Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Để việc xử lý vi phạm trật tự đô thị không còn là cuộc ‘đuổi bắt’…

    Những “khoảng trống” quản lý

    Sự phát triển nhanh của các khu đô thị, khu nhà ở, khu dân cư đang làm thay đổi diện mạo nhiều xã, phường tại Hà Nội. Tuy nhiên, tốc độ hình thành dân cư đôi khi nhanh hơn quá trình hoàn thiện và bàn giao hạ tầng.

    Như câu chuyện mà Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội đã phản ánh tại một số khu đô thị chưa bàn giao ở phường Định Công – khi người dân đã về sinh sống, nhu cầu đi lại, mua bán, gửi xe, ăn uống, kinh doanh dịch vụ phát sinh từng ngày, trong khi một số hạng mục hạ tầng và không gian công cộng của dự án vẫn chưa được tổ chức, vận hành đầy đủ. Đây chính là một trong những điểm khó của công tác quản lý.

    Hạ tầng đang là bài toán khó về trật tự đô thị tại một số khu đô thị. Ảnh: Hậu Lộc

    Theo Luật sư Nguyễn Thanh Phương (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội), một khu đô thị chưa hoàn tất bàn giao không chỉ đặt ra câu hỏi về chất lượng hạ tầng mà còn liên quan trực tiếp đến trách nhiệm quản lý không gian công cộng. Đường nội bộ, vỉa hè, khu vực đỗ xe, cây xanh, hệ thống chiếu sáng hay các khu vực phục vụ cộng đồng nếu chưa được xác định rõ đơn vị quản lý, khai thác sẽ rất dễ xuất hiện những khoảng trống. Trong những khoảng trống ấy, các hoạt động dân sinh tự phát có thể hình thành.

    Một chiếc xe dừng tạm trên vỉa hè, một quầy hàng nhỏ đặt trước cửa, một vài vật dụng được để ngoài phần diện tích nhà ở… ban đầu có thể chỉ là những việc nhỏ. Nhưng khi không được định hướng và quản lý, những hành vi này có thể dần trở thành thói quen. Từ một vài điểm phát sinh có thể hình thành cả một khu vực lộn xộn, khiến việc xử lý về sau khó khăn hơn nhiều.

    Vì vậy, xử lý trật tự đô thị tại các khu đô thị, khu nhà ở không thể chỉ nhìn vào biểu hiện cuối cùng là vi phạm. Cần nhìn sâu hơn vào nguyên nhân: Hạ tầng đã đáp ứng nhu cầu chưa, trách nhiệm quản lý đã rõ chưa, các khu vực kinh doanh và đỗ xe đã được bố trí hợp lý chưa, người dân đã được hướng dẫn đầy đủ chưa?

    “Nếu những vấn đề này không được giải quyết, việc xử lý vi phạm có thể chỉ tạo ra kết quả tạm thời. Không gian vừa được lập lại có thể nhanh chóng bị sử dụng theo cách cũ bởi nhu cầu dân sinh vẫn còn đó”, Luật sư Nguyễn Thanh Phương nhìn nhận và cho rằng, cùng với tăng cường kiểm tra, chính quyền cơ sở cần phối hợp với chủ đầu tư rà soát toàn bộ những khu vực chưa hoàn tất bàn giao, xác định rõ trách nhiệm quản lý, tiến độ hoàn thiện và phương án tổ chức không gian. Khi “khoảng trống” quản lý được thu hẹp, công tác giữ gìn trật tự đô thị mới có nền tảng bền vững.

    Sinh kế và ý thức tuân thủ của người dân

    Một trong những bài toán khó của quản lý trật tự đô thị là làm sao vừa bảo đảm kỷ cương, vừa hạn chế ảnh hưởng đến đời sống và sinh kế của người dân. Đối với nhiều hộ kinh doanh nhỏ, việc buôn bán là nguồn thu nhập quan trọng. Tuy nhiên, nhu cầu mưu sinh không thể là lý do để chiếm dụng lòng đường, vỉa hè, gây cản trở giao thông hoặc ảnh hưởng đến quyền sử dụng không gian chung.

    Lực lượng Công an xã Ô Diên thường xuyên tuần tra, xử lý và tuyên truyền người dân tuân thủ các quy định về trật tự đô thị. Ảnh: Hậu Lộc

    Những hộ kinh doanh nhỏ cần được tuyên truyền, hướng dẫn để biết rõ giới hạn được phép sử dụng không gian trước nhà; được vận động sắp xếp hàng hóa, biển hiệu, phương tiện sao cho không cản trở người đi bộ và giao thông. Ở những nơi có điều kiện, cần nghiên cứu bố trí khu vực kinh doanh, điểm đỗ xe hoặc không gian dịch vụ phù hợp để đáp ứng một phần nhu cầu thực tế. Đây không phải là “nới lỏng” quản lý mà là giải quyết vấn đề từ gốc. Khi người dân có phương án sinh kế phù hợp, việc yêu cầu họ chấp hành các quy định về trật tự đô thị sẽ thực chất hơn.

    Tuy nhiên, sự chia sẻ của chính quyền cũng cần đi cùng trách nhiệm của người dân. Không thể vì thuận tiện cho một cá nhân mà biến vỉa hè thành nơi kinh doanh riêng, lòng đường thành bãi đỗ xe hay không gian chung thành phần mở rộng của cửa hàng. Ý thức đô thị bắt đầu từ việc mỗi người hiểu rằng quyền sử dụng không gian công cộng luôn đi cùng trách nhiệm tôn trọng quyền của những người khác.

    Đặc biệt, với những trường hợp đã được tuyên truyền, nhắc nhở nhưng cố tình vi phạm hoặc tái phạm, việc xử lý là cần thiết. Sự nghiêm minh ở đây không nhằm tạo sức ép, mà để bảo đảm một nguyên tắc công bằng: Mọi người cùng sống trong một không gian đô thị thì cùng phải tuân thủ những quy định chung.

    Không chỉ “dẹp” mà còn phải “giữ”

    Điểm khó nhất của công tác trật tự đô thị không nằm ở việc làm sạch một tuyến phố trong một ngày, mà là làm sao để tuyến phố ấy tiếp tục sạch đẹp trong những năm tháng sau đó. Đó là lý do các đợt ra quân chỉ nên được xem là một phần trong tổng thể giải pháp.

