang máy thường có diện tích hạn chế, ít hoặc không có cửa sổ và chỉ đưa hành khách di chuyển trong một khoảng thời gian ngắn. Với những người không thoải mái trong không gian kín, trải nghiệm này đôi khi gây cảm giác bí bách.

    Gương phản chiếu hình ảnh bên trong cabin, tạo chiều sâu thị giác và khiến không gian có vẻ rộng hơn so với diện tích thực tế. Khi kết hợp với hệ thống chiếu sáng phù hợp, gương còn giúp phân tán ánh sáng, làm cabin sáng sủa và bớt đơn điệu.

    Dù không làm tăng diện tích sử dụng, hiệu ứng thị giác này có thể giúp hành khách cảm thấy dễ chịu hơn khi đi thang máy. Tuy nhiên, mức độ cải thiện cảm giác ngột ngạt ở mỗi người không giống nhau. Với người mắc chứng sợ không gian kín nghiêm trọng, gương không phải biện pháp điều trị hay giải pháp bảo đảm loại bỏ lo âu.

    Vì sao gương có thể khiến hành khách cảm thấy thang máy chạy nhanh hơn?

    Một câu chuyện thường được nhắc đến khi nói về gương thang máy là tình trạng hành khách phàn nàn vì phải chờ đợi quá lâu. Thay vì chỉ tìm cách nâng cấp động cơ hoặc thay đổi hệ thống vận hành với chi phí lớn, giải pháp được đề xuất là khiến khoảng thời gian chờ đợi trở nên dễ chịu hơn.

    Về mặt tâm lý, khi không có hoạt động nào để tập trung, con người thường chú ý nhiều hơn đến thời gian trôi qua. Trong một không gian nhỏ, việc liên tục nhìn bảng hiển thị tầng có thể khiến hành khách cảm thấy mỗi giây chờ đợi đều kéo dài.

    Ảnh minh họa

    Sự xuất hiện của gương tạo ra một điểm thu hút sự chú ý khác. Hành khách có thể quan sát diện mạo, chỉnh trang quần áo hoặc đơn giản là nhìn vào không gian xung quanh. Khi sự chú ý được phân tán, cảm nhận chủ quan về thời gian có thể thay đổi, khiến quá trình chờ đợi bớt nhàm chán.

    Điều quan trọng là gương không khiến thang máy thực sự di chuyển nhanh hơn. Tác dụng chủ yếu nằm ở trải nghiệm tâm lý của người sử dụng, qua đó cho thấy thiết kế không gian có thể ảnh hưởng đến cách con người cảm nhận những tình huống thường ngày.

    Tăng khả năng quan sát, góp phần cải thiện cảm giác an toàn

    Thang máy là không gian tương đối kín, nơi hành khách đôi khi phải đứng gần những người không quen biết. Với người đi một mình, đặc biệt vào buổi tối hoặc tại những tòa nhà ít người qua lại, việc không thể quan sát đầy đủ xung quanh có thể tạo cảm giác bất an.

    Gương giúp hành khách có thêm góc nhìn về phía sau hoặc những khu vực khó quan sát trực tiếp. Nhờ hình ảnh phản chiếu, người sử dụng có thể nhận biết chuyển động của những người đứng trong cabin mà không cần liên tục quay đầu.

    Khả năng quan sát này có thể giúp hành khách chủ động hơn khi cảm thấy tình huống không an toàn. Tuy nhiên, gương chỉ hỗ trợ nhận biết tình hình, không thể ngăn chặn hành vi nguy hiểm hoặc thay thế các biện pháp bảo đảm an ninh của tòa nhà. Vì vậy, việc bố trí gương nên được xem là một yếu tố hỗ trợ trải nghiệm và khả năng quan sát, thay vì coi đây là giải pháp bảo vệ an toàn tuyệt đối.

    Gương có thay thế được hệ thống camera giám sát?

    Ngoài các lợi ích kể trên, gương còn có thể giúp hành khách và nhân viên vận hành quan sát một số góc khuất trong cabin, tùy thuộc vào vị trí lắp đặt. Hình ảnh phản chiếu đôi khi hỗ trợ nhận biết những chuyển động mà người đứng ở một vị trí nhất định khó nhìn thấy trực tiếp.

    Dù vậy, không nên đồng nhất chức năng này với khả năng loại bỏ điểm mù của hệ thống camera giám sát. Camera được thiết kế để ghi hình, trong khi gương chỉ phản chiếu hình ảnh tại thời điểm quan sát. Gương cũng không tự động ghi lại hoặc lưu trữ bằng chứng về sự việc xảy ra trong cabin.

    Khả năng giám sát và thu thập dữ liệu vẫn phụ thuộc vào vị trí camera, góc quay, chất lượng hình ảnh, hệ thống lưu trữ và quy trình quản lý của tòa nhà. Nếu được bố trí hợp lý, gương và camera có thể bổ trợ cho nhau nhưng không thể thay thế chức năng của nhau.

    Chi tiết nhỏ phản ánh tư duy thiết kế lấy con người làm trung tâm

    Từ hỗ trợ người sử dụng xe lăn, tạo cảm giác không gian rộng rãi đến cải thiện trải nghiệm chờ đợi, gương thang máy cho thấy một chi tiết nội thất có thể đảm nhiệm nhiều vai trò hơn vẻ ngoài của nó.

    Tuy nhiên, không phải mọi chiếc gương đều được lắp đặt vì cùng một lý do. Thiết kế thực tế còn phụ thuộc vào loại công trình, tiêu chuẩn kỹ thuật, nhu cầu sử dụng và phương án bố trí nội thất của từng tòa nhà.

    Vì thế, lần tới khi bước vào thang máy, thay vì chỉ tranh thủ chỉnh lại mái tóc hay cổ áo, hành khách có thể nhìn nhận chiếc gương dưới một góc độ khác. Đó không đơn thuần là vật dụng trang trí, mà còn có thể là một phần trong cách kiến trúc sư và nhà thiết kế cân nhắc sự thuận tiện, cảm giác thoải mái và nhu cầu đa dạng của con người trong không gian công cộng.