    Lực lượng Công an phường Khương Đình tuyên truyền hộ kinh doanh chấp hành quy định về trật tự đô thị. Ảnh: Hậu Lộc

    Sau kiểm tra, xử lý cần có cơ chế duy trì; sau tuyên truyền cần có giám sát; sau khi chủ đầu tư khắc phục hạ tầng cần xác định rõ trách nhiệm quản lý. Những khu vực thường xuyên phát sinh vi phạm phải được nhận diện như những “điểm cần quản lý thường xuyên”, thay vì chỉ được quan tâm khi có phản ánh.

    Một cách làm hiệu quả cần sự phối hợp của nhiều bên. Chính quyền giữ vai trò tổ chức, điều phối và kiểm tra; lực lượng chức năng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn; chủ đầu tư chịu trách nhiệm đối với những phần việc thuộc phạm vi của mình; tổ dân phố và cộng đồng dân cư tham gia giám sát; còn người dân là chủ thể trực tiếp tạo nên nếp sống đô thị.

    Khi tất cả các mắt xích này cùng vận hành, việc xử lý vi phạm sẽ không còn là cuộc “đuổi bắt” giữa lực lượng chức năng và người vi phạm. Thay vào đó là quá trình cùng điều chỉnh để không gian đô thị được sử dụng đúng mục đích.

    Một đô thị có trật tự là nơi người dân có thể đi bộ an toàn, hộ kinh doanh có không gian hoạt động phù hợp, phương tiện có chỗ dừng đỗ, hạ tầng được quản lý rõ ràng và các quy định được tôn trọng.

    Để đạt được điều đó, cần một cách tiếp cận sâu hơn đó là xử lý vi phạm nhưng đồng thời tháo gỡ nguyên nhân; giữ kỷ cương nhưng không bỏ qua sinh kế, chính quyền cần kiên trì tuyên truyền, giải thích để người dân hiểu rằng giữ vỉa hè thông thoáng, sử dụng lòng đường đúng quy định không chỉ phục vụ công tác quản lý mà trước hết bảo đảm quyền lợi chung của cộng đồng.

    Ở chiều ngược lại, người dân cũng cần chia sẻ với yêu cầu quản lý đô thị, chủ động điều chỉnh phương thức kinh doanh, sắp xếp phương tiện và hàng hóa đúng quy định. Chủ đầu tư các khu đô thị cần thực hiện đầy đủ trách nhiệm đối với phần hạ tầng thuộc phạm vi quản lý, phối hợp với chính quyền trong việc bảo đảm trật tự và vệ sinh môi trường.

    Theo báo cáo của Công an Hà Nội, trên lĩnh vực trật tự đô thị, trong 6 tháng năm 2026, toàn thành phố đã giải tỏa hơn 15 nghìn biển hiệu, hơn 8,6 nghìn mái che, mái vẩy; hơn 5,1 nghìn bục bệ, cầu dẫn; chỉnh trang nhiều tuyến phố, khu vực công cộng và xử lý các vi phạm lấn chiếm lòng đường, vỉa hè. Đến cuối tháng 6-2026 cũng đã giải tỏa 199/231 chợ cóc, điểm kinh doanh tự phát, đạt 86,1% tiến độ chung; kiểm tra, xử lý hơn 52 nghìn trường hợp vi phạm, phạt tiền hơn 35 tỷ đồng.

    Tại Hội nghị sơ kết 6 tháng thực hiện các nhiệm vụ giải quyết điểm nghẽn trật tự đô thị và ùn tắc giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội diễn ra vào cuối tháng 7-2026, Trung tướng Nguyễn Thanh Tùng, Giám đốc Công an Hà Nội nhấn mạnh, phải coi duy trì sau xử lý là nhiệm vụ trọng tâm, không để vi phạm tái diễn nhiều lần mà không xác định rõ trách nhiệm.

    Trong thời gian tới, Trung tướng Nguyễn Thanh Tùng yêu cầu các lực lượng chức năng phối hợp với chính quyền địa phương tập trung xử lý căn cơ các vấn đề liên ngành như chợ cóc, điểm kinh doanh tự phát, điểm trông giữ phương tiện, vệ sinh môi trường, biển hiệu, biển quảng cáo và hạ tầng vỉa hè.

    Hậu Lộc

    Nguồn https://baomoi.com/de-viec-xu-ly-vi-pham-trat-tu-do-thi-khong-con-la-cuoc-duoi-bat-c55851911.epi

  • Yêu cầu xử lý dứt điểm vi phạm đê điều trên tuyến đê Trường Yên

    Lãnh đạo xã Gia Hưng, tỉnh Ninh Bình kiểm tra đê tả Hoàng Long. Ảnh tư liệu – minh họa: Thùy Dung/TTXVN

    Sau khi nhận Văn bản số 10700/SNNMT-CCTL ngày 13/8/2026 của Sở Nông nghiệp và Môi trường báo cáo về kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về đê điều trên tuyến đê Trường Yên thuộc địa bàn phường Tây Hoa Lư, UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai ngay các biện pháp nhằm bảo đảm an toàn đê điều, thoát lũ và tuân thủ các quy định pháp luật về đê điều, phòng, chống thiên tai.

    Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình Trần Anh Dũng, trọng tâm chỉ đạo của UBND tỉnh là xử lý dứt điểm các vi phạm của Công ty cổ phần Gạch ngói sông Chanh và Công ty cổ phần Thương mại sản xuất Đức Phát HN trên tuyến đê Trường Yên. UBND phường Tây Hoa Lư được yêu cầu khẩn trương kiểm tra, xử lý các vi phạm; đồng thời, kiểm tra, ngăn chặn, không để phát sinh vi phạm mới hoặc tái vi phạm.

    Cùng với việc xử lý các vi phạm hiện tại, UBND phường Tây Hoa Lư phải xây dựng kế hoạch xử lý dứt điểm những vi phạm cũ còn tồn tại trên địa bàn theo đúng quy định của pháp luật. Đây được xác định là nhiệm vụ cần thực hiện nghiêm túc nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về đê điều tại địa phương.

    UBND tỉnh yêu cầu địa phương tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đê điều đến người dân và các doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến đê điều, bãi sông; tổ chức kiểm tra, rà soát việc quản lý, sử dụng bãi sông, lòng sông, bảo đảm phù hợp Luật Đê điều, quy hoạch phòng, chống lũ của các tuyến sông có đê và quy hoạch đê điều đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; qua đó, bảo vệ không gian thoát lũ trên các lưu vực sông.

    Đặc biệt, UBND tỉnh Ninh Bình yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức kiểm tra, rà soát tình hình vi phạm pháp luật về đê điều; phân công cán bộ phụ trách giám sát, theo dõi việc tháo dỡ, giải tỏa các vi phạm của Công ty cổ phần Gạch ngói sông Chanh và Công ty cổ phần Thương mại sản xuất Đức Phát HN.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với UBND phường Tây Hoa Lư xây dựng kế hoạch xử lý, giải tỏa vi phạm, bảo đảm thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; đồng thời, sở phải có trách nhiệm đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đê điều tới các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến đê điều, bãi sông và hành lang thoát lũ.

    UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường, UBND phường Tây Hoa Lư khẩn trương triển khai thực hiện và chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh và trước pháp luật nếu thiếu kiên quyết trong xử lý các vi phạm đê điều, thoát lũ trên địa bàn; báo cáo kết quả xử lý, giải tỏa vi phạm về UBND tỉnh trước ngày 30/8/2026.

    Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình khu vực khu vực chân đê Trường Yên, phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đoạn từ Km6+700 đến Km7+580 hiện có hai đơn vị hoạt động gồm Công ty cổ phần Gạch ngói Sông Chanh và Công ty cổ phần Thương mại Sản xuất Đức Phát HN; toàn bộ diện tích trên nằm trong hành lang bảo vệ đê Trường Yên và hành lang thoát lũ sông Hoàng Long, đến thời điểm hiện tại, cả hai đơn vị đều chưa được cấp phép thực hiện hoạt động sửa chữa, đóng mới tàu thuyền tại khu vực này.

    Việc UBND tỉnh Ninh Bình yêu cầu xử lý dứt điểm các vi phạm; đồng thời, giao cơ quan chuyên môn trực tiếp giám sát quá trình tháo dỡ, giải tỏa cho thấy yêu cầu tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương và cơ quan quản lý chuyên ngành trong bảo vệ an toàn công trình đê điều, bảo đảm không gian thoát lũ và phòng ngừa tái diễn vi phạm trên tuyến đê Trường Yên.

    Thái Thuần (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/yeu-cau-xu-ly-dut-diem-vi-pham-de-dieu-tren-tuyen-de-truong-yen-c55851566.epi

  • Tỉnh ủy Bắc Ninh phát động Đợt cao điểm tiếp nhận, giải quyết khó khăn từ cơ sở

    Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh Nguyễn Hồng Thái cùng các đồng chí lãnh đạo tỉnh kiểm tra tại Trung tâm phục vụ hành chính công phường Từ Sơn. (Ảnh: M.A)

    Thường trực Tỉnh ủy Bắc Ninh phát động Đợt cao điểm tiếp nhận, giải quyết khó khăn, vướng mắc trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị tại các địa phương qua Phần mềm Đường dây nóng của Bí thư Tỉnh ủy (tại địa chỉ https://hotline.bacninh.dcs.vn).

    Trong Đợt cao điểm, mỗi đồng chí Bí thư đảng ủy xã, phường chủ động lựa chọn 1-3 điểm nghẽn cần tháo gỡ thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, gửi phản ánh, kiến nghị tới đồng chí Bí thư Tỉnh ủy trên phần mềm chậm nhất vào ngày 20/8/2026.

    Theo đó, các đồng chí Bí thư đảng ủy xã, phường chịu trách nhiệm trước Thường trực Tỉnh ủy về việc rà soát các điểm nghẽn, phản ánh những khó khăn, vướng mắc thuộc trách nhiệm của mình theo tinh thần “mỗi điểm nghẽn-một địa chỉ trách nhiệm-một kiến nghị”; không để tình trạng né tránh, không phản ánh hoặc để tồn tại kéo dài những vấn đề cần tháo gỡ thuộc thẩm quyền của cấp tỉnh. Khuyến khích các đồng chí Bí thư đảng ủy xã, phường chủ động phản ánh kịp thời khi phát sinh khó khăn, vướng mắc mà địa phương đã nỗ lực, phối hợp giải quyết nhưng chưa hiệu quả.

    Nội dung phản ánh, kiến nghị phải cụ thể, rõ vấn đề, rõ khó khăn, vướng mắc và thẩm quyền; khuyến khích chủ động đề xuất hướng xử lý trên cơ sở phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tình hình thực tiễn của địa phương.

    Cùng với đó, thường xuyên theo dõi tình trạng xử lý phản ánh, kiến nghị trên Phần mềm; kịp thời bổ sung thông tin, phối hợp làm rõ nội dung khi có yêu cầu; đánh giá kết quả giải quyết chậm nhất 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được trả lời.

    Đối với trường hợp nội dung phức tạp chưa thể giải quyết ngay, phải nêu rõ nguyên nhân, khó khăn, vướng mắc, hướng giải quyết, trách nhiệm của cơ quan liên quan và thời gian dự kiến hoàn thành; đồng thời, khuyến khích các đồng chí thủ trưởng cơ quan, đơn vị cấp tỉnh tổ chức làm việc trực tiếp với địa phương để xử lý dứt điểm và báo cáo kết quả với đồng chí Bí thư Tỉnh ủy…

    Trước đó, sau hơn một tháng triển khai sử dụng Phần mềm Đường dây nóng của Bí thư Tỉnh ủy (tại địa chỉ https://hotline.bacninh.dcs.vn), Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh nhận thấy số lượng phản ánh, kiến nghị về những khó khăn, vướng mắc còn hạn chế. Điều này cho thấy có tình trạng Bí thư Đảng ủy các xã, phường ngại phản ánh hoặc có trường hợp chưa nắm rõ những vướng mắc cần giải quyết của địa phương mình; qua đó có nguy cơ dẫn tới các vướng mắc không được phản ánh và tháo gỡ kịp thời, ảnh hưởng tới cơ hội phát triển của địa phương và chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của tỉnh.

    MINH ANH

    Nguồn https://baomoi.com/tinh-uy-bac-ninh-phat-dong-dot-cao-diem-tiep-nhan-giai-quyet-kho-khan-tu-co-so-c55851545.epi

  • Đường dây 220kV Thanh Hóa – Bỉm Sơn được chấp thuận nhà đầu tư

    Phối cảnh mặt bằng tuyến đường dây từ phía Trạm biến áp 220kV Bỉm Sơn (Ảnh: EVNNPT).

    Dự án có quy mô xây dựng đường dây 220kV mạch kép, điểm đầu từ Trạm biến áp (TBA) 500kV Thanh Hóa, điểm cuối tại TBA 220kV Bỉm Sơn, với tổng chiều dài hơn 34 km và các thiết bị đồng bộ tại hai đầu trạm.