    Hoàng Ly

    Nguồn https://baomoi.com/vi-sao-thang-may-o-chung-cu-trung-tam-thuong-mai-thuong-lap-guong-c56255144.epi

  • ‘Bản đồ dân nguyện’ – cơ sở chuyển mạnh sang giám sát dựa trên dữ liệu, bằng chứng thực tiễn

    Biến dữ liệu thành công cụ quản lý, giám sát, ra quyết định

    Sau hợp nhất, thành phố Đà Nẵng có không gian phát triển rộng hơn, bao gồm khu vực đô thị, nông thôn, miền núi, ven biển và những địa bàn đang phát triển mạnh về hạ tầng, đô thị hóa. Cùng với việc tổ chức mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, yêu cầu phân định thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa thành phố với xã, phường cũng trở nên rõ nét hơn. Quy mô không gian hành chính mở rộng đồng nghĩa các vấn đề dân sinh đa dạng, phức tạp hơn.

    Thực tiễn từ ngày 1/7/2025 đến nay cho thấy, quy mô công việc dân nguyện ngày càng lớn, yêu cầu đặt ra không còn đơn giản là “tiếp nhận được bao nhiêu kiến nghị”, mà phải trả lời được: kiến nghị đang ở đâu; thuộc trách nhiệm của cơ quan nào; đã được xử lý đến đâu; đang vướng ở khâu nào; vì sao chậm; khi nào hoàn thành; kết quả thực tế có giải quyết được vấn đề người dân phản ánh hay chưa? Nếu không trả lời được những câu hỏi đó, công tác dân nguyện dễ rơi vào tình trạng “đầu vào đầy đủ nhưng đầu ra khó đo lường”…

    Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Đà Nẵng tổ chức tọa đàm “Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tiếp xúc cử tri trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”. Ảnh: Vinh Anh

    Tại tọa đàm “Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động TXCT với đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND thành phố trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Nguyễn Đình Vĩnh đặt vấn đề có nên nghiên cứu xây dựng “Bản đồ dân nguyện” của thành phố.

    Về bản chất, “Bản đồ dân nguyện” có thể được hiểu là hệ thống dữ liệu trực quan hóa các ý kiến, kiến nghị của cử tri theo địa bàn, lĩnh vực, cơ quan chịu trách nhiệm, thời điểm phát sinh, tiến độ và kết quả giải quyết. Theo cách tiếp cận này, mỗi kiến nghị không còn chỉ là một dòng trong bảng tổng hợp mà trở thành một “điểm dữ liệu” có hồ sơ và lịch sử xử lý. Khi lựa chọn một địa bàn, cơ quan dân cử có thể nhận diện những nhóm vấn đề được người dân phản ánh nhiều nhất. Khi lựa chọn một lĩnh vực, có thể theo dõi kiến nghị về đất đai, quy hoạch, giao thông, môi trường, an sinh xã hội… đang tập trung ở đâu và thuộc trách nhiệm của cơ quan nào.

    Quan trọng hơn, hệ thống có thể thể hiện trạng thái của từng kiến nghị: đã hoàn thành, đang xử lý, quá hạn, chưa thể giải quyết hoặc tái diễn. Từ đó hình thành một “bức tranh dân nguyện” được cập nhật liên tục. Đây là điểm khác biệt giữa số hóa hồ sơ và quản trị dữ liệu dân nguyện. Nếu số hóa chỉ chuyển tài liệu giấy thành dữ liệu điện tử, “Bản đồ dân nguyện” hướng đến biến dữ liệu thành công cụ phục vụ quản lý, giám sát và ra quyết định.

    “Bộ cảm biến” phản ánh những vấn đề phát sinh từ cơ sở

    Giá trị lớn hơn của “Bản đồ dân nguyện” không chỉ nằm ở khả năng theo dõi từng kiến nghị mà còn ở khả năng phát hiện xu hướng. Nếu một khu vực liên tục xuất hiện kiến nghị về ngập úng, giao thông, môi trường hoặc quy hoạch, dữ liệu có thể cho thấy đây không còn là những phản ánh đơn lẻ mà là vấn đề cần được xem xét ở phạm vi rộng hơn. Nếu cùng một vấn đề xuất hiện tại nhiều xã, phường, có thể thấy vấn đề đã vượt khỏi phạm vi một địa bàn và cần được nghiên cứu ở cấp thành phố. Nếu một kiến nghị lặp lại qua nhiều kỳ TXCT, hệ thống có thể nhận diện đó là kiến nghị tái diễn hoặc tồn đọng. Đây sẽ là cơ sở để cơ quan dân cử lựa chọn nội dung khảo sát, giám sát, giải trình hoặc chất vấn. Theo hướng này, dữ liệu dân nguyện có thể trở thành một “bộ cảm biến” phản ánh những vấn đề phát sinh từ cơ sở.

    Hệ thống cũng có thể thiết lập cảnh báo đối với kiến nghị sắp đến hạn, quá hạn, tồn đọng hoặc được phản ánh nhiều lần. Lịch sử xử lý được lưu giữ sẽ giúp xác định vấn đề phát sinh từ thời điểm nào, đã được chuyển đến đâu, cơ quan nào trả lời và còn vướng mắc ở khâu nào. Đây là cơ sở để hoạt động giám sát chuyển mạnh từ giám sát theo báo cáo sang giám sát dựa trên dữ liệu và bằng chứng thực tiễn.

    Để xây dựng “Bản đồ dân nguyện”, cần một lộ trình phù hợp, bắt đầu từ chuẩn hóa quy trình, dữ liệu và trách nhiệm, trước khi mở rộng các tính năng công nghệ. Trước hết, cần thống nhất bộ tiêu chí dữ liệu và quy trình xử lý kiến nghị trên toàn thành phố; xây dựng mã định danh cho từng kiến nghị; thống nhất cách phân loại lĩnh vực, địa bàn, thẩm quyền và trạng thái xử lý. Tiếp đó, hình thành cơ sở dữ liệu dùng chung giữa các cơ quan liên quan, bảo đảm nguyên tắc liên thông, phân quyền, an toàn thông tin và trách nhiệm cập nhật dữ liệu.

    Trên nền tảng đó, từng bước phát triển các chức năng trực quan hóa, cảnh báo quá hạn, nhận diện kiến nghị tái diễn, phân tích theo địa bàn và lĩnh vực; đồng thời kết nối với các kênh tiếp nhận phản ánh, cơ chế giám sát của HĐND, hoạt động của Mặt trận và việc phản hồi kết quả cho cử tri. Từ những dữ liệu đó, cơ quan dân cử có thêm cơ sở xác định vấn đề cần giám sát; cơ quan quản lý có thêm căn cứ để điều hành; người dân có thêm thông tin để theo dõi kết quả giải quyết.

    “Bản đồ dân nguyện” có thể được hiểu là công cụ trực quan hóa và theo dõi toàn bộ vòng đời của ý kiến, kiến nghị của người dân, từ khi tiếp nhận đến khi xử lý và phản hồi. Cốt lõi là chuyển công tác dân nguyện từ việc ghi nhận, tổng hợp đơn thuần sang một quy trình có thể theo dõi, quản lý và giám sát theo trình tự: Tiếp nhận → Phân loại → Chuyển xử lý → Theo dõi → Đôn đốc → Giám sát → Phản hồi. Ý tưởng xây dựng “Bản đồ dân nguyện” tại thành phố Đà Nẵng mở ra hướng tiếp cận mới: chuyển dữ liệu kiến nghị của cử tri từ những thông tin rời rạc thành hệ thống dữ liệu có cấu trúc, có địa chỉ, trạng thái và có thể theo dõi xuyên suốt quá trình giải quyết, nhằm đổi mới phương thức nắm bắt tiếng nói Nhân dân, nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử, hướng tới quản trị dân nguyện minh bạch, có trách nhiệm, dựa trên cơ sở dữ liệu.

    Ths. Nguyễn Văn Diệu, Phó Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND thành phố Đà Nẵng

    Nguồn https://baomoi.com/ban-do-dan-nguyen-co-so-chuyen-manh-sang-giam-sat-dua-tren-du-lieu-bang-chung-thuc-tien-c56255142.epi

  • Cần quy định rõ trách nhiệm trong xử lý vi phạm đất đai

    Đáng lo ngại hơn, khi những sai phạm kéo dài, quyết định xử lý không được thực thi đến cùng, kỷ cương pháp luật bị thách thức, còn trách nhiệm quản lý dễ bị đẩy qua nhiều cấp, nhiều ngành.

    Trước những thực trạng trên, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 363/KH-UBND (ngày 24-9-2026), yêu cầu tổng kiểm tra, rà soát, thống kê và xử lý các công trình, nhà xưởng, kho bãi, cơ sở sản xuất, kinh doanh, tập kết, lưu giữ hàng hóa vi phạm quy định về đất đai, trật tự xây dựng và phòng cháy, chữa cháy. Thực hiện kế hoạch này, các địa phương phải hoàn thành thống kê vi phạm để xử lý dứt điểm trong quý II-2027.

    Tuy nhiên, điều người dân mong đợi không phải là những đợt kiểm tra nối tiếp nhau mà là vi phạm phải được xử lý dứt điểm; trách nhiệm của từng cấp, từng đơn vị trong công tác quản lý phải được xác định rõ ràng. Không để sai phạm trở thành sự đã rồi, càng không để sự chậm trễ trong quản lý làm gia tăng rủi ro cho cộng đồng.

    Kế hoạch số 363/KH-UBND của UBND thành phố Hà Nội đặt ra nguyên tắc xuyên suốt là “rõ cơ sở, rõ vi phạm, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ biện pháp, rõ kết quả”. Đây là cách tiếp cận cần thiết, bởi muốn xử lý dứt điểm phải nắm bắt đúng thực trạng từng xã, phường đang tồn tại vi phạm gì, mức độ ra sao, đã áp dụng biện pháp nào, còn vướng ở đâu và cơ quan, cá nhân nào chịu trách nhiệm. Nếu chỉ dừng ở lập danh sách, kiểm tra hiện trạng rồi tiếp tục chờ đợi, rà soát sẽ khó tạo chuyển biến thực chất.

    Điều quan trọng hơn phải chuyển những số liệu thống kê thành kế hoạch xử lý có thời hạn. Cơ sở nguy cơ cháy nổ cao, vi phạm nghiêm trọng phải được ưu tiên ngăn chặn ngay. Ngoài ra, cần phân định rõ trách nhiệm giữa chính quyền địa phương và các sở, ngành theo lĩnh vực quản lý. Những vướng mắc vượt thẩm quyền phải được báo cáo, tháo gỡ kịp thời, không trở thành lý do để kéo dài vi phạm.

    Theo các chuyên gia, để xử lý dứt điểm những vi phạm, các xã, phường cần hoàn thiện dữ liệu rà soát, phân loại từng trường hợp theo mức độ vi phạm và thẩm quyền xử lý. Mỗi trường hợp vi phạm phải gắn với biện pháp, tiến độ, đơn vị chủ trì và người chịu trách nhiệm cụ thể. Các biện pháp ngăn chặn phải được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, bảo đảm không để cơ sở tiếp tục vận hành khi chưa đủ điều kiện an toàn. Đối với khu vực tập trung nhiều nhà xưởng, kho bãi vi phạm, việc xây dựng phương án ứng phó cháy nổ cũng phải được coi là nhiệm vụ cấp thiết, không thể tách rời quá trình xử lý.

    Để việc thực thi không bị chia cắt, các sở, ngành phải phối hợp trên cơ sở phân định rõ chức năng. Cơ quan quản lý đất đai làm rõ nguồn gốc, mục đích và tình trạng sử dụng đất; lực lượng công an tập trung kiểm tra, xử lý các vi phạm về phòng cháy, chữa cháy theo thẩm quyền. Việc ngừng cung cấp điện, nước phải được xem xét, áp dụng đúng trình tự theo Nghị quyết số 20/2026/NQ-HĐND của HĐND thành phố.

    Quan trọng hơn, phối hợp liên ngành phải có trách nhiệm đến cùng. Trường hợp vượt thẩm quyền cần được báo cáo ngay để giải quyết; không để tình trạng cơ quan này chờ cơ quan kia, hồ sơ luân chuyển nhưng vi phạm vẫn tồn tại. Chủ tịch UBND xã, phường phải chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện về tổ chức thực hiện trên địa bàn, đúng tinh thần chỉ đạo của thành phố.

    Kết quả xử lý cần được đánh giá định kỳ bằng những chỉ tiêu cụ thể: Số cơ sở thuộc diện phải xử lý, số đã hoàn thành, số còn tồn tại, nguyên nhân và thời hạn giải quyết. Việc đánh giá hằng tháng phải gắn với mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, người đứng đầu và cán bộ được phân công. Địa bàn nào để vi phạm kéo dài, cơ sở nào tái hoạt động trái quy định hoặc phát sinh sai phạm sẽ phải được kiểm tra, làm rõ trách nhiệm; những biểu hiện buông lỏng quản lý, né tránh, đùn đẩy hoặc bao che vi phạm phải bị xử lý nghiêm.

    Về lâu dài, chính quyền địa phương cần tăng cường kiểm tra việc sử dụng đất để ngăn vi phạm mới ngay từ đầu.