    Trong đó, dự án xây dựng mới tuyến đường dây 220kV trên không từ vị trí G8A đến TBA 220kV Bỉm Sơn, chiều dài khoảng 21,82km. Đoạn tuyến từ thanh cái 220kV TBA 500kV Thanh Hóa đến vị trí G8A được đầu tư trong Dự án đường dây 220kV Thanh Hóa – Hậu Lộc.

    Tuyến đường dây đi qua địa bàn các xã, phường: Thiệu Hóa, Thiệu Quang, Định Hòa, Biện Thượng, Tống Sơn, Hà Long và Quang Trung, tỉnh Thanh Hóa.

    Diện tích đất dự kiến chiếm dụng phục vụ dự án khoảng hơn 5,5ha; diện tích ảnh hưởng trong hành lang bảo vệ an toàn tuyến đường dây hơn 82,5ha.

    Dự án đường dây 220kV Thanh Hóa – Bỉm Sơn thuộc quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện trong Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 153/QĐ-TTg ngày 27/02/2023, điều chỉnh tại Quyết định số 1575/QĐ-UBND ngày 30/5/2026 của Chủ tịch UBND tỉnh.

    Sau khi hoàn thành, dự án sẽ góp phần tăng cường năng lực truyền tải của lưới điện hiện hữu, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phụ tải phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; tăng cường liên kết giữa các khu vực trong hệ thống điện quốc gia, nâng cao độ ổn định, an toàn trong vận hành. Đồng thời, công trình góp phần giảm tổn thất điện năng trên lưới truyền tải, nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống điện.

    Phối cảnh mặt bằng tuyến của dự án.

    Quyết định chấp thuận nhà đầu tư là cơ sở để EVNNPT thực hiện các thủ tục về quy hoạch, đất đai, lâm nghiệp, xây dựng, điện lực, môi trường, phòng cháy và chữa cháy, lao động, bảo hiểm, đấu nối, giấy phép hoạt động điện lực và các thủ tục pháp lý khác theo quy định.

    Trong quá trình triển khai, tỉnh Thanh Hóa giao EVNNPT có trách nhiệm rà soát, bố trí vị trí móng cột phù hợp; thực hiện đầy đủ thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, đất rừng; bảo đảm hành lang an toàn đường bộ, tĩnh không tại các vị trí giao cắt và hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp; không để ảnh hưởng đến các công trình, dự án và quy hoạch có liên quan.

    EVNNPT cũng được yêu cầu phối hợp chặt chẽ với chính quyền các xã, phường và cơ quan liên quan trong xác định ranh giới, vị trí thực hiện dự án, làm cơ sở cập nhật vào quy hoạch theo quy định; thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo tiến độ, giám sát, đánh giá đầu tư và kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc phát sinh.

    UBND tỉnh giao các sở, ngành, địa phương liên quan hướng dẫn, phối hợp giải quyết kịp thời các hồ sơ, thủ tục, tạo điều kiện triển khai dự án theo đúng quy định; đồng thời báo cáo, tham mưu cấp có thẩm quyền xử lý những khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền.

    Công nhân kiểm tra, rà soát các khiếm khuyết tiềm ẩn trên lưới tại Trạm biến áp 220kV Nông Cống.

    Hiện, lưới điện truyền tải 220kV trên địa bàn Thanh Hóa có 5 trạm biến áp gồm: Bỉm Sơn, Nông Cống, Ba Chè, Nghi Sơn và Khu Kinh tế Nghi Sơn, với tổng công suất 2.500 MVA; tổng chiều dài đường dây 220kV gần 578 km.

    Cùng với Dự án Trạm biến áp 220kV Sầm Sơn và đường dây đấu nối 220kV Thanh Hóa – Sầm Sơn đang chuẩn bị hoàn thành, Dự án đường dây 220kV Thanh Hóa – Bỉm Sơn vừa được chấp thuận nhà đầu tư sẽ tiếp tục tăng cường năng lực truyền tải, khả năng liên kết và độ tin cậy của hệ thống điện trên địa bàn; đáp ứng nhu cầu vận hành của nhiều khu công nghiệp, dự án sản xuất mới chuẩn bị đi vào hoạt động.

    Tùng Lâm

    Nguồn https://baomoi.com/duong-day-220kv-thanh-hoa-bim-son-duoc-chap-thuan-nha-dau-tu-c55851873.epi

  • Phú Thọ dự chi 77 tỷ đồng phát triển điện mặt trời mái nhà công sở

    7 tháng đầu năm 2026, Công ty Điện lực Phú Thọ đã ghi nhận phát triển được 1.322 khách hàng lắp đặt điện mặt trời mái nhà với tổng công suất 61,77 MW.

    Theo báo cáo của Sở Công Thương Phú Thọ, cơ quan chủ trì xây dựng Đề án phát triển điện mặt trời mái nhà tại các tòa nhà công sở cấp tỉnh, quá trình khảo sát, rà soát hiện trạng đã được triển khai tại 65 cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh.

    Việc khảo sát tập trung đánh giá hiện trạng công trình, diện tích và kết cấu mái, điều kiện đấu nối, khả năng lắp đặt hệ thống điện mặt trời cùng các yếu tố kỹ thuật liên quan.

    Qua rà soát, Sở Công Thương đã lựa chọn 37 cơ quan, đơn vị đáp ứng đầy đủ các điều kiện để triển khai điện mặt trời mái nhà trong giai đoạn đầu.

    Theo phương án đề xuất, tổng diện tích mái dự kiến được sử dụng để lắp đặt hệ thống điện mặt trời đạt hơn 42.000 m². Tổng công suất thiết kế khoảng 4,28 MWp, với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 77 tỷ đồng.

    Dự án được dự kiến triển khai theo hai giai đoạn trong các năm 2026 và 2027. Việc phân kỳ đầu tư nhằm phù hợp với điều kiện thực tế của từng cơ quan, đơn vị, đồng thời tạo cơ sở để từng bước mở rộng việc khai thác nguồn điện mặt trời tại các công trình công sở.

    Phát triển điện mặt trời mái nhà tại khu vực công sở được kỳ vọng góp phần tận dụng hiệu quả diện tích mái hiện có, bổ sung nguồn điện tại chỗ và giảm nhu cầu sử dụng điện từ hệ thống trong thời gian cao điểm. Đây cũng là hướng đi phù hợp với yêu cầu thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và phát triển các nguồn năng lượng sạch.

    Với quy mô 37 cơ quan, đơn vị trong giai đoạn đầu, Đề án của Phú Thọ không chỉ đặt mục tiêu hình thành thêm nguồn điện phân tán mà còn có thể tạo mô hình để đánh giá hiệu quả đầu tư, vận hành và nhân rộng điện mặt trời mái nhà tại các công trình công cộng trên địa bàn trong thời gian tới.