    Thành phố đã xác định tiến độ và trách nhiệm thực hiện của từng đơn vị, địa phương rõ ràng. Vấn đề còn lại là chuyển hóa thành kết quả cụ thể trên từng địa bàn để những sai phạm không còn cơ hội tái diễn; kỷ cương pháp luật được thực thi nghiêm minh.

    Hoàng Sơn

    Nguồn https://baomoi.com/can-quy-dinh-ro-trach-nhiem-trong-xu-ly-vi-pham-dat-dai-c56255118.epi

  • Cụm, khu công nghiệp Hà Nội: Mở không gian sản xuất, tạo động lực phát triển Bài 2: Nhiều rào cản trong tiếp cận mặt bằng sản xuất

    Nhiều lô đất trong Cụm công nghiệp làng nghề gỗ Văn Tự (xã Phú Xuyên) được xây dựng thành nhà kiên cố. Ảnh: Thiện Mỹ

    Chi phí đầu tư vượt khả năng của nhiều cơ sở sản xuất

    Doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ gia đình là một trong những thành phần kinh tế quan trọng được Đảng, Nhà nước quan tâm. Để tạo điều kiện cho loại hình này có mặt bằng sản xuất, Nghị định số 32/2024/NĐ-CP ngày 15-3-2024 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp có quy định, cụm công nghiệp làng nghề có tối thiểu 60% diện tích đất công nghiệp dành cho việc di dời, mở rộng sản xuất, kinh doanh của các chủ thể trong làng nghề, làng có nghề truyền thống.

    Theo định hướng của thành phố Hà Nội, cụm công nghiệp làng nghề nhằm phục vụ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở sản xuất địa phương, góp phần đưa hoạt động sản xuất ra khỏi khu dân cư, song thực tế việc thu hút các cơ sở sản xuất vào cụm công nghiệp chưa được như mong muốn.

    Cụm công nghiệp Đông Phú Yên (xã Phú Nghĩa) có quy mô 41,2ha, do Công ty cổ phần Tập đoàn Phú Mỹ làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư 765,432 tỷ đồng, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật từ năm 2025. Dự án phục vụ di dời, mở rộng sản xuất của các cơ sở sản xuất tại địa phương, giảm ô nhiễm và nguy cơ cháy nổ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khu vực vẫn rào tôn, gần như chưa có doanh nghiệp hay cơ sở sản xuất nào hoạt động.

    Ngay bên kia quốc lộ 6, các cơ sở mộc làng nghề truyền thống Phù Yên (cũng thuộc xã Phú Nghĩa) vẫn sản xuất trong khu dân cư. Ông Nguyễn Hữu Tưởng, người dân làng Phù Yên chia sẻ, nhiều hộ muốn thuê đất, dựng xưởng trong cụm công nghiệp gần làng, nhưng khoản đầu tư vượt khả năng tài chính.

    Để làm rõ vấn đề này, phóng viên đã đặt lịch làm việc với UBND xã Phú Nghĩa và chủ đầu tư cụm công nghiệp Đông Phú Yên là Công ty cổ phần Tập đoàn Phú Mỹ nhưng cả hai đơn vị này đều không có thông tin phản hồi.

    Trong khi đó, Cụm công nghiệp Cầu Bầu giai đoạn 2 (xã Ứng Thiên), với diện tích 5,29ha đã có 3,19ha đất công nghiệp được cho thuê. Toàn bộ 85/85 thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Song đến nay mới chỉ có 14 cơ sở xây dựng nhà xưởng phục vụ sản xuất.

    Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Tre Việt Nam Nguyễn Hữu Phong (đơn vị đang đầu tư tại Cụm công nghiệp Cầu Bầu, xã Ứng Thiên) cho biết, riêng máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất có giá trị gần 10 tỷ đồng. Để vào cụm phải xác định khoản đầu tư khoảng 20 tỷ đồng. Chi phí này là bài toán lớn với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ, phải tích lũy vốn qua từng đơn hàng.

    Đặt lên “bàn cân chi phí”, đại diện chủ đầu tư Cụm công nghiệp Tam Hiệp (xã Hát Môn) – Công ty cổ phần Đầu tư phát triển nhà Minh Dương nhẩm tính, một lô đất khoảng 1.000m² nếu xây xưởng 3 tầng trên khoảng 70% diện tích, chi phí xây dựng ước tính 14-15 tỷ đồng, chưa có máy móc. Phép tính này cho thấy, nguồn vốn đầu tư phải chuẩn bị có thể lớn hơn nhiều so với khoản tiền thuê mặt bằng ban đầu.

    Về nhu cầu sử dụng mặt bằng, đại diện chủ đầu tư Cụm công nghiệp Tam Hiệp nêu thực tiễn, nhiều hộ có nhu cầu mặt bằng sản xuất nhỏ hơn 1.000m². Phương án ghép khoảng 3-4 hộ vào một lô sẽ khó vì mỗi hộ có mối hàng riêng, không muốn dùng chung tài sản. Khi cần vay vốn, những người cùng sử dụng chung mặt bằng cũng phải thống nhất và đây là điều không đơn giản.

    Dẫn chứng ngay tại cụm công nghiệp của mình, đại diện chủ đầu tư Cụm công nghiệp Tam Hiệp chia sẻ, theo khảo sát ban đầu khi xây dựng cụm, gần 80% người đăng ký là hộ làng nghề, nhưng sau khi biết mỗi lô có diện tích tối thiểu 1.000m², thì chỉ những hộ có tiềm lực lớn mới vào thuê đất.

    Từ thực tiễn làng nghề của địa phương, Phó Chủ tịch UBND xã Ứng Thiên Nguyễn Anh Tuấn phân tích, người làm nghề chẻ tăm hương, thu mua phế liệu chủ yếu sản xuất quy mô hộ gia đình, tích lũy thấp. Nhiều hộ khó huy động vốn thuê đất, xây nhà xưởng đạt quy chuẩn. Đặc thù mưu sinh này khiến việc đưa cơ sở sản xuất vào cụm công nghiệp cần có giải pháp phù hợp với khả năng chuyển đổi của từng nhóm người làm nghề.

    Tại Quyết định số 75/2025/QĐ-UBND, ngày 4-12-2025, của UBND thành phố Hà Nội về ban hành Quy chế quản lý cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, quy định diện tích lô đất tối thiểu 2.000m² với cụm công nghiệp thông thường, 1.000m² với cụm công nghiệp làng nghề.