    Diệu Đan

    Nguồn https://baomoi.com/phu-tho-du-chi-77-ty-dong-phat-trien-dien-mat-troi-mai-nha-cong-so-c55851632.epi

  • Đến hết năm 2027, cơ bản hoàn thành Hệ thống thông tin quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai

    Đến hết năm 2027, cơ bản hoàn thành Hệ thống thông tin quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai

    Mục đích, yêu cầu Kế hoạch đặt ra là việc xây dựng, sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan phải được thực hiện đồng bộ, thống nhất, bảo đảm kế thừa các quy định còn phù hợp, tăng cường tham vấn chuyên gia, nhà khoa học, người dân, cộng đồng doanh nghiệp và các đối tượng chịu tác động để bảo đảm chất lượng chính sách và tính khả thi của văn bản pháp luật.

    Quá trình tổ chức thực hiện phải gắn kết chặt chẽ giữa hoàn thiện thể chế với cải cách hành chính, chuyển đổi số, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và bảo đảm nguồn lực thực hiện; phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương trên cơ sở tăng cường kiểm tra, giám sát của Trung ương. 

    Tăng cường công khai, minh bạch, ứng dụng công nghệ số trong quản lý, sử dụng đất; bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, doanh nghiệp; nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan báo chí và Nhân dân đối với việc thực hiện Nghị quyết.

    Nhằm đạt được mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 21-NQ/TW và Kế hoạch số 07-KH/TW, trong thời gian tới, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần cụ thể hóa và quyết liệt tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ.

    Tuyên truyền, phổ biến, thống nhất nhận thức về quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    Trong đó, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tiễn của từng cơ quan, địa phương; bảo đảm việc triển khai đồng bộ, thống nhất, hiệu quả từ trung ương đến địa phương.

    Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức tuyên truyền theo hướng lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; tăng cường ứng dụng nền tảng số, hệ thống truyền thông đa phương tiện, báo chí, xuất bản để phổ biến kịp thời các chủ trương, chính sách mới về đất đai.

    Tập trung tuyên truyền làm rõ các nội dung cốt lõi của Nghị quyết, nhất là nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; quyền, trách nhiệm của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; yêu cầu sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, bền vững; phát huy nguồn lực đất đai cho phát triển nhưng đồng thời phải bảo đảm công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

    Đẩy mạnh phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp thực hiện công tác quản lý đất đai; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu đối với đội ngũ làm công tác xây dựng pháp luật, quy hoạch, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất, định giá đất, đăng ký đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai.

    Hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý và sử dụng đất đồng bộ với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    Các bộ, ngành, địa phương khẩn trương rà soát toàn diện Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; đánh giá đầy đủ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành; xác định rõ các nội dung cần sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

    Tập trung xây dựng dự án Luật Đất đai (sửa đổi) theo đúng tiến độ được cấp có thẩm quyền giao; bảo đảm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về đổi mới công tác quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giá đất, tài chính đất đai, thị trường quyền sử dụng đất, quản lý đất nông nghiệp, đất đa mục đích, đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế và các cơ chế xử lý các hạn chế vướng mắc về đất đai do lịch sử để lại.

    Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về đất đai

    Mục tiêu nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, theo đó, đổi mới căn bản phương thức quản lý nhà nước về đất đai theo hướng quản trị hiện đại về đất đai, công khai, minh bạch, dựa trên dữ liệu số; xây dựng hệ thống quản lý đất đai thống nhất từ trung ương đến địa phương; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực; tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận đất đai và thực hiện thủ tục hành chính. Đến hết năm 2027, cơ bản hoàn thành Hệ thống thông tin quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

    Các bộ, ngành và địa phương tiếp tục rà soát, đơn giản hóa trình tự, thủ tục hành chính về quy hoạch, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, giá đất, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các thủ tục hành chính khác có liên quan; cắt giảm tối đa các khâu trung gian, loại bỏ những quy định không còn phù hợp, giảm thời gian giải quyết hồ sơ và chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.

    Xây dựng, vận hành Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiện đại, đa mục tiêu; bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu chuyên ngành về quy hoạch, thuế, công chứng, ngân hàng, bất động sản… cập nhật đầy đủ, kịp thời các biến động đất đai, đảm bảo yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung” nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước, hoạch định chính sách và cung cấp dịch vụ công.

    Ưu tiên bố trí nguồn lực để đảm bảo đến hết năm 2027 cơ bản hoàn thành công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai.

    Ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong công tác quản lý đất đai.

    Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai

    Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên, hiệu quả trong quản lý và sử dụng đất; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội và tăng cường niềm tin của Nhân dân.

    Tập trung giải quyết cơ bản những hạn chế, khuyết điểm, vướng mắc kéo dài trong quản lý, sử dụng đất

    Rà soát toàn diện hiện trạng quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh; xác định rõ diện tích không đầu tư, giao khoán không đúng đối tượng, bị lấn, chiếm, tranh chấp; phân định rõ diện tích do công ty nông, lâm nghiệp tiếp tục sử dụng với diện tích giao địa phương quản lý; giải quyết dứt điểm tình trạng chồng lấn, tranh chấp, khiếu kiện; xây dựng phương án thu hồi đất để giao cho địa phương quản lý, thực hiện giao đất, cho thuê đất theo quy định, phù hợp với điều kiện từng địa phương, vùng, miền; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

    Bên cạnh đó, rà soát quỹ đất cơ quan, trụ sở dôi dư, đất sau cổ phần hóa, thoái vốn, dự án tồn đọng, kéo dài; đất của các cơ sở sản xuất, đơn vị sự nghiệp đã di dời khỏi trung tâm đô thị lớn. Có cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả quỹ đất này bảo đảm thực hiện công khai, minh bạch việc thu hồi, giao đất, cho thuê đất, đấu giá, đấu thầu theo quy hoạch; kiên quyết thu hồi các khu đất sử dụng sai mục đích, để hoang hóa, lãng phí hoặc chậm đưa vào sử dụng.

    Đồng thời, triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất và sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo các chương trình mục tiêu quốc gia.

    DANH MỤC NHIỆM VỤ TRONG TÂM THỰC HIỆN KẾ HOẠCH./.

    Nguồn https://baomoi.com/den-het-nam-2027-co-ban-hoan-thanh-he-thong-thong-tin-quoc-gia-va-co-so-du-lieu-quoc-gia-ve-dat-dai-c55851642.epi

  • Phiên họp thứ 5 UBTV Quốc hội: Không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc.