    Trong khi đó, theo ý kiến của đại diện các xã Dương Hòa, Tây Phương, nhiều cơ sở có quy mô hộ gia đình, nhu cầu sử dụng nhỏ hơn. Khi phải thuê diện tích lớn hơn nhu cầu, gánh nặng đầu tư ban đầu sẽ tăng lên.

    Nhìn nhận ở góc độ giảm chi phí hạ tầng và tăng khả năng tiếp cận cụm công nghiệp, TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội đề xuất, trước hết, cần giảm chi phí ngay từ khâu đầu tư hạ tầng chung và phân bổ lại gánh nặng thanh toán ban đầu. Nên khuyến khích các mô hình nhà xưởng cho thuê, thanh toán theo kỳ và trả chi phí hạ tầng theo tiến độ phù hợp với hợp đồng, điều kiện pháp lý của dự án.

    Vướng mắc tích tụ, dự án chậm chuyển động

    Ngoài chi phí và quy mô diện tích thuê, việc tiếp cận mặt bằng còn gặp những tồn tại, vướng mắc do việc hình thành, quản lý cụm công nghiệp trải qua nhiều thời kỳ. Nhiều cụm công nghiệp làng nghề được hình thành trước khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý cụm công nghiệp (tại Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19-8-2009) nên có quy mô nhỏ, hạ tầng không đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất công nghiệp theo quy định tại Nghị định số 32/2024/NĐ-CP và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với cụm công nghiệp hiện hành…

    Điển hình như Cụm công nghiệp Phú Túc (xã Phượng Dực) có quy mô 5,94ha do Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng thương mại Phú Minh làm chủ đầu tư được hình thành năm 2022 trên cơ sở đóng góp đất ruộng của 30 hộ dân. Khi đi vào hoạt động, cụm xuất hiện công trình kiên cố có hình thức như nhà ở, biệt thự, một số nhà xưởng sử dụng sai mục đích; đồng thời còn vướng hợp đồng thuê đất đối với 28 hộ sản xuất, kinh doanh.

    Đề cập đến những tồn tại kéo dài tại Cụm công nghiệp Phú Túc, Trưởng phòng Kinh tế xã Phượng Dực Nguyễn Tiến Đạt thông tin, địa phương đã kiểm tra, làm việc với các đơn vị liên quan về công tác quản lý quy hoạch, đất đai, trật tự xây dựng và bảo vệ môi trường tại cụm, đồng thời yêu cầu khắc phục những nội dung còn tồn tại theo quy định. Tuy nhiên, để giải quyết dứt điểm vẫn cần phải có thời gian…

    Trong khi đó, tiến độ khắc phục sai phạm tại những cụm công nghiệp đã có kết luận thanh tra cũng chưa đạt yêu cầu. Theo Phó Trưởng phòng Kinh tế xã Phú Xuyên Nguyễn Văn Hữu, tại Cụm công nghiệp làng nghề gỗ Văn Tự, địa phương đã xử lý 21/27 trường hợp vi phạm, các trường hợp khác còn chờ phương án. Tại xã Dương Hòa, Phó Trưởng phòng Kinh tế Ngô Xuân Biển nêu rõ, hồ sơ bàn giao từ trước chưa rõ ràng nên địa phương phải tiếp tục rà soát tổng thể các tồn tại ở Cụm công nghiệp Dương Liễu giai đoạn 1. Đơn vị tiếp nhận đang lập kế hoạch xử lý những hạng mục theo kết luận thanh tra.

    Ngoài những tồn tại trong quản lý, tác động từ đồ án quy hoạch cũng khiến một số dự án chậm triển khai. Điển hình như Cụm công nghiệp làng nghề Vân Từ (xã Chuyên Mỹ) có quy mô 7ha, được khởi công tháng 6-2025 nhưng đến nay vẫn là đất trống. Đại diện Phòng Kinh tế xã Chuyên Mỹ lý giải, dự án nhiều lần điều chỉnh chủ trương đầu tư và hiện nay đang vướng quy hoạch đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam nên chưa xác định được thời điểm đưa cụm vào hoạt động.

    Với thực tế này, TS Mạc Quốc Anh lưu ý, bảo vệ doanh nghiệp phải gắn với bảo vệ quyền kinh doanh hợp pháp, không phải bảo vệ vi phạm. Đồng thời, siết chặt kỷ cương phải đi cùng một lộ trình rõ ràng để doanh nghiệp khắc phục, chuyển đổi và tiếp tục sản xuất đúng pháp luật. Hai yêu cầu này không mâu thuẫn nếu chính sách và quá trình thực hiện được thiết kế đầy đủ. Đối với những vi phạm cụ thể, cần căn cứ hồ sơ, kết luận và quyết định của cơ quan có thẩm quyền để có giải pháp xử lý. Không nên từ một số hiện tượng mà quy kết toàn bộ doanh nghiệp trong một cụm công nghiệp, cũng không thể chỉ dựa vào lý do tồn tại lâu năm để mặc nhiên coi việc sử dụng đất, xây dựng hoặc sản xuất là hợp pháp.

    Từ những rào cản đã được nhận diện, yêu cầu đặt ra là cần hỗ trợ đúng nhu cầu, xử lý những vướng mắc tồn đọng và chuẩn bị điều kiện để mở đường cho doanh nghiệp, hộ sản xuất tại các làng nghề tiếp cận mặt bằng sản xuất phù hợp và hiệu quả.

    (Còn nữa)

    Minh Thúy – Đỗ Đạt – Vân Nga

    Nguồn https://baomoi.com/cum-khu-cong-nghiep-ha-noi-mo-khong-gian-san-xuat-tao-dong-luc-phat-trien-bai-2-nhieu-rao-can-trong-tiep-can-mat-bang-san-xuat-c56255133.epi

  • Nhà xây không phép từ năm 2013, nay làm sổ đỏ có được công nhận quyền sở hữu?

    Một công dân phản ánh, ông A. xây dựng nhà cấp IV, diện tích 150m2 vào năm 2013 nhưng không có giấy phép xây dựng. Đến năm 2026, ông làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có nhu cầu chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

    Qua kiểm tra tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, cơ quan chức năng xác định căn nhà được tạo lập sau thời điểm quy hoạch, được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nhưng phù hợp với quy hoạch tại thời điểm cấp giấy chứng nhận.

    Theo quy định, đối với nhà ở thuộc trường hợp phải xin giấy phép xây dựng nhưng không có giấy phép và không có giấy xác nhận đủ điều kiện tồn tại của cơ quan quản lý xây dựng cấp huyện được cấp trước ngày 1/7/2025, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm về điều kiện tồn tại của công trình.