    Quang cảnh phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 17/8. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Tự công bố, tự chịu trách nhiệm gắn với quy trình, quy phạm, quy chuẩn

    Theo Báo cáo của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng trình bày, tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm tra, Chính phủ chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục rà soát và dự kiến hoàn thiện dự thảo luật, dự thảo văn bản quy định chi tiết theo hướng bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật. Việc cắt giảm các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh được thực hiện dựa trên nguyên tắc: không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết, không rõ mục tiêu quản lý và quản lý dựa trên rủi ro, dữ liệu.

    Đối với việc phân quyền thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính gắn với nâng cao năng lực thực thi của địa phương, Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương khẩn trương chuẩn bị đầy đủ các điều kiện bảo đảm thi hành, ban hành kịp thời các văn bản quy định chi tiết, quy chuẩn kỹ thuật, tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ và triển khai các giải pháp nâng cao năng lực thực thi của chính quyền địa phương, bảo đảm việc phân quyền được thực hiện thống nhất, hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tiễn.

    Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Trần Văn Khải trình bày báo cáo ý kiến đối với nội dung cơ quan trình dự kiến tiếp thu, giải trình và chỉnh lý các dự thảo. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Trần Văn Khải cho biết, Thường trực Ủy ban thống nhất với tiếp thu, giải trình của Chính phủ về ý kiến đối với quy định chấp thuận trao đổi quốc tế nguồn gen giống vật nuôi; đề nghị quản lý thức ăn chăn nuôi phải bảo đảm thống nhất với pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, hàng hóa; xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử, quản lý rủi ro trong hậu kiểm, công khai kết quả kiểm tra, truy xuất nguồn gốc; hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo cán bộ địa phương và người chăn nuôi; phân định hoạt động kiểm dịch có tính chất địa phương với hoạt động liên vùng, xuất nhập khẩu.

    Cho ý kiến về nội dung này, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến nhấn mạnh, việc cắt giảm thủ tục hành chính và ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhằm khơi thông nguồn lực, tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng, thúc đẩy các thành phần kinh tế đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh.

    Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội nêu rõ, việc này không có nghĩa là bỏ vai trò quản lý của cơ quan Nhà nước, mà chuyển sang hai hình thức khác phù hợp hơn. Theo đó, hình thức thứ nhất là chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, phát huy vai trò của chủ thể kinh doanh. Điều kiện này chỉ áp dụng được khi cơ quan Nhà nước ban hành quy trình, quy phạm, quy chuẩn.

    Hình thức thứ hai là tự công bố và chịu trách nhiệm, chịu sự giám sát của cơ quan Nhà nước. Cơ quan Nhà nước có quyền đình chỉ bất cứ giai đoạn nào khi phát hiện có vi phạm. Ngoài ra còn chịu sự giám sát của xã hội và người tiêu dùng.

    Nhấn mạnh “việc cấm vẫn phải cấm”, bởi nếu không cấm thì sau này sẽ không có căn cứ pháp luật để xử lý các hành vi vi phạm, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội đề nghị trong báo cáo cần lưu ý đến việc hậu kiểm và việc tự công bố, tự chịu trách nhiệm phải gắn với quy trình, quy phạm, quy chuẩn.

    Làm rõ tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng băng tần khi cấp lại giấy phép

    Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường và ý kiến của các đại biểu Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân trình bày.

    Theo Báo cáo, về cấp giấy phép sử dụng băng tần đối với doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh (khoản 2 Điều 1), nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội đồng tình với quy định tăng thời hạn giấy phép sử dụng băng tần từ 3 năm lên 5 năm và đưa thời điểm đánh giá hiệu quả Đề án từ 3 tháng lên 9 tháng trước khi giấy phép hết hạn vì đầu tư hạ tầng viễn thông cần thời gian và nguồn lực lớn nên thời hạn 3 năm chưa phù hợp để đánh giá đầy đủ hiệu quả triển khai Đề án.

    Chính phủ ghi nhận và đánh giá cao các ý kiến đồng tình, thống nhất của đại biểu. Việc điều chỉnh này là cần thiết, phù hợp với đặc thù đầu tư hạ tầng viễn thông có quy mô lớn, thời gian triển khai và thu hồi vốn dài, tạo điều kiện để có đủ cơ sở, dữ liệu đánh giá khách quan, toàn diện hiệu quả sử dụng băng tần, hiệu quả đầu tư và kết quả thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, qua đó bảo đảm việc xem xét tiếp tục thực hiện Đề án được thực hiện trên cơ sở đầy đủ thông tin và phù hợp với thực tiễn triển khai.

    Báo cáo ý kiến về việc tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trần Văn Khải cho biết, Thường trực Ủy ban đề nghị làm rõ thêm về tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng băng tần khi cấp lại giấy phép (khoản 5 Điều 1 dự thảo Luật). Hiệu quả sử dụng băng tần đã được kiểm soát qua cam kết triển khai mạng và chế tài thu hồi giấy phép; tuy nhiên, đề nghị Chính phủ quy định rõ trình tự, thời điểm thu hồi và phương án tái phân bổ công khai, minh bạch băng tần sau thu hồi; rà soát quy hoạch hạ tầng viễn thông thụ động.

    Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thảo luận ở tổ và tại hội trường của các đại biểu Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc do Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày.

    Theo đó, về bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc (sửa đổi, thay thế Điều 5) và yêu cầu đối với kiến trúc đô thị, kiến trúc nông thôn (sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 11), Chính phủ đã rà soát, chỉnh lý Điều 11 về yêu cầu đối với kiến trúc đô thị, kiến trúc nông thôn và Điều 12 về thiết kế kiến trúc theo hướng quy định kiến trúc tại đô thị, nông thôn phải kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, đồng thời phát triển phong cách kiến trúc hiện đại, tiên tiến, hài hòa với không gian kiến trúc, cảnh quan của khu vực xây dựng công trình.

    Đối với các ý kiến đề nghị bổ sung quy định về kiến trúc xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, vật liệu thân thiện môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, pháp luật về kiến trúc đã quy định tại Điều 6 về chính sách của Nhà nước trong hoạt động kiến trúc, bao gồm xây dựng định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam; xây dựng cơ sở dữ liệu, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về kiến trúc và mẫu thiết kế kiến trúc đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, thân thiện với môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai.

    Báo cáo ý kiến về việc tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trần Văn Khải cho biết, những nội dung về thi tuyển phương án kiến trúc (Điều 17); cải cách Chứng chỉ hành nghề (Điều 21, 24, 27);  quy định khung tiêu chí đối với “Bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc” (Điều 5) đã được tiếp thu, chỉnh lý.

    Bên cạnh việc Cơ quan chủ trì soạn thảo có nhiều nỗ lực trong việc tiếp thu, chỉnh lý để hoàn thiện dự thảo Luật, Thường trực Ủy ban nhận thấy vẫn còn 4 vấn đề cần cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo tính khả thi, gồm: việc phân cấp ban hành Quy chế quản lý kiến trúc gắn với cơ chế kiểm soát (Điều 14, Điều 15); rút ngắn thời gian thẩm định quy hoạch (sửa khoản 4 Điều 40 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn); vai trò của tổ chức xã hội – nghề nghiệp; áp lực lên hệ thống văn bản dưới luật.

    Tăng cường hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc

    Qua thảo luận, các Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cơ bản nhất trí với nhiều nội dung giải trình, tiếp thu, chỉnh lý của Chính phủ đối với 3 dự án Luật.

    Đối với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát, chỉnh lý, bổ sung cơ chế quản lý thay thế bảo đảm đủ mạnh và khả thi khi bãi bỏ điều kiện buôn bán giống cây trồng, phân bón.

    Cùng với đó, tăng cường công tác hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát hàng giả, hàng kém chất lượng, bảo đảm quyền lợi của người dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chỉnh lý, hoàn thiện cơ chế rà soát, đánh giá lại định kỳ và đột xuất danh mục thuốc bảo vệ thực vật đã được cấp phép lưu hành; kịp thời quyết định hạn chế sử dụng hoặc loại bỏ các danh mục thuốc không còn bảo đảm an toàn, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường.

    Đối với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 luật trong lĩnh vực khoa học công nghệ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu rà soát, bổ sung quy định hoặc giải trình làm rõ trình tự, thời điểm thu hồi và phương án xử lý, tái phân bổ băng tần sau thu hồi bảo đảm kịp thời, công khai, minh bạch và hiệu quả sử dụng tài nguyên tần số, không để thất thoát, lãng phí; tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy hoạch hạ tầng viễn thông thụ động bảo đảm đồng bộ, tiết kiệm nguồn lực, tránh đầu tư trùng lặp và tạo thuận lợi cho sử dụng chung cơ sở hạ tầng viễn thông…

    Đối với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát kỹ lưỡng, chỉnh lý hoàn thiện các quy định về phân cấp việc lập, ban hành quy chế quản lý kiến trúc cho chính quyền cấp xã gắn với cơ chế kiểm soát chuyên môn của cơ quan quản lý cấp tỉnh. Việc cắt giảm thời gian thẩm định đồ án quy hoạch cần bảo đảm tính khả thi, tránh nguy cơ thẩm định hình thức. Cùng với đó bổ sung lộ trình chuyển giao chức năng quản lý chứng chỉ hành nghề kiến trúc cho các tổ chức xã hội – nghề nghiệp chuyên ngành nhằm đẩy mạnh xã hội hóa và giảm tải cho cơ quan quản lý nhà nước…

    Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua 3 dự thảo luật nêu trên sau khi được tiếp thu, chỉnh lý theo kết luận chính thức của phiên họp.

    Phan Phương (TTXVN )

    Nguồn https://baomoi.com/phien-hop-thu-5-ubtv-quoc-hoi-khong-can-thiep-vao-hoat-dong-san-xuat-kinh-doanh-cua-doanh-nghiep-c55851646.epi

  • Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi)

    Chiều 17/8, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).

    Dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).

    Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp

    Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng đã trình bày Báo cáo tóm tắt về việc tiếp thu, giải trình ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội (ĐBQH) thảo luận tại Tổ, tại Hội trường và ý kiến thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội đối với dự án Luật.

    Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết, đa số các ĐBQH tán thành về sự cần thiết ban hành Luật nhằm kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phát triển ngành dầu khí, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế biển.

    Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng khẳng định, dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ với hệ thống pháp luật, điều ước quốc tế, yêu cầu quốc phòng – an ninh; đồng thời, cắt giảm thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.

    Thông tin về một số nội dung các ĐBQH quan tâm, cho ý kiến trong thời gian qua, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh lý các nội dung:

    Thứ nhất, về thu giữ, lưu trữ carbon (CCS) và công trình năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí.

    Theo Bộ trưởng, Chính phủ đã tiếp thu, chỉnh lý theo hướng điều chỉnh hoạt động CCS và các công trình năng lượng ngoài khơi gắn trực tiếp với hoạt động dầu khí. Đồng thời, làm rõ quyền của nhà thầu đối với tín chỉ carbon; trách nhiệm giám sát, quan trắc và khắc phục sự cố sau khi đóng mỏ. Cùng với đó, khuyến khích dùng chung hạ tầng sẵn có nhưng phải bảo đảm an toàn và không ảnh hưởng đến hoạt động dầu khí.

    Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng trình bày Báo cáo tóm tắt về việc tiếp thu, giải trình ý kiến của các ĐBQH và ý kiến thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội đối với dự án Luật.

    Thứ hai, dịch vụ dầu khí kỹ thuật công nghệ cao. Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, Chính phủ đã thu hẹp phạm vi áp dụng đối với các dịch vụ công nghệ cao phục vụ trực tiếp cho điều tra cơ bản và hoạt động dầu khí thượng nguồn.

    Bổ sung các tiêu chí xác định cụ thể, đồng thời tăng ưu đãi về đầu tư, thuế, đất đai thực hiện theo pháp luật chuyên ngành; tập trung khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng, làm chủ và chuyển giao công nghệ.

    Thứ ba, về phân cấp, phân quyền và vai trò của Petrovietnam.

    Chính phủ đã tiếp thu, chỉnh lý theo hướng phân định rõ chức năng của Petrovietnam, tách bạch giữa hoạt động điều tra cơ bản, vai trò nhà đầu tư và các chức năng đặc thù do Nhà nước giao.

    Đồng thời, bổ sung cơ chế hậu kiểm, yêu cầu Petrovietnam báo cáo định kỳ cho cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động dầu khí – Bộ Công Thương.

    Ngoài ra, các nội dung liên quan đến quốc phòng, an ninh, bất khả kháng vẫn do cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí phê duyệt để bảo đảm sự kiểm soát trực tiếp.

    Thứ tư, về chính sách ưu đãi và khai thác tận thu.