    Ông A. đã có cam kết về điều kiện tồn tại của nhà ở và chịu trách nhiệm đối với nội dung này.

    Từ trường hợp trên, công dân đặt câu hỏi: Nhà xây dựng không phép như vậy có đủ điều kiện được chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hay chỉ được ghi nhận quyền sử dụng đất?

    Đây cũng là vướng mắc được phản ánh nhiều tại địa phương.

    Điều 148 Luật Đất đai quy định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với tài sản là nhà ở. Ảnh minh họa: Hồng Khanh

    Trả lời vấn đề này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, do chưa có hồ sơ, tài liệu cụ thể kèm theo nên Bộ trả lời theo nguyên tắc pháp luật.

    Khoản 3 Điều 148 Luật Đất đai quy định, hộ gia đình, cá nhân trong nước có nhà ở không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu nhà ở thuộc trường hợp không phải xin giấy phép xây dựng thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

    Đối với nhà ở thuộc trường hợp phải xin phép xây dựng, quy định nêu trên yêu cầu phải có giấy xác nhận của cơ quan có chức năng quản lý về xây dựng cấp huyện về việc nhà ở đủ điều kiện tồn tại theo quy định.

    Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định xử lý đối với trường hợp không có giấy xác nhận này.

    Cụ thể, điểm c khoản 3 Mục II nội dung C Phần V Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP quy định, trường hợp chủ sở hữu đề nghị chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thuộc diện phải xin phép xây dựng theo khoản 3 Điều 148 Luật Đất đai nhưng không có giấy xác nhận đủ điều kiện tồn tại của cơ quan quản lý xây dựng cấp huyện được cấp trước ngày 1/7/2025 thì không thực hiện việc xác định điều kiện tồn tại nhà ở theo thủ tục này. Việc đáp ứng điều kiện tồn tại do chủ sở hữu chịu trách nhiệm.

    Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, với căn nhà được xây dựng năm 2013, thuộc trường hợp phải có giấy phép xây dựng nhưng không có giấy phép và không có văn bản xác nhận đủ điều kiện tồn tại được cấp trước ngày 1/7/2025, khi đề nghị chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản phải kê khai việc đáp ứng điều kiện tồn tại theo mẫu đơn đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai.

    Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, theo khoản 3 Mục II nội dung C Phần V Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025, khi giải quyết hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất lần đầu, UBND cấp xã có trách nhiệm xác định hiện trạng có nhà ở; tình trạng tranh chấp về đất đai, tài sản gắn liền với đất; nguồn gốc, thời điểm tạo lập nhà ở và các giấy tờ liên quan.

    UBND cấp xã cũng có trách nhiệm niêm yết công khai kết quả xác nhận, xem xét, giải quyết ý kiến phản ánh nếu có và xác nhận nhà ở đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận.

    Trên cơ sở hồ sơ và kết quả kiểm tra, nếu nhà ở đáp ứng điều kiện tồn tại theo pháp luật về xây dựng, không thuộc trường hợp không được cấp giấy chứng nhận quy định tại Điều 151 Luật Đất đai và đáp ứng các điều kiện liên quan khác, chủ sở hữu có thể được chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

    Ngược lại, nếu căn nhà không đáp ứng điều kiện để chứng nhận quyền sở hữu thì giấy chứng nhận sẽ không ghi nhận quyền sở hữu nhà ở.

    Bộ cũng lưu ý, việc chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và việc xử lý vi phạm xây dựng là những vấn đề cần được xem xét theo các quy định pháp luật tương ứng. Nếu có vi phạm cần xử lý, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc buộc tháo dỡ công trình theo quy định và xử lý vi phạm hành chính.

    Một điểm đáng chú ý trong hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở được xem xét trên cơ sở các điều kiện pháp lý tương ứng.

    Đối với quyền sử dụng đất, cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào nguồn gốc, thời điểm, quá trình và hiện trạng sử dụng đất; tình trạng tranh chấp; sự phù hợp với quy hoạch và các điều kiện cấp giấy chứng nhận theo pháp luật đất đai để xem xét, giải quyết.

    Nếu thửa đất đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận nhưng căn nhà trên đất chưa đủ điều kiện chứng nhận quyền sở hữu, người sử dụng đất vẫn có thể được cấp giấy chứng nhận đối với quyền sử dụng đất, nhưng chưa được ghi nhận quyền sở hữu nhà ở.

    Sau đó, khi căn nhà đáp ứng đầy đủ điều kiện, chủ sở hữu có thể thực hiện thủ tục đăng ký bổ sung quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định.

    Hồng Khanh

    Nguồn https://baomoi.com/nha-xay-khong-phep-tu-nam-2013-nay-lam-so-do-co-duoc-cong-nhan-quyen-so-huu-c56255112.epi

  • Gỡ vướng để thúc đẩy đầu tư

     Công ty TNHH may mặc HuaJing (Việt Nam) tại Khu Công nghiệp Tứ Hạ góp phần giải quyết việc làm cho lao động địa phương.

    Rào cản từ hạ tầng, mặt bằng

    Giai đoạn 2021 – 2025, các KKT, KCN trên địa bàn thu hút 66 dự án mới, 43 dự án tăng vốn. Tổng vốn đăng ký cấp mới và điều chỉnh đạt 44.672 tỷ đồng, bằng 140% kế hoạch. Các doanh nghiệp đạt doanh thu khoảng 192.260 tỷ đồng, nộp ngân sách 22.368 tỷ đồng, chiếm khoảng 42% tổng thu ngân sách hằng năm của thành phố.

    Những kết quả trên cho thấy vai trò quan trọng của KKT, KCN đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố. Tuy nhiên, qua giám sát, Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND thành phố nhận thấy, dư địa khai thác vẫn còn lớn, trong khi nhiều dự án chưa phát huy hiệu quả như kỳ vọng.

    Thực hiện Chương trình công tác năm 2026 và Quyết định số 16/QĐ-KTNS ngày 6/8/2026, Đoàn giám sát của Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND thành phố đã khảo sát, làm việc với các đơn vị liên quan.

    Qua giám sát, Đoàn ghi nhận những kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những vấn đề cần tập trung xử lý, gồm công tác phối hợp liên ngành, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, hoàn thiện hạ tầng, giải phóng mặt bằng, giải quyết thủ tục hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp.

    Hiện các KKT, KCN có 203 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký khoảng 152.282 tỷ đồng. Trong đó, 139 dự án đang hoạt động; 50 dự án đang làm thủ tục, chuẩn bị đầu tư hoặc xây dựng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều dự án chậm tiến độ, ngừng triển khai.

    Tại KKT Chân Mây – Lăng Cô, 66 dự án còn hiệu lực có tổng vốn đăng ký khoảng 108.437 tỷ đồng. Song, vốn thực hiện mới đạt 29.718 tỷ đồng, tương đương 27%.

    Từ khi thành lập, ngân sách đã bố trí khoảng 4.371 tỷ đồng đầu tư hạ tầng KKT Chân Mây – Lăng Cô. Khoảng 110km đường giao thông chính cơ bản hoàn thành. Hệ thống điện, nước, cầu cảng và xử lý nước thải từng bước được đầu tư. Tuy nhiên, hạ tầng vẫn chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng ngoài hàng rào.

    Từ thực tế này, Đoàn giám sát đề nghị các cơ quan liên quan nghiên cứu ưu tiên nguồn lực đầu tư công trung hạn cho các công trình kết nối, giao thông đối ngoại và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu, tạo điều kiện thu hút đầu tư. Cùng với đó, giải phóng mặt bằng tiếp tục là vấn đề cần được tháo gỡ. Toàn thành phố hiện có 14 dự án trọng điểm đang thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng với tổng diện tích khoảng 2.000ha. Tuy nhiên, đến nay, các đơn vị mới hoàn thành khoảng 700ha. Phần diện tích còn lại tiếp tục ảnh hưởng đến tiến độ triển khai nhiều dự án.

    Bên cạnh đó, tại một số dự án, thủ tục đầu tư, quy hoạch, xây dựng, môi trường còn chậm. Sự phối hợp giữa một số sở, ngành, địa phương chưa chặt chẽ cũng ảnh hưởng đến tiến độ xử lý. Trong đó, Dự án hạ tầng của Viglacera tại KCN Phong Điền là một trường hợp cho thấy rõ hệ quả của việc xử lý chưa dứt điểm. Khoảng 175ha chưa thể đưa vào cho thuê do liên quan đến Kết luận thanh tra số 355/KL-TTCP ngày 4/3/2021 của Thanh tra Chính phủ liên quan đến việc thực hiện pháp luật trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế).

    Phân định trách nhiệm, không để nguồn lực nằm chờ

    Theo Ban Quản lý KKT, CN, một số dự án kéo dài do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính, huy động vốn, thị trường thay đổi hoặc hồ sơ chưa bảo đảm. Có dự án đã hình thành tài sản lớn trên đất. Nếu chấm dứt hoạt động, thu hồi đất sẽ phát sinh vấn đề xử lý tài sản, quyền lợi của nhà đầu tư và tổ chức tín dụng.

    Tuy nhiên, qua giám sát, vấn đề đặt ra là dự án kéo dài cũng đồng nghĩa đất đai, hạ tầng tiếp tục bị bỏ trống, nguồn lực chưa được phát huy. Vì vậy, cần phân định rõ trách nhiệm trong quá trình xử lý.

    Cơ quan nhà nước cần tháo gỡ những rào cản thuộc cơ chế, chính sách, thủ tục. Nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm về năng lực tài chính, tiến độ và các cam kết đã đưa ra.

    Đoàn giám sát đề nghị xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý; đồng thời rà soát đầy đủ các dự án tồn đọng, xác định nguyên nhân và hướng xử lý đối với từng trường hợp. Mục tiêu là không để dự án được cấp phép nhưng kéo dài nhiều năm mà không tạo ra giá trị tương xứng.

    Một vấn đề khác được Đoàn giám sát lưu ý là hạ tầng môi trường. Hiện các KCN Phong Điền, Tứ Hạ, Phú Bài đã có nhà máy xử lý nước thải tập trung. KCN La Sơn đang vận hành thử nghiệm. Trong khi đó, các cụm công nghiệp đang hoạt động chưa được đầu tư đồng bộ hệ thống xử lý nước thải tập trung. Do đó, Đoàn giám sát đề nghị các đơn vị liên quan ưu tiên nguồn lực hoàn thiện hạ tầng môi trường; tăng cường quản lý đất đai, xử lý vi phạm tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Đồng thời, rà soát, định hướng phát triển cụm công nghiệp phù hợp, tránh đầu tư dàn trải.

    Đồng chí Trần Gia Công, Trưởng ban Kinh tế – Ngân sách HĐND thành phố đề nghị, Ban Quản lý KKT, CN cùng các sở, ngành, địa phương tập trung phối hợp tháo gỡ khó khăn về giải phóng mặt bằng, hoàn thiện hạ tầng thiết yếu, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư.

    Các cơ quan liên quan cần nghiên cứu ưu tiên nguồn vốn đầu tư công trung hạn để hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào; đồng thời đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung và các công trình giao thông kết nối KKT, KCN, cụm công nghiệp. Bên cạnh đó, cần quan tâm phát triển nhà ở, nơi lưu trú cho công nhân; nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tăng thu ngân sách và thực hiện các chính sách hỗ trợ để doanh nghiệp, người dân dễ tiếp cận.

    Bài, ảnh: Lê Thọ

    Nguồn https://baomoi.com/go-vuong-de-thuc-day-dau-tu-c56255059.epi

  • Bắc Ninh kiểm tra dự án nhà ở xã hội có giá bán cao bất thường

    UBND TP Bắc Ninh vừa ban hành Công văn số 11291/UBND-KTN về việc chấn chỉnh công tác xây dựng, kinh doanh nhà ở xã hội (NOXH), bảo đảm xác định giá bán đúng quy định, công khai, minh bạch, ngăn ngừa hành vi trục lợi chính sách; đồng thời tăng cường kiểm tra các dự án có giá bán cao bất thường, kịp thời xử lý vi phạm.

    Theo UBND TP Bắc Ninh, việc phát triển nhà ở xã hội có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm an sinh xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội. Thời gian qua, thành phố đã tích cực chỉ đạo công tác quy hoạch, đầu tư, xây dựng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển loại hình nhà ở này. Tuy nhiên, qua theo dõi, cơ quan chức năng nhận thấy nguy cơ phát sinh vi phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng, kinh doanh nhà ở xã hội, ảnh hưởng đến mục tiêu và ý nghĩa của chính sách.

    Các dự án nhà ở xã hội có giá bán cao bất thường tại Bắc Ninh sẽ được kiểm tra, làm rõ căn cứ xác định giá.