    Chính phủ tiếp tục giữ nguyên các mức ưu đãi đặc thù để bảo đảm tính ổn định và khả năng dự báo môi trường đầu tư. Đồng thời, làm rõ thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ đối với dự án đặc biệt quan trọng; quy định ưu đãi nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR) không quá 10% chi phí thu hồi bổ sung. Và bổ sung cơ chế xử lý quỹ đối với khai thác tận thu, bảo đảm nghĩa vụ thu dọn và trách nhiệm môi trường.

    Thứ năm, về hợp đồng dầu khí.

    Chính phủ làm rõ nguyên tắc phân định trường hợp điều chỉnh hợp đồng và thời hạn gia hạn (không quá 15 năm đối với nâng cao hệ số thu hồi dầu). Các quy định về thu hồi chi phí, chấm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp được kế thừa từ pháp luật hiện hành nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà thầu.

    Thứ sáu, về kế hoạch phát triển mỏ (ODP, EDP, FDP).

    Chính phủ khẳng định đây là các hồ sơ đặc thù của ngành dầu khí, có thể thay thế Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi/khả thi để tránh trùng lặp, nhưng vẫn phải tuân thủ pháp luật về đất đai, môi trường, quốc phòng – an ninh.

    Thứ bảy, về xử lý chi phí của Petrovietnam. Chính phủ đã làm rõ nguồn kinh phí điều tra cơ bản, tách bạch tài chính doanh nghiệp và bổ sung cơ chế chuyển tiếp xử lý chi phí phát sinh trước khi Luật Dầu khí 2022 có hiệu lực.

    Sớm hoàn thiện khung pháp lý toàn diện về hoạt động CCS

    Trình bày báo cáo tóm tắt ý kiến đối với nội dung tiếp thu, giải trình, chỉnh lý của dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi), ông Nguyễn Ngọc Bảo, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cho biết, Thường trực Uỷ ban cơ bản tán thành với dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đã được chỉnh lý trên cơ sở tiếp thu tối đa ý kiến của các ĐBQH và ý kiến thẩm tra của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.

    Ông Nguyễn Ngọc Bảo, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội trình bày báo cáo tóm tắt ý kiến đối với nội dung tiếp thu, giải trình, chỉnh lý của dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).

    Song, về phân cấp, phân quyền cho Bộ Công Thương và giao quyền cho Petrovietnam, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề xuất với Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ chú trọng chỉ đạo việc xây dựng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật này bảo đảm quy định rõ ràng về cơ chế, quy trình phối hợp; gắn phân quyền quyết định với phân quyền trách nhiệm của Bộ Công Thương nhưng vẫn phải bảo đảm thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan có liên quan.

    Thường trực Ủy ban cũng đề xuất Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ chỉ đạo công tác tổ chức thực hiện bảo đảm thực sự thuận lợi, hiệu quả, thông suốt việc triển khai các hoạt động dầu khí, bảo đảm các dự án nhanh chóng đi vào triển khai thực hiện trong thực tế, đặc biệt là đối với dự án phát triển mỏ dầu khí có chuỗi đồng bộ các hạng mục công trình, thiết bị dầu khí trên đất liền và trên biển.

    Về quy định trong hoạt động thu giữ, xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ carbon (hoạt động CCS), Thường trực Ủy ban đề xuất Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, quy định đầy đủ, cụ thể việc triển khai thực hiện hoạt động CCS gắn với hoạt động dầu khí, đặc biệt là giai đoạn sau khi kết thúc hoạt động khai thác dầu khí bảo đảm đầy đủ cơ sở pháp lý và tính khả thi.

    Thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật này, các đại biểu đánh giá cao tinh thần cầu thị của cơ quan chủ trì soạn thảo và Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính trong việc nghiên cứu, tiếp thu nghiêm túc ý kiến của các ĐBQH để hoàn thiện dự thảo luật trình Quốc hội xem xét, thông qua.

    Sớm xây dựng văn bản hướng dẫn chi tiết

    Phát biểu tiếp thu và giải trình tại phiên họp, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo trân trọng cảm ơn các ý kiến đóng góp sâu sắc, trách nhiệm của Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính, các Ủy ban của Quốc hội và các đại biểu.

    Bộ trưởng nhấn mạnh một số nội dung trọng tâm Chính phủ sẽ tập trung thực hiện trong những ngày tới:

    Một là, xây dựng văn bản hướng dẫn chi tiết. Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ khẩn trương xây dựng Nghị định quy định chi tiết thi hành luật, cụ thể hóa các nội dung phân cấp, phân quyền cho Bộ Công Thương và Petrovietnam, đi kèm cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực chặt chẽ.

    Hai là, xử lý minh bạch chi phí. Quy định rõ nguyên tắc xử lý chi phí minh bạch đối với Petrovietnam khi thực hiện nhiệm vụ thay nước chủ nhà, rà soát dứt điểm các vướng mắc phát sinh trước năm 2022.

    Ba là, nghiên cứu khung pháp lý CCS. Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý toàn diện cho hoạt động CCS và các dự án năng lượng ngoài khơi độc lập, tạo nền tảng thu hút đầu tư mới.

    Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên phát biểu kết luận phiên họp.

    Phát biểu kết luận phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đánh giá cao sự phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm giữa cơ quan chủ trì soạn thảo (Bộ Công Thương) và cơ quan thẩm tra (Ủy ban Kinh tế và Tài chính) trong việc tiếp thu tối đa ý kiến của các ĐBQH.

    Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành phối hợp với Bộ Tư pháp rà soát, hoàn thiện dự thảo luật và khẩn trương dự thảo các văn bản hướng dẫn thi hành. Bảo đảm cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí theo Quy định 178-QĐ/TW của Bộ Chính trị.

    Trên cơ sở kết quả phiên họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) sau khi được tiếp thu, chỉnh lý theo kết luận của phiên họp này. Chính phủ chịu trách nhiệm toàn diện đối với việc tiếp thu, chỉnh lý hoàn thiện dự thảo Luật, bảo đảm tiến độ cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp trình Quốc hội tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.

    Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định tiến bộ của Luật Dầu khí năm 2022 (hiện hành) và cụ thể hóa 5 nhóm chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 81/NQ-CP ngày 3/4/2026, bao gồm: đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân quyền, giao quyền; hoàn thiện quy định về hợp đồng và hoạt động dầu khí; chính sách ưu đãi đầu tư; phát triển chuỗi giá trị dầu khí, dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi; quy định khung cho việc giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ carbon.

    Hoàng Hòa

    Nguồn https://baomoi.com/bo-truong-le-manh-hung-giai-trinh-tiep-thu-chinh-ly-du-thao-luat-dau-khi-sua-doi-c55851505.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!