    Để bảo đảm chính sách nhà ở xã hội được thực hiện đúng quy định, ngăn ngừa tình trạng trục lợi, UBND thành phố yêu cầu các chủ đầu tư chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực và đầy đủ của hồ sơ xác định giá bán, giá thuê mua, giá thuê nhà ở xã hội. Việc xác định giá phải dựa trên các chi phí hợp lý, hợp lệ, có đầy đủ hồ sơ, chứng từ chứng minh theo quy định của pháp luật.

    Đáng chú ý, giá bán nhà ở xã hội phải được xác định trên cơ sở tổng chi phí đầu tư xây dựng thực tế của phần diện tích nhà ở xã hội. Chủ đầu tư không được tính vào giá bán các khoản chi phí không liên quan đến dự án, chi phí không có căn cứ, chi phí phát sinh do lỗi chủ quan hoặc các khoản phân bổ không hợp lý. Những chi phí phát sinh từ hoạt động mua bán, chuyển nhượng, góp vốn, góp cổ phần trong quá trình thực hiện dự án cũng không được đưa vào cơ cấu giá bán trái quy định.

    Đối với các dự án có cả diện tích nhà ở xã hội và diện tích thương mại, dịch vụ hoặc các diện tích kinh doanh khác, việc phân bổ chi phí phải bảo đảm công khai, minh bạch, phù hợp với quy mô, công năng, diện tích sử dụng, mức độ đầu tư và giá trị thực tế của từng hạng mục. Việc phân bổ chi phí của phần diện tích thương mại, dịch vụ vào giá bán nhà ở xã hội nhằm làm tăng giá bán là không được phép.

    Bên cạnh đó, các hợp đồng xây dựng, cung cấp vật tư, thiết bị, tư vấn và giao dịch giữa chủ đầu tư với doanh nghiệp có quan hệ liên kết phải được chứng minh bằng hồ sơ đầy đủ, bao gồm tài liệu lựa chọn nhà thầu, báo giá, hồ sơ nghiệm thu, thanh toán, hóa đơn, chứng từ và các tài liệu liên quan, bảo đảm tính độc lập, phù hợp của giá giao dịch.

    UBND thành phố cũng yêu cầu chủ đầu tư thực hiện quyết toán, cập nhật và điều chỉnh giá bán nhà ở xã hội theo quy định. Trường hợp chi phí thực tế thấp hơn chi phí tạm tính trong cơ cấu giá bán, chủ đầu tư phải rà soát, điều chỉnh giảm giá bán hoặc thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan theo quy định; không được tiếp tục thu hoặc giữ lại khoản chênh lệch không có căn cứ.

    Đối với hành vi nâng khống giá trị vật liệu xây dựng, giá trị xây lắp hoặc các chi phí xây dựng trong cơ cấu hình thành giá bán nhà ở xã hội, văn bản chỉ đạo nhấn mạnh đây là hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt tiền của người mua nhà, cần được kiểm tra, làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật.

    Tập trung kiểm tra các dự án có giá bán cao bất thường

    UBND thành phố giao Sở Xây dựng lập danh sách các dự án nhà ở xã hội có giá bán cao bất thường, có phản ánh của người dân hoặc có dấu hiệu chưa bảo đảm tính minh bạch trong xác định giá để tổ chức kiểm tra theo thứ tự ưu tiên.

    Sở Xây dựng có trách nhiệm kiểm tra căn cứ xác định và thông báo giá bán của các dự án; đồng thời khẩn trương kiểm tra những dự án có giá bán cao bất thường. Khi có căn cứ xác định vi phạm pháp luật, cơ quan chức năng phải chuyển hồ sơ đến cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định.

    Theo yêu cầu tại văn bản, khi có đề nghị của cơ quan chức năng, chủ đầu tư phải cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu phục vụ công tác kiểm tra trong thời hạn 15 ngày làm việc.

    Một nội dung khác được lưu ý là nguy cơ vi phạm liên quan đến việc chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án, kể cả thông qua chuyển nhượng cổ phần, chuyển nhượng dự án khi chưa phát sinh doanh thu. UBND thành phố yêu cầu làm rõ các vấn đề liên quan đến cơ cấu chi phí, bảo đảm việc xác định giá bán nhà ở xã hội tuân thủ quy định pháp luật.

    Cùng với công tác kiểm tra, Sở Xây dựng được giao tiếp tục nghiên cứu, tham mưu UBND thành phố các giải pháp chỉ đạo kịp thời, đồng thời kiến nghị cấp có thẩm quyền hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nhà ở xã hội.

    Việc tăng cường kiểm soát chi phí đầu tư, minh bạch hóa cơ cấu giá bán và kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm được kỳ vọng sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của người mua nhà, hạn chế tình trạng trục lợi chính sách, bảo đảm nhà ở xã hội đến đúng đối tượng thụ hưởng.

    Ngày 12/10, tại trụ sở Thanh tra thành phố Bắc Ninh, Thanh tra thành phố tổ chức công bố Quyết định số 448/QĐ-TTTP.NV9 về thanh tra việc chấp hành pháp luật tại Dự án Khu nhà ở xã hội Cao Nguyên 3 và Dự án Khu nhà ở xã hội tại phường Đồng Nguyên.

    Theo quyết định, cuộc thanh tra tập trung vào việc chấp hành pháp luật về đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường, nghĩa vụ tài chính, nhà ở, kinh doanh bất động sản và các nội dung khác có liên quan tại hai dự án.

    Cụ thể, Dự án Khu nhà ở xã hội Cao Nguyên 3 tại phường Từ Sơn do Công ty TNHH Cao Nguyên, nay là Công ty cổ phần Cao Nguyên Bắc Ninh, làm chủ đầu tư; Dự án Khu nhà ở xã hội tại phường Đồng Nguyên do Công ty cổ phần Vạn Khởi Thành, trước đây là Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại Dầu khí Sông Hồng, làm chủ đầu tư.

    Đối tượng thanh tra gồm các Sở: Xây dựng, Tài chính, Nông nghiệp và Môi trường; UBND phường Từ Sơn; hai doanh nghiệp là chủ đầu tư cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến nội dung thanh tra. Thời kỳ thanh tra được xác định từ khi triển khai công trình, dự án đến nay. Trường hợp cần thiết, đoàn thanh tra có thể xem xét những nội dung liên quan trước hoặc sau thời kỳ này theo quy định.

    PV

    Nguồn https://baomoi.com/bac-ninh-kiem-tra-du-an-nha-o-xa-hoi-co-gia-ban-cao-bat-thuong-c56254628.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!